1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kê hoạch truyền thông văn hóa việt nam

47 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 448,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan niệm thứ ba này hiện nay đang là quan niệm chiếm sốđông bởi các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý trong lĩnh vực văn hóa ViệtNam, vì vậy nội dung về văn hóa Việt Nam sẽ được trình bày

Trang 1

MỤC LỤC

I Bối cảnh 1

1 Phân tích đối tượng 1

1.1 Về văn hóa Việt Nam 1

1.2 Con người Việt Nam 15

1.3 Đất nước Việt Nam: 25

II Thông tin chung về dự án và chu trình truyền thông 33

1 Tên chường trình 33

2 Mục tiêu chương trình 33

3 Đối tượng truyền thông: 33

4 Thời gian dự kiến: 33

5 Thông điệp: 33

6 Lựa chọn kênh truyền thông: 34

7 Tài liệu 34

III Hoạt động cụ thể 42

IV Nguồn lực 43

V Kế hoạch giám sát 44

Trang 2

I Bối cảnh

1.Phân tích đối tượng

1.1 Về văn hóa Việt Nam

Văn hóa Việt Nam được hiểu và trình bày dưới các quan niệm khác

nhau:

 Quan niệm thứ nhất: đó là đồng nhất văn hóa Việt Nam với văn hóacủa người Việt, trình bày lịch sử văn hóa Việt Nam chỉ như là lịch sử vănminh của người Việt

 Quan niệm thứ hai: Văn hóa Việt Nam là toàn bộ văn hóa các dân tộcViệt Nam cư trú trên mảnh đất Việt Nam, chỉ có văn hóa từng tộc người,không có văn hóa dân tộc/quốc gia

 Quan niệm thứ ba: Văn hóa Việt Nam là cộng đồng văn hóa dântộc/quốc gia, đây là nền văn hóa dân tộc thống nhất trên cơ sở đa dạng sắcthái văn hóa tộc người Khái niệm dân tộc/quốc gia chỉ một quốc gia có chủquyền, trong đó phần lớn công dân gắn bó với nhau bởi những yếu tố tạo nênmột dân tộc Quan niệm thứ ba này hiện nay đang là quan niệm chiếm sốđông bởi các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý trong lĩnh vực văn hóa ViệtNam, vì vậy nội dung về văn hóa Việt Nam sẽ được trình bày theo quan niệmthứ ba, văn hóa Việt Nam theo hướng văn hóa dân tộc

Đặc trưng cơ bản của văn hóa Việt Nam

Văn hóa Việt Nam dưới quan niệm là văn hóa dân tộc thống nhất trên

cơ sở đa sắc thái văn hóa tộc người được thể hiện ở ba đặc trưng chính:

 Đặc trưng thứ nhất: Việt Nam có một nền văn hóa phong phú và đadạng trên tất cả các khía cạnh, người Việt cùng cộng đồng 54 dân tộc cónhững phong tục đúng đắn, tốt đẹp từ lâu đời, có những lễ hội nhiều ý nghĩasinh hoạt cộng đồng, những niềm tin bền vững trong tín ngưỡng, sự khoandung trong tư tưởng giáo lý khác nhau của tôn giáo, tính cặn kẽ và ẩn dụ trong

Trang 3

giao tiếp truyền đạt của ngôn ngữ, từ truyền thống đến hiện đại của vănhọc, nghệ thuật.

 Đặc trưng thứ hai: Sự khác biệt về cấu trúc địa hình, khí hậu và phân

bố dân tộc, dân cư đã tạo ra những vùng văn hoá có những nét đặc trưng riêngtại Việt Nam Từ cái nôi của văn hóa Việt Nam ở đồng bằng sôngHồng của người Việt chủ đạo với nền văn hóa Kinh Kỳ, văn hóa làng xã vàvăn minh lúa nước, đến những sắc thái văn hóa các dân tộc miền núi tại Tâybắc và Đông bắc Từ các vùng đất biên viễn của Việt Nam thời dựng nước

ở Bắc Trung bộ đến sự pha trộn với văn hóa Chăm Pa của người Chăm ở NamTrung Bộ Từ những vùng đất mới ở Nam Bộ với sự kết hợp văn hóa cáctộc người Hoa, người Khmer đến sự đa dạng trong văn hóa và tộc người

ở Tây Nguyên

 Đặc trưng thứ ba: Với một lịch sử có từ hàng nghìn năm của ngườiViệt cùng với những hội tụ về sau của các dân tộc khác, từ văn hóa bản địacủa người Việt cổ từ thời Hồng Bàng đến những ảnh hưởng từ bên ngoàitrong hàng nghìn năm nay Với những ảnh hưởng từ xa xưa của TrungQuốc và Đông Nam Á đến những ảnh hưởng của Pháp từ thế kỷ 19, phươngTây trong thế kỷ 20 và toàn cầu hóa từ thế kỷ 21 Việt Nam đã có những thayđổi về văn hóa theo các thời kỳ lịch sử, có những khía cạnh mất đi nhưngcũng có những khía cạnh văn hóa khác bổ sung vào nền văn hóa Việt Namhiện đại

Một số yếu tố thường được coi là đặc trưng của văn hóa Việt Nam khinhìn nhận từ bên ngoài bao gồm tôn kính tổ tiên, tôn trọng các giá trị cộngđồng và gia đình, thủ công mỹ nghệ, lao động cần cù và hiếu học PhươngTây cũng cho rằng những biểu tượng quan trọng trong văn hóa Việt Nam baogồm rồng, rùa, hoa sen và tre

Tổ chức xã hội

Trang 4

Từ ngàn năm nay, hai đơn vị xã hội quan trọng nhất trong văn hóa

là Làng (thôn) và Nước (quốc gia) Tục ngữ Việt Nam có câu "Làng đi đôi với nước" Các đơn vị tổ chức trung gian là Huyện và Tỉnh.

