ĐẶT VẤN ĐỀ Trong xu thế phát triển hiện nay, thể dục thể thao (TDTT) là một trong những ngành cần tăng cường các ứng dụng về công nghệ thông tin (CNTT) để phục vụ cho các công tác quản lý hành chính nhà nước, công tác điều hành, tổ chức thi đấu và nâng cao thành tích của vận động viên,… Đặc biệt trong công tác huấn luyện thể thao hiện đại luôn gắn liền với những ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ mới. Việc lập kế hoạch, thực hiện và điều chỉnh kế hoạch huấn luyện trong những năm gần đây có những biến đổi, nhờ sự hỗ trợ rất lớn từ CNTT. Lập kế hoạch huấn luyện là khâu cần đầu tư và tổng hợp nhất trong quá trình đào tạo, huấn luyện vận động viên (VĐV). Trong kế hoạch huấn luyện ngày nay đòi hỏi bao gồm cả các giải pháp liên quan hữu cơ đến nâng cao tính điều khiển hệ thống y sinh học, kỹ thuật, tâm lý,… nhằm giúp cho việc nâng cao thành tích thể thao của từng VĐV, tập thể đội. Đặc biệt thông qua CNTT để khoa học hoá giúp các huấn luyện viên (HLV) bao quát được toàn bộ quá trình huấn luyện xét cả về số lượng, chất lượng, xu hướng, của các thành phần hữu cơ liên quan đến trình độ năng lực tài năng trong hệ thống huấn luyện khoa học theo qui trình huấn luyện đào tạo công nghệ. Trong những năm qua Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, chú trọng việc ứng dụng tin học, CNTT vào quản lý hành chính nhà nước với mục đích đẩy mạnh việc ứng dụng tin học vào hoạt động quản lý hành chính trong các lĩnh vực nhằm góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý. Với mục đích xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở dữ liệu thông tin phục vụ cơ quan quản lý nhà nước xây dựng khai thác, duy trì và nâng cấp cơ sở hạ tầng thông tin của cơ quan theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quy định; xây dựng và duy trì cơ sở dữ liệu quốc gia đáp ứng giao dịch điện tử qua các phương tiện truy nhập thông tin từ internet thông dụng của xã hội; tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, các cá nhân dễ dàng truy nhập thông tin và dịch vụ hành chính công trên môi trường mạng; tăng cường phương pháp truy nhập và sử dụng thông tin, dịch vụ hành chính cũng từ trên môi trường mạng. Công nghệ thông tin là ngành ứng dụng công nghệ và quản lý và xử lý thông tin. Công nghệ thông tin là sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để sử dụng, chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền và thu nhận thông tin. Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông nhằm tổ chức khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội. Trong lĩnh vực TDTT nói chung và trong công tác huấn luyện thể thao hiện đại luôn gắn liền với những ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ mới. Việc lập kế hoạch, thực hiện và điều chỉnh kế hoạch huấn luyện trong những năm gần đây có những biến đổi, nhờ sự hỗ trợ rất lớn từ CNTT. Lập kế hoạch huấn luyện là khâu cần đầu tư và tổng hợp nhất trong quá trình đào tạo, huấn luyện VĐV. Trong kế hoạch huấn luyện ngày nay đòi hỏi bao gồm cả các giải pháp liên quan hữu cơ đến nâng cao tính điều khiển hệ thống y sinh học, kỹ thuật, tâm lý,… nhằm giúp cho việc nâng cao thành tích thể thao của từng VĐV, tập thể đội. Đặc biệt thông qua CNTT để khoa học hoá giúp các HLVbao quát được toàn bộ quá trình huấn luyện xét cả về số lượng, chất lượng, xu hướng, của các thành phần hữu cơ liên quan đến trình độ năng lực tài năng trong hệ thống huấn luyện khoa học theo qui trình huấn luyện đào tạo công nghệ. Cùng với các đơn vị trong cả nước, Trung tâm huấn luyện Thể thao Quốc gia (HLTTQG) Hà Nội cũng đã xác định rõ được vai trò quan trọng của việc ứng dụng CNTT vào các hoạt động quản lý, điều hành tại đơn vị đặc biệt là công tác quản lý huấn luyện. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc ứng dụng CNTT vào hoạt động quản lý, tổ chức, điều hành quá trình huấn luyện của các VĐV đội tuyển Quốc gia vẫn còn là vấn đề mới, vẫn chưa mang lại hiệu quả và cần có những thay đổi cho phù hợp. Vì vậy, cần có những nghiên cứu về vấn đề ứng dụng CNTT trong quản lý huấn luyện để đánh giá đúng thực trạng, đồng thời đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý tại Trung tâm. Xuất phát từ những lý do trên việc chọn và tiến hành: “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý huấn luyện các đội tuyển thể thao quốc gia tại Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội” là cần thiết được thực hiện nhằm góp phần nâng cao hiệu quả cho công tác quản lý huấn luyện tại Trung tâm được tốt hơn trong tương lai.
Trang 1Trang bìa
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục ký hiệu viết tắt trong luận án
Danh mục các biểu bảng, hình, sơ đồ trong luận án
Chương 1 - Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 5
1.1 Tin học hóa và xây dựng nền chính phủ điện tử trên thế giới
1.1.1 Vị trí vai trò công nghệ thông tin trong việc thúc đẩy xã hội thông tin trong thời đại
1.1.2 Thực trạng tin học hóa trong quản lý hành chính nhà nước và những định hướng,
chương trình, kế hoạch tổng thể của chính phủ Việt Nam về tin học hóa quản lý
1.1.3 Tin học hóa và tin học hóa hành chính nhà nước và sự nghiệp xây dựng chính phủ
1.1.4 Nhận xét tổng quát về lộ trình tin học hóa quản lý hành chính nhà
1.2 Tin học hóa các hoạt động quản lý trong lĩnh vực Thể dục thể thao 20
1.2.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về ứng dụng công nghệ thông tin
trong thể dục thể thao và quản lý thông tin huấn luyện thể thao 34
1.3 Một số hoạt động tin học hóa công tác quản lý
Trang 21.4.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 53
Chương 2: Đối tượng, phương pháp và tổ chức nghiên cứu 59
2.2.3 Phương pháp thiết kế mô hình ứng dụng công nghệ thông tin quản lý
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận 76
3.1 Thực trạng công tác công nghệ thông tin và quản lý huấn luyện
các đội tuyển thể thao quốc gia tại Trung tâm huấn luyện thể thao
3.1.1 Thực trạng công tác quản lý huấn luyện các đội tuyển thể thao quốc gia tại
Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội 763.1.2 Thực trạng đội ngũ nhân sự CNTT tại Trung tâm huấn luyện thể thao
3.1.3 Thực trạng về hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin tại Trung tâm
3.1.4 Thực trạng trang thông tin điện tử tại Trung tâm huấn luyện thể thao
Trang 33.2 Nghiên cứu lựa chọn, ứng dụng công nghệ thông tin trong quá
trình tổ chức, điều hành và quản lý công tác huấn luyện tại Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội 96
3.2.1 Vai trò và hiện trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào
tạo nguồn nhân lực của Ngành Thể dục thể thao 963.2.2 Vấn đề tin học hóa trong các hoạt động quản lý huấn luyện vận động
3.2.3 Mô hình quản lý, điều hành của Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc
3.2.4 Phân tích bài toán lựa chọn, ứng dụng công nghệ thông tin trong quá
trình tổ chức, điều hành và quản lý công tác huấn luyện tại Trung tâm
3.2.5 Mô hình tổng thể ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý
huấn luyện các đội tuyển thể thao quốc gia tại Trung tâm huấn luyện
3.2.6 Xây dựng và triển khai thực hiện hệ thống thông tin quản lý vận động
viên tại Trung tâm huấn luyện thể thao Quốc gia Hà Nội 1233.2.7 Đánh giá chất lượng sử dụng hệ thống thông tin quản lý vận động viên
tại Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội 1453.2.8 Phương pháp đánh giá ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4VIẾT TẮT THUẬT NGỮ TIẾNG VIỆT
Trang 5Thực trạng quân số chuyên gia tập huấn tại Trung tâm HLTTQG Hà Nội (năm 2015)
Error:Referencesource notfound3.3 Thực trạng số lượng VĐV, HLV tập huấn
3.4 Thực trạng số lượng VĐV, HLV, CG tập
3.5 Trình độ CNTT của CB, HLV QLHL 813.6 Mức độ sử dụng các hình thức trao đổi trong
89
3.10 Tình trạng máy tính phục vụ cho các hoạt
động tại Trung tâm HLTTQG Hà Nội 893.11 Tình trạng máy tính kết nối internet phục vụ
cho các hoạt động tại Trung tâm HLTTQG
Hà Nội
Error:Referencesource notfound
Trang 6HLTTQG Hà Nội
3.13 Chức năng hỗ trợ của trang thông tin điện tử
tại Trung tâm HLTTQG HN
Sau trang 923.14 Thực trạng ứng dụng CNTT trong các hoạt
động tại Trung tâm HLTTQG Hà Nội
Sau trang 95
3.15
Thực trạng sử dụng phần mềm liên quan trong các hoạt động tại Trung tâm HLTTQG
Hà Nội
Error:Referencesource notfound3.16 Công tác quản lý của Trung tâm HLTTQG
3.17 Thông tin phục vụ quản lý một đối tượng 109
3.19
Quy trình quản lý văn bản theo chức năng đơn vị
Error:Referencesource notfound3.20 Phân tích đối tượng tham gia hệ thống 1303.21 Kết quả đánh giá chất lượng sử dụng hệ thống
3.22 Kết quả kiểm định phương pháp SEPEL tại
3.23 Chỉ số trình độ ứng dụng CNTT tại Trung tâm
Hình
3.1 Tin học hóa quá trình huấn luyện và tổ chức
quản lý huấn luyện
Error:Referencesource notfound3.2 Cấu trúc của quá trình tổ chức quản lý HLTT 128
