Bài viết dưới đây, thông qua một việc giải quyết yêu cầu công chứng đối với giao dịch liên quan đến tài sản của người bị tạm giam gây sự chú ý và nhiều luồng ý kiến, quan điểm khác nhau trong thời gian qua, nhóm tác giả phân tích, làm rõ các yếu tố liên quan đến việc công chứng ngoài trụ sở trong trường hợp này, từ đó đưa ra những vấn đề công chứng viên cần lưu ý, cân nhắc khi chấp nhận đề nghị thực hiện việc công chứng ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng.
Trang 1Số 09/2021 - Năm thứ mười sáu
THỰC HIỆN VIỆC CƠNG CHỨNG NGỒI TRỤ SỞ CỦA TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CƠNG CHỨNG
Hồng Mạnh Thắng 1 Phạm Thị Thúy Hồng 2
Thực tiễn cho thấy, yêu cầu cơng chứng các
hợp đồng, giao dịch từ nhĩm chủ thể đặc biệt
gồm: người đang bị tạm giữ, tạm giam, thi hành
án phạt tù, người bị đề nghị áp dụng biện pháp
đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt
buộc ở ngồi trụ sở của tổ chức hành nghề cơng
chứng xuất hiện khá nhiều trong hoạt động cơng
chứng do những chủ thể này bị hạn chế quyền tự
do đi lại, cư trú
Việc cơng chứng các hợp đồng, giao dịch này
được cơng chứng viên (CCV) thực hiện theo quy
định tại Khoản 2 Điều 44 của Luật cơng chứng
(LCC) năm 2015 quy định: “Việc cơng chứng cĩ thể được thực hiện ngồi trụ sở của tổ chức hành nghề cơng chứng trong trường hợp người yêu cầu cơng chứng là người già yếu, khơng thể đi lại được, người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù hoặc cĩ lý do chính đáng khác khơng thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề cơng chứng”.
1 Thực trạng việc thực hiện cơng chứng ngồi trụ sở của tổ chức hành nghề cơng chứng qua một vụ việc cụ thể do Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh đăng tin
Tĩm tắt: Yêu cầu thực hiện việc cơng chứng ngồi trụ sở của tổ chức hành nghề cơng chứng khi
đáp ứng những điều kiện nhất định là một trong những quyền cơ bản của người yêu cầu cơng chứng được ghi nhận trong Luật cơng chứng năm 2014 Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu này của người yêu cầu cơng chứng, cơng chứng viên cần nghiên cứu các quy định pháp luật cũng như những vấn đề thực tế liên quan nhằm đảm bảo an tồn pháp lý cho việc cơng chứng hợp đồng, giao dịch của mình Bài viết dưới đây, thơng qua một việc giải quyết yêu cầu cơng chứng đối với giao dịch liên quan đến tài sản của người bị tạm giam gây sự chú ý và nhiều luồng ý kiến, quan điểm khác nhau trong thời gian qua, nhĩm tác giả phân tích, làm rõ các yếu tố liên quan đến việc cơng chứng ngồi trụ sở trong trường hợp này, từ đĩ đưa ra những vấn đề cơng chứng viên cần lưu ý, cân nhắc khi chấp nhận đề nghị thực hiện việc cơng chứng ngồi trụ sở của tổ chức hành nghề cơng chứng.
Từ khĩa: Tổ chức hành nghề cơng chứng, yêu cầu thực hiện cơng chứng ngồi trụ sở.
Nhận bài: 15/8/2021; Hồn thành biên tập: 14/9/2021; Duyệt đăng: 20/9/2021.
Abstract: Request for notarization outside the head office of a notarial practice organization when
meeting certain conditions is one of basic rights of the notarization requesters which is recognized in the Law on Notarization in 2014 However, to meet this requirement of the notarization requesters, notaries must study legal regulations as well as related practical issues to legally ensure their notarization of contracts, transactions In below article, through a controversial case of solving notarization request for transactions related to properties of the person temporarily detained, the group
of authors analyzes, clarifies factors related to notarization outside the head office of a notarial practice organization to propose issues which notaries should consider before accepting request for notarization outside the head office.