Quan hệ họ hàng đóng một vai trò quan trọng ở Việt Nam Khônggiống như sự nhấn mạnh cá nhân của văn hóa phương Tây, văn hóa PhươngĐông đánh giá cao vai trò của gia đình và tinh chất gia tộc Trong văn hóaphương Đông (đặc biệt là vòng Văn hóa chữ Hán), văn hóa Trung Quốc coitrọng giá trị gia đình hơn gia tộc, trong khi ở văn hóa Việt Nam đặt gia tộc caohơn gia đình Gia tộc luôn có một tộc trưởng, bàn thờ gia tộc (nhà thờ họ),

và đám tang người Việt luôn có sự tham gia của cả gia tộc

Trước đây hầu hết các cư dân ở một địa phương có quan hệ huyếtthống Điều đó thực tế vẫn còn thấy trong tên làng như Đặng Xá (nơi cóngười họ Đặng là chủ yếu), Châu Xá, Lê Xá Ở vùng Tây Nguyên truyềnthống nhiều gia đình trong một gia tộc cư trú trong một nhà dài vẫn còn phổbiến Ở nông thôn Việt Nam ngày nay, ta vẫn có thể thấy ba hay bốn thế hệsống dưới một mái nhà

Bởi vì mối quan hệ họ hàng có vai trò quan trọng trong xã hội, nên tồntại một hệ thống phân cấp phức tạp các mối quan hệ Trong xã hội Việt Nam,

có chín thế hệ khác nhau Người trẻ tuổi có thể có một vị trí cao hơn trong hệthống phân cấp của gia đình hơn và vẫn phải được tôn trọng như một người lớntuổi Ví dụ, nếu cha mẹ, của một đứa trẻ lớn tuổi, có một người anh/chị lớn tuổi

có con trẻ hơn so với con mình, thì con họ sẽ ở vị trí thấp hơn trong gia đình.Nói cách khác, bạn phải đối xử với người anh em họ của bạn trẻ tuổi như mộtngười lớn tuổi, nếu cha của bạn là em trai của bố người anh em họ đó

Hệ thống phức tạp của các mối quan hệ, là kết quả của cả Nho giáo vàcác chuẩn mực xã hội được chuyển tải thông qua việc sử dụng rộng rãi củacác đại từ khác nhau trong tiếng Việt, trong đó có một mảng rộng lớn của sựkính trọng để biểu thị trạng thái của người nói liên quan đến những người mà

Trang 5

họ đang nói chuyện đến Xưng hô trong tiếng Việt đã trở thành đặc trưng củavăn hóa Việt Nam

Văn hóa Việt Nam theo quan điểm dân tộc học

Tín ngưỡng

Tín ngưỡng thờ bà Ponagar/Thiên Y A Na được cả người Chăm và người

Việt thờ tại Nha Trang

Cụ già mặc áo dài the cúng Tất Niên nhân dịp Tết Nguyên Đán

Như mọi nơi trên thế giới, từ thuở xa xưa các dân tộc trên đất Việt Nam

đã thờ rất nhiều thần linh Các dân tộc thờ tất cả các thế lực vô hình và hữuhình mà thực chất là các hiện tượng thiên nhiên và xã hội chưa thể giải thíchđược vào thời đó Ngày nay nhờ những nghiên cứu, những lễ hội, những phongtục hiện hữu chúng ta biết nhiều hơn về cuộc sống vật chất cũng như tinh thầncủa các dân tộc Việt Nam cổ nói chung và tín ngưỡng của họ nói riêng[3]

Người xưa cho rằng bất cứ vật gì cũng có linh hồn, nên người ta thờ rấtnhiều thần, nguyên thủy họ thờ thần Mặt Trời, thần Mặt Trăng, thần Đất, thầnSông, thần Biển, thần Sấm, thần Mưa, những vị thần gắn với những ước mơ

Trang 6

thiết thực của cuộc sống người dân nông nghiệp Đi sâu vào cuộc sống hằngngày họ thờ thần Nông là thần trông coi việc đồng áng, thần Lúa, thần Ngôvới hy vọng lúc nào ngô lúa cũng đầy đủ Không chỉ các vị thần gắn với đờisống vật chất, các dân tộc còn thờ các vị thần gắn với đời sống tinh thần của

họ người Việt thờ các thần Thành Hoàng, các vị anh hùng dân tộc, các vị thầntrongđạo mẫu Họ là các vị thần có công lớn với đất nước, với làng xã, dânchúng thờ phụng các vị thần này để tỏ lòng biết ơn và cầu mong các vị phù hộ

họ Cũng như người Việt, người Hoa thờ các vị thần Quan Công, ThầnTài Người Chăm thờ các vị thần như Po Nagar, Po Rome,

Thờ cúng tổ tiên và cúng giỗ người đã mất là một tục lệ lâu đời củangười Việt và một số dân tộc khác Họ tin rằng linh hồn của tổ tiên cũng ở bêncạnh con cháu và phù hộ cho họ Chính vì như vậy nên gia đình nào cũng cóbàn thờ tổ tiên và bàn thờ được đặt nơi trang trọng nhất trong nhà Ngoài cácngày giỗ, tết thì các ngày mùng một, ngày rằm họ thắp hương như một hìnhthức thông báo với tổ tiên ông bà Nói đến tục thờ cúng tổ tiên, người ta đềubiết tới một ngày giỗ tổ chung cho cho người Việt đó là ngày giỗ tổ HùngVương vào ngày 10 tháng 3 (âm lịch)

Tôn giáo

Trên danh nghĩa, các tôn giáo ở Việt Nam gồm: Phật giáo Đạithừa, Khổng giáo và Đạo giáo (được gọi là "Tam giáo") Có một số tôn giáokhác như Công giáo Rôma, Cao Đài và Hòa Hảo Những nhóm tôn giáo có íttín đồ hơn khác gồm Phật giáo Tiểu thừa, Tin Lành và Hồi giáo