Trang 71323.7 Giao diện của truy cập hệ thống cho người
3.5 Mô hình ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt
3.6
Sơ đồ mô tả nguyên lý đánh giá trình độ ứng dụng CNTT và Internet vào hoạt động của đơn vị
Error:Referencesource notfound
chuyên môn và tin học cho đội ngũ CB QLHL
85
Trang 8found3.5 Tình trạng máy tính kết nối Internet phục vụ cho
các hoạt động tại Trung tâm HLTTQG Hà Nội 90
3.6
Tình trạng máy tính kết nối internet phục vụ cho
các hoạt động tại Trung tâm HLTTQG Hà Nội
Error:Referencesource notfound
3.7 Kết quả đánh giá chất lượng sử dụng hệ thống
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong xu thế phát triển hiện nay, thể dục thể thao (TDTT) là một trongnhững ngành cần tăng cường các ứng dụng về công nghệ thông tin (CNTT) đểphục vụ cho các công tác quản lý hành chính nhà nước, công tác điều hành, tổchức thi đấu và nâng cao thành tích của vận động viên,… Đặc biệt trong côngtác huấn luyện thể thao hiện đại luôn gắn liền với những ứng dụng tiến bộkhoa học - công nghệ mới Việc lập kế hoạch, thực hiện và điều chỉnh kếhoạch huấn luyện trong những năm gần đây có những biến đổi, nhờ sự hỗ trợrất lớn từ CNTT Lập kế hoạch huấn luyện là khâu cần đầu tư và tổng hợpnhất trong quá trình đào tạo, huấn luyện vận động viên (VĐV) Trong kếhoạch huấn luyện ngày nay đòi hỏi bao gồm cả các giải pháp liên quan hữu cơđến nâng cao tính điều khiển hệ thống y - sinh học, kỹ thuật, tâm lý,… nhằmgiúp cho việc nâng cao thành tích thể thao của từng VĐV, tập thể đội Đặcbiệt thông qua CNTT để khoa học hoá giúp các huấn luyện viên (HLV) baoquát được toàn bộ quá trình huấn luyện xét cả về số lượng, chất lượng, xuhướng, của các thành phần hữu cơ liên quan đến trình độ năng lực tài năngtrong hệ thống huấn luyện khoa học theo qui trình huấn luyện đào tạo công nghệ
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, chú trọngviệc ứng dụng tin học, CNTT vào quản lý hành chính nhà nước với mục đíchđẩy mạnh việc ứng dụng tin học vào hoạt động quản lý hành chính trong cáclĩnh vực nhằm góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Với mục đíchxây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở dữ liệu thông tin phục vụ cơ quan quản lý nhànước xây dựng khai thác, duy trì và nâng cấp cơ sở hạ tầng thông tin của cơquan theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quy định; xây dựng và duy trì cơ sở
dữ liệu quốc gia đáp ứng giao dịch điện tử qua các phương tiện truy nhậpthông tin từ internet thông dụng của xã hội; tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức,các cá nhân dễ dàng truy nhập thông tin và dịch vụ hành chính công trên môitrường mạng; tăng cường phương pháp truy nhập và sử dụng thông tin, dịch
Trang 10vụ hành chính cũng từ trên môi trường mạng
Công nghệ thông tin là ngành ứng dụng công nghệ và quản lý và xử lýthông tin Công nghệ thông tin là sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để
sử dụng, chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền và thu nhận thông tin.Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện
và công cụ kỹ thuật hiện đại chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông nhằm tổ chức khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tinrất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội
-Trong lĩnh vực TDTT nói chung và trong công tác huấn luyện thể thaohiện đại luôn gắn liền với những ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ mới.Việc lập kế hoạch, thực hiện và điều chỉnh kế hoạch huấn luyện trong nhữngnăm gần đây có những biến đổi, nhờ sự hỗ trợ rất lớn từ CNTT Lập kế hoạchhuấn luyện là khâu cần đầu tư và tổng hợp nhất trong quá trình đào tạo, huấnluyện VĐV Trong kế hoạch huấn luyện ngày nay đòi hỏi bao gồm cả các giảipháp liên quan hữu cơ đến nâng cao tính điều khiển hệ thống y - sinh học, kỹthuật, tâm lý,… nhằm giúp cho việc nâng cao thành tích thể thao của từngVĐV, tập thể đội Đặc biệt thông qua CNTT để khoa học hoá giúp cácHLVbao quát được toàn bộ quá trình huấn luyện xét cả về số lượng, chấtlượng, xu hướng, của các thành phần hữu cơ liên quan đến trình độ năng lựctài năng trong hệ thống huấn luyện khoa học theo qui trình huấn luyện đào tạocông nghệ
Cùng với các đơn vị trong cả nước, Trung tâm huấn luyện Thể thaoQuốc gia (HLTTQG) Hà Nội cũng đã xác định rõ được vai trò quan trọng củaviệc ứng dụng CNTT vào các hoạt động quản lý, điều hành tại đơn vị đặc biệt
là công tác quản lý huấn luyện Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc ứng dụngCNTT vào hoạt động quản lý, tổ chức, điều hành quá trình huấn luyện của cácVĐV đội tuyển Quốc gia vẫn còn là vấn đề mới, vẫn chưa mang lại hiệu quả
và cần có những thay đổi cho phù hợp Vì vậy, cần có những nghiên cứu vềvấn đề ứng dụng CNTT trong quản lý huấn luyện để đánh giá đúng thực
Trang 11trạng, đồng thời đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quảhoạt động quản lý tại Trung tâm
Xuất phát từ những lý do trên việc chọn và tiến hành: “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý huấn luyện các đội tuyển thể thao quốc gia tại Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội” là cần thiết được thực hiện nhằm góp phần nâng cao hiệu quả cho công
tác quản lý huấn luyện tại Trung tâm được tốt hơn trong tương lai
Mục đích nghiên cứu:
Thông qua việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý huấn luyện cácVĐV đội tuyển thể thao quốc gia tại Trung tâm HLTTQG Hà Nội để nângcao hiệu quả công tác quản lý huấn luyện tại Trung tâm góp phần tiết kiệmchi phí, nhân lực, thời gian trong việc huấn luyện các vận động viên trình độcao của đất nước
Mục tiêu nghiên cứu:
Nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ nghiên cứu khoa học phục vụcho xã hội, ngành…Trong quá trình thực hiện luận án này với mong muốnthông qua nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn thông qua CNTT góp phầngiúp các nhà quản lý, HLV đạt được mục đích của mình một cách nhanhchóng, thuận tiện và hiệu quả nhất Luận án đã xác định được các mục tiêunghiên cứu:
Mục tiêu 1: Nghiên cứu thực trạng công tác CNTT và QLHL các đội
tuyển thể thao quốc gia tại Trung tâm HLTTQG Hà Nội
Mục tiêu 2: Nghiên cứu lựa chọn, ứng dụng CNTT trong quá trình tổ
chức, điều hành và quản lý công tác huấn luyện tại Trung tâm HLTTQG Hà Nội
Giả thuyết khoa học của đề tài:
Xuất phát từ thực tế công tác tổ chức, quản lý, điều hành quá trình huấnluyện các đội tuyển thể thao quốc gia ở Việt Nam còn nhiều bất cập; Nhiều thủtục hành chính chồng chéo, cơ chế quản lý chưa phù hợp và còn nhiều vấn đề
Trang 12chưa được xác định, việc quản lý chính sách đối với VĐV các đội tuyển thểthao quốc gia còn chưa thống nhất như tiền công, tiền lương, các chế độ chínhsách khác như học văn hoá, chế độ dinh dưỡng, cấp phát trang thiết bị tậpluyện cá nhân cũng như việc quản lý trực tiếp các yếu tố của quán trình huấnluyện như: thời gian, địa điểm tập luyện, sự thay đổi chương trình, kế hoạchhuấn luyện… việc kiểm tra giám sát của các nhà quản lý chuyên môn với cácchuyên gia, HLV… còn chưa nhất quán và mang nặng tính thủ công
Hy vọng thành công của luận án bằng cách xây dựng các phần mềm và
hệ thống quản lý thông tin khắc phục những tồn tại nêu trên và làm tăng hiệuquả và hiệu lực của công tác tổ chức, quản lý và điều hành các hoạt động củacác đội tuyển thể thao quốc gia ở Trung tâm HLTTQG Hà Nội nói riêng, cũngnhư ở nước ta hiện nay
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tin học hóa và xây dựng nền chính phủ điện tử trên thế giới và Việt Nam
1.1.1 Vị trí vai trò công nghệ thông tin trong việc thúc đẩy xã hội thông tin trong thời đại ngày nay của thế giới và Việt Nam Error: Reference source not found, Error: Reference source not found
Chúng ta đang sống trong một thời đại mới, thời đại phát triển rực rỡcủa CNTT Công nghệ thông tin đã ở một bước phát triển cao đó là số hóa tất
cả các dữ liệu thông tin, luân chuyển mạnh mẽ và kết nối tất cả chúng ta lạivới nhau Mọi loại thông tin, số liệu âm thanh, hình ảnh có thể được đưa vềdạng kỹ thuật số để bất kỳ máy tính nào cũng có thể lưu trữ, xử lý và chuyểntiếp cho nhiều người Những công cụ và sự kết nối của thời đại kỹ thuật sốcho phép chúng ta dễ dàng thu thập, chia sẻ thông tin và hành động trên cơ sởnhững thông tin này theo phương thức hoàn toàn mới, kéo theo hàng loạt sựthay đổi về các quan niệm, các tập tục, các thói quen truyền thống, và thậmchí cả cách nhìn các giá trị trong cuộc sống Công nghệ thông tin đến vớitừng người dân, từng người quản lý, nhà khoa học, người nông dân, bà nộitrợ, học sinh tiểu học….Không có lĩnh vực nào, không có nơi nào không cómặt của CNTT