Keywords: Notarial practice organization, request for notarization outside the head office.
Date of receipt: 15/8/2021; Date of revision: 14/9/2021; Date of Approval: 20/9/2021.
1 CCV, Trưởng Phịng cơng chứng số 7 Thành phố Hồ Chí Minh.
2 Thạc sỹ, Trưởng Khoa Đào tạo Cơng chứng viên và các chức danh khác, Học viện Tư pháp.
Trang 2HỌC VIỆN TƯ PHÁP
Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh (số
Thứ Tư, ngày 16/12/2020) cĩ đăng bài: “Bất
thường từ vụ án tài xế Mercedes tơng tiếp viên
hàng khơng”3
Tĩm tắt vụ việc:
Ngày 15/12, Tịa án nhân dân quận Phú Nhuận
xét xử sơ thẩm bị cáo Nguyễn Trần Hồng Phong
(sinh năm 1988) về tội vi phạm quy định về tham
gia giao thơng đường bộ Phong là người thuê xe
Mercedes lái và tơng trực diện khiến người lái xe
grab là ơng Lê Mạnh Thường làm ơng Thường tử
vong tại chỗ và nữ tiếp viên hàng khơng Nguyễn
Thị Bích Hường bị thương tật 79% Viện kiểm sát
đề nghị hội đồng xét xử phạt Phong 6-7 năm tù,
đồng thời buộc bị cáo phải bồi thường cho ơng
Thường hơn 477 triệu đồng, bồi thường cho chị
Hường 1,4 tỷ đồng
Tại phiên tịa, bị cáo thú nhận sử dụng bằng
lái xe và chứng minh nhân dân giả, sau khi tai nạn
xảy ra bị cáo đã vứt bỏ những giấy tờ giả này trên
đường Bị cáo cho biết trong thời gian chờ Tịa án
xét xử đã ký cơng chứng sang tên một căn hộ
chung cư (mua trả gĩp chung với mẹ đẻ của mình
là bà Trần Hồng Họa Mi) cho người mẹ nên giờ
khơng cịn tài sản nào khác để chịu trách nhiệm
với bị hại Vào thời điểm ký văn bản chuyển
nhượng, bị cáo đang bị tạm giam, cĩ một người ở
tổ chức hành nghề cơng chứng mang giấy tờ yêu
cầu Phong ký Bị cáo ký nhưng khơng biết giấy
tờ đĩ cĩ nội dung gì
Qua diễn biến vụ việc xảy ra cĩ thể thấy một
số vấn đề liên quan:
Thứ nhất, trách nhiệm của cơ quan điều tra
(CQĐT) trong việc Phong bán tài sản duy nhất
khi đang bị tạm giam
Điều 128 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS)
năm 2015 quy định: “Kê biên tài sản chỉ áp dụng
đối với bị can, bị cáo về tội mà BLHS quy định
hình phạt tiền hoặc cĩ thể bị tịch thu tài sản hoặc
để bảo đảm bồi thường thiệt hại”.
Trong vụ án này, trách nhiệm bồi thường
thiệt hại của bị cáo Phong là khơng thể tranh cãi
khi vụ tai nạn mà Phong gây ra khiến một người
chết, một người bị thương rất nặng
Tuy việc kê biên tài sản của bị can trong thời gian bị tạm giam khơng phải là việc bắt buộc CQĐT phải làm nhưng trong vụ án này liệu CQĐT đã làm hết trách nhiệm của mình? CQĐT cĩ biết được bị cáo Phong chỉ cĩ một tài sản, nếu biết thì tại sao lại “tạo điều kiện” để Phong bán tài sản trong khi đang bị tạm giam mà khơng ngăn chặn?
