1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là gì? Được xác lập từ khi nào? Hãy phân tích cơ sở xác lập chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam?

15 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 131 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đất đai là nguồn tài nguyên, tài sản quan trọng của quốc gia. Pháp luật về đất đai là luật tác động lớn nhất, cả về kinh tế, chính trị, về an ninh quốc phòng, về tâm lý xã hội của người dân, an ninh trật tự, thậm chí về tôn giáo. Để đất đai thực sự là nguồn lực cho phát triển kinh tế xã hội cần phải có chế độ sở hữu phù hợp. Có thể thấy, các quốc gia trên thế giới xác lập chế độ sở hữu đất đai khác nhau như: sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân. Dù chế độ sở hữu đất đai khác nhau nhưng tựu trung lại, quốc gia nào cũng có một số đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Rất ít các quốc gia như Việt Nam quy định toàn bộ đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Để tìm hiểu kỹ hơn về chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, thời điểm được xác lập cũng như cơ sở xác lập chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, học viên lựa chọn đề tài “Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là gì? Được xác lập từ khi nào? Hãy phân tích cơ sở xác lập chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam?” để làm bài báo cáo tiểu luận.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO ELEARNING

TIỂU LUẬN MÔN:

LUẬT ĐẤT ĐAI

Đề tài số 01:

Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là gì? Được xác lập từ khi nào? Hãy phân tích cơ sở xác lập chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam?

Họ và tên: NGUYỄN VĂN A

Ngày, tháng, năm sinh: …….

MSSV: …

Lớp: ….

Ngành: …….

Hà Nội, … /2022

Trang 2

MỤC LỤC

A Mở đầu

I Tính cấp thiết của việc nghiên cứu

II Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu

III Cơ cấu của bài tiểu luận

B Nội dung

I Quy định của pháp luật về chế độ sở hữu toàn dân về đất đai

II Cơ sở xác lập chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam III Bất cập tồn tại và kiến nghị hoàn thiện

C Kết luận

D Danh mục tài liệu tham khảo

A MỞ ĐẦU

Trang 3

I Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là nguồn tài nguyên, tài sản quan trọng của quốc gia Pháp luật về đất đai là luật tác động lớn nhất, cả về kinh tế, chính trị, về an ninh quốc phòng, về tâm lý

xã hội của người dân, an ninh trật tự, thậm chí về tôn giáo Để đất đai thực sự là nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội cần phải có chế độ sở hữu phù hợp Có thể thấy, các quốc gia trên thế giới xác lập chế độ sở hữu đất đai khác nhau như: sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân Dù chế độ sở hữu đất đai khác nhau nhưng tựu trung lại, quốc gia nào cũng có một số đất đai thuộc sở hữu toàn dân Rất ít các quốc gia như Việt Nam quy định toàn bộ đất đai thuộc sở hữu toàn dân

Để tìm hiểu kỹ hơn về chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, thời điểm được xác lập cũng như cơ sở xác lập chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, học viên lựa chọn đề tài

“Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là gì? Được xác lập từ khi nào? Hãy phân tích cơ sở xác lập chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam?” để làm bài báo

cáo tiểu luận

II Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu

1 Mục đích, nhiệm vụ:

Từ cơ sở nghiên cứu pháp luật về chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, học viên sẽ phân tích, trình bày quy định pháp luật về chế độ sở hữu toàn dân về đất đai tại Việt Nam Phân tích nguồn gốc, nguyên nhân và cơ sở để xác lập chế độ này tại Việt Nam

Từ đó có những nhìn nhận, đánh giá đối với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai

2 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của bài báo cáo này là các quy định pháp luật về chế độ sở hữu toàn dân về đất đai tại Việt Nam

III Kết cấu bài tiểu luận:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của tiểu luận cáo gồm 3 chương:

Chương I: Quy định của pháp luật về chế độ sở hữu toàn dân về đất đai

Chương II: Cơ sở xác lập chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam

Chương III: Bất cập tồn tại và kiến nghị hoàn thiện

B NỘI DUNG

Trang 4

CHƯƠNG I: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TOÀN DÂN VỀ ĐẤT ĐAI.