Phần đông đa số người dân Việt Nam xem họ là nhưng người không cótín ngưỡng, mặc dù họ cũng có đi đến các địa điểm tôn giáo vài lần trong mộtnăm Người Việt Nam được cho là ít có tinh thần tôn giáo, các tôn giáothường được tập trung ở mặt thờ cúng, mặt giáo lý ít được quan tâm

Với sự biến động của lịch sử các dân tộc tại Việt Nam, trải qua hơn 10thế kỷ Bắc thuộc, đời sống tinh thần nói chung của người dân Việt Nam bị

Trang 7

ảnh hưởng rất nhiều của văn hoá Trung Hoa Với ba hệ tư tưởng Tam giáo đãthâm nhập vào đời sống tinh thần cũng như vào tôn giáo của người Việt Nam

là Đạo giáo, Nho giáovà Phật giáo Đạo giáo và Nho giáo có nguồn gốc từTrung Quốc và thâm nhập vào Việt Nam từ những thế kỷ đầu công nguyênqua tầng lớp thống trị người Trung Hoa

Phật giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ và có hai phái đã du nhập vào ViệtNam bằng hai ngả khác nhau: phái Đại thừa vào Việt Nam qua Trung Quốccùng với Đạo giáo và Nho giáo Còn phái Tiểu thừa qua các nước Đông Nam

Á láng giềng vào Việt Nam thịnh hành ở cộng đồng người Khmer ở Đồngbằng sông Cửu Long

Tín đồ đạo Cao Đài ở Tây Ninh

Tam giáo có những thời kỳ phát triển rất mạnh và cũng có lúc mờ nhạttại Việt Nam, nhưng nhìn chung ảnh hưởng của Tam giáo rất sâu rộng trongcác tầng lớp dân chúng, nhất là Phật giáo Và đến lượt mình, các tầng lớp dânchúng tại Việt Nam đã tiếp thu các tôn giáo mới một cách có chọn lọc và sángtạo, hay nói cách khác các tôn giáo mới du nhập đã được bản địa hoá để phùhợp với phong tục tập quán và tín ngưỡng của người dân địa phương

Công giáo được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ 16, tuy việc truyềnđạo lúc bấy giờ gặp nhiều khó khăn nhưng ở Việt Nam từ lúc đầu cũng đã cómột số lượng người theo Công giáo, từ cuối thế kỷ 19 khi thực dân Pháp đãxâm lược hoàn toàn Việt Nam thì việc truyền đạo mới được tự do dễ dàng

Trang 8

Hiện nay Việt Nam có khoảng 8% dân số là tín đồ Công giáo, đứng hàng thứ

2 ở Đông Nam Á sau Philippines

Cùng với Công giáo, một hệ phái khác của đạo Cơ đốc là TinLành cũng xâm nhập vào Việt Nam từ đầu thế kỷ 20, đạo Tin Lành được phổbiến tới các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, ước tính hiện nay

có khoảng hơn 1 triệu người theo đạo

Đạo Hồi là tôn giáo của một bộ phận người Chăm ở Việt Nam, được dunhập vào từ thế kỷ 15 tại vương quốc Chăm Pa ở miền Trung Việt Nam, sau

đó theo chân một bộ phận người Chăm di cư tới vùng An Giang, TâyNinh vào thế kỷ thứ XIX

Ngoài các tôn giáo du nhập từ bên ngoài trên, tại miền Nam Việt Nam

có các tôn giáo Hoà Hảo và Cao Đài Đây là hai tôn giáo bản địa Việt Nam,đạo Hoà Hảo được sáng lập từ năm 1939 và đạo Cao Đài được sáng lập từnăm 1926 Hiện nay hai tôn giáo bản địa này phát triển mạnh khắp Nam Bộ

và ra cả một số tỉnh ở miền Trung và Tây Nguyên và miền Bắc

Ngôn ngữ

Một trang Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinumtức

Từ điển Việt-Bồ-La in năm 1651

Trang 9

Về mặt ngôn ngữ, các nhà dân tộc học đã chia các dân tộc ở Việt Namthành 8 nhóm ngôn ngữ của họ:

 Nhóm Việt-Mường: gồm người Việt, người Mường, người Chứt,người Thổ

 Nhóm Tày-Thái: gồm người Tày, Thái, Nùng, Bố Y, Sán Chay,Lào,

 Nhóm Dao-Hmông: gồm người Hmông, Dao, Pà Thẻn,

 Nhóm Tạng-Miến: gồm người Hà Nhì, Lô Lô, Si La, La Hủ,

 Nhóm Hán: gồm người Hoa, Sán Dìu, Ngái,

 Nhóm Môn-Khmer: gồm người Khmer, Kháng, Hrê, Xơ Đăng, Ba

Na, Khơ Mú, Cơ Ho, Mạ, Xinh Mun,

 Nhóm Mã Lai-Đa đảo: gồm người Chăm, Gia Rai, Ê Đê, Ra Glai,Chu Ru,

 Nhóm hỗn hợp Nam Á: gồm la Chí, La Ha, Pu Chéo, Cơ Lao, Tiếng Việt thuộc về ngôn ngữ Việt-Mường, hiện nay là ngôn ngữ chínhthức của nước Việt Nam, là tiếng mẹ đẻ của người Việtvà đồng thời là ngônngữ hành chính chung của 54 dân tộc sống trên đất nước Việt Nam, tiếng Việtđược 86% người dân sử dụng Mặc dù là ngôn ngữ chung của người Việtnhưng nó có sự khác biệt về mặt ngữ âm và từ vựng ở các vùng miền dẫntớiphương ngữ tiếng Việt được phân chia làm nhiều vùng phương ngữ khácnhau từ miền Bắc, miền Trung và miền Nam

Về nguồn gốc, tiếng Việt được xem là có nguồn gốc với ngôn ngữNam Á về mặt từ vựng kết hợp với ngôn ngữ Tày-Thái về mặt thanh điệu.Trong quá trình phát triển Tiếng Việt đã tiếp thu và đồng hoá nhiều từ Hán

và được gọi là từ Hán-Việt, ngoài ra tiếng Việt còn tiếp thu một số lượng khálớn các từ khoa học kỹ thuật của các ngôn ngữ Pháp, Nga, Anh từ đầu thế kỷ