Thứ hai, phán quyết của Tịa án sơ thẩm
trong việc giải quyết phần bồi thường dân sự trong vụ án hình sự
Điều 30 BLTTHS năm 2015 quy định: “Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự Trường hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại, bồi hồn mà chưa cĩ điều kiện chứng minh và khơng ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì vấn
đề dân sự cĩ thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự”.
Vụ án này, bị cáo Phong tự nguyện bồi thường cho hai người bị hại tổng cộng 1,877 tỷ đồng (bồi thường cho ơng Thường hơn 477 triệu đồng, bồi thường cho chị Hường 1,4 tỷ đồng) và hội đồng xét xử ghi nhận trong bản án Tuy nhiên, phần xét hỏi tại tịa Phong khai chi tiết đã bán căn hộ cho mẹ trong thời gian tạm giam và khơng cịn tài sản gì để bồi thường Trong khi trong hợp đồng cĩ nội dung: “Bà Mi trả tiền này cho Phong ngay sau khi văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán căn hộ được cơng chứng” Như vậy, thực tế bị cáo Phong cĩ tài sản là hơn 01 tỷ đồng từ tiền chuyển nhượng hợp đồng mua bán căn hộ chứ khơng phải là khơng cĩ tài sản gì Tuy nhiên, hội đồng xét xử đã khơng xốy vào hồ sơ để làm rõ bản chất vấn đề là bị cáo vẫn
cĩ tài sản Tịa đã chọn cách dễ dàng nhất là:
“Hội đồng xét xử xét thấy người liên quan cĩ thể kiện và đề nghị kê biên tài sản bằng một vụ án dân sự”
Thứ ba, trách nhiệm của CCV đã cơng chứng
hợp đồng?
Về gĩc độ cơng chứng hợp đồng, theo quy định việc CCV chứng nhận hợp đồng chuyển
3 https://plo.vn/phap-luat/bat-thuong-tu-vu-an-tai-xe-mercedes-tong-tiep-vien-hang-khong-956056.html.
Trang 3Số 09/2021 - Năm thứ mười sáu
nhượng giữa mẹ con bị cáo Phong là khơng sai
Tuy nhiên, với diễn biến như trên thì cĩ thể đặt
ra nghi vấn liên quan đến tác nghiệp của CCV
Đĩ là CCV cĩ nghi ngờ việc chuyển nhượng là để
nhằm trốn tránh trách nhiệm bồi thường dân sự
trong vụ án hình sự mà Phong đang bị cáo buộc
hay khơng? Thậm chí, sau phiên tịa sơ thẩm, CCV
cĩ cần đề nghị tịa án xem lại tính hợp pháp của
hợp đồng cơng chứng này hay khơng?
Cơ quan chức năng cần làm rõ thực tế cĩ
việc bà Mi trả số tiền hơn 01 tỷ đồng cho người
bán là bị cáo Phong ngay sau khi ký cơng chứng
hay khơng, bằng hình thức nào Nếu là chuyển
khoản thì các cơ quan tiến hành tố tụng cĩ làm
các biện pháp xác minh để phong tỏa tài khoản
của bị cáo Phong nhằm phục vụ cho việc giải
quyết vụ án hay khơng Nếu là chuyển trả tiền
mặt thì lúc ấy Phong đang là bị can bị tạm giam,
vậy ai đã giữ khoản tiền đĩ và số tiền này hiện
đang ở đâu, ai quản lý?
Nếu khơng cĩ việc chuyển trả tiền trên thực
tế thì cĩ thể hiểu hợp đồng chuyển nhượng giữa
mẹ con bị cáo Phong là hợp đồng giả cách hay
khơng, cĩ bị xem xét về hiệu lực hay khơng?
2 Một số quy định pháp luật cơng chứng
viên cần lưu ý khi thực hiện việc cơng chứng
ngồi trụ sở của tổ chức hành nghề cơng
chứng theo đề nghị của người đang bị tạm giữ,
tạm giam, thi hành án phạt tù, người bị đề
nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo
dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc
2.1 Về quyền thực hiện giao dịch của nhĩm
chủ thể này
- Người bị tạm giữ, tạm giam.