1 Sơ lược về chế độ sở hữu toàn dân về đất đai

Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai là khái niệm dùng để chỉ một hình thức

sở hữu đối với đất đai mà trong đó toàn dân là chủ thể Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là một khái niệm pháp lý gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ sở hữu đất đai trong đó xác nhận, quy định và bảo vệ quyền đại diện chủ sở hữu của Nhà nước trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đất đai Với chế độ sở hữu này, tất cả công dân của một quốc gia đều là chủ thể được công nhận trong quá trình chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đất đai thông qua hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai tạo cơ sở pháp lý cho mọi người có quyền sở hữu về đất đai một cách bình đẳng

Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta lần đầu tiên được ghi nhận trong

Hiến pháp năm 1980: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên

trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa, các xí nghiệp công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thương nghiệp quốc doanh…đều thuộc sở hữu toàn dân” Các bản hiến pháp sau này đều tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu

toàn dân Cụ thể Điều 53 Hiến pháp năm 2013 tiếp tục quy định: “Đất đai, tài

nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.

Điều 197 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài

nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác

và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân

do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.

Trên cơ sở đó, Điều 4, Luật Đất đai 2013 ghi nhận: “Đất đai thuộc sở hữu

toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này”.

Sở hữu toàn dân về đất đai được đề cập cụ thể trong Luật đất đai năm

2013 như sau:

Trang 5

Thứ nhất, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này

Thứ hai, Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai như sau: quyết định mục đích sử dụng đất thông qua việc quyết định, xét duyệt quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất; quy định về hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất; quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; định giá đất;

Thứ ba, Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua các chính sách tài chính về đất đai như sau: thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; thu thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất; điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại;

Thứ bốn, Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang

sử dụng đất ổn định; quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

Như vậy, chế độ sở hữu toàn dân được ghi nhận lần đầu tiên vào Hiến pháp năm 1980 Đến nay, các văn bản quy phạm pháp luật từ Hiến pháp, bộ luật, luật đều khẳng định, bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai

2 Quyền của người sử dụng đất qua các thời kỳ

Có thể khẳng định rằng, quyền của người sử dụng đất được ghi nhận trong luật đất đai qua các thời kỳ là khác nhau, theo xu hướng mở rộng quyền năng của người

sử dụng đất Cụ thể như sau:

Trong Luật Đất đai năm 1987, người sử dụng đất không có quyền được tham gia thị trường quyền sử dụng đất Đất ở được sử dụng theo hạn mức diện tích, Nhà nước giao đất cho người có nhu cầu và thu hồi đất của người không còn nhu cầu Luật Đất đai 1993 có sự thay đổi theo hướng mở rộng quyền cho người sử dụng đất Cụ thể, hộ gia đình, cá nhân được thực hiện quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, cho thuê đất (từ Điều 74 đến Điều 78)

Điều 106 Luật Đất đai 2003, ghi nhận người sử dụng đất có 10 quyền, bao gồm: Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho

Trang 6

quyền sử dụng đất; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Luật Đất đai 2013 có 8 quyền được ghi nhận tại Điều 167: Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền

sử dụng đất

Như vậy, có thể nhận thấy rằng, Luật Đất đai năm 1993 không quy định người

sử dụng đất được bảo lãnh, tặng cho quyền sử dụng đất, không quy định người thuê đất được cho thuê lại quyền sử dụng đất và cũng không quy định khi hết thời hạn sử dụng đất mà người sử dụng đất có nhu cầu sử dụng đất và việc sử dụng đất lại phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Nhà nước thì có được Nhà nước tiếp tục giao đất hay không… thì Luật Đất đai năm 2003, 2013 đã bổ sung các quyền này cho người sử dụng đất

Phải thừa nhận có sự khác biệt về quyền năng của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và người sử dụng đất với tư cách là người trực

tiếp khai thác, sử dụng đất Đó là: Quyền sở hữu đất đai là quyền có trước, còn

quyền sử dụng đất là quyền phái sinh; Quyền sở hữu đất đai là một loại quyền trọn vẹn, đầy đủ, còn quyền sử dụng đất là một loại quyền không trọn vẹn, không đầy đủ.