20 đến nay

Trang 10

Về chữ viết, theo một số nghiên cứu khảo cổ, từ thời HùngVương người Việt đã có chữ viết riêng gọi là chữ Khoa Đẩu mà người TrungQuốc miêu tả là giống đàn nòng nọc đang bơi Tới thời Bắc thuộc, chữ Hán làchữ viết chính thức ở Việt Nam Sau khi dành độc lập từ thế kỷ 10, với ý thứcdân tộc cũng như các từ vựng không có trong chữ Hán, người Việt đã sáng tạo

ra chữ Nôm dùng song hành với chữ Hán chữ Nôm được hoàn chỉnh vào thế

kỷ 12 và phát triển rực rỡ vào thế kỷ 18 Tuy nhiên chữ Nôm chỉ được dùngtrong lĩnh vực văn chương, còn trong hành chính thì vẫn dùng chữ Hán

Từ thế kỷ 17, khi các nhà truyền giáo phương Tây vào Việt Nam truyềnđạo Công giáo đã dựa trên ký tự Latinh để chuyển âm tiếng Việt sang chữLalinh và đây là cơ sở cho sự ra đời của chữ Quốc ngữ hiện nay của ViệtNam Mặc dù chữ quốc ngữ đã có từ thế kỷ 17 nhưng phải tới đầu thế kỷ 20khi người Pháp đô hộ hoàn toàn Việt Nam thì họ mới cho phổ biến chữ Quốcngữ làm thành một công cụ giao tiếp thuận lợi trong xã hội Việt Nam

Ngoài chữ Quốc ngữ là chữ viết chung của người Việt và của ViệtNam, một số dân tộc khác cũng sử dụng song hành chữ viết của dân tộc mìnhnhư chữ Khmercủa người Khmer ở Nam Bộ, chữ Akhar Thrah của ngườiChăm, chữ Thái của người Thái ở vùng Tây bắc, chữ Mnông của ngườiMnông ở Tây Nguyên, nhằm gìn giữ văn hoá của dân tộc mình cũng nhưtiếp nhận các tri thức mới từ chữ quốc ngữ dịch sang Theo thống kê hiện nay

có 26 dân tộc thiểu số tại Việt Nam có chữ viết riêng của mình ngoài chữQuốc ngữ

Tính truyền thống qua phong tục tập quán

Phong tục

Đám cưới của người Ê Đê ở Đắk Lắk, một phong tục ít nhiều ảnhhưởng từ đám cưới của người Việt

Trang 11

Đám cưới trên đường quê

Theo nghĩa Hán-Việt, Phong là nền nếp đã lan truyền rộng rãi và Tục làthói quen lâu đời Phong tục ở Việt Nam có truyền thống lâu đời hàng ngànnăm nay, nó đã trở thành luật tục, sâu đậm và gắn chặt trong người dân có sứcmạnh hơn cả những đạo luật Theo sự thăng trầm của lịch sử của dân tộc,phong tục của người Việt Nam cũng không ngừng biến đổi theo trào lưu biếnđổi văn hoá xã hội Tuy nhiên có những phong tục mất đi những cũng cónhưng phong tục khẳng định được tính đúng đắn, cái hay, cái đẹp của nó quaviệc những phong tục đó còn hiện hữu trong cuộc sống ngày nay của ngườiViệt Nam

Sớm nhất được nhắc đến trong lịch sử là tục ăn trầu có từ thời HùngVương trải qua hàng nghìn năm người Việt cùng một số dân tộc khác vẫn giữđược tập tục này trong cuộc sống ngày nay, tục ăn trầu bắt nguồn từ truyện sựtích Trầu Cau để rồi thành biểu tượng cho tình anh em, vợ chồng của ngườiViệt, theo thời gian ý nghĩa của tục ăn trầu được mở rộng sang việc giao hiếu,kết thân của người Việt Nam

Cùng ra đời từ xa xưa với tục ăn trầu là phong tục đón năm mới haycòn gọi là Tết, Tết vừa là một phong tục đồng thời cũng là một tín ngưỡng vàcũng là một lễ hội của người Việt cùng một số dân tộc khác Một số dân tộckhác đón năm mới trong thời gian khác và tên gọi đặc trưng của mìnhnhư Chol Chnam Thmay (khoảng tháng 4) của người Khmer, Katê (khoảngtháng 10) của người Chăm Bàlamôm, Từ Tết Nguyên Đán đón năm mới,

Trang 12

theo thời gian với những ảnh hưởng từ Trung Quốc, người Việt Nam bổ sungthêm vào những phong tục Tết khác như Tết Nguyên tiêu, Tết Hàn thực, TếtĐoan ngọ, Tết Trung thu, Tết Thanh minh.

Không thấy nhắc đến sớm trong sử sách nhưng các phong tục hônnhân, sinh đẻ, tang lễ, cũng đã song hành với người Việt Nam từ xa xưa vàđến ngày nay vẫn là những phong tục gắn liền với đời sống người Việt Nam

Ẩm thực

Ẩm thực Việt Nam chú trọng ăn ngon tuy đôi khi không đặt mục tiêuhàng đầu là ăn bổ Bởi vậy trong hệ thống ẩm thực người Việt ít có nhữngmón hết sức cầu kỳ, hầm nhừ ninh kỹ như ẩm thực Trung Hoa, cũng khôngthiên về bày biện có tính thẩm mỹ cao độ như ẩm thực của Nhật Bản, màthiên về phối trộn gia vị một cách tinh tế để món ăn được ngon, hoặc sử dụngnhững nguyên liệu dai, giòn thưởng thức rất thú vị dù không thực sự bổ béo

