Lúa là một trong ba cây lương thực chủ yếu trên thế giới : lúa mì, lúa gạo và ngô. Sản lượng trên toàn thế giới đến năm 1993 : lúa mì đạt: 460 triệu tấn, lúa gạo : 573 triệu tấn, ngô : 529 triệu tấn. Khoảng 40% dân số thế coi lúa gạo là nguồn lương thực chính, 25% sử dụng lúa gạo trên 12 khẩu phần lượng thực hàng ngày. Như vậy lúa gạo có ảnh hưởng tới đời sống ít nhất khoảng 65% số dân trên thế giới. Thời gian sinh trưởng của cây lúa tính từ khi gieo mạ đến khi chín trung bình từ 90 đến 180 ngày tùy theo giống và điều kiện ngoại cảnh. Trong đời sống của cây lúa, có thể chia ra 2 thời kỳ sinh trưởng chủ yếu là sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực. Nắm được quy luật sinh trưởng của cây lúa, người ta có thể chủ động áp dụng các biện pháp kỹ thuật theo hướng có lợi nhất cho quá trình sinh trưởng, phát triển nhằm tạo năng suất cao. Sâu bệnh hại lúa là một trong những nguyên nhân hết sức quan trọng gây ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng phát triển của cây, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng gạo. Một só loại sâu bệnh hại có thể gây thành dịch, làm mất trắng năng suất hoặc làm giảm năng suất một cách rõ rệt như sâu đục thân lúa 2 chấm, rầy nâu, bọ xít dài, sâu cuốn lá nhỏ, bệnh đạo ôn, bệnh khô vằn, bệnh bạc lá,v.v... Điều kiện phát sinh phát triển, sinh thái của mỗi loại sâu, bệnh hại cũng thay đổi tuỳ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh, đặc điểm của mỗi giống lúa, địa thế đất đai, chế độ chăm sóc, phân bón,... Vì thế việc điều tra, phát hiện sâu bệnh, nắm được quy luật phát sinh phát triển của chúng, đề xuất tổ chức các biện pháp phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại luá có hiệu quả cao là hết sức quan trọng và cần thiết.
Trang 1QUẢN LÝ DỊCH HẠI TỔNG HỢP TRÊN CÂY LÚA Ở VIỆT NAM
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
I Tổng quan về cây lúa 2
1 Nguồn gốc cây lúa trồng Châu Á (Oryza sativa) và ở Việt Nam 2
2 Tên khoa học: Oryza sativa 2
3 Mô tả sơ bộ về cây lúa 2
4 Sản phẩm thu được từ cây lúa 3
5 Thành phần dinh dưỡng của hạt gạo 4
6 Giá trị sử dụng của lúa gạo và cây lúa 4
II Một số bệnh hại do các loài nấm gây ra trên lúa 6
1 Bệnh đạo ôn 6
2 Bệnh khô vằn 11
3 Bệnh lúa von 14
4 Bệnh đốm nâu 18
5 Bệnh tiêm lửa 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Lúa là một trong ba cây lương thực chủ yếu trên thế giới : lúa mì, lúa gạo
và ngô Sản lượng trên toàn thế giới đến năm 1993 : lúa mì đạt: 460 triệu tấn, lúa gạo : 573 triệu tấn, ngô : 529 triệu tấn Khoảng 40% dân số thế coi lúa gạo là nguồn lương thực chính, 25% sử dụng lúa gạo trên 1/2 khẩu phần lượng thực hàng ngày Như vậy lúa gạo có ảnh hưởng tới đời sống ít nhất khoảng 65% số dân trên thế giới Thời gian sinh trưởng của cây lúa tính từ khi gieo mạ đến khi chín trung bình từ 90 đến 180 ngày tùy theo giống và điều kiện ngoại cảnh Trong đời sống của cây lúa, có thể chia ra 2 thời kỳ sinh trưởng chủ yếu là sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực Nắm được quy luật sinh trưởng của cây lúa, người ta có thể chủ động áp dụng các biện pháp kỹ thuật theo hướng có lợi nhất cho quá trình sinh trưởng, phát triển nhằm tạo năng suất cao