Công nghệ thông tin là một trong các động lực quan trọng nhất của sựphát triển…ứng dụng và phát triển CNTT ở nước ta nhằm góp phần giảiphóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy côngcuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cườngnăng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trìnhhội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảmbảo an ninh quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi
sự nghiệp công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) (CT số 58-CT/TW
Trang 14ngày 17- 10- 2000 của BCT khoá VIII) Tác động của CNTT đối với xã hộiloài người vô cùng to lớn, nó không chỉ thúc đẩy nhanh quá trình tăng trưởngkinh tế, mà còn kéo theo sự biến đổi trong phương thức sáng tạo của cải,trong lối sống và tư duy của con người Trong nền kinh tế tri thức, các quytrình sản xuất đều được tự động hoá Máy móc không chỉ thay thế con ngườinhững công việc nặng nhọc, mà thay thế con người ở những khâu phức tạpcủa sản xuất và quản lý, không chỉ thay thế thao tác lao động của con người
mà cả thao tác tư duy Trong nền kinh tế toàn cầu, với sự phát triển củainternet, thương mại điện tử đang trở thành một lĩnh vực phát triển rất mạnh
mẽ, nó thúc đẩy các ngành sản xuất dịch vụ trên phạm vi toàn thế giới, và đặcbiệt quan trọng với các nước đang phát triển, nhất là đối với vùng xa xôi hẻolánh, các nước và các vùng này có cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế Côngnghệ thông tin là chiếc chìa khoá để mở cánh cổng vào nền kinh tế tri thức
Mạng thông tin là môi trường lý tưởng cho sự sáng tạo, là phương tiệnquan trọng để quảng bá và nhân rộng nhanh vốn tri thức, động lực của sự pháttriển, thúc đẩy phát triển dân chủ trong xã hội, phát triển năng lực của conngười…Công nghệ thông tin sẽ nhanh chóng thay đổi thế giới một cáchmạnh mẽ, sự chuyển đổi này có vị thế trong lịch sử như một cuộc cách mạngkinh tế - xã hội và có ảnh hưởng to lớn đến đời sống con người Đối với y tế,việc ứng dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và CNTT đã trở thànhmột hình thức phổ biến có tác dụng hỗ trợ kịp thời và thiết thực trong việcchữa bệnh cho nhân dân Ví dụ, hiện nay đã dùng công nghệ siêu âm 3D (bachiều), hoặc các bác sĩ có thể hội chẩn từ xa (thậm chí từ nhiều nước khácnhau trên thế giới) Sử dụng CNTT để hỗ trợ về mặt kỹ thuật và phương phápđiều trị cho những vùng xa trung tâm y tế đã mang lại giá trị to lớn về mặttinh thần cũng như vật chất cho nhân dân
Sự phát triển của CNTT đã làm thay đổi cơ bản cơ cấu kinh tế, phươngthức tổ chức và sản xuất, cách tiếp cận của từng người tới tri thức, giải trí,
Trang 15phương pháp tư duy và giải quyết công việc và các mối quan hệ trong xã hội.Sáng tạo ra những giá trị mới và việc làm mới, cuộc cách mạng này sẽ manglại những thị trường mới và những nghề nghiệp mới với những đột phá côngnghệ có tính thách thức đối với toàn thế giới.
Hơn nữa, chính bản thân CNTT đã trực tiếp tạo ra sự biến đổi lớn laotrong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội loài người Chưa bao giờ quátrình dân chủ hoá lại được mở rộng và có nhiều điều kiện để thực hiện nhưbây giờ Công nghệ thông tin đi vào cuộc sống sẽ lan toả đến mọi nơi, mọilĩnh vực, máy tính sẽ có mặt ở khắp mọi nơi, việc kết nối mạng cũng trở nên
dễ dàng và thuận tiện nhất cho tất cả mọi người dân Bên cạnh đó, mặt tráicủa CNTT, của nền kinh tế tri thức đang đặt ra những thách thức rất lớn, đó là
sự cách biệt giàu nghèo, sự phân hoá giữa một bên là các quốc gia, dân tộcbiết nắm bắt và khai phá những nguồn lợi từ CNTT, hạn chế những mặt tiêucực mà nó đưa lại với các quốc gia dân tộc không có hoặc chưa phát triểnnhững công nghệ đó Vì vậy với sự phát triển như vũ bão của CNTT hiện nay,quốc gia nào, dân tộc nào nhanh chóng nắm bắt và làm chủ được CNTT thì sẽkhai thác được nhiều hơn, nhanh hơn lợi thế của mình
Và cũng chính từ đây nảy sinh một thách thức rất lớn đối với các nướcđang phát triển như nước ta đó là làm thế nào để phát huy được thế mạnh củaCNTT thúc đẩy sự phát triển của xã hội mà không mất đi văn hoá truyềnthống quý báu của dân tộc Sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta hiện nay tất yếuphải khai thác được những tiềm năng thế mạnh của CNTT, thúc đẩy nhữngứng dụng và phát triển CNTT, coi đó là một điều kiện cần thiết để đạt đượcnhững mục tiêu của giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
1.1.2 Thực trạng tin học hóa trong quản lý hành chính nhà nước và những định hướng, chương trình, kế hoạch tổng thể của chính phủ Việt Nam về tin học hóa quản lý hành chính nhà nước
Công nghệ thông tin là một trong các động lực quan trọng nhất của sựphát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu
Trang 16sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại.
Ứng dụng và phát triển tin học hóa (THH) quản lý hành chính nhà nước(QLHCNN) ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ vàtinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh vàHĐH các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanhnghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế,nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng
và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệphoá, hiện đại hoá Error: Reference source not found, Error: Reference sourcenot foundError: Reference source not found Error: Reference source notfound, Error: Reference source not found, Error: Reference source not found,Error: Reference source not found
Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 30/03/1991 của Bộ Chính trị về khoahọc và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới đã nêu: “Tập trung sức phát triểnmột số ngành khoa học công nghệ mũi nhọn như điện tử, tin học ”
Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ương (khoáVII) ngày 30/07/1994 đã xác định: “Ưu tiên ứng dụng và phát triển các côngnghệ tiên tiến, như CNTT phục vụ yêu cầu điện tử hoá và tin học hoá nền kinh tếquốc dân”
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII cũng nhấnmạnh: “Ứng dụng CNTT trong tất cả các lĩnh vực kinh tế quốc dân, tạo ra sựchuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lượng và hiệu quả; hình thành mạngthông tin quốc gia liên kết với một số mạng thông tin quốc tế”
Để thể chế hoá về mặt nhà nước, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số49/CP, ngày 04/08/1993 về “Phát triển CNTT ở Việt Nam trong những năm 90”
Ngay từ thời kỳ chống Mỹ cứu nước, Đảng và Nhà nước ta đã có chủtrương vận dụng công nghệ - thông tin trong một số lĩnh vực Bước sang thời
kỳ đổi mới, chủ trương ấy đã được nhấn mạnh và cụ thể hoá trong nhiều nghị
Trang 17quyết của Đảng và Chính phủ Thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhànước, từ những năm 70, THH QLHCNN ở nước ta đã được ứng dụng và pháttriển, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Nhận thức của toàn xã hội về vai trò và ý nghĩa quan trọng của THHQLHCNN đã được nâng lên một bước Nguồn nhân lực về THH QLHCNNtăng lên đáng kể Viễn thông đang phát triển nhanh theo hướng hiện đại hoá.Nghị quyết số 07/2000/NQ-CP ngày 05/06/2000 của Chính phủ về xây dựng
và phát triển công nghiệp phần mềm giai đoạn 2000 - 2005 đang và sẽ tiếp tụctạo ra môi trường thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu
tư, kinh doanh, sản xuất và cung ứng dịch vụ phần mềm
Tuy nhiên, THH QLHCNN Việt Nam hiện nay vẫn đang ở tình trạnglạc hậu, phát triển chậm, có nguy cơ tụt hậu xa hơn so với nhiều nước trên thếgiới và khu vực Việc ứng dụng THH QLHCNN chưa đáp ứng được yêu cầucủa công cuộc CNH, HĐH và yêu cầu về hội nhập khu vực và quốc tế, vai tròđộng lực và tiềm năng to lớn của THH QLHCNN chưa được phát huy mạnhmẽ; việc phát triển nguồn nhân lực THH QLHCNN chưa được chuẩn bị kịpthời cả về số lượng và chất lượng, về chuyên môn cũng như về ngoại ngữ,viễn thông và Internet chưa thuận lợi, chưa đáp ứng các yêu cầu về tốc độ,chất lượng và giá cước cho ứng dụng và phát triển
Tin học hóa QLHCNN: đầu tư cho THH QLHCNN chưa đủ mức cần thiết;quản lý nhà nước về lĩnh vực này vẫn phân tán và chưa hiệu quả, ứng dụng THHquản lý HCNN ở một số nơi còn hình thức, chưa thiết thực và còn lãng phí
Nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức của các cấp, các ngành và toàn
xã hội về vai trò của THH QLHCNN chưa đầy đủ; thực hiện chưa triệt để cácchủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; chưa kết hợp chặt chẽ ứngdụng THH QLHCNN với quá trình cơ cấu lại sản xuất, kinh doanh, cải cáchhành chính, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhànước; chậm ban hành các chính sách đáp ứng nhu cầu ứng dụng và phát triển
Trang 18THH QLHCNN; quản lý nhà nước trong các lĩnh vực máy tính, viễn thông vàthông tin điện tử (TTĐT) chưa thống nhất, thiếu đồng bộ, chưa tạo được môitrường cạnh tranh lành mạnh cho việc cung ứng dịch vụ viễn thông vàInternet, chưa coi đầu tư cho xây dựng hạ tầng thông tin là loại đầu tư xâydựng hạ tầng kinh tế - xã hội.
