TÔN GIÁO VÀ SINH HOẠT...Với tư cách một vùng đất giàu trẩm tích văn hóa, đa dạng tộc người, đa tôn giáo, giàu tiểm năng và có vị trí chiến lược trọng yếu, từ lâu Nam Bộ đã là đối tượng
Trang 1NGÔ ,VĂN LỆ
(Chủ biên)
Trang 2VÙNG ĐẤT^
ĐẶC TRƯNG TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO
VÀ SINH HOẠT VĂN HÓA
Trang 3BAN BIÊN SOẠN
Chương II, Chương III Chương II, Chương III Chương II
Chương II, Chương III
Trang 4NGÔ VĂN LỆ
(Chủ biên)
NAM BÔ
ĐẶC TRƯNG TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO
VÀ SINH HOẠT VĂN HÓA
NHÀ XUẤT BẮN CHÍNH TRỊ Quốc GIA sự THẬT
HÀ NỘI - 2017
Trang 5Mã số: 9(V3)
CTQG-2017
Trang 6LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Vùng đất Nam Bộ với tư cách là một không gian địa lý và địa bàn hành chính thân thuộc, thiêng liêng của người dân đất Việt đả trải qua một quá trình hình thành, phát triển lâu dài, được bổi tụ chù yếu bởi hai con sông lớn: sông Đồng Nai và sông Mekong Nơi đây cũng đã từng tổn tại, phát tích của nển văn hóa óc Eo và các vương quốc Phù Nam, Chân Lạp phát triển huy hoàng rồi suy tàn theo năm tháng.
Từ thế kỷ XVII, người Việt từ miền Bắc và miển Trung đã vào đây khai phá, dựng làng, lập ấp cùng với người dân bản địa chinh phục vùng đất hoang
vu nhưng rất trù phú này Đến thế kỳ XVIII, từ tầm nhìn chiến lược và công lao to lớn của các chúa Nguyễn, sau này là vương triểu Nguyễn, xác lập, sắp đặt các đơn vị hành chính, vùng đất phương Nam giàu có chính thức thuộc chù quyến của dân tộc Việt Nam, đến nay đã được hơn 300 năm.
Vùng đất Nam Bộ với cương vực như hiện nay bao gồm cả Đông Nam Bộ
và Tây Nam Bộ - đổng bằng sông Cửu Long, có 17 tỉnh và hai thành phố trực thuộc Trung ương, diện tích tự nhiên hơn 64.000 km2, dân số hơn 33 triệu người với nhiều tộc người tụ cư sinh sống, gổm các dân tộc ít người bản địa, các dân tộc thiểu số tù Trường Sơn - Tay Nguyên xuống, từ các tinh mién núi phía Bắc vào, một số ít người từ các nước khác đến, nhưng chù yếu là địa bàn của người Kinh, người Hoa, người Khmer, người Chăm.
Vể mặt địa lý, nhìn từ Bắc vào Nam, Đông Nam Bộ giáp cực Nam Trung Bộ từ tỉnh Ninh Thuận, giáp Trường Sơn - Tây Nguyên từ các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông; có đường biên giới trên đất liển với Campuchia
từ Bình Phước tới Hà Tiên; có đường bờ biển trài dài từ Ninh Thuận tới đất mũi Cà Mau (Biển Đông) và từ mũi Cà Mau đến Hà Tiên (biển Tây - vịnh Thái Lan) Nằm ở ngả ba đường giao thông quốc tế, Nam Bộ
có vị trí địa - kinh tế, địa - chính trị cực kỳ quan trọng.
Trang 76 ặh VÙNG DAT NAM BỘ VII ĐẶC TRƯNG TÍN NGƯỞNG TÔN GIÁO VÀ SINH HOẠT
Với tư cách một vùng đất giàu trẩm tích văn hóa, đa dạng tộc người, đa tôn giáo, giàu tiểm năng và có vị trí chiến lược trọng yếu, từ lâu Nam Bộ đã
là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong nước và ở nước ngoài, nhiều hội thảo khoa học vể vùng đất này đã được tổ chức, nhiểu công trình khoa học trên các lĩnh vực đã được công bố, nhưng cho đến nay vẫn thiếu một công trình có tầm vóc, quy mô lớn nghiên cứu toàn diện, liên ngành để có cái nhìn toàn cảnh, sâu sắc, nhiều chiều cạnh vể vùng đẩt phương Nam này.
Để đáp ứng yêu cầu đó, chương trình nghiên cứu tổng thể vể vùng đất Nam Bộ dưới dạng một đề án khoa học cấp nhà nước do GS, Phan Huy Lê làm chủ nhiệm, gồm 11 đề tài khoa học đã được Bộ Khoa học và Công nghệ cho phép triền khai từ năm 2008 Từ những đề tài khoa học nghiên cứu cơ bản này, Ban Chủ nhiệm đẽ án đã tổ hợp lại thành báo cáo tổng quan Quá trinh hình
thành và phát triển vùng đất Nam Bộ Sau 4 năm nghiên cứu, toàn bộ đẽ án đã
được Bộ Khoa học và Công nghệ nghiệm thu và đánh giá đây là chương trình khoa học - công nghệ xuất sắc năm 2011.
Mặc dù công trình được đánh giá cao, nhưng khi xuất bản thành sách, các tác giả phải tiếp tục bổ sung, sửa chữa, chỉnh lý trong vòng hơn 3 nâm - đến giữa năm 2015 mới chuyển giao bản thảo cho Nhà xuất bản Sau khi tiếp nhận bàn thảo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật đã huy động một đội ngũ đỏng đảo biên tập viên, họa sĩ, nhân viên kỹ thuật, tổ chức biên tập, đọc duyệt, thiết kế makét, trình bày trong hơn một năm để công trình khoa học lớn này lán đáu tiên đến tay bạn đọc vào cuối năm 2016 đáu năm 2017.
Đây là một công trình khoa học nghiên cứu công phu, nghiêm túc, được tiến hành bởi đội ngủ các nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực khác nhau, trong
đó Ban Chù nhiệm để án và chủ biên của từng để tài là các chuyên gia hàng đáu trong từng giai đoạn lịch sử cũng như trong các lĩnh vực nghiên cứu Tuy vậy, ở một vài chương trong bộ tổng quan hoặc từng đề tài, chất lượng nghiên cứu và hàm lượng khoa học không giống nhau, có chương, có tập chưa được như kỳ vọng hoặc yêu cấu nghiên cứu đặt ra.
Tẵt nhiên mỗi để tài khoa học là công trình độc lập, nhưng khi đặt trong một chỉnh thể thì có đề tài không tránh được sơ lược, dàn trải; có đề tài có một
số nội dung đã được trình bày ở các để tài khác Vì vậy, Nhà xuất bản đã thống nhất với chủ biên để nghị các tác giả bổ sung, nâng cấp hoặc cắt bỏ những trùng lặp để bộ sách tuân thủ nghiêm ngặt sự thống nhầt trong chỉnh thể.
Trang 8LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Bộ sách vể vùng đất Nam Bộ gồm bộ tổng quan, rút gọn: Vùng đất Nam
10 tập, nghiên cứu khá toàn diện trên nhiểu lĩnh vực cùa vùng đất phương Nam, từ điểu kiện tự nhiên, quá trình lịch sử, dân cư, dân tộc, tôn giáo, thiết chế quản lý xã hội, quá trình Nam Bộ hội nhập với khu vực và quốc tế.
Khi triển khai nghiên cứu, tên đẽ án và tên từng để tài khoa học rất cụ thể
và thường khá dài, nhưng khi xuất bàn, Nhà xuất bản đã trao đổi với chủ biên thống nhẫt bộ sách có tên chung là Vùng đất Nam Bộ.
Riêng bộ tổng quan Vùng đất Nam Bộ - Quả trình hình thành và phát triển,
ngoài Chương mở đầu và Chương kết có 10 chương nội dung, được kết cấu hoàn chỉnh Nhưng với dung lượng 1.500 trang sách rất khó dung nạp trong một cuốn sách, cho nên chúng tôi chia thành hai tập: tập I gõm Chương mở đáu và sáu chương nội dung, tập II gồm bốn chương nội dung và Chương kết.
Riêng Chương kết, các tác giả dành mục cuối cùng để trình bày đế xuất, kiến nghị cua Ban Chù nhiệm đẽ án với Đảng, Nhà nước và các cơ quan lảnh đạo, quản lý, chúng tôi tách ra làm phần Phụ lục đặt ở cuối sách.
Như vậy kết quả nghiên cứu của để án được công bố thành các cuốn sách sau đây:
- Vùng đất Nam Bộ - Quá trình hình thành và phát triển, gổm 2 tập,
GS Phan Huy Lê chủ biên.
- Vùng đất Nam Bộ, tập I: Điểu kiện tự nhiên, môi trường sinh thái,
TS Trương Thị Kim Chuyên chù biên.
Minh Giang - Nguyễn Việt đổng tác già.
- Vùng đất Nam Bộ, tập III: Từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVI, GS TS Nguyễn
Văn Kim chủ biên.
- Vùng đất Nam Bộ, tập IV: Từ đầu thế kỳ XVII đến giữa thế kỷ XIX,
GS TS Nguyền Quang Ngọc chủ biên.
Minh Huẩn - PGS TS Nguyễn Ngọc Hà đổng chù biên.
Đức Cường chù biên.
- Vùng đất Nam Bộ, tập VII: Đặc trưng tín ngưỡng, tôn giáo vâ sinh hoạt
Trang 9ị’ /8 ì < ■ VÙNG OẮT NAM BỘ VII ĐẶC TRƯNG TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO VÀ SINH HOẠT
- Vùng đất Nam Bộ, tập VIII: Thiết chế quản lý xã hội, PGS TS Vũ Văn
Quân chù biên.
- Vùng đất Nam Bộ, tập IX: Tộc người và quan hệ tộc người, TS Võ Công Nguyện
chủ biên.
PGS TS Võ Văn Sen chù biên.
vể mặt xuất bản, bộ sách được biên tập, thiết kế, trình bày thống nhất trong từng tập và trong cả bộ sách, được in ấn đẹp, trang trọng.
Xuất bản bộ sách này chúng tôi hy vọng cung cấp cho bạn đọc, các nhà nghiên cứu, học viên, sinh viên các học viện, nhà trường và các nhà lãnh đạo, quàn lý, các địa phương, đơn vị một khối lượng tri thức lớn, khá đẩy đủ, toàn diện và chân xác vể vùng đất Nam Bộ, phục vụ cho công tác học tập, nghiên cứu
và hoạch định chính sách ở khu vực trọng yếu, năng động này của đất nước.
Bộ sách cũng cung cấp cơ sở lịch sử - pháp lý vững chắc phục vụ cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị.