Sâu bệnh hại lúa là một trong những nguyên nhân hết sức quan trọng gây ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng phát triển của cây, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng gạo Một só loại sâu bệnh hại có thể gây thành dịch, làm mất trắng năng suất hoặc làm giảm năng suất một cách rõ rệt như sâu đục thân lúa 2 chấm, rầy nâu, bọ xít dài, sâu cuốn lá nhỏ, bệnh đạo ôn, bệnh khô vằn, bệnh bạc lá,v.v Điều kiện phát sinh phát triển, sinh thái của mỗi loại sâu, bệnh hại cũng thay đổi tuỳ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh, đặc điểm của mỗi giống lúa, địa thế đất đai, chế độ chăm sóc, phân bón,
Vì thế việc điều tra, phát hiện sâu bệnh, nắm được quy luật phát sinh phát triển của chúng, đề xuất tổ chức các biện pháp phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại luá có hiệu quả cao là hết sức quan trọng và cần thiết
Trang 4I Tổng quan về cây lúa
1 Nguồn gốc cây lúa trồng Châu Á (Oryza sativa) và ở Việt Nam
Trên thế giới có hai loài lúa trồng được xác định từ thời cổ đại cho đến
ngày nay Đó là loài lúa trồng Châu Á (Oryza sativa) và loài lúa trồng Châu Phi (Oryza glaberrima)
Loài lúa trồng Châu Phi đã được xác định nguồn gốc ở vùng thung lũng thượng nguồn sông Niger (ngày nay thuộc Mali)
Loài lúa trồng Châu Á có nguồn gốc phát xuất đầu tiên ở đâu vẫn là đề tài tranh luận của các nhà khoa học trên thế giới và ngày càng được sáng tỏ với những khai quật khảo cổ học có tính đột phá và những phương pháp phân tích hiện đại dựa trên cơ sở phân tích phóng xạ và ADN
Trước đây có 4 giả thuyết về nơi phát xuất đầu tiên của cây lúa trồng Châu
Á, đó là:
1- Nguồn gốc Trung quốc
2- Nguồn gốc Ấn Độ
3- Nnguồn gốc Đông Nam Á
4- Giả thuyết Đa trung tâm phát sinh
2 Tên khoa học: Oryza sativa
Diện tích trồng lúa tại Việt Nam: ước tính 7,8 triệu ha (năm 2015)
Năng suất bình quân: đạt 57,7 tạ/ha (năm 2015)
3 Mô tả sơ bộ về cây lúa
Trang 5Cây lúa có chiều cao từ 1m - 1,8m, với các lá mỏng, hẹp khoảng 2-2,5 cm
và dài 50 –100 cm Tuỳ thời kì sinh trưởng, phát triển mà lá lúa có màu khác nhau Khi lúa chín ngả sang màu vàng Các hoa nhỏ tự thụ phấn mọc thành các cụm hoa phân nhánh cong hay rủ xuống, dài 35–50 cm
Thời gian sinh trưởng của cây lúa: Tính từ lúc hạt lúa nẩy mầm đến lúc thu hoạch (dao động khoảng 90-180 ngày đối với các giống lúa hiện trồng)
+ Thời gian sinh trưởng ruộng lúa cấy = Thời gian ruộng mạ + Thời gian ruộng cấy
+ Thời gian sinh trưởng ruộng lúa gieo thẳng = Thời gian lúc thu hoạch - lúc gieo hạt