Ý thức được vai trò quyết định của THH QLHCNN trong công cuộcCNH, HĐH xây dựng đất nước, từ năm 1993 Chính phủ đã có Nghị quyết số49/CP, khẳng định mục tiêu xây dựng và phát triển THH QLHCNN ở nước
ta đến năm 2000 là: “Xây dựng những nền móng bước đầu vững chắc chomột kết cấu hạ tầng về thông tin trong xã hội có khả năng đáp ứng các nhucầu cơ bản về thông tin trong quản lý Nhà nước và trong các hoạt động kinh
tế - xã hội, đồng thời tích cực xây dựng ngành công nghiệp CNTT thành mộttrong những ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước, góp phần chuẩn bịcho nước ta có vị trí xứng đáng trong khu vực khi bước vào thế kỷ 21”
Nhằm tạo ra bước phát triển và ứng dụng mạnh mẽ hơn THHQLHCNN trong thời kỳ mới, Bộ Chính trị (khóa VIII) ra “Chỉ thị số58-CT/TW, ngày 17/10/2000 về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTTphục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Chỉ thị đã nêu rõ: “Côngnghệ thông tin là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển,cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sốngkinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại”
Đồng thời, Chỉ thị cũng nêu rõ nhiệm vụ ứng dụng CNTT đối với các
cơ quan Đảng và Nhà nước trong giai đoạn 2001 - 2005 như sau: “Các cơquan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội đi đầu trong việc triểnkhai ứng dụng CNTT trong mọi hoạt động theo phương châm bảo đảm tiếtkiệm, thiết thực và hiệu quả lâu dài Tin học hóa hoạt động của các cơ quanĐảng và Nhà nước là bộ phận hữu cơ quan trọng của cải cách nền hành chínhquốc gia, là nhiệm vụ thường xuyên của các cơ quan nhằm tăng cường năng
Trang 19lực quản lý, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả Các cấp ủy, tổ chứcĐảng chỉ đạo khẩn trương xây dựng các hệ thống thông tin (HTTT) cần thiếtphục vụ lợi ích công cộng của nhân dân, phục vụ sự lãnh đạo của Đảng, quản
lý của nhà nước Sớm hoàn thiện, thường xuyên nâng cấp và sử dụng có hiệuquả mạng thông tin diện rộng của Đảng và Chính phủ Bảo đảm đến năm
2005, về cơ bản xây dựng và đưa vào hoạt động HTTT điện tử của Đảng vàChính phủ”
Để thực hiện mục tiêu trên, Chính phủ đã xây dựng Chương trình quốcgia về CNTT đến năm 2000 và thành lập Ban chỉ đạo Chương trình quốc gia
về CNTT bao gồm các thành viên là lãnh đạo các Bộ, ngành chủ chốt để phốihợp triển khai thực hiện dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ
Để triển khai thực hiện chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của BộChính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số81/2001/QĐ-TTg ngày 24/05/2001 phê duyệt chương trình hành động triểnkhai Chỉ thị 58 giai đoạn 2001 - 2005, trong đó mục tiêu chỉ rõ:
- Mục tiêu đến năm 2001: CNTT Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trongkhu vực, được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực; công nghiệp CNTT trởthành ngành kinh tế mũi nhọn, có tốc độ phát triển cao, có tỷ trọng đóng gópcho tăng trưởng GDP ngày càng tăng Mạng thông tin quốc gia phủ trên cảnước, với thông lượng lớn, tốc độ và chất lượng cao, giá rẻ Tỷ lệ người sửdụng Internet đạt mức trung bình thế giới
- Mục tiêu đến năm 2005: CNTT Việt Nam đạt được trình độ trungbình trong khu vực với 1.5% dân số thuê bao sử dụng Internet Công nghiệpCNTT đạt tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm khoảng 20 - 25%, giá trịsản lượng phần mềm khoảng 500 triệu USD/năm
Đào tạo trên 50.000 chuyên gia về CNTT ở các trình độ khác nhau,trong đó có 25.000 chuyên gia về CNTT trình độ cao và lập trình viên chuyên
Trang 20nghiệp, thông thạo ngoại ngữ để phục vụ cho CNTT; từng bước phổ cập sửdụng máy tính và Internet ở bậc trung học phổ thông”.
Tiếp đến, nhằm triển khai thực hiện chương trình hành động nêu trên,Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt các chương trình trọng điểm về xây dựngChính phủ điện tử giai đoạn đến năm 2005, cụ thể:
Quyết định 112/2001/QĐ-TTg ngày 25/07/2001 của Thủ tướng Chínhphủ về phê duyệt Đề án tin học hoá quản lý hành chính nhà nước giai đoạn
2001 - 2005 Mục tiêu của Đề án là: “Đến năm 2005, về cơ bản phải xây dựng
và đưa vào hoạt động HTTT điện tử của Đảng và Chính phủ nhằm nâng caohiệu lực, hiệu quả điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Lãnh đạocác Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địaphương các cấp Mục tiêu chung đó được thể hiện trên các mặt:
Xây dựng HTTT phục vụ quản lý của các cơ quan hành chính nhànước; đến cuối năm 2005, đưa HTTT điện tử của Chính phủ vào hoạt động
Bám sát các mục tiêu của Chương trình Cải cách hành chính Nhà nước,thúc đẩy mạnh mẽ việc hiện đại hoá công nghệ hành chính, thực hiện tin học hoácác quy trình phục vụ nhân dân trong các lĩnh vực dịch vụ công, nâng cao nănglực của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc cung cấp các dịch vụ côngcho nhân dân và doanh nghiệp được thuận tiện, nhanh gọn và chất lượng cao
Đào tạo tin học cho CB, công chức nhà nước, tạo khả năng tiếp cận, sửdụng công nghệ mới trong công việc thường xuyên, nhằm đáp ứng yêu cầucao về hiệu quả và chất lượng công việc”
Quyết định 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/09/2001 của Thủ tướng Chínhphủ về phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giaiđoạn 2001 - 2010, trong đó bao hàm: Đổi mới phương thức điều hành của hệthống hành chính; Hiện đại hoá công sở, bảo đảm trang thiết bị và điều kiệnlàm việc tương đối hiện đại cho các cơ quan hành chính; ứng dụng CNTTtrong hoạt động của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp
Trang 21Cho đến nay, kết quả triển khai thực hiện Đề án tin học hoá QLHCNNgiai đoạn 2001 - 2005, và Chương trình tổng thể cái cách hành chính nhànước giai đoạn 2001 - 2010 của Chính phủ đã đạt được những kết quả đáng
kể, là cơ sở để triển khai xây dựng thành công Chính phủ điện tử ở Việt Nam
Để tiếp nối thực hiện xây dựng Chính phủ điện tử giai đoạn tiếp theo,ngày 29/06/2006, Quốc hội đã thông qua “Luật CNTT” - số 67/2006/QH11,
và Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007 Đây là một bộ luật đầu tiêntrong lĩnh vực CNTT, là cơ sở pháp lý cho hoạt động ứng dụng và phát triểnCNTT đất nước Bộ luật này được xây dựng với mục đích tạo mọi điều kiệnthuận lợi và cởi mở nhất cho các cá nhân và tổ chức tham gia ứng dụng vàphát triển CNTT, và sẽ là những động lực thúc đẩy nền CNTT đất nước pháttriển nhanh trong thời gian tới
và cá nhân; hỗ trợ đẩy mạnh cải cách hành chính và bảođảm công khai, minh bạch
Như vậy có thể thấy rằng,vai trò của THH QLHCNN trong đời sống và
xã hội hiện đại ngày càng tăng và đã trở thành một yếu tố không thể thiếu.Việc xây dựng chính phủ điện tử đòi hỏi phải trải qua nhiều bước, trong đóyếu tố quan trọng nhất giúp chính phủ điện tử thành công đó là thủ tục hànhchính phải minh bạch, rõ ràng, tránh chồng chéo Nếu thủ tục hành chính cònrườm rà, phức tạp thì sẽ rất khó thành công khi ứng dụng chính phủ điện tử.Với quan điểm chỉ đạo thống nhất của Đảng và Chính phủ về ứng dụng THHQLHCNN là yếu tố quan trọng thúc đẩy nhanh việc ứng dụng rộng rãi THHQLHCNN trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa và an ninh, quốc phòng,
Trang 22đặc biệt tập trung ưu tiên phát triển chính phủ điện tử, thương mại điện tửnhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
1.1.3 Tin học hóa và tin học hóa hành chính nhà nước và sự nghiệp xây dựng chính phủ điện tử ở Việt Nam
Từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, hầu hết các nước côngnghiệp phát triển hàng đầu trên thế giới đều đã tiến hành triển khai chươngtrình xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, nhằm đáp ứng một cách tốtnhất nhu cầu ngày một tăng của xã hội, nâng cao năng lực và khả năng thíchứng, đồng thời giảm bớt chi phí hoạt động của chính phủ Error: Referencesource not foundError: Reference source not found
