1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TAI LIEU LUAT PHAP VA DAO DUC trong thuc tien BC TT

19 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 55,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1: Đạo đức nghề nghiệp: 2 Câu 2: Đạo đức nghề báo: 2 Câu 3: Một số tình huống vi phạm 3 Câu 4: Từ hiểu biết và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của bản thân, hãy cho biết ai là người phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin được đăng tải trên báo chí 4 Câu 5: phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của Bộ Thông tin và Truyền thông 6 Câu 6: Tìm hiểu các khái niệm đạo đức, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức nghề nghiệp của nhà báo: 9 Câu 7: Cơ sở để hình thành đạo đức nghề nghiệp? 10 Câu 8: Vai trò của đạo đức, đạo đức nghề báo trong hoạt động báo chí? 11 Câu 9: Phân tích 9 điều quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam: 11 Câu 10: Nêu và phân tích những biểu hiện vi phạm đạo đức nghề báo 13

Trang 1

MỤC LỤC

Câu 1: Đạo đức nghề nghiệp: 2

Câu 2: Đạo đức nghề báo: 2

Câu 3: Một số tình huống vi phạm 3

Câu 4: Từ hiểu biết và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của bản thân, hãy cho biết ai là người phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin được đăng tải trên báo chí 4

Câu 5: phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của Bộ Thông tin và Truyền thông 6

Câu 6: Tìm hiểu các khái niệm đạo đức, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức nghề nghiệp của nhà báo: 9

Câu 7: Cơ sở để hình thành đạo đức nghề nghiệp? 10

Câu 8: Vai trò của đạo đức, đạo đức nghề báo trong hoạt động báo chí? 11

Câu 9: Phân tích 9 điều quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam: 11

Câu 10: Nêu và phân tích những biểu hiện vi phạm đạo đức nghề báo 13

Trang 2

ĐỀ CƯƠNG LUẬT PHÁP VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG THỰC TIỄN BC-TT:

Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được xã hội thừa nhận, quy định hành vi của con người đối với nhau và đối với xã hội Các nguyên tắc đạo đức giống như những chiếc máy điều chỉnh hành vi của con người, nhưng không mang tính chất cưỡng chế mà mang tính tự giác Lý tưởng và trách nhiệm đạo đức đã hình thành nên quan niệm về lương tâm và lòng tự trọng của mỗi công dân Đạo đức nghề nghiệp là một bộ phận của đạo đức xã hội Đạo đức nghề nghiệp bao gồm các nguyên tắc xử sự đúng đắn để ngăn ngừa những hành vi không đúng đắn Căn cứ vào những tiêu chuẩn đạo đức này và dựa vào tính chất của những hành vi, mỗi người sẽ phải điều chỉnh hành vi của mỗi người phù hợp với lợi ích và sự tiến bộ xã hội

Đạo đức nghề nghiệp của nhà báo là những quy tắc, chuẩn mực quy định thái độ và hành vi ứng

xử của nhà báo trong các mối quan hệ nghề nghiệp và xã hội Đạo đức nghề nghiệp của nhà báo còn gọi là đạo đức nghề báo, đạo đức báo chí

Trong thế giới ngày nay, vị trí và vai trò của báo chí ngày càng được nâng lên Báo chí đang trở thành một bộ phận quan trọng trong đời sống xã hội không thể thiếu được trong đời sống tinh thần của con người Báo chí còn tham gia vào tiến trình lịch sử, cùng lúc có thể tác động đến nhiều người, nhiều tầng lớp, nhiều lĩnh vực của đời sống Gắn bó với đất nước,dân tộc, nhân dân, với Đảng, Báo chí cách mạng Việt Nam không chỉ là người tuyên truyền, cổ động tập thể (Lê-nin) mà còn góp phần lý giải những định hướng phát triển đất nước trên cơ sở những định hướng phát triển xã hội của Đảng; là thước đo kiểm định tính đúng đắn của các quyết sách kinh tế, văn hóa xã hội trong đời sống Báo chí còn phản ánh những bức xúc của nhân dân, các tầng lớp xã hội, những phản biện có tính xây dựng về các chính sách không phù hợp quy luật phát triển, không phù hợp với quyền lợi của quảng đại quần chúng nhân dân

Câu 1: Đạo đức nghề nghiệp:

Đạo đức nghề nghiệp là một bộ phận của đạo đức xã hội, là đạo đức trong một lĩnh vực cụ thể Đạo đức nghề nghiệp bao gồm những yêu cầu đạo đức đặc biệt, các quy tắc và chuẩn mực trong lĩnh vực nghề nghiệp nhất định, nhằm điều chỉnh hành vi của các thành viên trong nghề nghiệp