Nếu tính theo thời kỳ sinh trưởng thì cây lúa có 3 thời kỳ sinh trưởng chính:
a Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng: tính từ lúc hạt thóc nảy mầm đến khi
bắt đầu vào giai đoạn phân hoá hoa lúa (trên thực tế người ta tính từ khi gieo mạ, cấy lúa, cây lúa đẻ nhánh tới số nhánh tối đa)
b Thời kỳ sinh trưởng sinh thực: tính từ lúc bắt đầu phân hoá hoa lúa đến
khi lúa trỗ bông và thụ tinh (bao gồm từ: làm đòng - phân hoá đòng, đến trỗ bông - bông lúa thoát khỏi lá đòng, nở hoa, tung phấn, thụ tinh
c Thời kỳ chín: sau khi thụ tinh, bông lúa bước vào kỳ chín, kết thúc thời
kỳ này là bông lúa chín hoàn toàn, sau đó tiến hành thu hoạch hạt thóc
4 Sản phẩm thu được từ cây lúa
Sản phẩm thu được từ cây lúa là hạt lúa Sau khi xát bỏ lớp vỏ ngoài thu được sản phẩm chính là gạo và các phụ phẩm là cám và trấu Hạt lúa nhỏ, cứng dài 5 – 12 mm và dày 2 – 3 mm
Hạt gạo thường có màu trắng, nâu hoặc đỏ thẫm, chứa nhiều dinh dưỡng Hạt gạo sau khi xay được gọi là gạo lứt hay gạo lật, nếu tiếp tục xát để tách cám thì gọi là gạo xát hay gạo trắng
Trang 65 Thành phần dinh dưỡng của hạt gạo
Trong lúa gạo có đầy đủ các chất dinh dưỡng như:
- Tinh bột: Là nguồn chủ yếu cung cấp calo Tinh bột chiếm 62,4% trọng lượng hạt gạo Tinh bột trong hạt gạo gồm có amyloza có cấu tạo mạch thẳng,
có nhiều trong gạo tẻ và amylopectin có cấu tạo mạch ngang (mạch nhánh), có nhiều trong gạo nếp Hàm lượng amyloza và amylopectin quyết định độ dẻo của hạt gạo Gạo tẻ có từ 10% ÷ 45% hàm lượng amyloza Gạo nếp có từ 1 ÷ 9% hàm lượng amyloza 4
- Protein: Thường chiếm 7 ÷ 9% trong hạt gạo Gần đây có các giống lúa mới có hàm lượng protein lên tới 10 ÷ 11% Gạo nếp thường có hàm lượng protein cao hơn gạo tẻ
- Lipit: Phân bố chủ yếu ở lớp vỏ gạo Nếu ở gạo lứt (gạo còn nguyên vỏ cám) hàm lượng lipit là 2,02% thì ở gạo chà trắng (gạo đã bóc hết vỏ cám) chỉ còn 0,52%
- Vitamin: Trong lúa gạo còn có một số vitamin nhất là vitamin nhóm B như B1, B2, B6, PP, … lượng vitamin B1 là 0,45mg/100 hạt, phân bố ở phôi 4%, vỏ cám 34,5%, trong hạt gạo chỉ có 3,8%
Từ những dinh dưỡng có trong hạt gạo, nên đã từ lâu lúa gạo được coi là nguồn thực phẩm và dược phẩm có giá trị Tổ chức dinh dưỡng Quốc tế đã gọi :
“Hạt gạo là hạt của sự sống” Để đảm bảo giá trị dinh dưỡng của hạt cần lưu ý đến công nghệ sau thu hoạch, chọn tạo giống có phẩm chất gạo tốt, đầu tư các biện pháp kỹ thuật trồng trọt phù hợp
6 Giá trị sử dụng của lúa gạo và cây lúa
Con người mà còn dùng để chế biến được nhiều mặt hàng khác như bún, bánh, mỹ nghệ, kỹ nghệ, chế biến công nghiệp, … lúa gạo còn là nguồn nguyên liệu quý sản xuất tân dược Những sản phẩm phụ của cây lúa như rơm, rạ, cám,
… còn là thức ăn tốt cho chăn nuôi, từ rơm rạ người ta sản xuất ra những loại giấy và cacton chất lượng cao Rơm, rạ còn được dùng để làm giá thể nuôi trồng những loại nấm có giá trị dinh dưỡng cao Sau khi thu hoạch, phần rơm rạ còn