Trong bối cảnh hoạt động quản lý điều hành dựa trên giấy tờ truyềnthống của chính phủ đã dần tỏ ra không bắt kịp với nhịp độ phát triển xã hội,bằng việc tận dụng một cách tối đa ưu thế của công nghệ máy tính và Internet,chính phủ điện tử đóng góp mạnh mẽ vào quá trình cải cách chính phủ theohướng trong sạch, hiệu quả và toàn diện trên khắp toàn bộ hệ thống tổ chứccác cơ quan nhà nước Điều này phù hợp với mục tiêu cải cách hoạt độngquản lý điều hành của chính phủ theo hướng lấy người dân làm trọng tâm, từquản lý sang phục vụ người dân và doanh nghiệp
Chính phủ điện tử không chỉ là tập hợp những giải pháp đơn lẻ dựa trêncác ứng dụng web, mà được kỳ vọng tạo ra một môi trường tương tác điện tửthống nhất giữa một bên là các tổ chức, cơ quan nhà nước và một bên làngười dân, doanh nghiệp Chính phủ điện tử cũng tạo cơ hội cho các cơ quannhà nước nắm bắt thông tin và công tác với nhau tốt hơn Thông qua việc liênkết các quy trình nghiệp vụ một cách hợp lý, nỗ lực giảm thiểu chi phí, đẩymạnh nghiên cứu và đánh giá hoạt động, hoạt động quản lý điều hành nhànước sẽ được nâng cao cả về chất lượng lẫn thời gian xử lý
Nhiều quốc gia trên thế giới đã ban hành các chiến lược chính phủ điện
tử cấp quốc gia cùng với các kế hoạch hành động cụ thể theo từng giai đoạn
Trang 23khác nhau Hạ tầng thông tin và các HTTT lớn phục vụ chính phủ điện tử đãnhận được nhiều ưu tiên về kinh phí và nguồn lực Các công nghệ mới được
áp dụng rộng rãi cho phép cung cấp đa dạng kênh truy cập thông tin, cùng với
đó số lượng dịch vụ có chất lượng được gia tăng nhanh chóng Khởi đầu,chính phủ cung cấp các biểu mẫu trên trang TTĐT để người dân có thể truycập vào tải về, dần dần phát triển các trang TTĐT tích hợp các dịch vụ công,thủ tục hành chính được truy xuất từ xa, hệ thống các ứng dụng trực tuyếnphục vụ công tác, quản lý điều hành của các cơ quan chính phủ Chi phí mạngInternet băng rộng, các thiết bị không dây ngày càng rẻ hơn đã cho phép thúcđẩy triển khai chính phủ điện tử thống nhất, có mặt ở khắp mọi nơi vượt quagiới hạn về thời gian và địa lý
Các mạng xã hội trên mạng Internet thông qua máy tính cá nhân đãkhông còn là yếu tố mới mẻ Ứng dụng CNTT trở thành một phần không thểthiếu trong hoạt động nghiệp vụ, đặc biệt là trong lĩnh vực thuế quan, ngânhàng Chính vì vậy, đã có sự điều chỉnh khi đánh giá chính phủ điện tử cácnước trên thế giới, không còn tập trung phân tích tiềm năng xây dựng chínhphủ điện tử nữa mà chuyển sang xem xét hiện trạng phát triển chính phủ điện
tử tại mỗi quốc gia
Hiện nay, tồn tại nhiều xu hướng phát triển chính phủ điện tử khácnhau Tuy nhiên, những xu hướng này đều có điểm chung là nâng cao mức độhài lòng của xã hội, cải tiến hiệu quả và minh bạch hoạt động chính phủ vàđảm bảo tính công bằng, chuẩn mực trong quản lý nhà nước Năm 2007, tạpchí Business Insight có thực hiện một cuộc khảo sát về mục tiêu cụ thể của cácgiải pháp chính phủ điện tử, kết quả thu được như sau:
Trang 24Báo cáo đánh giá về hiện trạng phát triển Chính phủ điện tử do LiênHợp quốc công bố có chỉ ra mức độ phát triển chính phủ điện tử dựa trên banền tảng chính đó là: mức độ trực tuyến, hạ tầng viễn thông và nguồn nhânlực Tuy nhiên, việc cùng lúc đẩy mạnh phát triển cả ba yếu tố này là khôngkhả thi với khá nhiều nước do đòi hỏi đầu tư có tính dài hạn Chính phủ cácnước, đặc biệt là những nước phát triển, luôn phải chịu một sức ép từ xã hội
về cách thức sử dụng ngân sách sao cho có hiệu quả, vừa đáp ứng các nhu cầu
xã hội và phát triển kinh tế, trong khi vẫn phải lưu ý thực hiện các biện phápgiảm thuế, cung cấp thông tin đầy đủ và minh bạch, và tăng cường hệ thốngphúc lợi xã hội
Chính vì vậy, tới năm 2010 phần lớn chính phủ các nước vẫn tập trungvào nâng cao khả năng cung cấp thông tin trực tuyến hoặc qua thiết bị di độngthay vì đầu tư vào các dịch vụ có tính tương tác mức độ cao Các trang thôngchính phủ có chức năng diễn đàn trao đổi hoặc trao đổi thông tin với cácmạng xã hội còn hạn chế Hầu hết chính phủ các nước vẫn chưa thực sự tíchhợp hoàn toàn các hệ thống giao tiếp phía trước (front-office) và hệ thốngnghiệp vụ phía sau (back-office) Vấn đề thiếu hụt nguồn nhân lực về CNTTcũng vẫn còn nóng bỏng, đặc biệt là tại những nước đang và chậm phát triển
1.1.4 Nhận xét tổng quát về lộ trình tin học hóa quản lý hành chính
Trang 25nhà nước ở Việt Nam
Việt Nam đã nhận thức được xu hướng và hiệu quả của việc xây dựngchính phủ điện tử thông qua việc ký Hiệp định khung ASEAN điện tử vàonăm 2000 và thực hiện chương trình THH QLHCNN Hiện có 4 đề án lớnđang được triển khai: THH (Đề án 112), THH hoạt động của các cơ quanĐảng (Đề án 47), tin học hóa hoạt động của Quốc hội và phát triển thương
mại điện tử Error: Reference source not found, Error: Reference source not
đã thử nghiệm cung cấp một số dịch vụ công cho người dân
Việc phát triển thương mại điện tử, coi đây là cầu nối cộng đồng doanhnghiệp với Chính phủ, người dân được Bộ Thương mại thực hiện từ năm
1998 Tuy nhiên, do thiếu những quy định về giao dịch điện tử nên thươngmại điện tử hoạt động ra sao, hiệu quả thế nào đến nay vẫn là dấu hỏi lớn.Hiện nay, chỉ có khoảng 8-10% doanh nghiệp (trong khoảng 125.000 đơn vị)
có website riêng và 50% sử dụng Internet
Đề án 47 và Đề án THH các hoạt động của Quốc hội ra đời sau nhưngđang được thực hiện khẩn trương Riêng năm 2003, Đề án 47 được đầu tư 95 tỷđồng để xây dựng các HTTT, cập nhật và khai thác thông tin qua mạng Hệthống mạng WAN đã được xây dựng, hoạt động khá ổn định và đang được mởrộng tới cấp quận - huyện Đề án THH các hoạt động của Quốc hội hướng tớicung cấp thông tin Quốc hội, tin tham khảo, các dịch vụ mạng và Internet
Trang 26Trong hội thảo về chính phủ điện tử trong Tuần lễ tin học lần thứ 13vừa được tổ chức, có ý kiến cho rằng: Khi xây dựng chính phủ điện tử, vấn đềcông nghệ không có gì đặc biệt, quan trọng nhất là nỗ lực, mục tiêu rõ ràng vàlàm cho người dân thấy được lợi ích gì từ chính phủ điện tử Theo Vụ Khoahọc - Công nghệ (nay là Bộ Thông tin – truyền thông), việc THH gặp khókhăn là do thiếu cơ sở pháp lý cho các giao dịch điện tử Các chuẩn chung vềCNTT và truyền thông quốc gia còn thiếu Nhiều doanh nghiệp không an tâm
về độ rủi ro cao từ phía đối tác nên giao dịch bằng văn bản viết (in) truyềnthống vẫn chiếm gần như tuyệt đối
Cách thức tổ chức thực hiện THH cũng là một bất cập Việc cải cáchhành chính từ Trung ương xuống địa phương chưa được tiến hành đồng bộvới THH Các địa phương rất thiếu CB chuyên môn về tin học nên nhiều nơixây dựng mạng xong nhưng không vận hành, thông tin ít được cập nhật
Thực tế ở Hà Nội, việc THH cũng gặp rất nhiều khó khăn Theo Banchỉ đạo và ứng dụng CNTT thành phố, phần lớn các đơn vị sau khi tiếp nhậncác thiết bị tin học đã đưa vào sử dụng ngay, phục vụ cho công việc Có 43/44đơn vị đã được xây dựng hệ thống mạng LAN Nhưng sau 5 năm đầu tư, việckhai thác, sử dụng nó chưa được như mong đợi Trình độ CNTT của CB,công chức còn hạn chế, mới dừng lại ở mức làm quen và sử dụng các tiện íchđơn giản Ngoài một số sở, ngành có nhiều CB được đào tạo qua các lớp vềCNTT do thành phố tổ chức hoặc chuyển giao công nghệ, nhiều nơi chỉ sửdụng máy móc để soạn thảo văn bản Một số thiết bị như máy chủ, Accessserver, Modem, máy quét hình, CD-Writer chưa được sử dụng thường xuyên.Nhiều nơi chưa biết dùng thiết bị đúng mục đích và đúng cách Nhiều đơn vị
sử dụng CD-Writer để xem phim và nghe nhạc thay vì sao dữ liệu Nhiềuphường, thậm chí có cả sở, quận, huyện được cấp modem (thiết bị kết nốiInternet) đã không sử dụng với lý do chiếm đường điện thoại và chi phí hàngtháng vượt khoản chi thường xuyên của thành phố
Trang 27Theo lộ trình xây dựng chính phủ điện tử do Bộ Thông tin – truyềnthông chủ trì soạn thảo thì đến năm 2010, Việt Nam sẽ thực hiện việc cungcấp thông tin, dịch vụ “một cửa” trực tuyến cho người dân; đưa 100% thôngtin hành chính lên mạng Với những gì đã có, việc thực thi được các mụctiêu trên sẽ không dễ nếu ngay từ bây giờ vấn đề này không được xem xét và đưa ranhững quyết sách cụ thể.