đó sao cho phù hợp với lợi ích và sự tiến bộ của xã hội

Đạo đức cũng có những nguyên tắc nhất định, những nguyên tắc này làm nền tảng cho tất cả các quy tắc ứng xử chuyên nghiệp Nguyên tắc đạo đức có thể khác nhau tùy theo nghề nghiệp;

ví dụ, đạo đức nghề nghiệp liên quan đến các bác sĩ y khoa sẽ khác với những người liên quan đến luật sư hoặc đại lý bất động sản.Tuy nhiên, có một số nguyên tắc đạo đức phổ quát được áp dụng trên tất cả các ngành nghề, bao gồm:

- Trung thực

- Đáng tin cậy

- Lòng trung thành

- Tôn trọng người khác

- Tuân thủ pháp luật

- Làm điều tốt và tránh làm hại người khác

Câu 2: Đạo đức nghề báo:

Đạo đức nghề báo là hệ thống quy tắc, chuẩn mực đạo đức của người làm báo trong quan hệ với

xã hội, với nghề nghiệp, với đồng nghiệp và với bản thân Những quy tắc, chuẩn mực đạo đức nghề báo là những yêu cầu của xã hội, yêu cầu của nghề báo đối với người làm báo Các yêu cầu ấy xác định rõ ràng tính chất và những giới hạn của cái có thể và cái được phép trong hành

vi của người làm báo Các yêu cầu ấy nhằm định hướng mọi hành vi của người làm báo trong những điều kiện nhất định, đồng thời là phương tiện chủ yếu làm nhiệm vụ đánh giá đạo đức của người làm báo trong hoạt động nghề nghiệp Các quy tắc, chuẩn mực đạo đức ấy tuy không

Trang 3

được ghi trong luật, nhưng được giới báo chí chấp nhận, được duy trì bởi lương tâm của nhà báo, của dư luận xã hội và của tổ chức nghề nghiệp báo chí

10 điều Quy định đạo đức nghề nghiệp người làm báo Việt Nam

Điều 1: Trung thành với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN dưới sự lãnh

đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; vì lợi ích của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân; góp phần nâng cao uy tín, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế

Điều 2: Nghiêm chỉnh thực hiện Hiến pháp, Luật Báo chí, Luật bản quyền và các quy định của

pháp luật Thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích; nội quy, quy chế của cơ quan báo chí nơi công tác

Điều 3: Hành nghề trung thực, khách quan, công tâm, không vụ lợi Bảo vệ công lý và lẽ phải.

Không làm sai lệch, xuyên tạc, che giấu sự thật, gây chia rẽ, kích động xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tình đoàn kết, hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc

Điều 4: Nêu cao tinh thần nhân văn, tôn trọng quyền con người Không xâm phạm đời tư, làm

tổn hại danh dự, nhân phẩm, lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân

Điều 5: Chuẩn mực và trách nhiệm khi tham gia mạng xã hội và các phương tiện truyền thông

khác

Điều 6: Bảo vệ bí mật quốc gia, bí mật nguồn tin theo quy định của pháp luật.

Điều 7: Đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp.

Điều 8: Tích cực học tập, nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ, ngoại ngữ, phấn đấu vì một

nền báo chí dân chủ, chuyên nghiệp và hiện đại

Điều 9: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt; Bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam,

tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại

Điều 10: Những người làm báo Việt Nam cam kết thực hiện những quy định trên, đó là bổn

phận và nguyên tắc hành nghề, là lương tâm và trách nhiệm của người làm báo

Câu 3: Một số tình huống vi phạm

Đạo đức nghề nghiệp:

Đạo đức nghề báo:

Câu 4: Từ hiểu biết và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của bản thân, hãy cho biết ai là người phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin được đăng tải trên báo chí Xác định nguồn tin trên báo chí:

Theo Quy chế xác định nguồn tin trên báo chí ban hành kèm theo Quyết định số 52/2008/QĐ-BTTTT ngày 02/12/2008 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông thì trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ của mình, các tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ cung cấp thông tin cho báo chí và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin đã cung cấp cho báo chí theo quy định tại Điều 7 Luật Báo chí; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí, Quyết định

số 77/2007/QĐ-TTg ngày 28 tháng 5 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí Việc xác định nguồn tin trên báo chí phải tuân theo các quy định sau:

1 Cơ quan báo chí, tác giả bài báo phải viện dẫn nguồn tin được sử dụng để đăng, phát trên báo chí Khi viện dẫn nguồn tin phải thể hiện rõ nguồn tin cho cá nhân, cơ quan, tổ chức nào cung cấp hoặc thể hiện rõ là theo nguồn tin riêng của phóng viên, nguồn tin riêng của cơ quan báo chí và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về xuất xứ và tính xác thực của nguồn tin

