Chức năng của nhà nước, liên hệ các chức năng của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo anh/chị, giáo dục pháp luật là gì? Hãy cho biết thực trạng ý thức pháp luật của nhân dân ta hiện nay? Từ đó đưa ra giải pháp nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân? Liên hệ thực tiễn với sinh viên hiện nay.
Trang 1KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Giảng viên hướng dẫn :
Sinh viên thực hiện :
đó đưa ra giải pháp nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân? Liên hệ thực tiễn với sinh viên hiện nay.
TIỂU LUẬN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
Hà Nội, 2021
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 2
I Chức năng của nhà nước, liên hệ các chức năng của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 8
1.1 Nhà Nước 8
1.1.1 Nguồn gốc của nhà nước 8
1.1.2 Các dấu hiệu đặc trưng của nhà nước 8
1.1.3 Chức năng của nhà nước 9
1.2 Các chức năng của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam .10
1.2.1 Chức năng đối nội của nhà nước 10
1.2.2 Chức năng đối ngoại của nhà nước 13
II Giáo dục pháp luật là gì? Hãy cho biết thực trạng ý thức pháp luật của nhân dân ta hiện nay? Từ đó đưa ra giải pháp nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân? Liên hệ thực tiễn với sinh viên hiện nay? 16
2.1 Giáo dục pháp luật là gì? 16
2.1.1 Nguồn gốc của pháp luật và bản chất của pháp luật 16
2.1.2 Khái niệm giáo dục pháp luật 17
2.2 Thực trạng ý thức pháp luật của nhân dân ta hiện nay 22
2.2.1 Ưu điểm 22
2.2.2 Hạn chế 24
2.3 Giải pháp nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân 27
2.3.1 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng kém ở bộ phận nhỏ người dân 27
2.4 Liên hệ sinh viên ngày nay 29
2.4.1 Thực trạng sinh viên thực thi pháp luật 29
2.4.2 Thực trạng giáo dục pháp luật cho sinh viên hiện nay 31
2.4.2 Giải pháp nâng cao giáo dục pháp luật ở các trường đại học 34
KẾT LUẬN 39
DANH MỤC THAM KHẢO TÀI LIỆU 44
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Cách mạng Tháng Tám thành công và sự ra đời của nhà nước Việt Nam dânchủ cộng hòa năm 1945 đã tạo thêm động lực to lớn, cổ vũ mạnh mẽ phongtrào giải phóng dân tộc trên thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai Nhândân các nước thuộc địa và nửa thuộc địa đã rút ra một bài học sâu sắc từ cáchmạng Việt Nam: trong điều kiện thế giới ngày nay, một dân tộc nhược tiểunếu quyết tâm chiến đấu vì độc lập, tự do, có đường lối đấu tranh đúng, biếttạo thời cơ, chớp thời cơ khởi nghĩa thì hoàn toàn có thể đứng lên tự giảiphóng khỏi ách đế quốc thực dân, xây dựng chế độ mới, xóa bỏ mọi áp bức,
Phát huy bản chất và những giá trị của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộnghòa, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩahiện nay, Đảng và Nhà nước ta chủ trương: Xây dựng nền quốc phòng toàndân vững mạnh, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹnlãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo thuận lợicho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đồng thời tiếp tục xây dựng vàhoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, bảođảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
Đó cũng chính là “phương cách” tốt nhất để vươn đến mục tiêu dân giàu,nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, bảo đảm cho sự trường tồn
và phát triển bền vững của quốc gia, dân tộc
Trang 4"Việc thành lập Đảng là mộtbước ngoặt vô cùng quan trọng tronglịch sử cách mạng Việt Nam ta Nóchứng tỏ rằng giai cấp vô sản nước ta
đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạocách mạng" Đối với Người, lớp trẻthanh niên là một phần quan trọng Người viết: “Thanh niên là người tiếp sứccách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế
hệ thanh niên tương lai” Người cũng khẳng định, thanh niên đóng vai tròquan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, là “lực lượngnòng cốt để xây dựng xã hội mới”, “nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnhmột phần lớn là do các thanh niên” Thêm vào đó, việc giáo dục đạo đức vàpháp luật cho lớp trẻ là rất cần thiết
Vậy cho đến ngày nay thanh niên đã làm được gì cho Tổ Quốc, Nhànước đã làm được gì để giúp dân? Liệu ai
trong chúng ta đã đặt ra những câu hỏi
đó? Rằng, Người tạo ra Nhà nước để làm
gì, Giáo dục pháp luật cho thanh niên để
làm gì? Vậy, bài tiểu luận của em dưới
đây sẽ củng cố và làm rõ lại các điều trên
theo cách khách quan nhất mà em tìm hiểu được
Bài tiểu luận có 2 chủ đề chính:
1 Chức năng của nhà nước, liên hệ các chức năng của Nhà nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2 Giáo dục pháp luật là gì? Hãy cho biết thực trạng ý thức pháp luậtcủa nhân dân ta hiện nay? Từ đó đưa ra giải pháp nâng cao ý thứcpháp luật của nhân dân? Liên hệ thực tiễn với sinh viên hiện nay
Trang 5I Chức năng của nhà nước, liên hệ các chức năng của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1.1 Nhà Nước
1.1.1 Nguồn gốc của nhà nước
a Các quan điểm phi macxit về nguồn gốc của nhà nước
- Thuyết thần quyền, với quan niệm mang tính chất duy tâm thần bí,
cho rằng Thượng đế là người sáng tạo ra toàn bộ thế giới, sắp đặt trật tự xãhội cho nên Thượng đế cũng đã sáng tạo ra nhà nước nhằm bảo vệ trật tự xãhội theo ý chí của mình
- Thuyết gia trưởng cho rằng nhà nước xuất hiện là kết quả sự phát triển
của gia đình và quyền gia trưởng ra phạm vi xã hội Theo thuyết này, nhànước chỉ là mô hình của một gia tộc mở rộng và quyền lực nhà nước là quyềngia trưởng được nâng cao lên
- Thuyết bạo lực cho rằng nhà nước xuất hiện trực tiếp từ các cuộc
chiến tranh xâm lược chiếm đất mà trong đó thị tộc chiến thắng đặt ra một bộmáy cai trị đặc biệt để nô dịch các thị tộc chiến bại Bộ máy đó là nhà nước
- Thuyết “khế ước xã hội” cho rằng nhà nước là sản phẩm của “khế ước
xã hội” hay hợp đồng xã hội Theo đó thì chủ quyền nhà nước thuộc về nhândân Trường hợp nhà nước không giữ được vai trò của mình, các quyền tựnhiên bị vi phạm thì “khế ước xã hội” sẽ mất hiệu lực, nhân dân có quyền lật
đổ nhà nước và ký kết một bản “khế ước xã hội” mới
Nhận xét: Các học thuyết trên đây, do những nguyên nhân khác nhau
như hạn chế về trình độ nhận thức, quan điểm giai cấp… đều đã không thểgiải thích được một cách đúng đắn khoa học về nguồn gốc của nhà nước vìthế chúng đã trở thành công cụ để các giai cấp bóc lột thống trị luận giải bênhvực lợi ích ích kỷ, mang tính đặc quyền, đặc lợi của mình
Trang 61.1.2 Các dấu hiệu đặc trưng của nhà nước
Thứ nhất: Sự tồn tại của nhà nước về mặt không gian được xác định bởi yếu tố lãnh thổ
Thứ hai: Nhà nước có quyền lực chính trị đặc biệt
Thứ ba: Nhà nước có chủ quyền quốc gia.
Thứ tư: Nhà nước đặt ra và thu thuế một cách bắt buộc
Thứ năm: Nhà nước ban hành pháp luật và xác lập trật tự pháp luật đối với toàn xã hội.
Nhà nước là một tổ chức có quyền lực chính trị đặc biệt, có quyền quyết định cao nhất trong phạm vi lãnh thổ, thực hiện sự quản lý xã hội bằng pháp luật và bộ máy được duy trì bằng nguồn thuế đóng góp từ xã hội.