Giống như các bài toán khác, THH QLHCNN là một bài toán thuộc lĩnh vựcHTTT Vì vậy, cách triển khai thực hiện nó cần tuân thủ các chuẩn mực của HTTT
Trong bài toán HTTT, người ta đã đề cập tới 3 đối tượng bị tác độngchủ yếu: tổ chức, con người và quy trình tác nghiệp Do vậy, cần phải thựchiện công cuộc cải cách hành chính ở một mức độ nhất định rồi mới nói đếnTHH Nếu Chính Phủ có quyết định kết hợp cả hai việc này càng tốt, nhưngcần phải thấy rõ: cải cách hành chính mới là mục tiêu, còn THH chỉ là mộtcông cụ (rất quan trọng) cho việc đạt được mục tiêu trên Khi đó, cần phải chỉ
ra các mục tiêu của cải cách hành chính Ví dụ một mục tiêu có thể là: "Cungcấp đầy đủ, nhanh chóng, chính xác thông tin nhà nước đến các công dân quaphương tiện được điện tử hóa" hoặc "Bảo đảm thực hiện giao dịch một cửakhi công dân đến tiếp xúc với cơ quan nhà nước"
Có thể có đến 10, thậm chí nhiều hơn thế các mục tiêu cho cải cáchhành chính Phải thấy được THH QLHCNN là một phần của cải cách hànhchính, trong đó, cải cách hành chính sẽ tiến hành thay đổi tổ chức bộ máyHCNN, thay đổi các quy trình tác nghiệp, nâng cao trình độ của CB nhà nướcnhằm đạt hiệu quả cao hơn trong hoạt động và đạt tới các mục tiêu đề ra Khi
đó, THH QLHCNN mới được thực hiện dễ dàng hơn, hiệu quả hơn
Nếu nói riêng thì THH QLHCNN cũng cần có các mục tiêu của mình.Một dự án chỉ thành công nếu mục tiêu của nó được đề ra một cách tườngminh, cụ thể và có tính khả thi Chẳng hạn, việc giao tiếp với công dân đềuđược ghi nhận đầy đủ và được xử lý trên mạng máy tính là một mục tiêu cụ
Trang 28Khái niệm "hoạt động quản lý" được coi là một chức năng của quản lý
xã hội chủ nghĩa hoặc của quản lý các lĩnh vực khác của xã hội (trong đó cóTDTT, nông nghiệp vv ) Đó là một hệ thống quản lý trong hệ thống tổngthể xã hội
Khái niệm này đề cập nhiều đến chức năng của cơ cấu quản lý, quan hệquản lý, cho nên nó gần như khái niệm quản lý
Còn theo nghĩa hẹp hơn thì người ta coi hoạt động quản lý như nhữnghoạt động của cá nhân và của tập thể, của người lãnh đạo và của ban quản lý
Cần phải nói rằng, trong thời gian gần đây người ta đã thống nhất nhậnđịnh rằng hoạt động quản lý chưa được vận dụng trong thực tiễn và chưa đưathành lý luận
Để hiểu được khái niệm hoạt động quản lý ta phải nghiên cứu các khái niệmnhư phong cách quản lý, quá trình quản lý, tổ chức lao động của CB lãnh đạo
Từ những quan hệ phụ thuộc của các khái niệm đó ta có thể hiểu hoạt
Trang 29động quản lý như sau:
- Hoạt động quản lý là những hoạt động lao động của người lãnh đạo
-Tổ chức và quản lý nghĩa là đảm bảo tính trật tự, tính cân đối và tínhhài hòa của đời sống xã hội Chúng thể hiện vai trò tích cực sáng tạo của conngười trong việc củng cố, bảo tổn, hoàn thiện và phát triển xã hội C Mácviết: "Tính quy củ và trật tự là sự củng cố về mặt xã hội của phương thứcsản xuất, do đó sự giải phóng tương đối của phương thức sản xuất đó khỏi sựchi phối của ngẫu nhiên đơn thuần và của sự tuỳ tiện đơn thuần“
- Những luận điểm trên của C.Mác có thể được coi là tiêu chí trongviệc xác định các khái niệm tổ chức và quản lý Theo đó các hoạt động tổchức và quản lý là không thể thiếu được trong đời sống xã hội và trong nhiềutrường hợp, dường như chúng đồng nhất với nhau Tuy nhiên, khái niệm quản
lý có ngoại diện rộng hơn khái niệm tổ chức Về mối quan hệ giữa hai kháiniệm này, một số tác giả Liên Xô trước đây đã đưa ra những ý kiến có giá trị
Trang 30Chẳng hạn, V.G.Aphanaxép viết: "Lao động tổ chức là lao động xây dựngtrạng thái trật tự của chủ thể và khách thể quản lý, những quan hệ tương ứnggiữa chủ thể với khách thể, HTTT, các liên hệ thuận và ngược"
-Têrêsenkor cho rằng tổ chức là bộ khung của hoạt động quản lý: "Tổchức chỉ là một cấu trúc, một cái khung mà trong khuôn khổ của nó, các biệnpháp nhất định được tiến hành Quản lý là một tổng thể những biện pháp phốihợp nhằm đạt tới một mục đích đã định.Tổ chức là một thứ "giải phẫu học"của xí nghiệp, còn quản lý là “sinh lý học" của nó Có thể nói tổ chức là
"trạng thái tĩnh" của sự việc, còn quản lý là "trạng thái động" của nó
- Theo góc độ hành động, góc độ quy trình công nghệ của tác động thìquản lý là điều khiển Theo khái niệm này, quản lý có ba loại hình Các loạihình này cũng đều có một xuất phát điểm giống nhau là “do con người điềukhiển”, nhưng khác nhau về đối tượng
+ Loại hình thứ nhất là việc con người điều khiển các vật hữu sinh khôngphải con người, để bắt chúng phải thực hiện theo ý chí của người điều khiển.Loại hình này được gọi là quản lý trong sinh học, thiên nhiên, môi trường, (cácnhà khoa học làm công việc lai giống động vật, ghép cây cối, tìm giống mới,…)
+ Loại hình thứ hai là việc con người điều khiển các vật vô tri vô giác
để bắt chúng phát triển và thực hiện theo ý chí của người điều khiển Loạihình này được gọi là quản lý trong kỹ thuật (việc điều khiển máy điện toán,người máy, thông tin viễn thông, tin học, )
+ Loại hình thứ ba là việc con người điều khiển con người (quản lý củanhà nước, quản lý trong Đảng, đoàn thể nhân dân; tổ chức chính trị, kinh tế,văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật,…)
Từ đầu thế kỷ thứ XX người ta đã ý thức được bản chất và tầm quantrọng của các vấn đề xoay quanh khái niệm quản lý Ở phương Tây, từ quản
lý management – được rút ra từ chữ latinh “manus” nghĩa là bàn tay Theonghĩa gốc, thực hiện quản lý là “nắm vững trong tay”, “điều khiển vững tay”
Trang 31Hiện nay, có nhiều cách giải thích thuật ngữ quản lý Có quan niệmcho rằng quản lý là hành chính, là cai trị Có quan niệm khác lại cho rằng,quản lý là điều hành, điều khiển, chỉ huy Các cách nói này không có gì khácnhau về nội dung mà chỉ khác ở chỗ dùng thuật ngữ Quản lý được hiểu theo
2 góc độ: một là góc độ tổng hợp mang tính chính trị, xã hội, góc độ khácmang tính hành động thiết thực Hai quan niệm này đều có cơ sở khoa học vàthực tế Quản lý hiểu theo góc độ chính trị xã hội rộng lớn là sự kết hợp giữatri thức và lao động
Theo một nghĩa nào đó, quản lý là một nghệ thuật điều khiển ngườikhác phải làm việc; nếu diễn đạt ít thô thiển hơn thì “quản lý là đạt được mộtviệc gì đó thông qua một ai đó” Có ý kiến cho quản lý là một quá trình biếnđổi thông tin thành hành động, một quá trình tương đương với việc ra quyếtđịnh, hoặc quản lý là phân bố hợp lý các nguồn tài nguyên về người và vậtchất để đạt tới mục đích
Có thể xem quản lý là tổ chức hành động để đạt được mục tiêu nhấtđịnh Nghệ thuật quản lý được coi như cách ứng xử riêng của mỗi người lãnhđạo Cách ứng xử phụ thuộc chặt chẽ vào hoàn cảnh kinh tế và xã hội, vàotính đa dạng của môi trường và nhất là vào tính cách của người chịu tráchnhiệm Cần nhấn mạnh thêm rằng: quản lý là cách biểu hiện ý chí muốn biếnđổi và thuần phục một tổng thể các hiện tượng Đó là việc tạo ra sự kiện, thay
vì để cho sự kiện xảy ra bộc phát Đây không phải là sự lắp ráp lại các nhiệm
vụ rời rạc mà là một hoạt động phân biệt rõ ràng với các chức năng lớn kháccủa tổ chức Ngoài khía cạnh tổng thể ra, quản lý thực hiện các chức năngriêng biệt của mình
Quản lý (quản lý xã hội) được C Mác coi là chức năng đặc biệt đượcsinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động Từ đó, ta có thể hiểu quản lý là “sựtác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động củacon người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra
Trang 32và đúng ý chí của người quản lý”.
Quản lý là một hiện tượng xã hội, có đặc điểm và quy luật vận động bảnthân nó và trong thực tiễn quản lý tuân theo các quy luật đó Thực hiện tốt mụctiêu quản lý có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý
Nguyên lý quản lý hiện đại: là sự khái quát bản chất và quy luật vậnđộng cơ bản của hoạt động quản lý hiện đại Nguyên lý quản lý hiện đại chủyếu có: nguyên lý hệ thống phản ánh đối tượng quản lý hiện đại (tức hệ thốngquản lý), nguyên lý con người phản ánh hạt nhân và động lực của quản lýhiện đại (tính tích cực của con người), nguyên lý động thái phản ánh quá trìnhcủa quản lý hiện đại (quá trình vận động), nguyên lý hiệu quả phản ánh mụcđích của quản lý hiện đại (hiệu quả tổng hợp)
Theo M Ia Nabatnhicova: “Theo quan niệm hiện đại, quản lý là mộtquá trình lãnh đạo có mục đích từ phía những nhân vật (những tổ chức) riêngbiệt đối với một đối tượng (một tập thể, một tổ chức) nhất định nhằm đảm bảothực hiện được những nhiệm vụ đã đề ra và đạt được hiệu quả cần thiết Dướidạng chung nhất, quản lý là một chu kỳ khép kín của những hành vi liên quanchặt chẽ với nhau nhằm đề ra, thực hiện và kiểm tra những quyết định cụ thể.Quy trình quản lý gồm có một số giai đoạn: thông qua quyết định, tổ chứcthực hiện, thu thập và xử lý thông tin, tổng kết”
1.2.2 Quản lý huấn luyện thể thao Error: Reference source not found,
Error: Reference source not found, Error: Reference source not found, Error:Reference source not foundError: Reference source not foundError: Referencesource not found
Nội dung quản lý hệ thống huấn luyện bao gồm: quản lý hệ thống tiêuchuẩn đánh giá công tác huấn luyện về số lượng, chất lượng, hình thức, phạm
vị, cơ chế điều khiển, quản lý hệ thống tiêu chuẩn đánh giá chất lượng và hiệuquả của huấn luyện – đào tạo VĐV, theo số lượng, độ tuổi, cấp bậc; quản lýcác tiêu chuẩn về khoa học hoá và HĐH quá trình huấn luyện và hệ thống
Trang 33quản lý tương ứng nhằm giúp cho đào tạo có hiệu quả cao hơn.