Trang 4

2 Đối với các vụ án đang được điều tra hoặc chưa xét xử và các vụ việc tiêu cực hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật nhưng chưa có kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, báo chí

có quyền thông tin theo nguồn tài liệu của mình nhưng phải viện dẫn nguồn tin theo đúng quy định tại mục 1 trên và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin đã đăng, phát

Cơ quan báo chí phải đảm bảo tính nguyên vẹn, chính xác của thông tin được cung cấp; không được đăng, phát những thông tin về thân nhân và các mối quan hệ của cá nhân trong các vụ án,

vụ việc tiêu cực khi không có căn cứ cho rằng những thân nhân và các mối quan hệ đó liên quan đến vụ án, vụ việc tiêu cực hoặc chưa có kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, làm ảnh hưởng xấu đến đời tư của công dân

3 Cơ quan báo chí khai thác các văn kiện, tài liệu của tổ chức, tài liệu, thư riêng của cá nhân có liên quan đến các vụ án đang được điều tra hoặc chưa xét xử, các vụ việc tiêu cực hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật đang chờ kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại khoản 6 Điều 5 Nghị định số 51/2002/NĐ-CP ngày 26 tháng 4 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí, phải nêu rõ xuất xứ của các văn kiện, tài liệu, thư riêng và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những nội dung thông tin đã đăng, phát

4 Khi sử dụng tin, bài để đăng phát trên báo chí, cơ quan báo chí phải ghi rõ họ, tên thật hoặc bút danh của tác giả, nhóm tác giả Trường hợp tác giả ghi bút danh thì cơ quan báo chí phải biết rõ tên thật, địa chỉ của tác giả

5 Đối với loại thông tin về những chuyện thần bí, các vấn đề khoa học mới mà chưa được kết luận thì chỉ đăng trên tạp chí nghiên cứu chuyên ngành và phải có chú dẫn xuất xứ tư liệu

6 Người đứng đầu cơ quan báo chí là người chịu trách nhiệm trước thủ trưởng cơ quan chủ quản và trước pháp luật về tính chính xác của các thông tin đăng, phát trên báo chí

7 Cơ quan báo chí, nhà báo, tác giả bài báo, tổ chức, cá nhân có liên quan không thực hiện đúng các quy định về cung cấp thông tin và xác định nguồn tin trên báo chí như quy định trên thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật

Trách nhiệm về tính chính xác của thông tin được đăng tải trên báo chí:

Hiện nay hành vi sai phạm phổ biến nhất đó là việc đưa thông tin thiếu chính xác, sai sự thật Thông tin thiếu chính xác đó là việc đưa thông tin có sự sai lệch, thường gây hậu quả ít nghiêm trọng, còn thông tin sai sự thật đó là việc tác giả bài báo tự bịa ra hoặc khai thác từ những nguồn tin sai lệch, gây hậu quả nghiêm trọng

Những sai phạm này thường rơi vào việc đưa thông tin về các loại thực phẩm, các loại thuốc chữa bệnh như việc hoa quả ngâm hóa chất, ăn bưởi bị ung thư,… khiến người tiêu dùng hoang mang, người sản xuất rơi vào cảnh khốn khó vì những tin đồn thất thiệt

Còn có rất nhiều các sai phạm phổ biến khác như: thông tin sai, bịa đặt, xúc phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm của tổ chức, cá nhân, đặc biệt là với các cán bộ cấp cao Hay việc các báo khai thác đậm nét về các vụ án mạng, miêu tả tỉ mỉ hành động tội ác, giật tít câu view; khai thác các thông tin kỳ bí, mê tín dị đoan, đồn thổi không có căn cứ, cơ sở hoặc đăng tải các bức hình dung tục, khiêu dâm; xâm phạm đời tư của cá nhân các nhân vật nổi tiếng…, những sai phạm này chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp

Theo Nghị định 174/2013/NĐ-CP, điều 64, khoản 3, mục a: phạt tiền từ 20.000.000đ đến 30.000.000đ đối với các hành vi trong đó có hành vi: Cung cấp nội dung thông tin sai sự thật,

vu khống, xuyên tạc, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức và danh dự, nhân phẩm của cá nhân

Để xảy ra sai phạm, trước hết là do nhận thức, bản lĩnh chính trị của các phóng viên, nhà báo,

do chuyên môn yếu kém, áp lực về thông tin, chỉ tiêu, áp lực câu “view” để thu hút quảng cáo…