Các tác giả và Nhà xuất bản đã nổ lực rất cao trong nghiên cứu, biên soạn
và biên tập - xuất bản, nhưng vói khối lượng công việc đô sộ, bộ sách khó tránh khỏi những hạn ché, thiếu sót, rẩt mong được bạn đọc góp ý, phê bình Xin trân trọng giới thiệu bộ sách quý cùng bạn đọc.
Tháng 4 năm 2017
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA sự THẬT
Trang 10LỜI GIỚI THIỆU
Quá trình hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ là một để án khoa học xã hội cấp nhà nước do Bộ Khoa học và Công nghệ chù trì,được thực hiện trong thời gian từ năm 2008 đến nâm 2010 và nghiêmthu vào cuối năm 2011 Để án gổm 11 để tài:
1-Điểu kiện địa lý tự nhiên, môi trường sinh thái tác động đến tiến
trình lịch sử và đặc trứng vãn hóa vùng đất Nam Bộ do TS Trương ThịKim Chuyên, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại họcQuốc giaThành phố Hồ Chí Minh làm Chù nhiệm
2- Nam Bộ từ cội nguồn đến thế kỷ VII do GS.TSKH Vũ Minh Giang, Viện Việt Nam học và Khoa họcphát triển, Đại học Quốc gia HàNội làm Chủ nhiệm
3- Nam Bộ từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVI do PGS.TS Nguyễn VănKim, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội làm Chủ nhiệm
4- Nam Bộ từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX: Quá trình khai phá và xác
lập chủ quyền của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ do GS.TS NguyễnQuang Ngọc, Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội làm Chủ nhiệm
PGS.TS Đoàn Minh Huấn, Học viện Chính trị hành chính khu vực I làm Chủ nhiệm
6-Nam Bộ từ năm 1945 đến nãm 2010 doPGS.TS Trần ĐứcCường,Viện Sử học Việt Nam làm Chủ nhiệm
7- Đặc trưng tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt văn hóa của cư dân Nam Bộ do GS.TS. Ngô Vãn Lệ, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh làm Chủ nhiệm
Trang 11: io VÙNG ĐẤT NAM BỘ VII ĐẶC TRƯNG TÍN NGƯÕNG TÔN GIÁO VÀ SINH HOẠT
8- Đặc trưng thiết chế quản lý xã hội ở Nam Bộ do PGS.TS Vũ VănQuân, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đạihọc Quốc gia
HàNội làm Chù nhiệm
9- Tộc người và quan hệ tộc người ở Nam Bộ - lịch sử vả hiện trạngdo
TS Võ CôngNguyện,ViệnKhoa học xã hộivùngNam Bộ làmChủnhiệm.10- Nam Bộ trong tiến trình hội nhập khu vực và thế giới của Việt Nam do PGS.TS Võ Văn Sen, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hổ Chí Minhlàm Chủ nhiệm
11- Nghiên cứu giải pháp nâng cao nhận thức của cán bộ và nhân dân
vẽ lịch sử vừng đất Nam Bộ do PGS.TS Phan Xuân Biên, Viện Nghiên cứu xã hội, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh làm Chủnhiệm
Toàn bộ kết quả nghiên cứucủa các để tài được tổng hợp trong một côngtrình mang tên Quá trình hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ
do GS Phan Huy Lê, Chủ nhiệm đẽ án, làm Chủ biên
Công trình có một sõ đế tài nghiên cứu về quá trình lịch sù, nhưngkhông đơn thuần là lịch sử Nam Bộ Cùng với các lớp cắtlịch đại theo tiến trình lịch sử, còn có những nghiên cứu trên một số lĩnh vực cơ bảnvế điểukiện tự nhiên,quan hệ tộc người,thiết chế quảnlýxã hội, đời sống vân hóa,tôngiáo,tín ngưỡng, vêquátrinhxác lập chủquyềncủa quốc gia Đại Việt Trong một sổ để tàilịch sử cũng có nhữngyêu cầu làm sáng tỏ một số nộidung quan trọng như đề tài số 2 với yêu cầu nghiên cứu về văn hóaÓc Eo
và vương quốc Phù Nam, để tài số 4 có yêu cầu nghiên cứu sự xác lập chủ quyển của ViệtNam trên vùngđấtNamBộ Đặc biệt từ kết quả nghiên cứu,
đề án xáclập một nhận thức mới coi lịch sử vùng đất Nam Bộ không phải bắt đầu khi người Việt vào khai phá từ thế kỳ XVII mà phải ngược vế quákhứ xa xưa từ khi con ngườixuất hiện trên vùng đất phươngNam này.Vùng đất Nam Bộ đãđược các nhà khoa học nghiên cứu từ lâu dướigóc độ của nhiều chuyên ngành từ địa chất, địa lý đến khảo cổ học, dântộc học, nhân học, xã hội học, kinh tế học, vãn hóa học và sử học Để
án một mặt tổng hợp các kết quả nghiên cứu đó, mặt khác nghiên cứu thêm một sổ nội dung cẩn thiết nhằm tạo ra một nhận thức tổng hợp về toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của vùng đất phương Namnày Đó là cơ sở khoa học để hiểu biếtvà lý giải những nét độc đáo của
Trang 12LỜI GIÓI THIỆU
không gian lịch sử văn hóa vùng đất Nam Bộ với những trầm tích của nhiều thời kỳ lịchsử, những biến đổi trong cầu trúc tộc người, vai trò và cống hiếncủa các lớp cư dân - tộc người đã từngsinhsống trên vùng đất này, những đặc trưng vế văn hóa, phong cách, lối sống của con người Nam Bộ, quá trình hội nhập của vùng đất Nam Bộ vào lãnh thổ củanước Đại Việt từ thếkỷXVII-XVIII cho đến cuộc đấu tranh bảo vệ chù quyển và sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước đến ngày nay.Tham gia đề án có hơn một trăm nhà khoa học thuộc một số việncùa Viện Khoa học xà hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học
xã hội Việt Nam) và Học viện Chính trị quốc gia Hó Chí Minh, mộtsốkhoa và viện của Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia Thànhphố Hồ Chí Minh và Hội Khoa họclịch sử Việt Nam Các nhà khoa học tham gia dưới nhiều phương thức như trực tiếp biên soạn, nghiên cứuchuyên để, điểu tra khảo sát điển dã, tham luận trong các hội thảo khoahọc Trong quá trình chuẩn bị xây dựng đề án, Bộ Khoa học và Công nghệ đả phối hợp với Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức ba hội thảokhoa học tạiThành phố Hổ Chí Minh và thành phố Cần Thơ: Văn
hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam (năm 2004), Vùng đất Nam Bộ cho đến cuối thếkỷXĨX(năm 2006), Nam Bộ thời cận đại (năm 2008) Trongquá trình triển khai đềán, Ban chủ nhiệm để án cùng chù nhiệm các đềtài còn tổ chức một số hội thảo trao đổi vể lịch sử nghiên cứu, phương pháp tiếpcậnvàmột số nội dung cơbản của đề án như tiến trình lịch sử
xâ hội, bản sắc văn hóaxã hội Các bài tham luận trong những hội thảo này đã được Nhà xuất bản Thế giới biên tập và in thành sáu tập kỷ yếu1
1 Văn hóa Ỏc Eo và vương quốc Phù Nam, 2008; Lịch sử nghiên cứu vổ phương pháp tiếp cận, 2008; Một số vđn đề lịch sử vùng đất Nam Bộ đến cuối thế kỷ XIX, 2009; Một số vấn dề lịch sử vùng đất Nam Bộ thời kỳ cận đại, 2009; Mấy vấn dề tiến trình lịch sử xã hội, 2011; Mấy vân đẽ bàn sắc văn hóa xã hội, 2011.
Kết quả nghiên cứu của Đề án được Nhà xuất bản Chính trị quốcgia Sự thật biên tập rất công phu và công bố thành một bộ sách mang tên chung Vùng đất Nam Bộ gốm 11 tập sách Riêng tập Tổng quan là
Vùng đất Nam Bộ “ Quá trình hình thành và phát triển dày đến 1.500trang chia làm hai tập So với nội dung của các để tài có yêu cẩu thống
Trang 13VII ĐẶC TRƯNG T ín ngưởng , tôn giáo và sinh hoạt
nhất lại tên từng tập và sắp xếp lại một số nội dung để tránh trùng lặp Cách phân tập và bố cụcnày đã được nói rõ trong Lời Nhà xuất bản.Tạp thể cáctác giả đã rất cố gắng hoàn thành công trình nghiên cứu nhưng trước một đối tượng nghiên cứu rộng lớn, bao quát nhiều nội dung phong phú, trong đó có những vấn để mới đang nghiên cứu vàthảo luận nên khó tránh khỏi sơ suất Rất mong nhận được sựquan tâm
và đónggóp ý kiến củabạn đọc Chúng tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến Bộ Khoa học và Công nghệ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc triển khai đẽ án, cảm ơn Nhà xuẫt bản Chính trị quốc gia Sựthậtđã dày công biên tập và xuất bản toàn bộ công trình khoa học này
Hà Nội, mùa Hè nãm 2016
GS Phan Huy Lê
Trang 14MỞ ĐẦU
%
Nam Bộ là đồng bằng lớn nhất của Việt Nam với tổng diện tíchtrên 64.000 km2 Xét về nhiểu phương diện, hiện nay cũng như trongtương lai, Nam Bộ đóng vai trò hết sức quan trọng trong chiến lượcphát triển kinh tế, văn hóa ở nước ta Nam Bộ là vùng đất mới so với lịch sử lâu đời của nước Việt Nam Nhưng chính vùng đất này lại làvùng đất hứa, là niềm hy vọng của bao lớp cư dân người Việt cùngvới các cộng đồng cư dân khác như Khmer, Hoa, Chăm vì nhiểu lý
do khác nhau đã đến đây để sinh cơ lập nghiệp, mưu cầu cuộc sống mới ấm no hạnh phúc hơn Các thế hệ người Việt cùng với các thế
hệ của các tộc người anh, em khác đã chung lưng đấu cật khai phá
và bảo vệ vùng đất này làm nên những kỳ tích trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược cũng như trong xây dựng hòa bình Trải qua hàng trăm năm vừa khai hoang lập làng, vừa chống kẻ thù xầmlược, do cùng chung một vận mệnh lịch sử, nên giữa các cộng đổng
cư dân đã xảy ra quá trình giao lưu văn hóa Quá trình giao lưu vănhóa giữa các cộng đồng cư dân làm nên một giá trị “văn minh miệtvườn”, hình thành vùng vãn hóa với những đặc trưng rất đa dạng
và phong phú làm nên sắc thái của một vùng so với vùng văn hóa khác ở Việt Nam Trong những sắc thái văn hóa riêng của một vùng làm nên sự khác biệt so với các vùng khác đó là các tín ngưỡng, tôngiáo và sinh hoạt vãn hóa Vì vậy, nghiên cứu đặc trưng tín ngưỡng,tôn giáo và sinh hoạt văn hóa của các cộng đồng cư dân Nam Bộ, không chỉ giúp cho sự hiểu biết một cách đầy đủ và sâu sắc hơn vể