Quản lý VĐV bao gồm quản lý quá trình huấn luyện (mục tiêu huấnluyện, tuyển chọn, kế hoạch huấn luyện, điều khiển quá trình huấn luyện),quản lý công tác giáo dục chính trị tư tưởng và nhân cách tác phong: quản lýđời sống, sinh hoạt và quản lý khi thi đấu
Quản lý thi đấu thể thao là hoạt động cuối cùng, quan trọng nhất, làkhâu đánh giá chất lượng toàn bộ công tác huấn luyện thể thao thành tích cao.Mục tiêu của quản lý thi đấu là tổ chức, điều khiển thi đấu một cách khoa học,hiệu quả kinh tế cao Toàn bộ việc tổ chức thi đấu phải tiêu chuẩn hoá, tạo sựthống nhất cao về đánh giá trình độ thể thao
Quản lý các điều kiện đảm bảo bao gồm CB quản lý, cơ sở vật chất,trang thiết bị; kinh phí; nghiên cứu khoa học, y học, …
Trong giai đoạn phát triển hiện nay, trong lĩnh vực TDTT đã có rấtnhiều ứng dụng CNTT trong quản lý quá trình đào tạo VĐV, xây dựng kếhoạch huấn luyện, quản lý hệ thống thi đấu,… Máy tính có khả năng tích trữ
dữ liệu vô cùng lớn, có thể thu ghi, phát lại khá hoàn chỉnh toàn bộ quá trìnhphát triển năng lực thi đấu cụ thể từng mặt luyện tập và thi đấu của VĐV Mặtkhác, trên cơ sở dùng máy tính huấn luyện hỗ trợ có thể thu thập, phân tíchcác số liệu và kết quả huấn luyện giúp cho kinh nghiệm huấn luyện trở thành
lý luận, giúp kiểm chứng tính đúng đắn của các phương pháp huấn luyện, sẽđồng thời kết hợp với khoa học thông tin như phân tích thống kê, kỹ thuật môphỏng, kỹ thuật thông minh và dự báo Máy tính cũng là công cụ cho cácHLV, các nhà quản lý nắm được toàn bộ kế hoạch huấn luyện, mã hoá các bàitập và các giáo án, theo dõi tình trạng sức khoẻ, dinh dưỡng, hồi phục,…
Hệ thống CSDL trong TDTT rất đa dạng, đó là các thông tin cơ bảncủa VĐV (độ tuổi, giới tính, chiều cao, câng nặng, trình độ tập luyện,…),HLV, những thông tin về quá trình huấn luyện, thành tích thi đấu của các đội,vận động viên,… Những thông tin này có tính dao động rất lớn và có mối
Trang 34quan hệ hữu cơ với nhau Điều này yêu cầu máy tính phải có phương pháplưu trữ số liệu đủ khả năng tự miêu tả về ý nghĩa, loại hình số liệu, chủng loạicủa số liệu lưu trữ, có thể cập nhật số liệu mới dễ dàng.
Vì vậy, huấn luyện và thi đấu thể thao có sự hỗ trợ của CNTT chính làcung cấp một phương thức QLHL kỹ thuật cao cho HLV, xây dựng kho dữliệu phân tích và đúc kết kinh nghiệm cũng như làm cho các kiến thức chuyênmôn của những lĩnh vực khoa học được đưa vào huấn luyện hàng ngày
Trong những năm gần đây, được sự đầu tư đúng mức của Nhà nướcnhiều trang thiết bị hiện đại được đầu tư để các nhà khoa học nghiên cứu, ứngdụng, đưa ra những thông số cần thiết giúp HLV định hướng có hệ thốngtrong việc lập kế hoạch huấn luyện, nhằm mục đích nâng cao thành tích cho VĐV
Quản lý được coi là công nghệ vì đó là phương thức tổ chức và thựchiện quá trình quản lý trên cơ sở tổng thể những phương pháp, biện pháp,cách thức được tiến hành theo một trật tự nhất định để thực hiện các chứcnăng quản lý có hiệu quả Hệ thống các phương pháp quản lý phải bảo đảmtính nhất quán chặt chẽ của những hoạt động (quy tắc, chế độ) trong tất cả cáckhâu của quá trình quản lý
Một tổ chức có thể có nhiều cấp, và mỗi cấp có thể cần có một HTTTquản lý riêng của mình Một tổ chức điển hình có thể có 4 cấp là chiến lược,chiến thuật, chuyên gia và tác nghiệp Vì thế, trong một tổ chức có thể có 4HTTT quản lý cho 4 cấp này Các cấp có thể có những bộ phận chung
Thông tin quản lý có thể lấy từ bên trong tổ chức hoặc từ bên ngoài tổchức Thông tin nội tại tổ chức thường được lấy từ các báo cáo, sổ sách của tổchức Thông tin bên ngoài có thể lấy từ đối tác, đối thủ cạnh tranh, tổ chức cóliên quan, các nhà cung cấp, chính phủ, v.v…
Trung tâm QLHL VĐV cần đến sự trợ giúp của HTTT trên các mảng:quản lý hồ sơ HLV, hồ sơ VĐV; quản lý chương trình, kế hoạch, giáo án huấnluyện; kế toán; cơ sở vật chất; dinh dưỡng; y học; cơ sở vật chất và các mặt
Trang 35khác cần được quản lý về internet và những ứng dụng của nó vẫn chưa đượctận dụng hết mức
Hầu hết công việc được tiến hành trên giấy tờ, họp hành, điện thoại, Nhưng điều này thì phân tán và khó theo dõi Giấy tờ rườm rà và hệ thống lưutrữ hồ sơ nghèo nàn
Hệ thống thông tin hiện tại đòi hỏi nhiều thời gian, công sức và khônggian,… Những chứng từ được thực hiện bằng tay vì vậy mất rất nhiều thờigian để tìm kiếm và cất giữ Do đó vai trò của thông tin trở nên cấp bách
Mặc dù một HTTT quản lý không nhất thiết phải sử dụng CNTT,nhưng CNTT (phần cứng lẫn phần mềm) đang ngày càng rẻ và góp phần tạo
ra năng suất xử lý, lưu trữ, phân phối thông tin ngày một cao, nên HTTT quản
lý hiện đại thường tích cực sử dụng CNTT
Quy trình quản lý gồm các giai đoạn: thông qua quyết định, tổ chứcthực hiện, thu thập và xử lý thông tin, tổng kết Các giai đoạn này là nhữngyếu tố cấu thành hệ thống quản lý, chúng phản ánh trình tự những hoạt độngcần thiết cho việc đạt tới chất lượng và hiệu quả của quá trình huấn luyện
Các hoạt động quản lý huấn luyện bao gồm tất cả những hoạt độngquản lý có liên quan như sau:
- Quản lý công tác xây dựng và thực hiện kế hoạch chiến lược của đơn vị
- Quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch hành động
- Kế hoạch huấn luyện
- Kế hoạch quản lý nhân sự
- Kế hoạch quản lý cơ sở vật chất
- Quản lý quá trình huấn luyện
- Quản lý công tác thi đấu
- Xây dựng và thực hiện kế hoạch huấn luyện
Trong QLHL thì hoạt động xây dựng và đặc biệt là thực hiện kế hoạch
là vô cùng quan trọng và là nhiệm vụ trọng tâm của các nhà quản lý và HLV
Trang 36Xây dựng kế hoạch là hoạt động phân tích đánh giá thực trạng của cácyếu tố và điều kiện thực tế, xác định các mục tiêu, nhiệm vụ, chỉ tiêu, lượngvận động, các biện pháp, phương tiện thực hiện và khoảng thời gian giành chotừng nội dung để tạo ra một kế hoạch huấn luyện chung cho toàn đội
Thực hiện kế hoạch là những hoạt động cụ thể để biến các mục tiêu, nộidung, nhiệm vụ, phương pháp trong kế hoạch huấn luyện được xây dựngthành hiện thực hoặc đạt vượt mức đã đặt ra
Điều khiển quá trình huấn luyện là hoạt động được thực hiện thông quaviệc kiểm tra đánh giá, phân tích việc thực hiện kế hoạch huấn luyện cũngnhư diễn biến của thành tích thể thao (kết quả huấn luyện) và các yếu tố cóliên quan đến thành tích thể thao (thể lực, tâm – sinh lý, nhân cách,….) để làm
cơ sở cho việc xây dựng và thực hiện kế hoạch ở những bước tiếp theo
Quản lý huấn luyện để đưa ra những quyết định, biện pháp nhằm nângcao thành tích thể thao phù hợp với từng giai đoạn, thời kỳ, chu kỳ huấn luyệntrong một nhóm hoặc ở từng VĐV
Quản lý huấn luyện sẽ giúp HLV, VĐV có được nhận thức mới cũngnhư các thông tin cần thiết để thực hiện tốt kế hoạch huấn luyện của mình.Bên cạnh đó, nó còn giúp HLV, sử dụng hợp lý các phương pháp, phươngtiện phù hợp với các điều kiện cụ thể để nâng cao thành tích thể thao và đạttới các mục tiêu đã được đề ra Cho phép cập nhật hồ sơ VĐV, HLV, cácthông tin về VĐV, HLV và các mối quan hệ của họ như: lý lịch, thành tíchđạt được trong thi đấu, kết quả kiểm tra đánh giá ở từng chỉ tiêu trong quátrình huấn luyện
Cập nhật hồ sơ huấn luyện của các HLV như: chương trình, tiến trình,
kế hoạch huấn luyện, giáo án huấn luyện
Hệ thống kiểm tra giúp cho người sử dụng tránh được các sai sót khôngđáng có
Xuất kết quả ra máy in, tập tin Excel, Word
Trang 37Hệ thống tra cứu và thống kê được thiết kế tiện dụng đáp ứng đầy đủcác nhu cầu về thông tin của HLV, VĐV
Chức năng tra cứu tổng hợp giúp cho người sử dụng có thể tạo ra cácbáo cáo bất kỳ theo yêu cầu
Các công cụ tiện ích giúp cho người sử dụng có thể trao đổi thông tinnhanh chóng và tiện lợi thông qua mạng
Kết nối với các hệ thống CSDL có liên quan như: HTTT về đào tạo,HTTT về quản lý thi đấu, HTTT về nghiên cứu khoa học TDTT
Các thủ tục, quá trình quản lý đào tạo vận động viên
Quản lý hồ sơ VĐV: Sau khi những VĐV nhận được quyết định củatập trung đội tuyển của Tổng cục TDTT và giấy triệu tập làm nhiệm vụ củacác Trung tâm Tất cả thông tin (lý lịch cá nhân, tình trạng sức khoẻ, cácthông tin về hiện trạng thể lực) của những VĐV sẽ được ghi vào hồ sơ VĐV
và lưu trữ bằng thủ công
Quản lý chương trình, kế hoạch huấn luyện:
- Thông qua kế hoạch huấn luyện
- Các biểu mẫu huấn luyện của đội (giáo án)
- Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch huấn luyện thông qua kiểmtra y sinh và các test chuyên môn
- Theo dõi kế hoạch thi đấu tập huấnQuy trình mua sắm trang thiết bị: Việc này được làm qua việc trao đổimua bán bình thường với những món nhỏ, và theo một quy trình đấu thầu vớinhững mua sắm lớn
Trao đổi thông tin (tài liệu, công văn): Đây là lợi ích lớn nhất mà một
dự án CNTT có thể mang lại cho cả hai mảng: công văn nội bộ và công vănđến từ bên ngoài Hiện nay 90% công việc này đang được vận hành với cáchtruyền thống, nghĩa là bằng tay Intranet và Websites sẽ hỗ trợ đắc lực chocông việc này Nếu email được sử dụng thường xuyên, thì việc sắp xếp HTTT
Trang 38sẽ được sử dụng tốt hơn.