Trang 5

Và để siết chặt quản lý báo chí cũng như nâng cao trách nhiệm của các cơ quan báo chí, nhà báo trong hoạt động báo chí, Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung đã được thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2017, trong đó có quy định rõ ràng những hành vi bị cấm trong hoạt động báo chí và những vi phạm sẽ bị rút giấy phép hoạt động

Người đứng đầu cơ quan chủ quản báo chí, Tổng Biên tập, Phó Tổng Biên tập, nhà báo, phóng viên có hành vi vi phạm các quy định tại Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà cũng bị xử lý thu hồi thẻ nhà báo, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Trường hợp cơ quan báo chí gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân ngoài việc bị xử phạt như trên còn phải công khai xin lỗi, cải chính trên báo và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật

Luật và các văn bản quy phạm pháp luật về báo chí đã quy định rõ người đứng đầu cơ quan báo chí phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động của cơ quan báo chí, trong đó bao gồm trách nhiệm về nội dung đăng, phát trên cơ quan báo chí mình Ngoài ra, báo chí lấy thông tin từ tổ chức hoặc từ người phát ngôn của các cơ quan hành chính nhà nước thì theo quy định tại Điều 7 Luật Báo chí, Điều 5 Quy chế Phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí thì tổ chức và người phát ngôn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung phát ngôn và thông tin cung cấp cho báo chí

Như vậy, vấn đề mấu chốt ở đây là dù chủ thể cung cấp thông tin cho báo chí là ai thì trách nhiệm của báo chí là phải kiểm tra, xác minh để đảm bảo tính chính xác, khách quan của nội dung nguồn tin

Câu 5: phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của Bộ Thông tin và Truyền thông

QUY CHẾ

phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của Bộ Thông tin và Truyền thông

(Ban hành kèm theo Quyết định số 49/2008/QĐ-BTTTT ngày 26/09 /2008 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông)

Điều 1 Phạm vi điều chỉnh

Quy chế này quy định về việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của Bộ Thông tin và Truyền thông

Điều 2 Người phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí

1 Người phát ngôn của Bộ Thông tin và Truyền thông (sau đây gọi là Người phát ngôn) là Chánh Văn phòng Bộ Thông tin và Truyền thông, người được Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông giao nhiệm vụ phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí

2 Trong trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông trực tiếp phát ngôn hoặc uỷ quyền cho người khác có trách nhiệm thuộc Bộ phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí về những vấn đề cụ thể được Bộ trưởng giao

3 Chỉ những người có thẩm quyền phát ngôn quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này mới được nhân danh Bộ Thông tin và Truyền thông để phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí Thông tin do những người này cung cấp là thông tin chính thức về hoạt động của Bộ Thông tin

và Truyền thông

4 Lãnh đạo các cơ quan, đơn vị và cán bộ, công chức, viên chức thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông không được giao nhiệm vụ phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí thì không được nhân danh Bộ Thông tin và Truyền thông để phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí

5 Các đơn vị có chức năng hoạt động trong lĩnh vực thông tin, báo chí được quy định trong Quyết định của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và

cơ cấu tổ chức bao gồm:

a) Cục Báo chí;

Trang 6

b) Cục Quản lý phát thanh truyền hình và thông tin điện tử;

c) Cục Thông tin đối ngoại;

d) Văn phòng;

đ) Trung tâm Thông tin;

e) Báo Bưu điện Việt Nam;

g) Trung tâm Hợp tác báo chí và truyền thông quốc tế;

h) Tạp chí Công nghệ thông tin và truyền thông;

i) Đài Truyền hình kỹ thuật số VTC;

k) Báo điện tử Vietnamnet

6 Cán bộ, công chức, viên chức của Bộ Thông tin và Truyền thông, Lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Bộ có thể trả lời phỏng vấn và cung cấp thông tin theo yêu cầu báo chí Những thông tin này chỉ mang tính chất cá nhân, đơn vị và phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin mà mình cung cấp