Trang 15VÙNG ĐẤT NAM BỘ VII ĐẶC TRƯNG TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO VÀ SINH HOẠT
tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt văn hóa của Việt Nam Mà quan trọng hơn là từ các kết quả nghiên cứu này, giúp cho các cấp có thẩmquyền những luận cứ khoa học để có thể hoạch định các chính sáchliên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt văn hóa trong bối cảnh cụ thể ở Nam Bộ
Mặtkhác, Nam Bộnằm ở vị trí giao thoa của các nểnvăn hóa Quá trình tộc người và quá trình giao lưu tiếp biến vãn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo ở đây diễn ra hết sức đa dạng, phong phú, vừa có tính quy luật chung, nhưng đồng thời cũngvô cùng phức tạp So với các vùngkhác trong cả nước, Nam Bộlà nơi có tỷlệ dân cư theo các tín ngưỡng,tôn giáo đông, có nhiếu loại hình tín ngưỡng, tôn giáo vào bậc nhất của Việt Nam (ngoài những tín ngưỡng, tôn giáo giống như các vùngkhác, Nam Bộ còn có những tín ngưỡng, tôn giáo nội sinh mà nơi khác không có như: Bửu Sơn Kỳ Hương, TứÂn Hiếu Nghĩa, Cao Đài,Phật giáo HòaHảo, Đạo Dừa, ) và vai trò của tôn giáo trong đời sống
cư dân là rầt lớn Mặt khác, Nam Bộ cũng là nơi có nhiểu thành phầntộc người sinh sống Sự đa dạng vể thành phần tộc người, sự đa dạng
về tín ngưỡng,tôn giáo dẫn đến sự đa dạng về sinh hoạt văn hóa, làm cho bức tranh vãn hóa của vùng đẫt này thêm đa dạng, phong phú Tuy nhiên, như là một quy luật văn hóa và sinh hoạt văn hóa của cưdân Nam Bộ là một sự thống nhất trong đa dạng phát triển cùa vãnhóa Việt Nam Hiện nay, các thế lực thù địch đang lợi dụng những hạn chếtrong nhận thứckhoa học vể vùng đất Nam Bộ đểxuyên tạc, gây chia rẽ trong nhân dân, làm lệch lạc hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế Do đó, nhận thức khoa học đầy đủ về quá trình hìnhthành, phát triển cùa vùng đất Nam Bộ - một bộ phận không thểchiacắt của ViệtNam - cũng như nghiên cứu vẽ tín ngưỡng, tôn giáo, sinhhoạt văn hóa của cư dân Nam Bộ một cách khách quan và khoa học
sẽ góp phần duy trì và củng cố ổn định chính trị, xã hội tăng cường
Trang 16khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm phục vụ sự nghiệp xấy dựng và
phát triển bển vữngđang trở thành một nhu cầu bức thiết đối với Việt
Nam và đối với cả Nam Bộ trong tiến trình cách mạng Việt Nam, nhất
là trong thời kỳ cận hiện đại và đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi
cà nước đang tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước để Việt Nam sớm trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện
đại vào những thập kỷ tới
Trong thời gian hai năm (2010-2011) chúng tôi cùng với nhiểu
đồng nghiệp khác ở các trường đại học và viện nghiên cứu tham gía
thực hiện đế án khoa học xã hội cấp nhà nước Quá trình hình thành
và phát triển vùng đất Nam Bộ, do Giáo sư, Viện sĩ Phan Huy Lê làm
Chủ nhiệm Để án được hoàn thành vào tháng 6-2011 và Bộ Khoa
học và Công nghệ tổ chức nghiệm thu vào tháng 11-2011 Chúng tôi
được phân công tổ chức triển khai thực hiện đê' tài nhánh Đặc trưng
tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt văn hóa của các cộng đồng cư dân
Nam Bộ Đẽ tài này được tổ chức nghiệm thu vào tháng 6 năm 2011
đạt kết quả xuất sắc
Cuốn sách mà độc giả đang có trong tay là kết quả thực hiện để
tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước trong đề án khoa học cổng
nghệ cấp nhà nước Để bảo đàm tính trung thực của kết quả nghiên
cứu, khi xuẫt bản chúng tổi giữ nguyên nội dung và cấu trúc của công
trình Cuốn sách được chia thành 4 chương:
- Chương I: Cơ sở lý luận và tổng quan về vùng đất, con người Nam
Bộ Đây là chương trình bày vể các vấn đề khái niệm, quan điểm và
hướng tiếp cận để làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu Ngoài ra,
chương này còn trình bày về lịch sử vùng đất Nam Bộ và quá trình
xuất hiện các tộc người tại Nam Bộ, từ lịch sử tộc người đến các hoạt
động kinh tế, vãn hóa, tổ chức xã hội nhằm nêu lên bức tranh toàn
cảnh về vùng đất và con người ở Nam Bộ
Trang 17£/1oỘỊ'< VÙNG ĐẤT NAM BỘ VII ĐẶC TRƯNG TÍN NGƯỞNG, TÔN GIÁO VÀ SINH HOẠT
- Chương II: Tín ngưỡng, tôn giáo và đặc trưng tín ngưỡng, tôn giáo
của cư dân Nam Bộ. Nội dung của chương này trình bàyvểthực trạngtín ngưỡng, tôn giáo của cư dân Nam Bộ cũng như các đặc trưng tín ngưỡng, tôn giáo Do bị chi phối bởi điểu kiện tự nhiên và môi trường
xã hội của vùng đẩt này đã dẫn đến một thực tế là bên cạnh nhữngtôn giáo thế giới vốn gắn liến với các lưu dân, đã ra đời các tôn giáo bản địa Cùng với các tôn giáo thế giới những tôn giáo bản địa này cóvai trò và ảnh hưởng đến đời sống mọi mặt của các cộng đồng cư dânNam Bộ
- Chương III: Sinh hoạt văn hóa và đặc trưng sinh hoạt văn hóa
cùa cư dân Nam Bộ. Nội dung của chương này tập trung trình bày vể sinhhoạt văn hóa và đặc trưng sinh hoạtvăn hóa của cư dân Nam Bộ
Là một vùng văn hóa có những khác biệt so với các vùng văn hóa
ở Việt Nam (nơi có nhiễu thành phần tộc người có sự khác biệt vể ngôn ngữ, tín ngưỡng, tôn giáo, một vùng sông nước), sinh hoạt văn hóa của cư dân Nam Bộ thể hiện rõ tính quy luật của văn hóa ViệtNam - thống nhất trong đa dạng, bị chi phối bởi môi trườngtự nhiên(yếu tố sông nước) và môi trường xã hội (yếu tố đa tộc người và giaolưuvăn hóa)
- Chương IV: Tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt vân hóa của cư dân Nam Bộ trong quá trình phát triển Nội dung trình bày vể tiến trìnhphát triển của tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt văn hóa của cư dân Nam Bộ Là một hiện tượng xã hộivàlà một thành tốvăn hóa của tộc người, tín ngưỡng, tôn giáo ra đời trong những điểu kiện cụthể và tácđộng sâu sắc đến đời sống mọi mặtcủa cưdần Đổng thời, với tư cách
là một thành tố văn hóa của tộc người, tín ngưỡng, tôn giáo góp phần làm nên tính đa dạng và phong phú trong sinh hoạt văn hóa của cưdân Nam Bộ
Nhân dịp cuốn sách ra mắt bạn đọc, chúng tôi chân thành cảm
ơn Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Trang 18MỔ ĐẰU X.- ■
ẻo
Thành phố Hổ Chí Minh, các đồng nghiệp ở Trường Đại học Khoa
học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hổ Chí Minh cũng như ở các viện nghiên cứu, các trường đại học đã động viên và
khích lệ chúng tôi hoàn thành công trình này1 Cảm ơn Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, đặc biệt là Giáo sư, Viện sĩ Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Chủ nhiệm Để án khoa học xã hội cấp nhà nước Lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ đã tin tưởng, giao nhiệm vụ và hỗ trợ mọi mặt để chúng tôi hoàn thành để tài nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Cảm ơn Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật đã tạo đìẽu kiện thuận lợi để cuốn sách sớm đến tay bạn đọc
1 Cuốn sách nảy còn sừ dụng một số nội dung của các bài viết được đặt hàng
cho Hội thảo của cồng trình này vào tháng 10-2009 như:
- Bài viết cùa PGS TS Trăn Hồng Liên vé “Phật giáo ở Nam Bộ - những đặc điểm nổi bật".
- Bài viết của TS Lảm Quang Láng vể “Phật giáo Hòa Hảo ở Nam Bộ - những đặc điểm nổi bật".
- Bài viét cùa TS Trán Hữu Hợp vé “Cồng giáo ở Nam Bộ - lịch sử hình thành
và những đặc trưng”.
- Bài viết của TS Huỳnh Quốc Thắng vể “Tính chất mở trong văn hóa tâm
linh người Việt ở Nam Bộ”.
- Bài viết của ThS Nguyên Đức Lộc vể “Cơ cấu tổ chức, sinh hoạt theo giáo
xứ của người Công giáo di cư 1954 tại Nam Bộ”.
- Bài viết của TS Đặng Thị Kim Oanh vể “Tìm hiểu vé những ảnh hưởng và
chi phối của Phật giáo Theravada trong hôn nhân cùa người Khmer dổng bâng
sông Cửu Long”.
Cuốn sách này phản ánh về một vấn để khá phức tạp (vấn để đặc
trưng tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt văn hóa) của các cộng đổng
cư dân Nam Bộ, vì vậy, có thể còn nhiều thiếu sót, còn nhiều điểu chưa làm hài lòng bạn đọc Cuốn sách này như là một nỗ lực bước
đầu hướng tới phác họa bức tranh toàn cảnh vê' tín ngưỡng, tôn giáo
Trang 20Chương I
cơ sử LÝ LUỘn uò TDHG QUAN UỀ UUỈ1G ĐẤT,
con NGƯỜI nom Bộ
I- cơ sở LÝ LUẬN
1 Cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu
a) Các khái niệm ỉiên quan đến đê tài
Để thực hiện để tài này, chúng tôi cần làm rõ một sốkhái niệm liênquan nhằm mục đích định hướng, khuôn biệt việc tiếp cận tư liệu vàphân tích những vấn đê' liên quan đến đề tài
"phật”, “thẩn thánh” hay một sức mạnh hư ảo, huyền bí, vô hình nào
đó tác động đến đời sống tâm linh của con người, được con người tin đó là có thật và tôn thờ1 Theo Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo củanước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tín ngưỡnglà hoạt động thề hiện sự tôn thờ tổ tiên; tưởng niệm và tôn vinh những người cócông với nước, với cộng đồng; thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có
1 Mai Thanh Hải: Từ điển tín ngưỡng tôn giáo, Nxb Văn hóa Thông tin,
Hà Nội, 2006, tr 622.