1.1.3 Chức năng của nhà nước
a Định nghĩa chức năng của nhà nước
Chức năng của nhà nước là những phương diện hoạt động cơ bản, có tính định hướng lâu dài trong nội bộ quốc gia và trong quan hệ quốc tế, thể hiện vai trò của nhà nước, nhằm thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước nhà nước
b Phân loại chức năng của nhà nước
* Căn cứ vào tính pháp lý của việc thực hiện quyền lực nhà nước
− Chức năng lập pháp là mặt hoạt động cơ bản của nhà nước trong lĩnh
vực xây dựng pháp luật nhằm tạo ra những quy định pháp luật để điềuchỉnh những quan hệ xã hội cơ bản, quan trọng của xã hội Cơ quanthực hiện chức năng này là quốc hội (nghị viện)
− Chức năng hành pháp là phương diện hoạt động cơ bản của nhà nước
nhằm tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật, đồng thời ban hànhcác văn bản quy phạm pháp luật dưới luật để điều chỉnh trực tiếp cáchoạt động của các chủ thể chịu sự quản lý của nhà nước trong khuônkhổ luật định
Trang 7− Chức năng tư pháp là phương diện hoạt động cơ bản của nhà nước
nhằm bảo vệ, xét xử các vụ án, giải quyết các tranh chấp về quyền lợi,nghĩa vụ của các tổ chức và cá nhân trong mọi lĩnh vực của đời sống xãhội thuộc phạm vi quản lý của nhà nước
* Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của sự tác động
− Chức năng đối nội là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước trong
nội bộ đất nước như: Giữ vững an ninh chính trị, đảm bảo trật tự antoàn xã hội, trấn áp những phần tử chống đối, bảo vệ chế độ chính trị xãhội; tổ chức và quản lý kinh tế; tổ chức và quản lý văn hóa, giáo dục;bảo vệ trật tự pháp luật…
− Chức năng đối ngoại là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước
trong quan hệ quốc tế như: phòng thủ đất nước, chống xâm lược từ bênngoài, thiết lập các mối bang giao với các quốc gia khác
Chức năng đối nội và chức năng đối ngoại có quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ,tác động lẫn nhau, trong đó, chức năng đối nội giữ vai trò chủ đạo, có tínhchất quyết định đối với chức năng đối ngoại Việc thực hiện chức năng đốingoại phải xuất phát từ chức năng đối nội và nhằm phục vụ chức năng đốinội
1.2 Các chức năng của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1.2.1 Chức năng đối nội của nhà nước
Chức năng đối nội là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước trongnội bộ đất nước
Ví dụ: Đảm bảo trật tự xã hội, trấn áp những phần tử chống đối chế độ,bảo vệ chế độ kinh tế … là những chức năng đối nội của các nhà nước
a Chức năng bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội.
Đây là một trong những chức năng căn bản nhất của nhà nước ta Muốntiến hành sự nghiệp đổi mới thuận lợi, Nhà nước ta phải bảo đảm an ninhchính trị, trật tự an toàn xã hội trên toàn bộ đất nước Nhà nước phải có đủ sức
Trang 8mạnh và kịp thời đập tan mọi âm mưu chống đối của các thế lực thù địch,đảm bảo điều kiện ổn định cho Nhân dân sản xuất kinh doanh.
Muốn vậy, Nhà nước phải quan tâm xây dựng các lực lượng an ninh,các cơ quan bảo vệ pháp luật, đồng thời phải “phát huy sức mạnh tổng hợpcủa hệ thống chính trị, tính tích cực cách mạng của khối đại đoàn kết toàndân, phối hợp lực lượng quốc phòng và an ninh trong cuộc đấu tranh bảo vệ
an ninh, trật tự” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VII, Nxb.ST, H1991, tr.87)
b Chức năng bảo vệ quyền tự do, dân chủ của Nhân dân.
Đây là một trong những chức năng của Nhà nước xã hội chủ nghĩa ViệtNam quan trọng; bởi vì, việc thực hiện chức năng này thể hiện trực tiếp bảnchất của nhà nước kiểu mới, nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhândân Đồng thời, việc thực hiện chức năng này sẽ đảm bảo sức mạnh của Nhànước trong việc thực hiện tất cả các chức năng khác của Nhà nước, quan hệđến sự tồn tại, phát triển của bản thân Nhà nước và chế độ
Đảng ta nhấn mạnh “Nhà nước có mối liên hệ thường xuyên và chặtchẽ với nhân dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, chịu sự giámsát của nhân dân Có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệquan liêu, tham nhũng, lộng quyền, vô trách nhiệm, xâm phạm quyền dân chủcủa nhân dân”(Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nướctrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb.ST, H.1991, tr19)
Trang 9c Chức năng bảo vệ trật tự pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Đây là chức năng, nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa quan trọng,liên quan trực tiếp đến việc thực hiện tất cả các chức năng khác của Nhànước Pháp luật là phương tiện quan trọng để Nhà nước tổ chức thực hiện cóhiệu quả tất cả các chức năng của mình, do đó, bảo vệ trật tự pháp luật, tăngcường pháp chế xã hội chủ nghĩa là hoạt động thường xuyên, có ý nghĩa quyếtđịnh đối với việc nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước
Mục đích của chức năng này là nhằm bảo đảm cho pháp luật được thihành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, thực hiện quản lý trên tất cả cáclĩnh vực của đời sống xã hội bằng pháp luật
d Chức năng tổ chức và quản lý kinh tế.