Chương II

PHÁT NGÔN VÀ CUNG CẤP THÔNG TIN CHO BÁO CHÍ

Điều 3 Phát ngôn và cung cấp thông tin định kỳ

1 Người phát ngôn tổ chức cung cấp thông tin định kỳ cho báo chí về các nội dung chủ yếu sau:

a) Hoạt động và các văn bản chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ;

b) Tình hình và kết quả hoạt động của Bộ Thông tin và Truyền thông trên các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ;

c) Các văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông;

d) Kế hoạch, chương trình công tác của Bộ Thông tin và Truyền thông

2 Việc cung cấp thông tin định kỳ cho báo chí của Bộ Thông tin và Truyền thông được thực hiện bằng văn bản thông qua các hình thức sau:

a) Định kỳ hàng tháng cung cấp thông tin cho báo chí trên Trang tin điện tử của Bộ Thông tin

và Truyền thông, Báo Bưu điện Việt Nam, Báo điện tử Vietnamnet, Đài truyền hình kỹ thuật số VTC;

b) Ba tháng một lần tổ chức họp báo để cung cấp thông tin định kỳ cho báo chí Việc tổ chức họp báo thực hiện theo quy định hiện hành;

c) Trong trường hợp cần thiết, tổ chức cung cấp thông tin cho báo chí bằng văn bản hoặc thông tin trực tiếp tại cuộc họp giao ban báo chí hàng tuần do Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo trung ương, Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức;

d) Cung cấp thông tin cho Cổng thông tin điện tử của Chính phủ theo qui định hiện hành

Điều 4 Phát ngôn và cung cấp thông tin trong trường hợp đột xuất, bất thường

1 Người phát ngôn có trách nhiệm phát ngôn và cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho báo chí trong các trường hợp đột xuất sau đây:

a) Khi thấy cần thiết phải thông tin trên báo chí về các sự kiện, vấn đề quan trọng, gây tác động lớn trong xã hội thuộc phạm vi quản lý của Bộ Thông tin và Truyền thông nhằm định hướng và cảnh báo kịp thời trong xã hội về quan điểm và cách xử lý của Bộ Thông tin và Truyền thông đối với các sự kiện, vấn đề đó;

Trường hợp xảy ra vụ việc cần có ngay ý kiến ban đầu của Bộ Thông tin và Truyền thông thì người phát ngôn có trách nhiệm chủ động phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí trong thời gian chậm nhất là hai ngày, kể từ khi vụ việc xảy ra;

Trang 7

b) Khi cơ quan báo chí hoặc cơ quan chỉ đạo về báo chí có yêu cầu phát ngôn hoặc cung cấp thông tin về các sự kiện, vấn đề thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông được nêu trên báo chí;

c) Khi có căn cứ cho rằng báo chí đăng tải thông tin sai sự thật về lĩnh vực do Bộ Thông tin và Truyền thông quản lý, người phát ngôn có trách nhiệm yêu cầu cơ quan báo chí đó phải đăng tải

ý kiến phản hồi, cải chính theo quy định của pháp luật

2 Việc tổ chức phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí trong trường hợp đột xuất, bất thường được thực hiện thông qua hình thức sau:

a) Thông tin trên Trang tin điện tử của Bộ Thông tin và Truyền thông, Báo Bưu điện Việt Nam, Báo điện tử Vietnamnet, Đài truyền hình kỹ thuật số VTC;

b) Tổ chức họp báo;

c) Thông tin bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác cho các cơ quan báo chí

Điều 5 Quyền và trách nhiệm của Người phát ngôn

1 Quyền của Người phát ngôn:

a) Được nhân danh, đại diện Bộ Thông tin và Truyền thông phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí;

b) Định kỳ hoặc đột xuất có quyền yêu cầu các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan trong Bộ Thông tin và Truyền thông, Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cung cấp thông tin, chuẩn bị các nội dung liên quan đến việc phát ngôn theo Điều 3, Điều

4 của Quy chế này

c) Được từ chối, không phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí trong các trường hợp sau: Những vấn đề thuộc bí mật nhà nước; những vấn đề bí mật thuộc nguyên tắc và quy định của Đảng; những vấn đề không thuộc quyền hạn phát ngôn;

Các vụ án đang được điều tra hoặc chưa xét xử, trừ trường hợp các cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan điều tra có yêu cầu cần thông tin trên báo chí những vấn đề có lợi cho hoạt động điều tra và công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm;

Những văn bản chính sách, đề án đang trong quá trình soạn thảo mà theo quy định của pháp luật chưa được cấp có thẩm quyền cho phép phổ biến, lấy ý kiến rộng rãi trong xã hội;

Những vấn đề vượt quá thẩm quyền hoặc chưa đủ thông tin

2 Trách nhiệm của Người phát ngôn:

a) Chịu trách nhiệm trước pháp luật và Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông về tính chính xác, trung thực của nội dung phát ngôn và thông tin cung cấp cho báo chí;

b) Báo cáo Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông về nội dung phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí đối với những vấn đề phức tạp, nhạy cảm trước khi công bố;

c) Đề nghị Bộ trưởng ủy quyền người khác thay thế trong thời gian vắng mặt hoặc các trường hợp cần thiết khác