Khoản 3 Điều 19 của Luật tạm giữ, tạm giam
năm 2015 quy định: “Người bị tạm giữ, người bị
tạm giam bị hạn chế quyền đi lại, giao dịch, tiếp
xúc, thơng tin, liên lạc, tuyên truyền tín ngưỡng,
tơn giáo Trường hợp cần thiết thực hiện giao
dịch dân sự thì phải thơng qua người đại diện
hợp pháp và được sự đồng ý của cơ quan đang
thụ lý vụ án”.
Khoản 1 Điều 20 của Luật tạm giữ, tạm
giam năm 2015 quy định việc trích xuất người
bị tạm giữ, người bị tạm giam chỉ được thực
hiện khi cĩ lệnh trích xuất của người cĩ thẩm
quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự, Luật thi hành án hình sự và Luật này, trong
trường hợp sau đây:
“a) Để phục vụ cho hoạt động điều tra, truy
tố, xét xử, thi hành án;
b) Đưa đi khám bệnh, chữa bệnh, giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần;
c) Gặp thân nhân, người bào chữa hoặc người đại diện hợp pháp để thực hiện một số quyền, nghĩa vụ do luật định”.
- Người đang chấp hành án phạt tù.
Điểm e Khoản 1 Điều 27 của Luật thi hành
án hình sự quy định phạm nhân cĩ quyền:
“Được tự mình hoặc thơng qua người đại diện
để thực hiện giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật”.
Khoản 5 Điều 3 của Thơng tư số 14/2020/TT-BCA ngày 10 tháng 02 năm 2020 của Bộ Cơng an quy định chi tiết chế độ gặp, nhận quà và liên lạc của phạm nhân (sau đây gọi là Thơng tư số
14/2020/TT-BCA) quy định: “Phạm nhân đang bị điều tra, truy tố, xét xử về hành vi phạm tội khác
mà cơ quan đang thụ lý vụ án cĩ văn bản đề nghị
cơ sở giam giữ phạm nhân khơng cho phạm nhân gặp thân nhân, đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc yêu cầu cơ sở giam giữ phạm nhân phối hợp để giám sát chế độ gặp của phạm nhân thì Thủ trưởng cơ sở giam giữ phạm nhân xem xét thực hiện theo đề nghị của cơ quan đang thụ lý vụ án và giải thích rõ cho người đến gặp phạm nhân”.
Khoản 6 Điều 3 của Thơng tư số
14/2020/TT-BCA quy định: “Thủ trưởng cơ sở giam giữ phạm nhân phải tổ chức cho phạm nhân gặp thân nhân, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác vào tất cả các ngày trong tuần, kể cả ngày nghỉ, ngày lễ, tết theo giờ làm việc của đơn vị”.
Khoản 2 Điều 4 của Thơng tư số 14/2020/TT-BCA quy định: “Trường hợp đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác đề nghị được gặp phạm nhân thì Thủ trưởng cơ sở giam giữ phạm nhân xem xét, giải quyết nếu xét thấy phù hợp với lợi ích hợp pháp của phạm nhân cũng như yêu cầu quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân và phịng, chống tội phạm”
Trang 4HỌC VIỆN TƯ PHÁP
Khoản 1, 2 và 3 Điều 5 của Thơng tư số
14/2020/TT-BCA quy định:
“1 Thân nhân đến gặp phạm nhân phải là
người cĩ tên trong Sổ gặp phạm nhân (trường
hợp gặp lần đầu chưa cĩ sổ hoặc khơng cĩ tên
trong sổ thì phải cĩ giấy tờ, tài liệu chứng minh
là thân nhân phạm nhân) hoặc đơn xin gặp phạm
nhân cĩ xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã
hoặc Cơng an cấp xã nơi cư trú hoặc cơ quan, tổ
chức nơi người đĩ đang làm việc, học tập và phải
cĩ một trong những giấy tờ cá nhân sau (trừ
người dưới 14 tuổi): Chứng minh nhân dân hoặc
Căn cước cơng dân hoặc Hộ chiếu hoặc giấy tờ
chứng minh là cán bộ, chiến sỹ, cơng nhân viên
nếu thuộc lực lượng vũ trang.