Trong thực tế nhiều người nhận thấy, một cách cảm tính, đặc trưng ẩmthực Việt Nam là sự trung dung trong cách pha trộn nguyên liệu khôngquá cay, quá ngọthay quá béo Các nguyên liệu phụ (gia vị) để chế biến món

ăn Việt Nam rất phong phú, bao gồm nhiều loại rau thơm, gia vị thực vật, quảhoặc lá non; các gia vị lên men và các gia vị đặc trưng của các dân tộc ĐôngNam Á nhiệt đới nói trên được sử dụng một cách tương sinh hài hòa với nhau

và thường thuận theo nguyên lý "âm dương phối triển"

Số lượng món ăn và cách thức kết hợp thực phẩm trong món ăn ViệtNam là vô cùng đa dạng do có sự kết hợp Đông Tây, ẩm thực Trung Hoa và

ẩm thực các nước Đông Nam Á, đặc biệt là sự sáng tạo của người Việt để bảnđịa hóa và tìm ra những phương thức thích hợp nhất Có những món ăn không

hề thay đổi trong hàng nghìn năm qua (Danh sách các món ăn Việt Nam)

Năm 2015, CNN đã công bố Top 8 nền ẩm thực mới nổi có sức lan tỏanhất thế giới, trong đó có Việt Nam Tuy nhiên việc thịnh hành ẩm thựcphương Tây nhất là ở các đô thị, trong một bộ phận dân chúng nhất là người

Trang 13

giàu và sính ngoại đe dọa đến bản sắc ẩm thực Việt Nam, và cả nông sản ViệtNam.

Trang phục

Phụ nữ trong bộ áo dài được cải tiến mang tính thời trang hiện đại

Trang phục Việt Nam rất đa dạng Ở thời phong kiến, người ta có nhữngquy định rất khắt khe về cách ăn mặc Dân thường không được phép mặc đồnhuộm bất kì màu nào khác ngoài những màu đen, nâu hay trắng Quần áo củangười dân hầu hết là tầm thường và đơn sơ, để hợp với thân phận của mìnhtrong xã hội (ngoài những dịp lễ quan trọng hoặc lễ cúng tế, đám cưới )

Một trong những y phục cổ xưa nhất được người phụ nữ bình dân mặccho đến đầu thế kỉ XX là bộ "Áo tứ thân" Có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng

là "Áo tứ thân" có thể đã ra đời từ thế kỷ 12.Trong đời sống thường nhật ngàynay, trang phục đã theo phong cách phương tây Những bộ quần áo truyềnthống chỉ được mặc trong những dịp đặc biệt

Ngoài ra, áo dài cho cả nam lẫn nữ được coi như quốc phục của ViệtNam

Trang 14

Lễ hội

Trò chơi Bịt mắt bắt Dê của người Việt tại Hội Lim , Bắc Ninh

Cũng giống như nhiều nước khác, Việt Nam là một nước có nhiều lễhội dân gian là hình thức sinh hoạt của cộng đồng Trong lễ hội, các lễ nghitín ngưỡng, các phong tục tập quán, các thể lệ và hình thức sinh hoạt của mộtcộng đồng đã được tái hiện một cách rất sinh động Lễ hội được tổ chức vàonhững thời điểm khác nhau trong một năm, tuỳ thuộc vào phong tục tập quáncủa từng dân tộc, nhưng lễ hội vẫn tập trung nhiều nhất vào mùa Xuân

Việt Nam có nhiều loại lễ hội lớn và long trọng như lễ tế các thần linh,các lễ hội nhằm tưởng nhớ tới công ơn tổ tiên, nòi giống như hội Đền Hùng,

có những lễ hội tưởng nhớ tới các anh hùng như hội Đền Mẫu Đợi, hộiGióng, hội Đền Kiếp Bạc,hội Đống Đa, có những lễ hội tưởng nhớ người cócông mở mang bờ cõi, các ông tổ các ngành nghề, của người Việt Bên cạnhcác lễ hội lớn của người Việt, các dân tộc khác cũng có những lễ hội lớnnhư lễ hội Katê của người Chăm, lễ cúng Trăng của người Khmer, lễ hộixuống Đồng của người Tày, người Nùng, Lễ hội hoa ban của người Thái, Hộiđua voi củangười Mnông,

Ngoài các lễ hội lớn và long trọng tại Việt Nam từ bắc đến nam còn cóhàng nghìn lễ hội lớn nhỏ khác nhau của các dân tộc Việt Nam Các lễ hội ởViệt Nam rất đa dạng, những lễ hội về nông nghiệp, hội văn nghệ vui chơi, thi

Trang 15

tài, hội giao duyên, hội lịch sử, Đặc biệt là hội mừng năm mới (Tết NguyênĐán) của người Việt và một số dân tộc khác

Cùng với các lễ hội dân gian, các lễ hội của các tôn giáo ban đầu chỉmang ý nghĩa nội bộ nhưng theo thời gian các lễ hội đó lan sang các tầng lớp

xã hội khác và thành những lễ hội mang tính cộng đồng như lễ Phật đản củaPhật giáo và lễ Noel của Công giáo

Võ thuật

Võ thuật Việt Nam là tên gọi khái quát hệ thống võ thuật, các võ phái,bài thảo, võ sư khai sinh và phát triển trên đất nước Việt Nam, hoặc do ngườiViệt làm chưởng môn, gây dựng sáng tạo tại ngoại quốc từ xưa đến nay, cónhững đặc trưng riêng biệt trong sự đối sánh với các võ phái nước ngoài khác

Võ thuật Việt Nam có nội hàm khái niệm rộng hơn thuật ngữ võ cổ truyềnViệt Nam (thường biết đến với tên gọi võ Ta phân biệt với võ Tàu) vốnthường dùng để chỉ những võ phái đã phát triển trong khoảng từ giữa thế kỷ