Trang 21& 20 U7 VÙNG ĐẤT NAM BỘ VII ĐẶC TRƯNG TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO VÀ SINH HOẠT
vào các thực thể tinh thần" 3 (E.B Tylor), hay “ Tôn giáo là một hệ thống có
tính chất gắn bó của những niểm tin và những thực hành liên quan đến
những điểu thiêng liêng, nghĩa là sự tách biệt, cấm đoán, những niểm tin
và thực hành gắn bó tất cả những ai gia nhập vào một cộng đổng đạo đức, được gọi là Giáo hội”4 (E Durkheim); “Tôn giáo là tập hợp những nghi
lễ, đã được biện minh bằng thần thoại, động viên sức mạnh siêu nhiên
1 Xem Ban Tôn giáo Chính phủ: Van bản pháp luật Việt Nam về tín ngưỡng,
2 Phức tạp do bởi khái niệm tôn giáo được sử dụng tương đối khác nhau
ở mổi quốc gia Ở phương Tầy, từ tôn giáo (religion) xuất phát từ gốc Latinh là
Lạp thì sử dụng thuật ngữ threskéie để chỉ tôn giáo như tồng thể những niểm tin
và thực hành tôn giáo Ở Ấn Độ thì sử dụng thuật ngữ sanatama dharma để chỉ các tôn giáo cổ với ý nghĩa là tồng hợp những nghĩa vụ thiêng liêng của người Ấn
Độ Người Nhật Bản sử dụng từ kami để chỉ cho một lực lượng siêu linh độ mệnh cho từng con người và thuật ngữ kamitogo dùng để chỉ cho việc thờ cúng Người Trung Quốc sử dụng từ đạo (ỉẫ) để chỉ cho các tôn giáo đương thời như Đạo Phật, Đạo Nho, Đạo Kitô, Đạo Tổ tiên Từ đạo (ìẵ) cũng có nghĩa là con đường, là học thuyết, là nguyên lý sóng, là quy phạm đạo đức, luân lý nên nó có nghĩa của màu sắc tôn giáo, nhưng cũng có khi lại mang tính trần tục Ở Việt Nam do ảnh hưởng Trung Quốc nên từ đạo (ìẵ) cũng trở nên phổ biến khi đề cập đến một tôn giáo nào đó; nhưng cũng có khi sử dụng từ giáo ($0 nghĩa là giáo hóa, dạy bảo đế chỉ
vể các tôn giáo cụ thể như Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo
3 Dẫn theo Fiona Bowie: ĩhe Anthropology of Religion, Blackwell, 2000, p 22.
4 Emile Durkheim: “Định nghĩa hiện tượng tôn giáo vể tôn giáo”, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam: Những vấn đẽ Nhân học tôn giáo, Tạp chí xưa & Nay,
Nxb Đà Nẳng, 2006, tr 60.
Trang 22CHƯƠNG I: Cơ SỞ LÝ LUẬN VẢ TổNG QUAN VỄ VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI NAM BỘ > 21
nhằm mục đích đem lại biến đổi hoặc để phòng biến đổi cho con người và
tình trạng tự nhiên ” 1 (Anthony EC Wallace); “Tôn giáo là một loại đặc biệt tác động đến cộng đổng Tôn giáo gắn kết những thế lực siêu nhiên
Quy định các mối quan hệ giữa các thế lực của chúng với những con người
tạo thảnh lĩnh vực của những hoạt động tôn giáo”2 (Max Weber); “ Tôn giáo là một hệ thống các biểu tượng có tác dụng tạo ra những trạng thái mạnh mẽ, lan tỏa, kéo dài và những động cơ trong những con người bồng cách trình bày có hệ thống những quan niệm về một trật tự tổn tại chung
vả che phủ những quan niệm này bằng một thực tế tỏa ra rằng những
tình trạng và những động cơ dường như ỉà hiện thực duy nhất”3 4(CliffordGeertz); tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh vào trong đẩu óc của con
người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ* (E Engels); K Marx thì cho rằng: Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng như
nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thẩn Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân Quan điểm của K Marx, xem tôn giáo như là sựcứu rỗi (một trái tim, một tinh thần) của những con người đang sốngtrong sự khủng hoảng, không mang nghĩa của sự phê phán tôn giáo
Ở Việt Nam, tôn giáo được hiểu là niềm tin vào các lực lượngsiêu nhiên,
vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách siêu thực (hay hư ảo) với con người, nhằm lý giải những vấn đẽ trên trãn thế cũng như ở thế giới bên kia Niềm tin đó được
biểu hiện rất đa dạng, tùy thuộc vào từng thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa
lý vân hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận
1 Dẫn theo Vũ Minh Chi: Nhân học văn hóa - con người với thiên nhiên, xã hội và thế giới siêu nhiên, Nxb Chính tộ quốc gia, Hà Nội, 2004, tr 276.
2 Dẫn theo Đặng Nghiêm Vạn: Lý luận tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt
Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 68.
3 Dẫn theo Fiona Bowie; The Anthropology of Religion, Blackwell, 2000, p.23.
4 Xem c Mác và Ph Ăngghpn- TnAn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1995, t.20, tr -1UHƯVIỆN ĐHKHXH& NV I
Trang 23VÙNG ĐẤT NAM BỘ VII ĐẶC TRƯNG TĨN NGƯỠNG, TÔN GIÁO VÀ SINH HOẠT
hành bằng những nghi lễ, những hành vỉ tôn giáo khác nhau của từng cộng đổng xã hội/tôn giáo khác nhau1 (Đặng Nghiêm Vạn); Nếu hiểutôn giáo như các định nghĩa đã nêu, thì nội dung của chúng tương đối giống với tín ngưỡng, hay nói đúng hơn, tín ngưỡngvà tôn giáo là một
1 Xem Đặng Nghiêm Vạn: Lý luận tôn giáo và tình hỉnh tôn giáo ờ Việt Nam,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.167.
2 Xem XA Tôcarev: Các hình thức tôn giáo sơ khai và sự phát triển của chúng
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr 18.
3 Xem Robert N Bellah: “Sự tiến hóa của tôn giáo”, Hội Khoa học Lịch Việt Nam: Những vấn đế nhân học tôn giáo, Nxb Đà Nẵng, 2006, tr.275-307.
Trong để tài này, chúng tôi không phân biệt sự khác nhau giữa hai thuật ngữ tín ngưỡng và tôn giáo, mà xem chúng là một, có cùng nội dung nhằm để cập cáchành vi của con người đến niềm tin vào thếlựcsiêu nhiên của họ như “trời” "phật”, "tiên”, “thánh”, “thần”, tổ tiên, ông bà
vàcác lễ hội liên quan đến các đấng siêu linh trong thế giới siêu nhiên củacác cưdân ở Nam Bộ
* Cách phân loại tôn giáo
Theo các nguồn tài liệu thư tịch, tôn giáo hiện nay có nhiều cáchphân loại Trong khoa học mácxít, tôn giáo được chia thành hai loại:
Tôn giáo của chế độ tiên giai cấp (công xã thị tộc) và Tôn giáo của những
xã hội có giai cấp. X.A Tôcarev cho rằng, trong xã hội có giai cấp, tôn giáo là công cụ tư tưởng của ách áp bức giai cấp, là sự biện hộ cho bất bình đẳng xã hội; còn trong xả hội tiền giai cấp, tôn giáo là sự phản ánh
vể một tư tưởng, trìnhđộ phát triển nhất định của nển sàn xuất vật chất
vàthể hiện sự bất lực của người nguyên thủy trước hoàn cảnh tự nhiên
và xã hội quanh họ2 Robert N Bellah phân loại tôn giáo theo loại hìnhtiếnhóa về thờigian Ông phân tôn giáo thành cácloại: Tôn giáo nguyên
thủy, tôn giáo tiền sử, tôn giáo lịch sử, tôn giáo cận đại, tôn giáo hiện đại 3.
- Tôn giáo nguyên thủy chỉ là những đặc trưng của “thế giới thần thoại” Hành động của tôn giáo nguyên thủy là sự tham gia đông nhấtcủa cộng đồng cùng hóa thân thành các nhân vật thăn thoại để tái dựng lại thế giới thẩn thoại
Trang 24CHƯƠNG I: Cơ SỞ LÝ LUẬN VẢ TổNG QUAN VỀ VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI NAM BỘ 13
- Tôn giáo tiển sử là sự tiến hóa của tôn giáo nguyên thủy Nhữngnhân vật thẩn thoại lúc này được đặc trưng hóa một cách rạch ròi,được nhìn nhận là có vai trò trong việc cai quản thế giới tự nhiên
và xã hội của con người một cách chủ động Hành động của tôngiáo tiến sử là hình thái cúng tế dành cho các vị thán, thánh, được nhân cách hóa từ những nhân vật thẩn thoại trong loại hình tôngiáo trước
- Tôn giáo lịch sử được biểu hiện rất khác nhau ở mỗi cộng đống
cư dân Trong triết lý của tôn giáo lịch sử có xuất hiện một thế giới siêu nhiên cao hơn thế giới trần tục và nắm quyển cai quản thế giới trần tục Nơi đó có một “giáo chủ” vượt ra ngoài vòng sinh tử và là người sáng tạo, cai quản vũ trụ Hành động trong tôn giáo lịch sử sẽmang tính “cứu rỗi” con người, qua đó lại xuất hiện những tồ chức tôngiáo tách biệt với các tổ chức xã hội thông thường Tổ chức tôn giáo nhằm hướng con người đến với phương thức cứu rỗi trong tôn giáo.Tùy thuộc vào từng tôn giáo mà có các tổ chức và hành động tôn giáo khác nhau
- Tôn giáo cận đạilà sự phân hóa của tôn giáo lịch sử Nội dung tập trung vào mối quan hệ trực tiếp giữa các cá nhân với các thực thể siêu việt Một số loại hình lễ nghi trong tôn giáo lịch sử bị loại bỏ vì cho rằng “mê tín”, hoặc chuyển thể thành một hình thức khác gióng như
lễ tưởng niệm” Sau tôn giáo cận đại sẽ là tôn giáo hiện đại và Robert
N Bellah cho rằng, tôn giáo hiện đại vẫn còn đang nằm trong "bước chuyển” nên chưa thể xác định rõ ràng
Nếu Robert N Bellah phân loại tôn giáo theo thời gian, một số nhànghiên cứu khác lại phân loại tôn giáo theo không gian Theo đó, tôngiáo được phân loại thành: Tôn giáo dân tộc, tôn giáo khu vực, tôn giáo
thế giới, tôn giáo bản địa.