Trang 7sót lại trên ruộng có tác dụng cải tạo đất, làm tăng độ phì của đất và làm môi trường tốt cho vi sinh vật sống và hoạt động
Ngoài giá trị sử dụng chính để làm lương thực, các giá trị sử dụng khác được kể đến như:
- Gạo, tấm: dùng làm nguyên liệu để sản xuất rượu, bia, bún, bánh, kẹo,
thuốc chữa bệnh, …
- Cám
+ Dùng để sản xuất thức ăn cho chăn nuôi
+ Dùng để sản xuất vitamin B1 chữa bệnh tê phù
+ Dùng để ép dầu
+ Dùng để chế tạo sơn cao cấp, làm mỹ phẩm, chế xà phòng
- Trấu
+ Sản xuất nấm men, làm thức ăn cho gia súc
+ Sản xuất tấm cách âm Sản xuất silic
+ Làm chất đốt, chất độn chuồng
- Rơm rạ:
+ Dùng để sản xuất giấy, cacton xây dựng, đồ gia dụng
+ Dùng rơm rạ để làm thức ăn cho gia súc
+ Làm giá thể để sản xuất nấm rơm
+ Làm chất đốt, chất độn chuồng, phân bón, …
Trang 8II Một số bệnh hại do các loài nấm gây ra trên lúa
1 Bệnh đạo ôn
Tên khoa học:( Pyricularia oryzae Cav)
a Triệu chứng bệnh đạo ôn trên lúa:
- Triệu chứng vết bệnh trên lá lúa:
+ Thông thường vết bệnh lúc đầu là những chấm nhỏ màu xanh lục hoặc
mờ vết dầu, sau đó chuyển sang màu xám nhạt
Trang 9+ Trên các giống lúa mẫn cảm các vết bệnh to hình thoi, dày màu nâu nhạt,
có khi có quầng màu vàng nhạt, phần giữa vết bệnh có màu nâu xám
+ Trên các giống chống chịu, vết bệnh là các vết chấm rất nhỏ hình dạng không đặc trưng
- Triệu chứng vết bệnh ở cổ bông, cổ gié, và trên hạt lúa :
+ Các vị trí khác nhau của bông lúa đều có thể bị bệnh với các triệu chứng các vết màu nâu xám hơi teo thắt lại
+ Vết bệnh trên cổ bông xuất hiện sớm thì bông lúa bị lép, nếu bệnh xuất hiện muộn khi hạt đã vào chắc thì gây hiện tượng gãy cổ bông
+ Vết bệnh ở hạt không định hình, có màu nâu xám hoặc nâu đen Nấm ký sinh ở vỏ trấu và có thể ở bên trong hạt Hạt giống bị bệnh là nguồn truyền bệnh
từ vụ này qua vụ khác
b Tác nhân gây bệnh đạo ôn trên lúa:
- Tác nhân gây hại là nấm Pyricularia oryzae Cav hay P grisea (Cook )Sacc
- Cành bào tử phân sinh hình trụ, đa bào không phân nhánh, đầu cành nhọn
và hơi gấp khúc Nấm thường sinh ra cacsc cụm cành từ 3 - 5 chiếc
- Bào tử phân sinh hình quả lê hoặc hình nụ sen, thường có từ 2 - 3 ngăn ngang, bào tử không màu, kích thước trung bình của bào tử nấm là 19 - 23 x 10 -
12 micromet
- Bào tử của nấm rất nhỏ, có thể phát tán và bay cao đến 24 m, thậm chí đến 10.000 m để lây lan cho các ruộng lân cận trong khu vực Nấm phát triển tốt trong điều kiện mát từ 24-28 độ C, ẩm độ cao >80%, biên độ nhiệt giữa ngày và đêm cao sẽ dễ phát sinh thành dịch
- Bào tử nấm nảy mầm khi gặp lớp nước tự do trên lá hay không khí bảo hòa nước; ở 240C bào tử cần 6 giờ, ở 280C mất 8 giờ; vượt quá 280C bào tử phát triển kém Bào tử xâm nhập vào tế bào lá bằng cách mọc thành đĩa áp, chọc thủng vách tế bào lá lúa