20 trở về trước trên lãnh thổ Việt Nam, theo đó, võ thuật Việt Nam có thể baogồm cả những môn phái mới sinh thành trong thời điểm hiện tại, và bao quát

cả những võ phái đã phát triển trong suốt trường kỳ lịch sử Việt Nam

Các phái võ Việt Nam, hay còn được gọi với tên "Võ thuật Cổ Truyền"vẫn thể hiện những đặc điểm khác biệt rõ rệt với các nền võ học khác trên thếgiới nói chung và Trung Hoa nói riêng:

1.Sự xuất hiện của lời thiệu bằng thơ, phú;

2.Bộ pháp vận hành theo đồ hình bát quái (lưỡng túc bát quái vi căn),khi đứng thì vững như đá tảng, khi di chuyển thì nhẹ nhàng linh hoạt như lábay;

3.Bộ tay áp dụng theo ngũ hành pháp (song thủ ngũ hành vi bản);

4.Kỹ thuật đòn thế được chọn lọc, phân thế riêng phù hợp với cáchđánh của từng dạng đối tượng, địa hình, nhất là lối đánh cận chiến một ngườichống lại nhiều người;

Trang 16

5.Tận dụng triệt để lối đánh "cộng lực" - dựa vào sức lực đối phương

để triệt hạ đối phương

1.2 Con người Việt Nam

Lịch sử nghiên cứu

Trước thế kỷ 20

Trong sách "Đại Việt sử ký toàn thư" đã có ghi chép về đặc điểm tínhcách của người Việt Đến thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh; các thương nhânphương Tây, giáo sĩ truyền đạo cơ đốc đã bắt đầu ghi chép về tính cách conngười Việt Đơn cử như trong sách Xứ đàng trong năm 1621 của tác giả người

Ý Cristoforo Borri; ông đã có lời nhận xét và miêu tả về tính khí con người

xứ Đàng Trong

Tới thời nhà Nguyễn, các sách do triều đình biên soạn "Đại Nam thựclục", và "Việt sử thông giám cương mục" cũng có ghi chép về đặc điểm tínhcách của người Việt

ở Bắc Kỳ "Đăng cổ tùng báo" (1907) Nguyễn Văn Vĩnh dưới bút danh giả nữ

là Đào Thị Loan đã viết những bài phê phán mạnh mẽ những thói hư tật xấunhư tục đốt vàng mã, thói hư danh, nạn cờ bạc Đến khi trở thành chủ bút tờ

"Đông Dương Tạp chí" trong hai năm 1913 và 1914, ông mở một chuyên mụcmang tên là "Xét tật mình" lấy cảm hứng từ một câu của văn hào Pháp EmileZola: "Nói hết, để biết hết, để chữa hết" (Tout dire pour tout connaitre, pourtout guérir) và giải thích thêm rằng: "Các nết xấu, các hủ tục của người ViệtNam ta, cần nói hết ra, đừng có giấu giếm, ai cũng biết thì mới sửa được

Trang 17

Luân lý là phải dạy người ta biết gốc rễ điều ác để tự nguyện tránh, mầmmống điều thiện để tự giác làm điều thiện".

Nghiên cứu tính cách của con người Việt Nam dưới góc độ vănhóa được thể hiện trong các công trình nghiên cứu như "Việt Nam phong tục"(1915) của Phan Kế Bính, "Việt Nam văn hóa sử cương" (1938) của Đào DuyAnh, "Văn minh nước Nam" (1944) của Nguyễn Văn Huyên, Nhất Thanh VũVăn Khiếu trong cuốn Ðất Lề Quê Thói (Phong Tục Việt Nam) cũng cónhững nhận xét về tính cách và phong tục người Việt…

1945 - hiện nay

Nghiên cứu tính cách của con người Việt Nam dưới góc độ khoa họclịch sử có công trình "Xã thôn Việt Nam" (1959) và "Tìm hiểu tính cách dântộc" (1963) củaNguyễn Hồng Phong

Nghiên cứu tính cách của con người Việt Nam dưới góc độ tâm lý học

có các công trình nghiên cứu của Đỗ Long, Vũ Dũng, Phạm Minh Hạc như

"Những nghiên cứu tâm lý học" (2007) của Đỗ Long, "Tâm lý người ViệtNam đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Những điều cần khắc phục"(2004) của tập thể tác giả hội viênHội khoa học Tâm lý - Giáo dục học ViệtNam do Phạm Minh Hạc chủ biên

Tiếp cận giá trị truyền thống của dân tộc và nghiên cứu tính cách củacon người Việt Nam dưới góc độ giá trị học có tác phẩm "Về giá trị và giá trịchâu Á" (2005) của Hồ Sỹ Quý, "Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộcViệt Nam" (1980) của Trần Văn Giàu

Nghiên cứu văn hóa Việt Nam có "Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam"(1996), của Trần Ngọc Thêm, "Việt Nam - văn hóa và con người" của NguyễnĐắc Hưng

Tính cách của con người Việt Nam còn là đề tài của nhiều bài viết trêncác báo và tạp chí

Trang 18

Về nhược điểm của người Việt, ở ngoài Việt Nam, gần đây có cuốn "TổQuốc Ăn Năn" (2001) của ông Nguyễn Gia Kiểng và cuốn "Văn Hóa trì trệnhìn từ Hà Nội Đầu Thế Kỷ 21" (2001) của Lê Thị Huệ nêu lên nhiều khuyếtđiểm của người Việt Nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn có một cuốnsách nhan đề "Người Việt xấu xí" nói về thói quen và tính xấu của người Việt.[10] Nhà xuất bản Thanh niên cũng xuất bản sách "Người Việt - Phẩm chất vàthói hư tật xấu" (2009) của nhiều tác giả

Những ưu điểm

Đánh giá chung

Một số tác giả cho rằng con người Việt Nam có những nét tính cáchtruyền thống như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, coi trọng tình nghĩa, cần

cù, hiếu học đã tạo nên lịch sử đặc trưng của Việt Nam

Trong tính cách nói chung của con người Việt Nam và trong từng néttính cách nói riêng đều ẩn chứa tính hai mặt, cái tốt và cái xấu, giá trị và phảngiá trị.[13] Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử ViệtNam từ cổ đại đến hiện đại