- Tôn giáo dân tộc là những tôn giáo được hình thành trong điếukiện của một xã hội có giai cấp, trong khuôn khổ của những quốc gia ihất định và những cộng đồng nhất định, không vượt ra ngoài khuôn
ổ đó thì được xem (một cách quy ước) là tôn giáo dân tộc Các tôn
Trang 25y 24 M VÙNG ĐẤT NAM BỘ VII ĐẶC TRƯNG TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO VẢ SINH HOẠT
giáo dân tộc có thề kể đến như Đạo giáo, Nho giáo (Trung Quốc), Shinto giáo (Nhật Bản), Do Thái giáo (người Do Thái) 1
1 Xem X.A Tôcarev: Các hình thức tôn giáo sơ khai và sự phát triển của
2 Xem Đặng Nghiêm Vạn: Lý luận tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam,
- Tôn giáo khu vực: là các tôn giáo có nội dung mang tính phổ quát,khônggắn chặt với một quốc gia cụthề, vớicác vị thần cụ thể, các nghi thứccụ thể của một cộng đồng tộc người, dân tộc hay địa phương nhất định Các tôn giáo nàyđược phổ biến bằng con đường chiến tranh hayhòa bình, được các quốc gia đã bị lệ thuộc trực tiếp hay giántiếp, tự giáchay không tự giác tiếp nhận, rồi trên nền tảng tôn giáo truyẽn thống biến đổi thành tôn giáo cùa riêng quốc gia đó2
- Tôn giáo thế giới là những tôn giáo có phạm vi phát triển vượt
ra ngoài quốc gia, nơi nó ra đời và được nhiểu cộng đổng tộc người chấp nhận Hiện nay, các tôn giáo như Phật giáo, Công giáo, Islam, Tin Lành đượcxemlà tôn giáo thếgiới vì nó phát triển rộng khắp trên thếgiới và được nhiều tộc người khác nhau chấp nhận
- Tôn giáo bản địa là tôn giáo mang sắc thái địa phương, xuất hiện trong một bối cảnh môi trường thiên nhiên và mòi trường xã hội tạichỗ, một thời điểm lịch sử nhất định, của một tộc người cụ thể và mang dấu ẩn kinh tế - văn hóa - xã hội của tộc người đó Tôn giáo bảnđịa chỉ của riêng một bộ phận cư dân trong tộc người, tại một vùng đẫt cụ thẽ, không lan rộng trên quy mô toàn lảnh thổ Nội dung cùa khái niệm tôn giáo bản địa rất gân với khái niệm tôn giáo dân tộc, có
thể là một nhưng có khi là hai Tôn giáo dân tộc (ví dụ đạo Shinto của Nhật Bản) phổ biến trongtoàn thể một tộc người với tâm thức chung,nhưng tôn giáo bản địa (có thể gọi là tôn giáo địa phương) chì cùa một
bộ phận cư dân trong tộc người đó, tại một vùng đất cụ thể, không lan rộng trên quymô toàn lãnh thổ và không phải tát cả hoặc hẩu hết mọingười trong tộc người đó đểu theo như tôn giáo dân tộc Ở Nam Bộ,các tôn giáo như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Cao Đài,
Trang 26CHƯƠNG I: cơ SỔ LÝ LUẬN VẢ TỔNG QUAN vẽ VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI NAM BỘ 25’ X
Hòa Hảo được xem là tôn giáo bản địa, vì chúng chủ yếu phát triển
trong cộng đổng người Việt Nam Bộ
Ngoài ra, một số tài liệu khác còn phân loại tôn giáo thành các dạng
như: tôn giáo bộ tộc - thị tộc, tôn giáo hỗn hợp, tôn giáo mới 1 Trong
công trình này, chúng tôi chỉ đề cập đến các loại tôn giáo tiêu biểu của
các tộc người ở Nam Bộ như tôn giáo thế giới gồm: Phật giáo, Công
giáo, Tin Lành, Islam và tôn giáo bản địa gôm: Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ
Ân Hiếu Nghĩa, Cao Đài, Hòa Hào và một số loại hình tín ngưỡng dân
gian khác như tín ngưỡng Bà Chúa xứ, Linh sơn Thánh mẫu, Thiên Hậu
nương nương, Quan Thánh đế quần để thấy được tính đặc trưng trong
tôn giáo, tín ngưỡng của cư dân Nam Bộ
1 Hội đổng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam: Từ điền
bách khoa Việt Nam, tập 4 (T - Z), Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2005.
2 E.B Tylor: Vàn hóa nguyên thủy, Huyển Giang dịch từ tiếng Nga, tạp chí
Văn hóa Nghệ thuật, Hà Nội, tr.13.
* Văn hóa
Vàn hóa là sản phẩm cùa con người; là hệ quả của sự tiến hóa Nhờ
cổ văn hóa mà con người trở nên độc đáo trong thếgiớisinh vật vàkhác
biệt so với những con vật khác trong thếgiới động vật Tuy nhiên, cho
đến nay vẫn chưa có sự đỗng thuận giữa các nhà nghiên cứu văn hóa,
còn nhiều ý kiến khác nhau vể khái niệm “văn hóa”, do đó có những
định nghĩa khác nhau
Năm 1952, A.L Kroeber và Kluckhohn xuất bản cuốn sách Culture,
a critical review of concept and definitions (Văn hóa, điểm lại bằng cái
nhìn phê phán các khái niệm và định nghĩa'), trong đó tác giả đã trích lục
khoảng 160 định nghĩa vể văn hóa do các nhà khoa học đưa ra ở nhiểu
nước khác nhau Điều này cho thấy, khái niệm vãn hóa rất phức tạp
Năm 1871, E.B Tylor đưa ra định nghĩa: “Văn hóa hay vàn minh,
theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng,
nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói
quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của
xã hội*' 2 Theo định nghĩa này thì văn hóa và văn minh là một; nó bao
Trang 27<226 Uì VÙNG ĐẤT NAM BỘ VII ĐẶC TRƯNG TÍN NGƯỞNG, TÔN GIÁO VÀ SINH HOẠT
gổm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, từ trithức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật Văn hóa theo cách hiểu của Tylorđược xem là “bách khoa toàn thư” vì đã liệt kê hếtmọi lĩnh vực sáng tạo của con người1 R Boas định nghĩa: “ Vãn hóa là tồng thể các phản ứng tinh thần, thể chất và những hoạt động định hình
nên hành vi của cá nhân cấu thành nên một nhóm người vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên của họ, với những nhóm người khác, với những thành viên trong nhóm
và của chinh các thành viên nàỵ với nhau ’ 2 Theo định nghĩa này, mối quan hệ giữa cá nhân, tập thể và môi trường là quan trọng trong việc hình thành văn hóa của con người Một định nghĩa khác về văn hóa
mà A.L Kroeber và Kluckhohn đưa ra là: “ Vân hóa là những mô hình
hành động minh thị và ám thị được truyẽn đạt dựa trên những biểu trưng, là những yếu tố đặc trưng của từng nhóm người Hệ thống văn hóa vừa là kết quả hành vi vừa trở thành nguyên nhân tạo điểu kiện cho hành vi tiếp theo ” 3.
1 Xem Vũ Minh Chi: Nhân học văn hóa - con người với thiên nhiên, xã hội và
thế giới siêu nhiên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr 39.
2 E Boas: Primitive Minds (Trí óc của người nguyền thủy), Ngô Phương Lan
dịch, 1921, p 149.
3 A.L Kroeber và Kluckhohn: Culture, a critical review of concept and
4 Hổ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.3, tr 458.
Ở Việt Nam, văn hóa cũng được định nghĩa rất khác nhau HổChí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tổn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học,tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn
bộ những sáng tạo và phát minh đó tứclà văn hóa”4 Phạm Văn Đổng cho rằng: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú
và rộnglớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có
Trang 28CHƯƠNG I: cơ SỞ LÝ LUẬN VẢ TỔNG'QUAN VỀ VÙNG ĐẤT, CON NGƯƠI NAM BỘ >
liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá
trình con người làm nên lịch sử (văn hóa) bao gồm cà hệ thống giá
trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng,
sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản
và bản lĩnh của cộng đổng dân tộc, sức để kháng và sức chiến đấu bảo
vệ mình và không ngừng lớn mạnh”’ Riêng Nguyễn Đức Từ Chi xem
văn hóa từ hai góc độ Góc độ thứ nhẫt là góc độ hẹp, mà ông gọi là
“góc nhìn báo chí” Theo góc nhìn này, vãn hóa sẽ là kiến thức của con
người và xà hội Nhưng, ông không mặn mà với cách hiểu này vì hiểu
như thế thì người nông dân cày ruộng giỏi nhưng không biết chữ vẫn
bị coi là “không có văn hóa” do tiếu chuẩn văn hóa ở đây là tiêu chuẩn
kiến thức sách vở Góc nhìn thứ hai là “góc nhìn dân tộc học” Với góc
nhìn này, văn hóa được xem là toàn bộ cuộc sống - cả vật chất, xã hội,
tinh thần - của từng cộng đồng12; và văn hóa của từng cộng đổng tộc
người sẽ khác nhau nếu nó được hình thành ở những tộc người khác
nhau trong những môi trường sống khác nhau Văn hóa sẽ bị chi phối
mạnh mẽ bởi sự kiềm soát của xã hội thông qua gia đình và các tồ chức
xã hội, trong đó có tôn giáo
1 Dẫn theo Trẩn Quốc Vượng (Chủ biên): Cơ $ở văn hóa Việt Nam, Nxb
Giáo dục, Hà Nội, 2005, tr 22.
2 Xem Nguyễn Đức Từ Chi: Góp phẩn nghiên cứu văn hóa Víì tộc người,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr 565-570.
Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam và
kể cả ở nước ngoài khi để cậpđến văn hóa, thường vận dụng định nghĩa
văn hóa do UNESCO đưa ra vào năm 1994 Theo UNESCO, văn hóa
được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng
thì “Vãn hóa là một phức hệ - tổng hợp các đặc trưng diện mạo vểtinh
thần, vật chất, tri thức vàtình cảm khắchọa nên bản sắc của mộtcộng
đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội Văn hóa không
chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyển
cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống,
Trang 29r 28 V VÙNG ĐẤT NAM BỘ VII ĐẶC TRƯNG tíN NGƯỞNG TÔN GIÂO VĂ SINH HOẠT
Ầ> 'í CÂẲỹ
tín ngưỡng ”1; cònhiểu theo nghĩa hẹp thì “Văn hóa lă tổng thể những
hệ thống biểu trứng (ký hiệu) chi phối câch ứng xử vă giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đổng đó có đặc thù riíng” 2
1 Dẫn theo chương Vên hóa trong giảo trình Nhđn học đại cương của bộ môn
Nhđn học, Đại học Khoa học xê hội vă Nhđn văn Thănh phố Hổ Chí Minh, tăi liệu đânh mây.