Tuy nhiên, cần phải khẳng định các quyền tại luật đất đai sau này có nhiều quyền mang tính chất định đoạt tài sản – quyền của chủ sở hữu, nghĩa là việc thực hiện quyền dẫn đến thay đổi người sử dụng đất với tư cách là chủ thể trực tiếp quản

lý, khai thác thửa đất, đó là quyền trao đổi, tặng cho, chuyển nhượng, góp vốn, thừa

kế bằng quyền sử dụng đất Nghĩa là Nhà nước đã cho phép người dân được định đoạt tài sản đất đai một cách hạn chế, trong khuôn khổ pháp luật cho phép

CHƯƠNG II: CƠ SỞ XÁC LẬP CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TOÀN DÂN VỀ ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM.

1 Cơ sở xác lập do điều kiện lịch sử, tập quán, văn hoá

Chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam trong quá trình phát triển lịch sử có những nét đặc thù do bị tác động bởi những điều kiện tự nhiên, tập quán, văn hóa

a Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến quan hệ ruộng đất ở Việt Nam

Lịch sử vấn đề quan hệ đất đai ở Việt Nam đều xuất phát từ lĩnh vực nông nghiệp vì Việt Nam có truyền thống là nền nông nghiệp lúa nước chịu sự chi phối

Trang 7

rất nhiều của điều kiện tự nhiên Chính vì lẽ đó, quan hệ đất đai chịu sự tác động mạnh mẽ của điều kiện tự nhiên và điều này đến nay vẫn còn thể hiện rất rõ nét ở nước ta

Việt Nam đứng hàng 58 trên thế giới về diện tích đất tự nhiên, nhưng do dân

số đông nên bình quân đất tính trên đầu người rất thấp và ngày càng giảm Đã thế, gần 3/4 lãnh thổ Việt Nam, tức khoảng 25 triệu héc-ta là đồi núi, trong đó 17 triệu héc-ta có độ dốc từ 25 độ trở lên Diện tích đồng bằng chỉ chiếm 1/4 lãnh thổ, khoảng 8 triệu héc-ta Nếu tính cả những dải đất có độ dốc thấp ở vùng núi thì tổng diện tích đất có thể phục vụ cho nông nghiệp là 10 triệu - 11 triệu héc-ta

Cùng với diện tích đất và lãnh thổ không rộng lắm, thì điều kiện thời tiết và địa hình nhiều khi rất không thuận lợi lại càng tạo thêm khó khăn hơn trong việc sử dụng đất Việc đắp đê làm thủy lợi phải huy động sức mạnh của cả cộng đồng từ xa xưa đã trở thành truyền thống ở Việt Nam Nhưng, để chế ngự được thiên nhiên, huy động được sức mạnh của toàn dân, nhà nước của các triều đại lịch sử buộc phải nắm giữ đất đai, hay nói cách khác đất đai phải thuộc về quốc gia công thổ là một

hệ quả tất yếu Ngoài ra, chỉ có tập trung đất đai như vậy thì các chính quyền trong lịch sử Việt Nam mới có thể tạo được sức mạnh kinh tế cho đất nước vì các chủ thể nhỏ trong xã hội như các hộ gia đình với trình độ canh tác lạc hậu, đất đai lại bị địa hình chia cắt manh mún sẽ không thể khai thác đất đai có hiệu quả Tuy nhiên, trong lịch sử Việt Nam chế hữu sở hữu đất đai vẫn tồn tại cả loại hình sở hữu nhà nước quân chủ tập trung và sở hữu của cộng đồng làng xã, nhưng sở hữu nhà nước vẫn là

sở hữu chiếm ưu thế

b Tập quán văn hóa Việt ảnh hưởng lớn đến chế độ sở hữu ruộng đất

Truyền thống văn hóa của người Việt là lối sống cấu trúc nhà - làng - nước Trước mọi biến cố của lịch sử, sự cố kết và mối quan hệ này vẫn trường tồn Sự tác động của mối quan hệ đó đã chi phối rất sâu sắc đến quan hệ ruộng đất từ trong lịch

sử Một mặt, đất đai thuộc về nhà nước tập quyền; mặt khác, một bộ phận ruộng đất được giao cho làng sở hữu và trong mối quan hệ song song đó, sở hữu của nhà nước tập quyền vẫn chiếm ưu thế Và, mặc dù có sự sở hữu của làng nhưng ruộng đất của làng thường được chia lại cho các thành viên trong làng là các hộ gia đình để cày cấy Việc chia này không phải là mãi mãi mà mang tính định kỳ sẽ chia lại Do đó,