Chương III

TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC ĐƠN VỊ TRONG HOẠT ĐỘNG PHÁT NGÔN VÀ CUNG CẤP THÔNG TIN CHO BÁO CHÍ

Điều 6 Trách nhiệm của các đơn vị, cá nhân liên quan trong việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí

1 Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông, Giám đốc Sở Thông tin

và truyền thông các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, chính xác, đúng thời hạn các nội dung thông tin phục vụ cho việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí

2 Trang tin điện tử của Bộ Thông tin và Truyền thông, Báo Bưu điện Việt Nam, Báo điện tử Vietnamnet, Đài truyền hình kỹ thuật số VTC có trách nhiệm đăng tải nội dung phát ngôn theo yêu cầu của Người phát ngôn

Trang 8

3 Cục Thông tin đối ngoại, Vụ Hợp tác quốc tế và các cơ quan, đơn vị có liên quan có trách nhiệm phối hợp với Người phát ngôn trong việc thu thập, xử lý thông tin và các hoạt động có liên quan trong trường hợp Người phát ngôn thực hiện phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí nước ngoài về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông

4 Trách nhiệm của Văn phòng:

a) Chủ trì phối hợp với Trung tâm Thông tin và các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức họp báo

để Người phát ngôn cung cấp thông tin cho báo chí về hoạt động của ngành Thông tin và Truyền thông; kiểm tra, tổng hợp tình hình thực hiện Quy chế, định kỳ hàng tháng báo cáo Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông;

b) Chủ trì, phối hợp với Cục Báo chí, Cục Quản lý phát thanh truyền hình và Thông tin điện tử, Cục Thông tin đối ngoại, Trung tâm Thông tin theo dõi, tổng hợp và cung cấp thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng và dư luận xã hội liên quan tới các lĩnh vực, hoạt động thuộc chức năng quản lý nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông;

c) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan chuẩn bị nội dung cải chính hoặc làm

rõ thêm những thông tin liên quan đến nội dung báo chí nêu và yêu cầu cơ quan báo chí cải chính về việc đăng tải thông tin sai sự thật về việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước của

Bộ Thông tin và Truyền thông theo quy định của pháp luật về báo chí;

d) Tổ chức cho báo chí tiếp xúc và phỏng vấn Lãnh đạo Bộ

Chương IV

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Điều 7 Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông, Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm phổ biến, quán triệt Quy chế này đến cán bộ, công chức, viên chức thuộc cơ quan, đơn vị mình, kịp thời báo cáo Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông những khó khăn vướng mắc trong quá trình

tổ chức thực hiện

Điều 8 Người phát ngôn phối hợp với Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện nhiệm vụ phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí theo đúng quy định tại Quy chế này

Điều 9 Cán bộ, công chức, viên chức thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông vi phạm các quy định tại Quy chế này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật

Câu 6: Tìm hiểu các khái niệm đạo đức, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức nghề nghiệp của nhà báo:

Theo quan điểm phương Đông, đạo đức có nghĩa là “ đạo làm người” bao gồm nhiều chuẩn mực về các mối quan hệ vua tôi, cha con, vợ chồng, bạn bè, anh em, làng xóm Ở phương Tây, khái niệm đạo đức bắt nguồn từ chữ “ mos” trong tiếng Latinh, có nghĩa là “ lề thói”, mosralis

có nghĩa là “ thói quen”

Như vậy, khi nói đến đạo đức là nói đến các lề thói và tập tục biểu hiện trong mối quan hệ giao tiếp hàng ngày giữa người với người

Khái niệm quốc tế của đạo đức là “ moral” Theo C.Mác, đạo đức là một “ hình thái xã hội” chịu sự tác động qua lại của các hình thái ý thức xã hội khác và cùng với các hình thái ý thức xã hội ấy, đạo đức chịu sự quy định của tồn tại xã hội Do đó, đạo đức có “ bản chất xã hội” Ngày nay, đạo đức được định nghĩa “ là một hình thái ý thức xã hội, tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ

Trang 9

với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội” Như vậy, với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức phản ánh tồn tại xã hội, phản ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội Thích ứng với mỗi một xã hội thì có một đạo đức xã hội tương ứng Suy cho cùng, sự phát sinh, phát triển của đạo đức phụ thuộc vào sự phát triển của phương thức sản xuất Về mặt xã hội, đạo đức được biểu hiện bằng thái độ cụ thể của dư luận xã hội Đó là những ý kiến, trạng thái tinh thần tán thưởng, khẳng định ( tích cực) hoặc phê phán, phủ định ( tiêu cực) của một số đông người đối với một hành vi, ý tưởng của cá nhân hay một nhóm người nào đó Về mặt cá nhân, đạo đức được coi là