2 Ngô Vần Lệ: Tộc người vă vên hóa tộc người, Nxb Đại học Quốc gia Thănh phố HỖ Chí Minh, 2004, ữ 314.
Nhìn chung, câc định nghĩa vể văn hóa hiện nay rất đa dạng Mỗi định nghỉa để cập đến những dạng thức hoặc những lĩnh vực khâc nhautrong văn hóa Trong tập sâch năy, chúng tôi hiểu văn hóa như lă mộtsản phẩm lao động đặc trưng của con người, do con người sâng tạo ra trong quâ trình lao động
Theo câc nhă khoa học, văn hóahiện nay có thể được phđn thănhcâc dạng như văn hóa vật chất, văn hóa tinh thắn, văn hóa xê hội; hoặc phđn theo văn hóa vật thểvă văn hóa phi vật thể Trong đó:
- Văn hóa vật chất lă tổng hòa câc sản phẩm vật chất, hữu hình
do con người lao động sâng tạo ra trong môi trường vă xê hội nhấtđịnh như cơ sở tôn giâo, nhă ở, trang phục, ẩm thực, công cụ sản xuất, phương tiện di chuyển
- Văn hóa tinh thần lă những khía cạnh vô hình được con ngườisâng tạo ra nhằm phục vụ cho tinh thần cộng đồng vă xê hội như tôn giâo, tín ngưỡng, phong tục tập quân, câc loại hình sđn khấu, vên họcdăn gian, nghệ thuật, lễhội
- Vên hóa xê hội lă những loại hình ứng xừ trong gia đinh, cộngđổng, xê hội, câc quy tắc xê hội về hôn lễ, tanglễ,hội đoăn, tổ chức hôn nhđn gia đình, câcthiết chếvăn hóa, xê hội, đời sống phâp luật, tổ chức chính trị
- Van hóa vật thể lă những yếu tố vật chất trong vđn hóa như đình,chùa, miếu, nhă săn, trang phục
- Văn hóa phi vật thể lă những yếu tố mang tính tinh thần như đm nhạc, múa, ngồn ngữ, huyền thoại, nghi lễ
Trang 30CHƯƠNG I: Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ TONG QUAN vê VÙNG ĐẤT CON NGƯỜI NAM 8Ộ - < 29
- TTXL,‘ 111 LI L ■ na II ■ Ỵ- J 5
Trong tập sách này, chúng tôi sẽ nghiêncứu văn hóa của các cư dân Nam Bộ dưới ba dạng làvật chất, tinh thần và xã hội
* Sinh hoạt văn hóa
Bằng thuật ngữ chung, chúng tôi hiểu rằng sinh hoạt văn hóa lànhữnghoạt động của con người liên quan đến các sự kiệnvăn hóa trong cộng đổng xã hội, bao gồm lễ hội, các hoạt động tổn giáo, tín ngưỡng, nghi thức trong phong tục tập quán, hay các loại hình biểu diễn vănnghệ liên quan đến cộng đồng, đại chúng Nhìn chung, sinh hoạt văn hóa là khái niệm rất rộng, dùngđể chỉ những hoạt động và những hành
vi của con người nhằm hướng đến yếu tố sinh tổn trong xã hội Trong tập sách này, chúng tôi cố gắng nghiên cứu toàn bộ những khía cạnh trong sinh hoạt văn hỏa của cư dân Nam Bộ, đặc biệt là chú trọng đếncác yếu tố đặc tníng mang tính vùng - miền của khu vực Nam Bộ tácđộng đến sinh hoạt văn hóa trong cộng đổng cư dân Nam Bộ
b) Hướng tiếp cận nghiên cứu
Nam Bộlà đổngbằng lớn nhất củaViệt Nam với tổng diện tích hơn 64.000 km2 Xét về nhiều phương diện hiện nay cũng như trong tương lai lâu dài, Nam Bộ đóng vai trò hết sức quan trọng trong chiến lượcphát triển kinh tế, văn hóa ở nướcta Nam Bộ là vùngđất mới so vớilịch
sử lâu đời của nước Việt Nam Nhưng chính vùng đất này lại là vùng đất hứa, là niểm hy vọng của bao lớp cư dân người Việt cùng với các cộngđồng dân cư khác như Khmer, Hoa, Chăm vì nhiều lý do khác nhau
đâ đến đây để sinh cơ lập nghiệp, mưu cầu cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc hơn Các thế hệ người Việt cùng với các thế hệ cùa các tộc người anh em khác đâ chunglưngđấu cật khai phá và bảo vệvùng đất này, làmnên những kỳ tích trong cuộc kháng chiến chống xầm lược cũng nhưtrong xây dựng hòa bình Do tính chất và tầm quan trọng của vùng đất này, mà từ lâu đã có nhiều công trình nghiên cứu ra mắt độc giả Nhữngcông trình đó đã khắc họa bức tranh khá sinh động về con người và vùng đất Nam Bộvới nhũng đặc trưng vân hóa,xã hội lat cảnhững sắcthái văn hóa địa phương đó đã làm nên một“vânminh miệt vườn” được
Trang 31< ; 30 tR VÙNG ĐẤT NAM BỘ VII ĐẶC TRƯNG TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO VÀ SINH HOẠT
Sơn Nam trình bày trong tập khảo cứu của mình1 Trongphân loại cácvùng văn hóa ở Việt Nam, các tác giả đều coi Nam Bộ ỉà một vùng vănhóa vớinhững đặc trưng rấtđa dạng và phongphúlàm nên sắc thái của một vùng so với các vùng văn hóa khác ở nước ta2 Khi nghiên cứu vănhóa tộc người và lịch sử tộc người thì Nam Bộ là một khu vực lịch sử dân tộc học (zonehistorico - ethnographique) Vớitư cách là một vùng lịchsử dân tộc học, Nam Bộ có những yếu tố địa lý tự nhiên, môi trường
xã hộỉ chi phối một cách sâu sắc đến sự hình thành các yếu tố vản hóa,đến sự phát triền kinh tế - xã hội của cả khu vực cũng như của từngcộng đổng dằn cư sinh sống trên vùng đất phương Nam Nghiên cứu đặc trưng tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt vãn hóa của cư dân Nam
Bộ thực chất là nghiên cứu khu vực lịch sử - dân tộc học, vì vậy chúngtôi nêu lên một số hưổng tiếp cận để tạo tiền để cho việc nghiên cứu sau:
1 Sơn Nam: Vãn minh miệt vườn, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1992.
2 Chu Xuân Diên: Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Thành
có những nét đặc thù so với các vùng khác, thí dụ so với vùng đổngbằng sông Hổng, ảnh hưởngmột cách trực tiếp và sâu sắc đến việc hình thành các yếu tố văn hóa của cư dân trong vùng Mặt khác, so với cácvùng khác ở nước ta, Nam Bộ có nhiểuyếu tốthiên nhiên thuận lợi (đấtđai rộng, dân cư thưa thớt, khíhậu không quá khắc nghiệt, có hai mùamưa, nắng ) thích hợp với nền kinh tế đa dạng, đáp ứng được những yêu cầu trong đời sống thường nhật củacư dân
Trang 32CHƯƠNG I: Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ VÙNG ĐÁT, CON NGƯỜI NAM BỘ
- Thứ hai, tiếp cận theo hướng khu vực lịch sử dân tộc học (zone historico-ehtnographique) Nam Bộ là vùng đồng bằng có nhiều thành phần tộc người sinh sống Xét về thành phần tộc người qua số liệuthống kê thì dễ dàng nhận thấy tính đa dạng đó (cuối những năm
90 của thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã có 15 nhóm người khác nhau cư trú ở thành phó Sài Gòn, và chỉ tính riêng Ihành phố Hổ Chí Minhtheo thống kê năm 1999 có 26/54 thành phần tộc người sinh sống, vào những năm đầu của thế kỷ XXI có 46/54 thành phẩn tộc người sinh sống) Có thể nói, đây là một trong số những vùng khá đặc biệt khôngnhững đối với Việt Nam, mà đối với cả thế giới Đâylà một trong nhữngvùng đồng bằng duy nhất, mà ở đó có nhiểu thành phán tộc người sinh sổng, khác biệt nhau vể mọi phương diện (nguồn gốc tộc người, ngôn ngữ, tôn giáo ) Chưa nói đến nơi đây đã từngcómột số tộc người sinh sống, nhưng do những biến động lịch sử họ đã di chuyển đến nơi khác1.Những biến động lịch sử làm cho làn sóng di dàn (migration) xảy raliên tục Ở đây đã diễn ra ba hình thức di dân: di dân tự nhiên, di dân cơchế, di dân tại chỗ2 Các tộc người có mặt ở Nam Bộ vào các thời điềmkhác nhau (người Khmercómặtsớm nhất, cóthể sauthế kỷ VII, nhưng đôngđảolà vào khoảngđầu thếkỷ XIII, ngườiHoa khoảng thế kỷ XVII,người Chăm đãu thế kỷXIX) Giữa những tộc người nàycó sự khác biệt
vẽ trình độ phát triển kinh tế, tổ chức xãhội, tôn giáo Sự khácbiệt này
là những trở ngại ban đầu cho quá trình tiếp xúc Nhưng trải qua mộtquá trình lâu dài sinh sống trên một vùng lãnh thổ, cùng khai hoanglập làng, cùng chống kẻ thù xâm lược và thiên nhiên khắc nghiệt và do quá trình sống xen kẽ đã xảy ra quá trình giao lưu vãn hóa (échangeculturelie) và tiếp biến vân hóa (acculturation) giữa các tộc người đã hình thành nên những yếu tố vãn hóa chung giữa các tộc người sinh
1 Xem Trán Văn Giàu (Chủ biên): Địa chí Thành phổ Hổ Chỉ Minh, Nxb
Thành phố Hổ Chí Minh, 1987, tr 134-135.
2 Xem Mạc Đường: Vé vấn đề dân cư và dân tộc ờ đóng bảng sông Cửu Long
In trong Một số vđn để khoa học xả hội vế dõng bằng sông Cửu Long, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1982, tr 178.