Tổ chức và quản lý nền kinh tế đất nước, xét đến cùng là chức nănghàng đầu và là cơ bản nhất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa nhằmxây dựng mọi xã hội dựa trên cơ sở vật chất và kỹ thuật phát triển cao
Nhà nước ta là người đại diện cho ý chí, quyền lực của Nhân dân laođộng, là người chủ sở hữu đối với các tư liệu sản xuất chủ yếu; là người nắmtrong tay các công cụ, phương tiện quản lý (chính sách, kế hoạch, pháp luật,tài chính, ngân hàng…) và quản lý việc sử dụng tài sản quốc gia Trên cơ sở
Trang 10đó, Nhà nước có đủ điều kiện để tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh, pháttriển kinh tế trong nước cũng như hợp tác quốc tế.
e Chức năng tổ chức và quản lý văn hóa, khoa học, giáo dục.
Xã hội mới mà Nhân dân ta đang xây dựng là xã hội do Nhân dân laođộng làm chủ; có nền kinh tế phát triển trên cơ sở một nền khoa học và côngnghệ tiên tiến; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con ngườiđược giải phóng khỏi sự áp bức, bóc lột, bất công, có cuộc sống ấm no, hạnhphúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân
Muốn xây dựng xã hội đó, Nhà nước ta phải tổ chức, quản lý sự nghiệpgiáo dục đào tạo, văn hóa, phát triển khoa học và công nghệ Đó là quốc sáchhàng đầu để phát huy nhân tố con người, phát huy vai trò then chốt của khoahọc và công nghệ
Đó là những động lực trực tiếp của sự phát triển, tạo điều kiện cần thiếtcho việc thực hiện các chức năng khác của Nhà nước vừa nhằm tổ chức quản
lý văn hóa, khoa học, giáo dục vừa nhằm thực hiện những nhiệm vụ kinh tế
xã hội Trước mắt, cần chuẩn bị cho đất nước bước vào những giai đoạn pháttriển tiếp theo trong tương lai, hòa nhập với sự phát triển của nền văn minhthế giới
Trang 111.2.2 Chức năng đối ngoại của nhà nước
Chức năng đối ngoại thể hiện vai trò của nhà nước trong quan hệ với các nhà nước và dân tộc khác.
Ví dụ: Phòng thủ đất nước, chống xâm lược từ bên ngoài, thiết lập cácmối bang giao với các quốc gia khác …
Nhà nước ta thực hiện chức năng đối ngoại nhằm tranh thủ sự đồng tìnhủng hộ và giúp đỡ của nhân dân thế giới, mở rộng hợp tác quốc tế, tạo điềukiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời làm trònnghĩa vụ quốc tế đối với phong trào cách mạng thế giới
Đảng ta nhấn mạnh: “Mục tiêu của chính sách đối ngoại là tạo điềukiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đi lên chủnghĩa xã hội, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân loại thế giới
vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội” (Đảng Cộng sản ViệtNam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội, Nxb.ST, H.1991, tr19)
Tất cả chức năng đối nội của nhà nước chỉ có thể được triển khai thựchiện tốt khi Tổ quốc được bảo vệ vững chắc Vì vậy, bảo vệ Tổ quốc là chứcnăng cực kỳ quan trọng nhằm giữ gìn thành quả cách mạng, bảo vệ công cuộcxây dựng hòa bình của nhân dân, tạo điều kiện ổn định triển khai các kếhoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Chức năng củng cố, tăng cường tình hữu nghị và hợp tác với các nước
xã hội chủ nghĩa, đồng thời mở rộng quan hệ với các nước khác theo nguyêntắc bình đẳng, cùng có lợi, cùng tồn tại hòa bình, không can thiệp vào côngviệc nội bộ của nhau
Tư tưởng chỉ đạo thực hiện chức năng này của Nhà nước ta là, trên cơ
sở kiên trì đường lối độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế, “nhiệm vụ đối ngoạibao trùm trong thời gian tới là giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị
và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào công cuộc đấu
Trang 12tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ vàtiến bộ xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VII, Nxb.ST, H1991, tr.88).