“ tòa án lương tâm” có khả năng tự phê phán, đánh giá và suy xét từng hành vi, thái độ và ý nghĩ của bản thân trong mỗi cá nhân Xét về bản chất, sự điều chỉnh của đạo đức mang tính tự giác, là sự lựa chọn của mỗi người Đạo đức được bảo đảm bằng lương tâm và sự phê phán của

dư luận xã hội, chỉ khuyên giải, can ngăn để con người - Đạo đức nghề nghiệp : Đạo đức nghề nghiệp là một bộ phận của đạo đức xã hội, là đạo đức trong một lĩnh vực cụ thể trong đạo đức chung của xã hội Đạo đức nghề nghiệp bao gồm những yêu cầu đạo đức đặc biệt, cac quy tắc

và chuẩn mực trong lĩnh vực nghề nghiệp nhất định , nhằm điều chỉnh hành vi của các thành viên trong nghề nghiệp đó sao cho phù hợp với lợi ích và sự tiến bộ của xã hội Xã hội đòi hòi người hành nghề trong bất cứ lĩnh vực nghề nghiệp nào cũng phải tuân thủ những chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cơ bản Phẩm chất đạo đức cá nhân trong xã hội có nét chung, nhưng phẩm chất đọa đức trong từng nghề nghiệp lại có những nét đặc thù và yêu cầu riêng biệt Tuân theo các nguyên tắc, chuẩn mực trong đạo đức nghề nghiệp vừa góp phần vào tăng trường kinh

tế, vừa tạo điều kiện nâng cao chất lượng lao động, hoàn thiện người lao động trong nghề nghiệp đó Nghề nào cũng cần có đạo đức nghề nghiệp, song, một số nghề có vị trí quan trọng đặc biệt và mối quan hệ rộng rãi tới nhiều người trong xã hội như nghề báo, nghề giáo, nghề y, nghề luật, an ninh, tòa án thì đạo đức nghề nghiệp được đặc biệt coi trọng với những nghề này, bên cạnh những chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp chung cho tất cả các quốc gia như đạo đức người thầy giáo, đạo đức người thầy thuốc, đạo đức quan tòa, đạo đức nghề báo… thì mỗi nước, trong mỗi thời kì lịch sử lại đề ra những chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp riêng cho người hành nghề ở nước mình - Đạo đức nghề nghiệp của nhà báo: Đạo đức nghề nghiệp của nhà báo

là những quy định đạo đức không được ghi trong đạo luật, nhưng được chấp nhận trong giới báo chí và được duy trì bở sức mạnh của dư luận xã hội, bởi các tổ chức sáng tạo nghề nghiệp ,

đó là những nguyên tắc, những quy định và những quy tắc về hành vi đạo đức của nhà báo ( theo tác giả E.P.P rô khô rốp trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí Trong cuốn Thuật ngữ Báo chí-Truyền thông, tác giả cho rằng đây là khái niệm chỉ tư cách , lương tâm nghề nghiệp trong hoạt động báo chí, biểu hiện qua hành vi, nguyên tắc ứng xử của người làm báo Theo PGS.TS Nguyễn Văn Dũng thì khi nói đến đạo đức nghề nghiệp của nhà báo là nói đến các mối quan hệ ứng xử của nhà báo trong quá trình tác nghiệp , nói đến thái đội và hành vi ứng xử của nhà báo trong từng tình huống cụ thể Như vậy, đạo đức nghề nghiệp của nhà báo là những quy tắc, chuẩn mực quy định thái đội và hành vi ứng xử của nhà báo trong các mối quan hệ nghề nghiệp

Câu 7: Cơ sở để hình thành đạo đức nghề nghiệp?

Cơ sở xuất phát của đạo đức báo chí được dựa trên 6 thành tố cơ bản là: Dân tộc, chế độ chính trị xã hội, nghề nghiệp, văn hóa truyền thống, trách nhiệm xã hội và ý thức công dân, quan hệ