Quản lý nhân sự: Hiện thời mỗi quá trình trong quá trình tổng thể nàyđược điều khiển bằng tay (giấy tờ hồ sơ) hoặc gặp gỡ trực tiếp Thông tinchính chủ yếu được ghi trên giấy
Kiểm tra sức khoẻ và kiểm tra Y sinh học VĐV:
- Thông qua các bệnh viện kiểm tra sức khoẻ
- Tất cả các thông tin được lưu trữ bằng hồ sơ giấy tờ
Quản lý HLV: Huấn luyện viên có chức trách nhiệm vụ là trực tiếp tácđộng chặt chẽ của mình vào đào tạo người tài thể thao, là người tài thể thaothứ hai sau VĐV Đó là nhà sư phạm về giáo dục thể chất có trình độ cao vềhuấn luyện thể thao, về đào tạo VĐV, biết ứng dụng thành tựu khoa học kỹthuật mới nhất, thể hiện bằng việc nắm vững và vận dụng tốt các nguyên tắc
và phương pháp giáo dục và huấn luyện vào đào tạo VĐV, HLV là nhà khoahọc thực tiễn, biết dựa vào đặc điểm cá nhân, áp dụng hiệu quả các giải pháp,nhằm khai thác, bồi dưỡng nâng cao hết mức tài năng thể chất cá thể, thể hiệnbằng thành tích kỷ lục cao nhất trong các cuộc thi đấu chính thức (theo lịch) Nói cách khác HLV thực hiên mục tiêu của thể thao thành tích cao một cách
cụ thể, khoa học trên cá thể VĐV, là người quản lý trực tiếp điều khiển quátrình đào tạo huấn luyện thể thao, là người chủ trong quản lý toàn bộ sự pháttriển có chất lượng cao của VĐV
Quản lý VĐV là QLHL và bồi dưỡng tài năng của từng VĐV Nộidung gồm: Quản lý quá trình huấn luyện, quản lý giáo dục chính trị tư tưởng
và nhân cách tác phong ; quản lý đời sống, sinh hoạt, thi đấu Cần làm chongười quản lý VĐV chủ động có ý thức trách nhiệm cao về đào tạo người tàiVĐV, giáo dục và tổ chức ứng dụng nhanh, có bài bản lý luận và thành tựukhoa học kỹ thuật vào huấn luyện để nâng cao nhanh thành tích thể thao củamỗi cá thể, nhấn mạnh việc tập trung sức lực và nâng cao năng lực vận động
và thi đấu để đảm bảo việc tranh tài thể thao dành kết quả cao, đảm bảo huấn
Trang 39luyện thường xuyên gắn chặt với mục đích của cuộc đời thể thao, có động cơ
và hành động cụ thể trong huấn luyện, đời sống, làm cho mọi người say mênghề nghiệp giáo dục ý thức và hành động cụ thể, có tính toán hiệu quả kinh
tế, nâng cao hiệu suất thi đấu và huấn luyện ở mức hợp lý nhất
Chức năng kiểm tra có tầm quan trọng trong chu trình quản lý, bởi lẽ
nó là mối nối cuối cùng trong dây chuyền chức năng của các hoạt động quản
lý Chức năng này cho phép các nhà quản lý biết được các mục tiêu của tổchức có đạt được hay không hoặc đạt được như thế nào, cũng như nhữngnguyên nhân tạo nên tình hình đó
Kiểm tra tự nó không phải là mục đích, chỉ là phương tiện để đạt đượcmột mục đích Đây là cách thức tăng thêm tính mềm dẻo và hiệu quả vào hoạtđộng của hệ thống Quản lý với tư cách là hệ thống, có vòng hở và vòng kín;nếu người quản lý chỉ nêu mục tiêu, giao công việc cho bên dưới thì đó làvòng hở; nếu tăng cường kiểm tra thì người quản lý đã khép vòng hở lại(vòng kín)
Sự phát triển vượt bậc của CNTT đặt ra những yêu cầu đòi hỏi về cungcấp mạng lưới thông tin đầy đủ chính xác Trong thời đại thông tin, nhu cầu
về quản lý thông tin ngày càng trở nên quan trọng Việc ứng dụng CNTTtrong lĩnh vực quản lý công tác huấn luyện thể thao đang và sẽ được từngbước thay thế từ lao động thủ công sang xử lý thông tin bằng máy tính với cácchức năng nhận thông tin, xử lý thông tin, đưa thông tin ra,…đều được ápdụng công nghệ tin học
Điều quan trọng nhất của những sự đổi mới và xu hướng này là thúcđẩy nền công nghiệp điện tử và việc gia tăng sử dụng ứng dụng máy tínhtrong các họat động hằng ngày Công nghệ máy tính đang tiến bộ nhanhchóng Nhanh hơn, nâng cao hiệu quả công việc hơn và ít tốn kém chi phí hơn
và hầu như việc ứng dụng phần mềm chuyên biệt ngày càng nhiều
Tiến bộ trong công nghệ máy tính đang trong quá trình thay đổi nhanh
Trang 40chóng trong ngành huấn luyện thể thao nói chung và trong giới HLV nóiriêng, kể cả, những người quản lý sự kiện các môn thi đấu và những ngườiquản lý thông tin thể thao đối với công việc của họ
Trong việc huấn luyện, công nghệ gần đây cho phép HLV sử dụng máy
vi tính để phân tích các VĐV trong tập luyện cũng như trong thi đấu, cungcấp những thông tin dự báo, cũng như trong giảng dạy những động tác cơbản, những chiến thuật đối với VĐV của họ Sự tiến bộ trong công nghệ thuhình và máy tính cho phép HLV và các cộng sự trong lĩnh vực thể thao có thể
xử lý tất cả những bảng phân tích dữ liệu tập luyện và thi đấu trong cùng mộtchương trình
Hiện nay, HLV có thể sắp xếp, tổ chức kế hoạch huấn luyện với sự hỗtrợ của máy tính Họ có thể tạo ra những bản tin dự báo, nội dung tập luyện
và những thước phim huấn luyện ngắn cho các VĐV Huấn luyện viên, nhữngnhà quản trị thể thao và những nhà quản lý sự kiện đều có đầy đủ những sảnphẩm phần mềm giúp tiết kiệm một lượng lớn thời gian từ thời gian biểu tậpluyện đến đánh giá, tuyển chọn và phát hiện những VĐV tiềm năng trong cáccuộc thi đấu
Các nhà quản lý, các HLV phải quản lý 2 loại thông tin: y sinh học vàquản trị chương trình huấn luyện Mỗi lọai được tạo ra, được duy trì và đượcthể hiện trong nhiều cách khác nhau
Các HLV thể thao phải phân biệt giữa các dữ liệu y sinh học và thôngtin quản trị chương trình Hai loại thông tin này tồn tại riêng biệt, và với mộtvài thông tin ngoại lai thì có mối tương tác với nhau tuy không nhiều
Máy tính đã cải tổ, cách mạng hóa trong huấn luyện thể thao và quản lýthông tin Trước khi sử dụng quỹ hỗ trợ ngân sách trong phạm vi cho phép,HLV thể thao nên cân nhắc quan điểm của họ trong 3 phần: phần cứng, phầnmềm và ứng dụng mạng trong quản lý thông tin Error: Reference source notfound