Trang 33ĩ o -
32 ,lh’ VÙNG ĐẤT NAM BỘ vn ĐẶC TRƯNG TÍN NGƯÔNG TÔN GIÁO VÀ SINH HOẠT
Sống ở đây Những quá trình giao lưu, tiếp biến vân hóa giữa các tộc người vẫn đang diễn ra trong bối cảnh hiện nay ở Nam Bộ
- 77iứba,tiếp cận theo hưởng giao lưu tiếp biến văn hóa Nam Bộ lànơi hội tụcủa các nền văn hóa Do vị trí của mình mà vùng đất này từlâu đã lànơi giao lưu, hội tụ cùa các nển văn hóa,văn minh khác nhau Nhìn trên bình diệncả nước, thì Việt Nam chịu ảnh hưởng của hai nểnvăn hóa lớn Đó làvăn hóaTrung Hoa và văn hóa Ấn Độ, nhưng mức
độ chịu ảnh hưởng của hai nền văn hóa đó khác nhau giữa hai miềnNam, Bắc Miền Bắc trải qua ngàn năm Bắc thuộc, nên văn hóa TrungHoa có ảnh hưởng rất lớn đến mọi khía cạnh đời sống của các cộngđống tộc người Trong khi đó, các tộc người sinh sống ở miền Nam chịunhiẽu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ Nằm trên trục giao thông quantrọng, người dần ở phía Nam từ lâu đã mở rộng giao lưu buôn bán vớicác vùng khác (khôngchỉ giới hạn trong phạm vi lãnh thổ, mà đả vươn
xa ra ngoài lãnh thổ quốc gia) và cũng luôn mở của đón nhận những yếutố văn hóadu nhập từ bên ngoài Củngdoquá trình tiếp xúc thường xuyên với thế giớibên ngoài, nên đã xảy ra quá trình hỗn dungvăn hóa
Sự hỗn dung vănhóađược thểhiện cả trong vãn hóa vật chấtvà văn hóa tinh thần củacư dân vùng này
- Thứ tư,tiếp cận theo hướng tiếp xúc giữa các nền văn minh Nam
Bộ là nơi có nhiều tôn giáo Trên vùng đất mới này có hầu hết các tôn giáocó tính thế giới như Phật giáo, Công giáo, Islam và các tôn giáo cótính khuvực như Khổnggiáo, Ấn Độ giáo Những tôngiáo này du nhập vào Việt Nam ở các thời kỳ khác nhau và có ảnh hưởng rất lớn đến đờisốngmọi mặt của cư dân trong vùng Bên cạnh đó, do những điều kiện
tựnhiênvà môi trườngxã hội của vùng đầt “địa linh, nhân kiệt” đã xuất hiện những tôn giáo mới vào cuối thếkỷ XIX đầu thếkỷ XX Đó là các tôn giáo như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Cao Đài, HòaHảo Ngoài ra, còn có những tôn giáo có số lượng tín đồ không đáng
kể, nhưng lạimangđậmdấu ấn và vai trò của những "ông đạo” như đạo Trần, đạo Dừa Những tôn giáo có tính chất bản địa ra đời ở Nam Bộ
Trang 34CHƯƠNG I: Cơ SỔ LÝ LUẬN VẢ TổNG QUAN VÊ VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI NAM BỘ ■ ’-'í 33 ■ ị
bị chi phối bởi các yếu tố môi trường tự nhiên và xã hội cũng chỉ giới
hạn ảnh hưởng của minh trong không gian đó Một điểu cũng rất thú
vị là, các tôn giáo bàn địa ra đời trong không gian xã hội của người Việt
và chỉ có ảnh hưởng đến cộng đồng cư dân Việt, mà hầu như không
có ảnh hưởng gi đến các cộng đổng dân cư khác, vốn đã cùng cộng cư
với người Việt trong suốt quá trình khai hoang lập làng, cùng chia sẻ
ngọt bùi trong quá trình chế ngự thiên nhiên cũng như trong đấu tranh
chống kẻthù xâm lược Nghiên cứuvà lý giảivề hiện tượngcó tính khu
biệt vùng ảnh hưởng cũng như dần chịu sự ảnh hưởng của các tôn giáo
bản địa,' chúng tôi đã có một số bài viết trình bày một số đặc điểm có
tính đặc thù của Nam Bộ’ Những đặc điểm này, nếu đem so sánh với
các vùngkhác của Việt Nam bên cạnh những nét chung có tính thống
nhất của cả nước, mà Nam Bộ với tư cách làmộtphần lãnh thổ của Việt
Nam nằm trong không gian văn hóa Đông Nam Á, nhưng lại có những
khác biệt so với các vùnglãnh thổ khác mà chúng ta dê dàng nhận ra Và
chính những điểu kiện tự nhiên, môi trường xã hội của Nam Bộ khác
biệt như vậy đã dẫn đến sự hình thành những khác biệt văn hóa so với
các vùng khác cùa Việt Nam Tuy nhiên, những khác biệt văn hóa này
không dẫn đến những dị biệt lớn lao, mà nó vẫn thề hiện thống nhất
trong đa dạng phát triển cùa dòng chảy văn hóa người Việt và vãn hóa
Việt Nam
Khi nghiên cứu tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa của cư dân một khu
vực nào đó, cần căn cứ vào mục tiêu, những điều kiện tự nhiên, môi
trường xã hội mà người nghiên cứu lựa chọn cách tiếp cận sao cho phù
hợp Qua tìm hiểu một số công trình nghiên cứu vể Nam Bộ đã được
xuất bản, chúng tôi nhận thấy, chủ yếu hướng vào những vấn để chung
nhất (như Mấỵ đặc điểm văn hóa Nam Bộ, Văn hóa và cư dân đồng bằng
1 Ngô Văn Lệ: Một số vấn để về văn hóa tộc người ở Nam Bộ và Đông Nam
Á, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hố Chí Minh, 2003, tr 110’140; Ngô Văn
Lệ: Các tôn giáo bản địa và ảnh hưởng của nó đến văn hóa người Việt Nam Bộ, Hội
thảo khoa học “Nam Bộ thời kỳ cận đại”, Cân Thơ, tháng 3-2008.
Trang 3534 ^7 VÙNG ĐẤT NAM BỘ vu ĐẬC TRƯNG TÍN NGƯỜNG, TÔN GIÁO VÀ SINH HOẠT
sông Cửu Long, đồng bằng sông Cửu Long nghiên cứu và phát triển, Mấy vấn đề vể văn hóa tộc người ở Nam Bộ và Đông Nam Á ) hay tập trungnghiên cứu sâu vào từnglĩnh vực thuộc văn hóa vật chất, văn hóa tinhthần của cưdân trong vùng (như Nhà ở, trang phục, ăn uống của các dân tộc vùng Nam Bộ, Lễ hội dân gian Nam Bộ, Người Nam Bộ và tôn giáo
bản địa).
Những công trình đã được xuất bản chú trọng đến tính đa ngành, nhưng tính liên ngành chưa cao và chủ yếu nghiên cứu dưới góc độ lịchsử, dân tộchọc Nghiên cứu tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa của cưdân Nam Bộ một cách sâu sắc và toàn diện để khẳng định những nét đặctrưnglà một công việc không dễ dàng Đã đến lúc không chỉ nhìnnhận một cách giản đơn nhiều hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo, vănhóa cùa Nam Bộ, mà phải đi tìm lời giải đáp trong chiều sâu của bản sắc văn hóa, lối sống, tâm lý tính cách, quan niệm thẩm mỹ, triết lý của con người vùng đất này Nghiên cứu vẽ tín ngưỡng, tòn giáo, vănhóa củacư dân Nam Bộ đã được chúýtừ lâu và đã có nhiều công trình
ra mắt độc giả, phácthàomột bức tranh đa sắc màu về tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa của vùng đất này Để có những công trình đó, các lĩnhvựccủa khoa học xã hội và nhân văn đã được huy động, tính đa ngành được thể hiện rất rõ, nhưng tính liên ngành thì chưa cao Vì vậy, để
có thể nêu lên nhữngđặc trưng tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa của cưdân Nam Bộ thì cách tiếp cận vùng văn hóa lịch sử (zone historico - culturelie), theo chúng tôi, là phù hợp Cáchtiếp cận vùng văn hóa lịch
sử cho phép xem xét các hiện tượng văn hóa trong chỉnh thể, trong mốiliênquan mậtthiết giữa chúng với nhau, nhìn nhận văn hóa là hệthống giátrị mang tính biểutrưng do con người sáng tạo ravà tích lũy trong suốt chiều dài lịch sử,nhằmphục vụ cho chính con người trongkhông gian cụ thể
Mặtkhác, cũng cần lưu ý đến quá trình lịch sử tộc người của các cộng đóng dân cư sinh sống ở Nam Bộ Người Khmer, người Việt,người Hoa, người Chăm không phải là những cư dân bản địa Người Khmer di cư đến vùng Nam Bộ, có thể, bắt đẩu từ sau thế kỷ VII và
Trang 36CHƯƠNG I: Cơ SỞ LÝ LUẬN VẰ TổNG QUAN VẺ VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI NAM BỘ 35
đông đảo từ thế kỷ XIII, nhưng dân cư không đông đảo nên cũng không làm thay đổi diện mạo của vùng này Từ thế kỷ XVII và những
thếkỷ tiếp theo, người Việt đã di cư đến Nam Bộ ngày càng đông, đóng
vai trò chủ đạo khai hoang lập làng tạo nên diện mạo mới chovùng đất này Người Hoa và người Chăm di cư đến ở giai đoạn sau Bốn cộng
đóng dân cư - người Việt, người Khmer, người Hoa, người Chăm
-cùng chung một vận mệnh lịchsử, cùng khai hoang lập làng, cùng chia
sẻ những khó khăn trong việc chống thiên nhiên khắc nghiệt cũng
như những kẻ thù xâm lược đã dẩn đến giao lưu văn hóa, ảnh hưởng
qua lại dẫn đến hình thành một vùng văn hóa với những sắc thái địa phương có thể phân biệt với các vùng văn hóa khác của Việt Nam Mỗi
cộng đồng dân cư sinh sống ở Nam Bộ là một bộ phận của một tộc
người,cho nên, như là một quy luật, văn hóacủa các cộng đồng dân cư này luôn bị chi phối bởi tác động lịch đại và đổng đại Xét vẽ phương
diện vãn hóa, thì trong hành trang văn hóa của người Việt, những yếu tố văn hóa truyền thống giữ một vai trò cực kỳ quan trọng trong suốt quá trình Nam tiến Chính những yếu tố vãn hóa truyền thống
đó là nền tảng tinh thẩn, tạo nên sức mạnh cho lớp lớp cư dân người Việt chinh phục vùng đất mới, với bao khó khăn khắc nghiệt của điểu kiện thiên nhiên đề tổn tại và phát triển Nhưng khi không gian sinh
tồn được mở rộng, không chỉ làm thay đổi môi trưởng sống, mà còn
mở rộng quá trình giao lưu tiếp xúc với các tộc người khác Trong bối cảnh như vậy, tác động đồng đại đả chi phối đến quá trình phát triển
của các tộc người sinh sống trong không gian văn hóa đó
Nam Bộ là nơi có những yếu tố tự nhiên, môi trường xã hội rất khác so với đổng bằng sông Hổng - cái nôi văn minh Việt - nên những
yếu tố đông đại tác động sâu sắc đến văn hóa người Việt Nam Bộ Một khi văn hóa người Việt đã tương đối ổn định, thì nó lại bị chi phối
bởi quy luật truyền thống (tradition) và cách tân (innovation) Không
có một nền văn hóa nào lại không có sự kế thừa trong quá trinh phát
triển, ngay cả khi có những thay đồi vể chế độ chính trị, thậm chí cả khi thay đổi hình thái kinh tế-xã hội Sự kế thừa văn hóa truyền thống