Trang 10

quốc tế Xét cho cùng thì đạo đức nghề nghiệp cũng chỉ là một phần của đạo đức xã hội Những nguyên tắc của đạo đức xã hội không chỉ là nền tảng cho đạo đức nghề nghiệp nhà báo mà còn

là nền tảng cho sự hình thành của các đạo đức nghề nghiệp khác Nói cách khác, xã hội với những nguyên tắc ứng xử, giao tiếp là một cơ sở để các nghề nghiệp trong xã hội phát triển thành những nguyên tắc ứng xử phù hợp tạo thành đạo đức nghề nghiệp đặc thù không chen lẫn với các nghề nghiệp khác Đạo đức nghề nghiệp còn được hình thành từ chính đạo đức của bản thân của những người trong nghề Mỗi người trong nghề luôn ý thức được tầm quan trọng của nghề nghiệp mình chính vì vậy cũng luôn nhận thức dược mình nên làm gì, phải làm gì, không nên làm gì đó cũng chính là một nhân tố tạo nên đạo đức nghề nghiệp Chỉ khi nào nhận thức đầy đủ những cơ sở xuất phát này thì người làm báo mới giải quyết đúng đắn và xử lý hài hòa các mối quan hệ liên quan đến các thành tố trên để giữ vững đạo đức nghề nghiệp trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, ở mọi lúc, mọi nơi Hay nói cách khác, đạo đức báo chí phải được xây dựng trên cơ sở lòng yêu nước, tự hào dân tộc, gắn bó với vận mệnh đất nước, thấm nhuần văn hóa truyền thống của ông cha, hiểu biết sâu sắc nghề nghiệp, có trách nhiệm xã hội và ý thức công dân cao cả, phù hợp với luật pháp của đất nước và quốc tế, tôn trọng các nền văn hóa của các quốc gia trên thế giới

Câu 8: Vai trò của đạo đức, đạo đức nghề báo trong hoạt động báo chí?

Nêu và phân tích các ví dụ cụ thể để chứng minh: Hiện nay, báo chí ở Việt Nam ngày càng phát triển Tính đến hết tháng 3/2011 cả nước có 745 cơ quan báo chí với 1003 ấn phẩm, một hãng thông tấn quốc qia, 67 đài phát thanh, truyền hình Như vậy có thể thấy báo chí nước ta đang phát triển rất mạnh mẽ Đội ngũ nhà báo cũng đang ngày một tăng lên Chưa kể đến việc vai trò của báo chí trong đời sống hiện nay rất cao, tác động lớn đến nhận thức và đời sống tinh thần của công chúng Bởi vậy, nhà báo, người cầm bút phải biết xác định những thông tin mình đưa

ra, những tác phẩm của mình đang làm sẽ đem lại được gì hay có thể mang lại hậu quả gì cho

xã hội Nếu xảy ra sai sót dù chỉ một chút trong quá trình đưa tin cũng thể ảnh hưởng xấu đến

xã hội, ảnh hưởng đến các vấn đề liên quan có thể là kinh tế, văn hóa, xu hướng của giới trẻ Hiện nay có một bộ phận nhà báo Việt Nam không vững vàng về quan điểm chính trị và đạo đức báo chí đã lợi dụng nghề nghiệp đề phục vụ lợi ích cá nhân, đi ngược lại tôn chỉ, mục đích của nghề báo Nhiều thông tin sai lệch trên báo chí như: cá xuất khẩu thừa dư lượng kháng sinh;

ăn bưởi bị ung thư; rau trồng bị phun thuốc tăng trưởng, vụ bố chồng nàng dâu Những thông tin này đã ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường và nền kinh tế của nước ta Nếu mỗi nhà báo không có định hướng và có hành vi và cách ứng xử trong các tình huống đúng đắn thì sẽ có ảnh hưởng vô cùng xấu đến xã hội Đối tượng thực hiện đạo đức nghề báo chính là những nhà báo Nhà báo là chủ thế của hoạt động báo chí Đảng và nhà nước ta đã xác định rằng, người làm báo là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa – tư tưởng Để thực hiện được những công việc đó, đòi hỏi nhà báo không chỉ có kiến thức sâu rộng, giỏi nghiệp vụ mà còn phải có cái tâm trong sáng Nếu nhà báo đưa một thông tin không có thật hoặc bóp méo sự thật thì sẽ có tác hại rất lớn Đặc biệt, hiện nay nước ta đang thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đối với báo chí sẽ bị ảnh hưởng hai mặt Vì vậy, trong hoạt động báo chí, vẫn đề đạo đức nghề nghiệp của nhà báo luôn được coi trong là một trong những vấn đề then chốt nhất Nhìn từ góc

độ đạo đức nhà báo trong mối quan hệ giữa nhà báo với tổ quốc, nhân dân, Đảng Cộng sản, công chúng, nguồn tin, nhân vật trong tác phẩm của mình, ban biên tập, đồng nghiệp trong và ngoài tòa soạn và với cộng tác viên, thông tin viên cho thấy vai trò to lớn của đạo đức nghề nghiệp trong báo chí Vừa có tác dụng định hướng vừa có tác dụng răn đe với nhà báo Có các

Ngày đăng: 16/03/2022, 17:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w