Đối với phạm nhân là người nước ngồi, thủ
tục giải quyết cho phạm nhân gặp thân nhân
được thực hiện theo quy định tại Khoản 5 Điều
52 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
2 Đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân
khác khi đến gặp phạm nhân phải cĩ đề nghị
bằng văn bản (đối với cá nhân, văn bản đề nghị
phải được cơ quan nơi đang làm việc, học tập
hoặc chính quyền địa phương nơi cư trú xác
nhận) và phải cĩ một trong những giấy tờ cá
nhân được quy định tại Khoản 1 Điều này.
3 Trường hợp người đến gặp phạm nhân
khơng cĩ giấy tờ cá nhân thì phải cĩ đơn đề
nghị được dán ảnh do Ủy ban nhân dân cấp xã
hoặc Cơng an cấp xã nơi cư trú hoặc cơ quan,
tổ chức nơi người đĩ đang làm việc, học tập
xác nhận, đĩng dấu vào đơn và đĩng dấu giáp
lai vào ảnh”.
2.2 Một số lưu ý về thủ tục, giấy tờ cần
thiết khi thực hiện cơng chứng đối với các
giao dịch này
Theo Văn bản số 3162/C10-P8 ngày 12 tháng
6 năm 2020 của Bộ Cơng an hướng dẫn:
- Đối với phạm nhân đang chấp hành án phạt
tù tại các trại giam, trại viên đang chấp hành
quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc:
Khi các cơ quan, đơn vị chức năng cĩ yêu
cầu tiếp xúc phải cĩ văn bản đề nghị (kế hoạch
cơng tác), nội dung văn bản nêu rõ: Họ tên, năm
sinh, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, tội danh,
ngày bắt, án phạt của đối tượng tiếp xúc; nội
dung, thành phần, thời gian tiếp xúc, các giấy tờ khác cĩ liên quan và cử cán bộ tiếp xúc mang theo giấy tờ tùy thân, giấy chứng nhận hoặc thẻ chuyên ngành do cơ quan cĩ thẩm quyền cấp, giấy giới thiệu trực tiếp gặp Giám thị trại giam, Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc để giải quyết
- Đối với phạm nhân phạm các tội quy định tại Chương XIII các tội xâm phạm an ninh quốc gia, Chương XXVI các tội phá hoại hịa bình, chống lồi người và tội phạm chiến tranh theo BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), phạm nhân là người nước ngồi và trại viên là người cĩ chức sắc trong các tơn giáo, dân tộc ít người, hoặc các trường hợp theo yêu cầu nghiệp
vụ, yêu cầu đối ngoại của Đảng và Nhà nước, cơ
quan, đơn vị đề nghị tiếp xúc cử cán bộ mang theo các giấy tờ nêu tại Mục 1 đến liên hệ với Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng để được cấp giấy phép tiếp xúc
2.3 Cơng chứng viên cần xem xét nghĩa vụ của người phạm tội khi thực hiện cơng chứng
Điều 48 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:
“1 Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra.
2 Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tịa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, cơng khai xin lỗi người bị hại”.
Do vậy, CCV cần xem xét và yêu cầu xuất
trình bản án, quyết định của Tịa án cĩ hiệu lực pháp luật và quyết định thi hành, để xác định
nghĩa vụ về tài sản của người phạm tội (phạm nhân) trước khi thực hiện các hợp đồng, giao dịch liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản và việc cơng chứng hợp đồng, giao dịch cho những chủ thể đặc biệt nêu trên cần thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Cơng
an, để bảo đảm an tồn pháp lý cho hợp đồng, giao dịch được cơng chứng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch cũng như của Nhà nước và chủ thể khác liên quan./