Trang 10- Ngoài ra, bào tử còn tiết ra độc tố pyricularin gây độc cho cây (Ou, 1983) Cây lúa là ký chủ chính, bệnh có thể lưu tồn trên các cây ký chủ phụ mọc quanh ruộng như các loài cỏ lồng vực, đuôi phụng, cỏ chỉ, lúa ma, lúa rày-lúa chét…
c Đặc điểm phát sinh, phát triển bệnh và lây lan của bệnh đạo ôn trên lúa:
- Điều kiện khí hậu thời tiết:
Bệnh này thường phát triển mạnh trong điều kiện khí hậu mát mẽ, ấm độ cao, mưa nhỏ kéo dài, đêm sương mù nhiều
Đặc biệt trong vụ lúa Đông Xuân tại vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long vào tháng giêng-tháng hai dương lịch, bệnh này sẽ gây hại trên diện rộng trùng vào lúc lúa đứng cái đến trổ Bà con trồng lúa tại các vùng thường xuyên bị bệnh cháy lá hằng năm như Tiền Giang, An Giang, Đồng Tháp và Sóc Trăng cần lưu
ý có biện pháp phòng ngừa
- Điều kiện khô hạn:
Điều kiện khô hạn làm cây lúa thiếu nước, quá trình trao đổi chất kém, khả năng hấp thu dinh dưỡng yếu, cây lúa không chống chọi được bệnh Ở những vùng cao nguyên; điều kiện khô hạn thiếu nước kết hợp với đêm sương mù nhiều, biên độ nhiệt lớn sẽ làm cho bệnh này càng dễ phát sinh mạnh
- Mật độ gieo trồng:
Mật độ gieo sạ cũng có liên quan đến khả năng phát triển của bệnh cháy lá Gieo sạ càng dày, tán lá lúa càng nhiều, khả năng che khuất càng lớn, ẫm độ dưới tán lá càng cao, điều kiện vi khí hậu càng thuận lợi cho nấm cháy lá phát triển
- Phân bón:
Ba lọai phân N-P-K đều có ảnh hưởng rất lớn đến việc phát sinh bệnh nếu bón không cân đối Thông thường bón dư thừa phân đạm sẽ làm tăng bệnh; dư phân lân không thấy rõ ảnh hưởng lên bệnh Tuy nhiên nếu bón thêm phân lân trên vùng đất phèn sẽ hạn chế bệnh cháy lá rất rõ ràng Phân kali có ảnh hưởng rất phức tạp trên sự phát triển của bệnh cháy lá; bón dư thừa đạm và kali đều làm tăng bệnh; bón đạm vừa phải kết hợp đủ lượng kali thì sẽ giãm bệnh rất rõ
Trang 11Do đó, trong giai đọan sau trổ nếu ruộng bị nhiễm bệnh cháy lá họặc thối cổ bông thì không đuợc bón thêm phân bón lá có nitrat kali
d Biện pháp phòng trị bệnh đạo ôn trên lúa:
Cần áp dụng biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp IPM:
- Nên chọn mua giống lúa xác nhận ở nhà cung cấp giống tin tưởng, phải
có tính “”kháng bệnh” hoặc “kháng vừa” kết hợp với khả năng kháng được rầy nâu Các giống này phải phù hợp với chân đất tại địa phương cũng như năng suất cao và chất lượng tốt Tùy theo mục đích để đạt chất lượng gạo ngon, dễ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, bà con có thể chọn một số giống như sau: IR64, VNĐ 95-20, VNĐ 99-3, OMCS 2000, OM 1490, MTL 250, OM 3536,
VĐ 20, Jasmine 85…
Trang 12- Nên chọn hạt giống sạch bệnh, khử lẫn tạp hạt cỏ, xử lý một số lọai bệnh trên vỏ hạt bằng cách pha 20 cc thuốc CRUISER Plus với 2 lít nước phun lên
100 kg hạt giống trong giai đọan ủ từ 6-12 giờ trước khi đem đi gieo sạ