Thái độ coi trọng cộng đồng đã trở thành một nét tính cách truyềnthống đặc trưng của con người Việt Nam.[13] Mặc dù tính cộng đồng cao làmột nét tính cách của con người Việt Nam có chứa đựng nhiều giá trị, songbên cạnh đó cũng có nhiều mặt hạn chế Cộng đồng được đề cao quá mức đã

ức chế sự phát triển cá tính, kìm hãm sự phát triển cá nhân vì cộng đồngkhông chấp nhận cá nhân đứng ngoài cộng đồng và cá tính không phù hợp với

"Luật bầy đàn" của cộng đồng

Người Việt rất coi trọng tình nghĩa, như tinh thần đùm bọc, giúp đỡ vàquan tâm nhau Theo nhà nghiên cứu Hồ Sỹ Quý, Việc coi trọng tình nghĩa tớimức thái quá đương nhiên không phải là giá trị tốt trong mọi hoàn cảnh Coitrọng tình nghĩa tới mức coi thường hiến pháp và pháp luật như "phép vua

Trang 19

thua lệ làng", "một trăm cái lý không bằng một tí cái tình" thì khó có thể chấpnhận được.

Cần cù lao động là một giá trị đạo đức nổi bật Người Việt Nam đượccác dân tộc khác thừa nhận là có tinh thần hiếu học, cộng với bản chất thôngminh, dễ tiếp thu và một nền giáo dục có truyền thống cả ngàn năm NgườiViệt Nam xem giáo dục cao hơn sự giàu có và thành công và là trụ cột củavăn hóa

Đánh giá theo địa phương

Sách Xứ Đàng Trong năm 1621 của thương gia người Ý CristoforoBorri, có ghi chép về đặc tính của người Việt ở Đàng Trong như sau:

1.Dịu dàng và lịch thiệp

2.Trọng khách, giản dị,

3.Đoàn kết, thành thật với nhau

4.Hay chia sẻ, quảng đại

5.Yêu thích và dễ tiếp thu văn hóa nước ngoài

Tác giả Peter G Bourne trong sách Men, stress, and Vietnam xuất bảnnăm 1970 có đánh giá về ưu điểm khiến người miền Bắc chiếm nhiều vị tríquan trọng trong chính quyền Sài Gòn gồm

1.Làm việc chăm chỉ,

2.Có tính kiên trì,

3.Luôn mong muốn vượt lên phía trước

Theo ông Mai Thanh Thế, người Việt Nam Bộ có những ưu điểm sau:

1.Tinh thần yêu quê hương đất nước, mà cao nhất là tinh thần yêu nướcrất nổi trội, nhất là trước hoạ ngoại xâm

2.Bản lĩnh kiên cường, khí phách hiên ngang, dũng cảm, trọng nghĩakhinh tài, hào hiệp và phóng khoáng, bình đẳng và ít bảo thủ

3.Tinh thần dân chủ và cộng đồng cao, khả năng hợp tác cao, có ócthực tế và thích ứng nhanh

Trang 20

4.Năng động, sáng tạo cao; dám nghĩ dám làm, tài ứng biến, thích rũ

bỏ cái cũ không còn thích hợp với hoàn cảnh mới

5.Tính cá nhân, tính tự do, độc lập tự chủ, ít phụ thuộc trực tiếp, gò bóvào cộng đồng như những cư dân Bắc-Trung Bộ

6.Biết tính toán, dám làm ăn lớn, và mạo hiểm

7.Cởi mở, bộc trực mà hoà đồng

8.Sẵn sàng xả thân cứu người vì nghĩa lớn

9.Cần cù và chịu khó trong lao động sản xuất

Những nhược điểm

Người Việt có một số nhược điểm đáng chú ý Những nhược điểm nàylàm ảnh hưởng đến sự phát triển của Việt Nam, làm xấu đi hình ảnh của ngườiViệt nói chung gây nên nhiều hạn chế trong giao lưu kinh tế - văn hóa, nhất

là khi Việt Nam đang trên đường hội nhập sâu hơn với thế giới

Các đánh giá trước 1945

Đánh giá của Phan Bội Châu

Phan Bội Châu trong Chương thứ năm trong Việt Nam quốc sử

khảo mang tên Sự thịnh suy của dân quyền và dân trí của nước ta

(…) Vì vậy, giờ đây tôi xin kể những điều tai nghe mắt thấy để quốcdân cùng biết: Hay nghi kỵ lẫn nhau, không làm nên việc gì cả, đó là điều rấtngu thứ nhất Tôn sùng những điều xa hoa vô ích, bỏ bễ những sự nghiệpđáng làm, đó là điều rất ngu thứ hai Chỉ biết lợi mình mà không biết hợpquần, đó là điều rất ngu thứ ba Thương tiếc của riêng, không tưởng đến việcích chung, đó là điều rất ngu thứ tư Biết có thân mình nhà mình mà khôngbiết có nước, đó là điều rất ngu thứ năm Dân được cường thịnh là nhờ có sựnghiệp công ích Nay những việc đó, người nước ta đều không thể làm được.Hỏi vì sao không làm được, thì nói là vì không có tiền của Sở dĩ không cótiền của là vì đã tiêu phí vào những việc vô ích xa hoa rồi

Trang 21

Đánh giá của Phan Châu Trinh

Trong luận văn Pháp Việt Liên hiệp hậu chi tân Việt Nam Phan Châu

Trinh viết:

(…) Dân tộc nước Nam, trên lịch sử, có hai đặc tính cực đoan phản đối nhau: một là đặc tính bài ngoại và ỷ ngoại; hai là đặc tính tự tôn và tự ti Hai đặc tính đó sẵn ở quốc dân, trong não mọi người Mỗi cái nhân thời thế, địa

vị của nó mà phát hiện, rồi trong khi phát hiện lại đều đi tới cực đoan, lại khi

đã tới cực đoan, mỗi cái đều giữ lý do, chuyên cậy vào tập quán, lợi hại đều

bị che lấp không thấy.