Trang 8

ở Việt Nam không có cơ sở cho việc tồn tại sở hữu cá thể hộ gia đình về đất đai một cách lâu dài, trên thực tế các hộ gia đình chỉ là những chủ thể được sử dụng đất đai Trải qua một thời gian phát triển, khi quy mô của làng vượt quá giới hạn nhất định về số hộ, thì các làng cũ lại được tách ra để thành lập làng mới Gắn liền với quá trình tách làng cũ và thành lập làng mới là những sự chia tách về ruộng đất Quan hệ ruộng đất trong mối liên hệ nhà - làng - nước là một kiểu quan hệ đã chi phối xuyên suốt lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Chính kiểu quan hệ ruộng đất này đã tạo ra sự cố kết về văn hóa xã hội, sự tương đồng về tâm lý và đến lượt nó lại làm cho quan hệ tâm lý tập quán văn hóa thêm chặt chẽ Truyền thống văn hóa: “An cư mới lạc nghiệp” đã thấm đẫm vào trong tâm thức người Việt Mỗi một gia đình, những người thuộc thế hệ trước luôn mong muốn và chủ động tạo lập cho con cái họ những diện tích đất nhất định để có thể ổn định cuộc sống Ruộng đất thì hữu hạn, trong khi đó, dân số luôn gia tăng Kết quả

là, quy mô ruộng đất mà các thành viên trong xã hội theo đó giảm dần Các thành viên trong xã hội dù muốn có sở hữu đất đai quy mô lớn thông qua con đường tập trung cũng gặp phải những giới hạn của điều kiện tự nhiên và xã hội, đặc biệt là giới hạn của sự phát triển lực lượng sản xuất

Trong điều kiện đó, với tư cách là người nắm quyền sở hữu tối cao về ruộng đất, nhà nước thường quy định cho mọi người dân phải thi hành những nghĩa vụ chủ yếu, như nộp thuế, đi phu, đi lính

Thực tế, trong lịch sử có nhiều nhân tố tác động có tính chất tấn công vào ruộng đất công để biến ruộng công thành ruộng tư, làm cho quan hệ đất đai biến đổi Chẳng hạn nhân danh người nắm quyền sở hữu tối cao, nhà nước quân chủ có thể sử dụng đất công để phong cấp cho các quan lại quý tộc dưới hình thái lộc điền; những hộ gia đình nông dân giàu lên có thể mua lại ruộng đất của người nghèo làm tài sản riêng; bộ máy quản lý làng, xã cũng có thể biến đất công thành đất riêng Tuy nhiên, sự thừa nhận trên pháp lý về quyền tư hữu đất đai không phổ biến, hơn nữa, điều kiện tự nhiên, văn hóa xã hội của dân tộc Việt Nam đã không thúc đẩy cho sự phát triển mạnh mẽ của xu hướng tư hữu hóa đất đai Có nhiều bằng chứng lịch sử cho thấy, mỗi khi ruộng đất bị tập trung quá lớn vào trong tay một bộ phận nhỏ của xã hội, thì lập tức đa số dân chúng còn lại tiến hành đấu tranh để giành lại

Trang 9

quyền sử dụng ruộng đất cho mình Các vương triều phong kiến Việt Nam chỉ hưng thịnh khi nào triều đại đó biết chăm lo đến lợi ích của nông dân, những người cần

có ruộng đất để sản xuất Như vậy, trong lịch sử ở Việt Nam, chế độ sở hữu công cộng của nhà nước đối với đất là đặc điểm nổi bật và luôn có điều kiện khách quan