Trang 3736 )ị< VÙNO ĐẤT NAM BỘ VII ĐẶC TRƯNG TÍN NGƯỞNG, TÔN GIÁO VẰ SINH HOẠT
của người Việt Nam Bộ được thể hiện trong tổ chức gia đình, xã hội, trong tín ngưỡng, tôn giáo, trong hoạt động kinh tế Khi nghiên cứu
vể các tôn giáo bản địa của người Việt ở Nam Bộ, một mặt thể hiện rất
rõ sự kếthừa theo thời gianvăn hóa Việt Nhưng mặt khác, lại thấy có
sự cách tần cho phù hợp với điểu kiện sống mới trong bối cảnh cộng
cư với các cộng đổng tộc người khác Xem xét những ngày lễ trọngtrong một năm cùa các tôn giáo Cao Đài và Hòa Hảo, là những tôngiáo ra đời trong bối cảnh cụ thể của vùng đất Nam Bộ trong những năm đẩu thế kỷ XX, chúng tôi thấy có sự khác nhau trong một số ngày
lễ gắn liền với từng tôn giáo góp phần tạo nên nét riêng cùa mình,
sổ ngày lễcòn lại phần lớn gắn liền với những ngày lễ trong năm cùangười Việt Đây là minh chứng, một lần nữa khẳng định các tôn giáo bản địa khi ra đời đã có sự kếthừa dựa trên nền tảng căn bản văn hóatruyẽn thống củangười Việt Điểu này đặt ra cho những người nghiên cứu khi tiếp cận nghiên cứu các tôngiáo bản địa cũng như những đặctrưng văn hóa cần có sự chúỶđúng mứcđến truyển thống và cách tân trongvăn hóa của các cư dân vùng Nam Bộ Ở các cộng đóng cư dânkhác như người Khmer, người Hoa, người Chăm trong quá trình sinh sống tại Nam Bộ trong đời sống văn hóa của mình cũng xảy ra mộtquá trình tương tự
Cùng với quá trình khai hoang lập làng, cùng chung lưng đấu cậttrong công cuộc chinh phục thiên nhiên và chống kẻ thù xâm lược đã dẫn đến quá trình giao lưu văn hóa giữa các cộng đổng dân cư Quátrình giao lưu văn hóa diễn ra trong suốt chiểu dài lịch sử đã dẫn đến hình thành những đặc trưngvãn hóa chung cho cả vùng, hình thànhvùng văn hóa Nam Bộ, “văn minh miệt vườn”, “văn minh sông nước” Vấn đề cần lưu ý ở chỗ Nam Bộ là vùng đổng bằng duy nhẩt của ViệtNam, nơi có nhiểu thành phần tộc người sinh sống có sự khác biệt
vé số lượng dân cư, trình độ phát triển kinh tế, xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo Chính quá trình giao lưu văn hóa giữa các tộc người đã làm phong phú vãn hóa của từng tộc người Vì vậy, khi nghiên cứu nhữngđặc trưng tín ngưỡng, tôn giáo, và sinh hoạt văn hóa của các cư dân
Trang 38CHƯƠNG I: Cơ SỔ LÝ LUÂN VẰ TỔNG QUAN VÊ VÙNG ĐÁT, CON NGƯƠI NAM BỘ ■ 37 "ị
vùng Nam Bộ cần lưu ý đến quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa
các cộng đống dân cư sinh sống tại đây
Chúng tôi đâ trình bày một số quan điểm của chúng tôi vể cách
tiếp cận khi nghiên cứu những vẩn để có liên quan đến đặc trưng tín
ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt vãn hóa cùa các tộc người sinh sống ờ
Nam Bộ Vấn để mà chúng tôi quan tâmlà nghiên cứu những đặc trưng
tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt văn hóa của cư dân Nam Bộ, đây là
những vấn đẽthuộclĩnh vựckhoa họcxã hộivà nhânvăn, nên có nhiểu
cách tiếpcận khác nhau Trong quá trìnhtriển khai nghiên cứu phải vận
dụng một cách có hiệu quả những cách tiếp cận khác nhau
2 Tổng quan nghiên cứu tôn giáo, tín ngưỡng tại Nam Bộ
Hiện nay, nghiên cứu về tín ngưỡng, tôn giáo của vùng đất Nam
Bộ nói chung và tín ngưỡng, tôn giáo của các tộc người ở Nam Bộ nói
riêng đã có nhiểu công trình được công bố, trong đó có những công
trình nghiên cứu chung vể văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo của cả vùng đấtNam Bộ, nhưng cũng có những công trình nghiên cứu cụ thểở từng
tộc người
* Tư liệu chung về vùng đất Nam Bộ
Nghiên cứu vềvăn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo ở Nam Bộtrong những
thập niên gần đây có rất nhiẽu công trình được xuấtbản do các tác giả
nước ngoài cũng như trong nước thực hiện và được công chúng rất
hoan nghênh
- vế các công trình do các tác giả nước ngoài viết có thể kể đến
các loại Monographic như Monographic de la province de Bien Hoa,
Monographic de la province de Ha Tien, Monographic de la province
de Gia Dinh, Monographic de ỉa province de Ba Ria, Monographie
de ỉa province de Chau Doc, Monographic de ỉa province de Mỵ Tho,
Monographỉe de la province de Ben Tre, Monographie de ỉa province
de Tra Vinh, Monographic de la province de Sa Dec, Monographic de
la province de Can Tho, Monographic de la province de Soc Trang,
Monographie de la province de LongXuyen, Monographic de la province
Trang 39; 38 £.' VÙNG ĐẤT NAM BỘ VII ĐẶC TRƯNG TÍN NGƯỠNG; TÔN GIÁO VÀ SINH HOẠT
; 7 <'r- ■ - -
-de Phu Quoc (Ha Tien), Monographic de la province de Thu Dau Mot, Monographie de ỉa province de Vinh Long, Cáccông trình này do Hộiđổng nghiên cứu Đông Dương chủ trì thực hiện Nội dung để cập đếncác vấn để địa lý, lịch sử, chính trị, tôn giáo, tín ngưỡng nhưng dướigóc độ đơn giản, không chuyên sâu
Ngoài ra, những chuyên khảo được ghi chép bởi các nhà thám hiểm và các giáo sĩ phương Tầy đến nước ta từ thế kỷ XVII, XVIIIcũng đã được công bố rộng rãi như Xứ Đàng Trong năm 1621 của
c Borri, Chuyến du hành sang Đông Dương những năm 1792 - 793 của M.C.E Bouillevaus, Mô tả lịch sử xứ Nam Kỳ của Jean Koíĩle, Tôn giáo
xứ NamKỳ cùa L Louvet, Văn hóa phương Đông, những huyền thoại củaChio Whit Taker, về văn hóa và tín ngưdng truyền thông người ViệtcủaCleopold Cadiere,
- Về các công trình do các tác giả trong nước viết có thể được chia thànhhai mảng vãn đềlà văn hóa và tín ngưỡng, tôn giáo.
+ Các công trình nghiên cứu về văn hóa như Nhất thông dư địa chí
của Lê Quang Định, Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức,
Phương Đình địa chí loại của Nguyễn Văn Siêu, Trong những thập niên gần đây có những công trình như Lịc/1 sử khai phá vùng đất Nam
Bộ do Huỳnh Lứa chủ biên (năm 1987), Lịch sử khẩn hoang miển Nam
cùa Sơn Nam (năm 1994) Hai công trình này để cập đến quá trìnhkhai phá vùngđẩt Nam Bộ của lưu dân và quá trình giao lưu vãn hóa giữa các tộc người Hai công trình này giúp người đọc hiểu về lịch sử của vùng đất Nam Bộ Công trình Mấy vấn đề dân tộc ở đổng bằng sông
Cửu Longdo Mạc Đường chủ biên, Nhàxuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 1991, là công trình tập hợp bài viết của nhiểu tác giả đề cập đến quá trìnhtộc người và văn hoá của từng tộc người ở khu vực đồngbằng sông Cửu Long Nhà cửa, trang phục và ầm thực của cư dân đồng bằng sông Cửu Long của Phan Thị YếnTuyết là công trình giới thiệu vể văn hóa (vãn hóa vật chất) cùa người dân Nam Bộ nói chung và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng Đây là công trình đã khảo tả chi tiết từng loại trang phục, nhà cửa, ẩm thực của từng cư dân và đã phân
Trang 40CHƯƠNG I: Cơ SỔ LÝ LUẬN VÀ TổNG QUAN vẽ VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI NAM BỘ • 39
tích, so sánh cũng như nói đến sự giao lưu tiếp biến văn hóa giữa cáctộc người ở đổng bằng sông Cửu Long Cùng nội dung với công trình này có thề kể đến công trình Văn hóa cư dân đổng bằng sông Cửu Long
do Nguyễn Công Bình chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 1996 Cuốn sách này tập hợp bài viết của nhiều tác giả, nội dung phân tích nhiều khía cạnh văn hóa, từ vãn hóa vật chất đến văn hóa tinh thẩn và văn hóa xã hội của các cư dân hiện đang sinh sống ở đổng bằng sổng Cửu Long Cuốn sách cung cấp cho người đọc, ngườinghiên cứu diện mạo chung về văn hóa của các tộc người ở miển Tây Nam Bộ như Chăm, Hoa, Khmer, Việt Công trình Văn hóa cộng đổng
làng vùng đông bằng sông Cửu Long thập kỷ 80 - 90 (qua trường hợp Bình
Phú, Cai Lậy, Tiền Giang), của Lương Hồng Quang, xuất bản năm 1997, cũng đề cập đến vấn đề văn hóa ở Nam Bộ Nhưng công trình này chỉ tập trung nghiên cứu một trường hợp được cho là điển hình ở Nam Bộ,rồi từ đó khái quát rộng ra Khía cạnh mà công trình này đế cập đến là
tổ chức cộng đồng, trong đó xét đến các mạng lưới xã hội đã và đang diễn ra trong cộng đóng Công trình này giúp người đọc hiểu thêm vểmối quan hệ cộng đổng ở làng Nam Bộ Công trình nghiên cứu vẽ Vản hóa tâm lỉnh Nam Bộ của Nguyễn Đãng Duydo Nhà xuất bản Khoa học
xã hội xuất bản năm 1997 đi vào một khía cạnh khác của văn hóa Nội dung là trình bày những tín ngưỡng truyền thống của các cư dân Nam
Bộ Từ tín ngưỡng dân gian đến tín ngưỡng tôn giáo đều được để cập
cụ thể trong nội dung của công trình, giúp người đọc hiểuvề cội nguổn
và nguyên nhân dẫn đến việc thờ cúng trong đời sống của cư dân Nam
Bộ Các công trình nghiên cứu vế văn hóa dân gian ở Nam Bộ như
Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ của Thạch Phương (năm 1992),
Văn hóa dân gian Nam Bộ - những phác thảo của Nguyễn Phương Thảo(năm 1997) đã để cập đến nhiều khía cạnh từ ca dao - tụcngữ đến lễnghi, thờ cúng, các sinh hoạt kinh tế Những công trình nàygiới thiệuvới người đọc đẩy đủ về diện mạo vãn hóa dân gian ở Nam Bộ Vùng
văn hóa và phân vùng văn hóa ờ Việt Nam của Ngô ĐứcThịnh,Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 1993, tái bản năm 2004, làcông trình