Đánh giá của Trần Trọng Kim

Học giả Trần Trọng Kim trong cuốn Việt Nam Sử Lược đã viết: "Vềđàng trí tuệ và tính tình, thì người Việt có cả các tính tốt và các tính xấu Ðạikhái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ,nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quý sự lễ phép, mến điều đạođức: lấy sự nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, làm 5 đạo thường cho sự ăn ở Tuy vậy,vẫn hay có tính tinh vặt, cũng có khi qủy quyệt, và hay bài bác chế nhạo.Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn có sự hòa bình, nhưng mà đã đitrận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỷ luật."

Đánh giá của các tác giả khác

Nguyễn Văn Vĩnh đã bàn đến nhiều thói hư tật xấu thường thấy ởngười nước ta như tính ỷ lại, tính ăn gian nói dối, thói ăn uống thành nợmiệng, tính bán tín bán nghi, thói đồng bóng, tính vay mượn kém sáng tạo,tính cơ hội đục nước béo cò, thói "gì cũng cười", tệ cờ bạc

Nhất Thanh Vũ Văn Khiếu trong cuốn Ðất Lề Quê Thói (Phong TụcViệt Nam) cũng nhận xét rằng: "Người mình phần đông thường ranh vặt, quỷquyệt, bộ tịch lễ phép mà hay khinh khi nhạo báng Tâm địa nông nổi, khoáclác, hiếu danh "

Trang 22

Thi sĩ Tản Đà trong bài thơ Mậu Thìn xuân cảm viết năm 1932 đã

nhận xét về xã hội Việt Nam:

Dân hai nhăm triệu ai người lớn ?

Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con.

Cuốn "Số đỏ của Vũ Trọng Phụng (đã từng bị cấm lưu hành tại ViệtNam Dân chủ Cộng hòa trước năm 1975 cũng như tại Việt Nam thống nhấtcho đến năm 1986) nêu bật khá rõ các thói hư tật xấu của người Việt

Mặc dù thích nhàn hạ nhưng người An Nam chăm chỉ hơn những dântộc láng giềng Họ tỏ ra kính trọng bề trên và cha mẹ, nhưng họ không chânthật và không có cảm xúc mạnh Họ yêu quê hương, xóm làng, và không thể ở

xa nhà lâu ngày Những thói hư của họ gồm có cờ bạc, hút thuốc phiện, mộtchút kiêu căng và giả dối Nhìn chung thì họ hoà nhã, dễ chịu, và thậm chí làthờ ơ, nhưng đáng nói là họ có thể học rất dễ dàng

Các đánh giá từ 1945 trở về sau

Đánh giá của Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh cũng có những tác phẩm cảnh báo về những thói hư tật

xấu trong tầng lớp cán bộ như Sửa đổi lối làm việc (1947) Theo ông, Cha đẻ

của mọi thứ khuyết điểm là chủ nghĩa cá nhân Bệnh tham lam, lười biếng, bahoa, bè phái, địa phương chủ nghĩa, ham danh vị, quân phiệt, quan liêu, xa rờiquần chúng, hẹp hòi, chuộng hình thức, lối làm việc bàn giấy, vô kỷ luật, ích

kỷ, hủ hóa và nhiều đức tính xấu khác đều từ đó mà ra

Trang 23

Đánh giá của Trần Ngọc Thêm

Theo Giáo sư Trần Ngọc Thêm trong tác phẩm "Tìm về bản sắc vănhóa Việt Nam", ông chỉ ra rằng đối với người Việt, khi đứng trước những khókhăn lớn, những nguy cơ đe dọa sự sống còn của cả cộng đồng thì cái nổi lên

sẽ là tinh đoàn kết và tính tập thể; nhưng khi nguy cơ ấy qua rồi thì có thể làthói tư hữu và óc bè phái, địa phương lại nổi lên Trong giao tiếp, khi thấymình đang đứng trong cộng đồng quen thuộc thì tính thích giao tiếp nổi lên,còn khi vượt ra khỏi cộng đồng, đứng trước người lạ, thì tính rụt rè sẽ lấn át.Tính nước đôi của người Việt thường phát huy tác dụng tốt trong những hoàncảnh cực kỳ khó khăn, một mất một còn (điển hình là trong chiến tranh), còntrong xây dựng hòa bình, trong tiến trình công nghiệp hóa và đô thị hoá thìđáng tiếc là thường mặt trái của tính nước đôi này lại nổi trội

Người Việt thì có triết lý vừa phải, "lắm thóc nhọc xay", "cầu sung vừa

đủ xài" lại vừa không có thói quen coi trọng thời gian, coi thời giờ là "cao su",[34] bởi vậy mà không có chí làm giàu Chỉ khi thấy mình thua kém người xungquanh quá nhiều thì mới cố gắng, nhưng ngay khi thấy mình đã như mọingười rồi thì lại làm việc cầm chừng Tác phong làm việc này hoàn toànkhông thích hợp với nếp sống đô thị

Đánh giá của Vương Trí Nhàn

Theo Vương Trí Nhàn nhiều người Việt mang mặc cảm tự ti từ đó sinh

ra tâm lý tự huyễn hoặc "không có cái phần hơn hẳn thiên hạ nhưng mình lại

có cái khác" Tâm lý và cách tư duy của người Việt mang tính tiểu nông;

người Việt còn có một thói xấu là thiếu chính xác trong mọi thứ, thiếu khoahọc, thiếu nghiên cứu, sống rất bộc phát hồn nhiên Người Việt còn tùy tiện,thiếu khả năng hợp tác, ít có khả năng đặt mình vào vị trí người khác, kiêu

ngạo, "thấy mình là trung tâm". Người Việt cũng thiếu kinh nghiệm quan hệvới thế giới bên ngoài, quen sống co lại, ít có khao khát ra thế giới, tìm hiểu

Ngày đăng: 17/03/2022, 15:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w