để tồn tại lâu dài Đến thời kỳ thực dân Pháp xâm lược Việt Nam cho tới trước năm

1945, quan hệ ruộng đất mang đặc trưng của một nền kinh tế thuộc địa nửa phong kiến, phản ánh những lợi ích từ ruộng đất bị tác động bởi kết cấu giai cấp xã hội lúc đó

Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam nhìn chung không theo một đường thẳng, mà diễn ra quanh co, thăng trầm khác nhau Trong nhiều thập niên chiến tranh, ở miền Nam chế độ sở hữu đất đai chịu sự chi phối của chế độ thực dân mới, trong vùng chiến khu giải phóng vừa sản xuất, vừa kháng chiến; ở miền Bắc, giai đoạn 1954 - 1975, lợi ích của các chủ thể về đất đai rất đa dạng, nhưng đồng thuận với nhiệm vụ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

2 Cơ sở pháp lý cho việc xây dựng chế độ hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam

Quá trình quốc hữu hóa đất đai ở Việt Nam được thực hiện qua các sự kiện chủ yếu sau đây:

Trong Luận cương chính trị năm 1930, Đảng ta xác định rõ chính sách đối với

ruộng đất: “Quyền sở hữu ruộng đất thuộc về chánh phủ công nông” Chính cương vắn tắt của Đảng cũng khẳng định: “Thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm

công chia cho cho dân cày nghèo”.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền nhân dân tuyên

bố bãi bỏ các luật lệ về ruộng đất của chế độ cũ Tiếp đó, năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh về giảm tô, bãi bỏ thuế thổ trạch ở thôn quê

Năm 1953, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông qua Luật Cải cách ruộng đất, tịch thu ruộng đất của địa chủ, phong kiến, cường hào… chia cho nông dân thực hiện khẩu hiệu “Người cày có ruộng” Sau đó, Hiến pháp năm 1959

quy định: “Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền sở hữu về ruộng đất và

các tư liệu sản xuất khác của nông dân…”.

Trong những năm 1960, miền Bắc thực hiện phong tròa hợp tác hóa vậng

Trang 10

động nông dân đóng góp ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác vào làm ăn tập thể

trong các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất “Mặc dù Hiến pháp 1959 quy định rõ Nhàn

nước bảo hộ quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất của người dân nhưng trong quá trình vận động nông dân đi vào làm ăn tập thể, tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp

và thực hiện cải tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội, về cơ bản đất đai ở nước ta từng bước đã được xã hội hóa toàn bộ.”

Sau khi thông nhất đất nước, Quốc hội thông qua Hiến pháp mới năm 1980,

trong đó quy định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên

trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa, các xí nghiệp công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thương nghiệp quốc doanh; ngân hàng và tổ chức bảo hiểm; công trình phục vụ lợi ích công cộng; hệ thống đường sắt, đường bộ, đường sông, đường biển, đường không; đê điều và công trình thuỷ lợi quan trọng;

cơ sở phục vụ quốc phòng; hệ thống thông tin liên lạc, phát thanh, truyền hình, điện ảnh; cơ sở nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, cơ sở văn hoá và xã hội cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước - đều thuộc sở hữu toàn dân” và

“Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung, nhằm bảo đảm đất đai được sử dụng hợp lý và tiết kiệm Những tập thể và cá nhân đang sử dụng đất đai được tiếp tục sử dụng và hưởng kết quả lao động của mình theo quy định của pháp luật Tập thể hoặc cá nhân sử dụng đất đai đều có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ

và khai thác theo chính sách và kế hoạch của Nhà nước Đất dành cho nông nghiệp

và lâm nghiệp không được dùng vào việc khác, nếu không được cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền cho phép” Đây là cơ sở pháp lý cao nhất xác định rõ toàn dân là chủ

sở hữu đối với toàn bộ đất quốc gia

Hiến pháp 1992 cũng tiếp tục khẳng định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn

nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân.”

Hiện nay, Hiến pháp 2013 tiếp nối tinh thần của Hiến pháp 1992 với quy định:

“Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng

Ngày đăng: 16/03/2022, 13:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w