- Nên dùng biện pháp sạ hàng với lượng giống trung bình: 80-120 kg/ha
- Bón phân cân đối N-P-K, không bón thừa phân đạm: 80-100kg N/ha là
đủ Nên bón phân đạm theo theo nhu cầu cây lúa, áp dụng bảng so màu lá lúa LCC
- Sau mùa thu hoạch nên cày vùi rơm rạ để trả lại nguồn hữu cơ cho đất đồng thời diệt được mầm bệnh; hạn chế đốt rơm vì biện pháp này chỉ trả lại một
số chất khoáng có trong tro; đất dần dần kém mẫu mỡ mau suy kiệt
- Vệ sinh đồng ruộng bằng cách thu gom, tiêu diệt lúa rày-lúa chét, cỏ dại mọc ven bờ là nơi lưu tồn và lây lan mầm bệnh sau này
- Giữ mực nước đầy đủ thường xuyên trên mặt ruộng tùy theo nhu cầu nước theo từng giai đọan của cây lúa, tránh để ruộng khô nước khi bệnh cháy lá xãy ra
- Cần thăm đồng thường xuyên, phát hiện kịp thời khi bệnh chớm xuất hiện Nếu được, nên làm lô ruộng dự tính dự báo, dành riêng khoảng vài mét vuông trên cùng ruộng lúa, sạ dầy hơn bình thường, bón dư phân đạm
- Biện pháp hóa học: điều chỉnh bét phun cho hạt thuốc thật mịn, đủ lượng nước 400-500 lít/ha với nồng độ theo khuyến cáo Các lọai thuốc thông dụng hiện nay: Filia 52.5 SE, Beam 75 WP, Flash 75 WP, Fuan 40 EC, Fuji One 40
EC, Rabcide 20 SC hoặc 30 WP, Kian 50 EC, Kitazin 50 EC, Kitatigi 50 ND hoặc 10 H, Vikita 50 ND hoặc 10 H
- Áp dụng chất kích kháng SAR3-ĐHCT do Bộ Môn BVTV, Trường Đại học Cần Thơ nghiên cứu thử nghiệm khá hiệu quả với liều phun 10cc chế phẩm/ bình phun 8 lít nước vào 3-4 tuần đầu sau khi sạ
Trang 132 Bệnh khô vằn
Tên khoa học:( Rhizoctonia solani Palo)
a Triệu chứng gây hại của bệnh khô vằn trên lúa
- Là loại bệnh hại toàn thân, bệnh gây hại bẹ lá, phiến lá và cổ bông Các bẹ
lá sát mặt nước hoặc bẹ lá già ở dưới gốc thường là nơi phát sinh bệnh đầu tiên
- Trên bẹ lá xuất hiện các vết đốm hình bầu dục màu lục tối hoặc xám nhạt, sau lan rộng ra thành dạng vết vằn da hổ dạng đám mây Khi bị nặng, cả bẹ lá và
lá phía trên bị chết lụi
Vết bệnh khô vằn trên bẹ lá đòng
- Vết bệnh lá tương tự như ở bẹ lá, thường vết bệnh lan rộng rất nhanh chiếm hết bề rộng ở phiến lá tạo ra từng mảng vân mây hoặc vằn da hổ Các lá già ở dưới hoặc lá sát mặt nước là nơi phát sinh trước sau đó lan lên các lá phía trên
Trang 14Vết bệnh khô vằn trên lá lúa
Vết bệnh khô vằn trên toàn bộ cây lúa
- Vết bệnh ở cổ bông thường là vết kéo dài bao quanh cổ bông, hai đầu vết bệnh có màu xám loang ra, phần giữa vết bệnh màu lục sẫm co tóp lại
- Trên vết bệnh ở các vị trí gây hại đều xuất hiện hạch nấm màu nâu, hình tròn dẹt hoặc hình bầu dục nằm rải rác hoặc thành từng đám nhỏ trên vết bệnh Hạch nấm rất dễ dàng rơi ra khỏi vết bệnh và nổi trên mặt nước ruộng
b Tác nhân gây hại của bệnh khô vằn trên lúa
- Bệnh đốm vằn do nấm Rhizoctonia solani sống trong đất gây ra Ngoài lúa, nấm còn gây hại trên rau cải, ngô, bầu bí, dưa, cà rốt, ớt… mầm bệnh lây