Chức năng ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cáchmạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản, chốngchủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới Chống chủ nghĩa phân biệtchủng tộc, chống chính sách gây chiến và chạy đua vũ trang, góp phần tíchcực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dântộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
Trong thời đại ngày nay, sự phát triển của mỗi nước phụ thuộc vàonhiều vào cộng đồng thế giới Vì vậy, bất cứ nhà nước tiến bộ nào cũng đều
có nghĩa vụ ủng hộ phong trào cách mạng và tiến bộ trên thế giới Thắng lợicủa cách mạng Việt Nam không tách rời sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của nhândân thế giới Ngày nay, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang
mở rộng hợp tác với tất cả các nước trên thế giới cùng phấn đấu vì một thếgiới hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển
Trang 13II Giáo dục pháp luật là gì? Hãy cho biết thực trạng ý thức pháp luật của nhân dân ta hiện nay? Từ đó đưa ra giải pháp nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân? Liên hệ thực tiễn với sinh viên hiện nay?
2.1 Giáo dục pháp luật là gì?
Để biết tìm hiểu sâu hơn về giáo dục pháp luật, trước tiên cần hiểu phápluật là gì?
2.1.1 Nguồn gốc của pháp luật và bản chất của pháp luật
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, về mặt khách quan thìnhững nguyên nhân làm xuất hiện nhà nước đồng thời cũng là những nguyênnhân làm xuất hiện pháp luật, còn về mặt chủ quan thì pháp luật do nhà nướcđặt ra nên pháp luật chỉ xuất hiện khi có nhà nước
Trong xã hội công xã nguyên thuỷ, xã hội chưa phân chia thành giaicấp, chưa có sự đối lập sâu sắc về lợi ích kinh tế giữa các thành viên trong xãhội, quan hệ giữa các thành viên trong xã hội được điều chỉnh bằng phong tụctập quán và được mọi người tự nguyện chấp hành, không có sự cưỡng chếbằng bộ máy bạo lực Khi xã hội phân chia giai cấp, lợi ích giữa các giai cấp
là đối lập nhau, cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra gay gắt, các phong tục tậpquán không còn có thể điều chỉnh được mọi quan hệ xã hội Để bảo vệ lợi íchcủa giai cấp mình đồng thời để duy trì trật tự xã hội phù hợp với yêu cầuthống trị giai cấp, giai cấp thống trị trong kinh tế đã thiết lập ra nhà nước và
sử dụng quyền lực nhà nước đặt ra những quy tắc xử sự mới bắt buộc mọingười phải tuân theo Những quy tắc xử sự đó là pháp luật
Trang 14Pháp luật có 3 bản chất:
− Bản chất giai cấp của pháp luật
− Bản chất xã hội của pháp luật
− Tính dân tộc và tính mở của pháp luật
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung (hệ thống những quyphạm) do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chícủa giai cấp thống trị, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phù hợp với lợi íchcủa giai cấp thống trị
Xét về mặt bản chất, giáo dục pháp luật là quá trình hoàn thiện nhân tố
xã hội - pháp lí của con người, nâng cao khả năng sáng tạo của con ngườitrước đời sống thực tiễn Giáo dục pháp luật là quá trình tác động của nhiềuhình thức, phương tiện vào ý thức của con người, đó không phải và không thể
là sự áp đặt ý chí chủ quan duy ý chí tới quá trình nhận thức khách quan củacác chủ thể
2.1.2 Khái niệm giáo dục pháp luật
Trước hết giáo dục pháp luật đó là một nhiệm vụ mang tính thườngxuyên, liên tục của nhà nước Do đó, nhà nước cần thực hiện việc tổ chức,quản lí, đánh giá kết quả lĩnh vực hoạt động này
Giáo dục pháp luật phải đảm bảo tính kịp thời, sát thực và phù hợp cả
về phương diện nội dung, hình thức và đối tượng Tuy nhiên, dưới góc độtổng quan cần gắn việc giáo dục pháp luật trong nhà trường, trong các thiếtchế chính trị xã hội với giáo dục ở ngoài cộng đồng xã hội và gia đình Ketnối việc phổ biến, giáo dục pháp luật với công tác giáo dục truyền thống lịch
sử và phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc Đặc biệt, cần gắn giáo dục phápluật với quá trình thực thi nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốcphòng, an ninh của đất nước, của từng vùng, miền địa phương và an sinh xãhội
Tóm lại, giáo dục pháp luật là quá trình tác động một cách có hệ thống,
có mục đích và thường xuyên tới nhận thức của con người nhằm trang bị cho
Trang 15mỗi người trình độ pháp lí nhất định để từ đó có ý thức đúng đẳn về pháp luật,tôn trọng và tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật.
a Mục đích của giáo dục pháp luật
Mục đích của giáo dục pháp luật được xem xét trên nhiều góc độ tùythuộc vào đối tượng giáo dục, cấp độ giáo dục cũng như hình thức giáo dục.Nhìn chung, mục đích giáo dục có thể mang tính lâu dài hoặc trước mắtnhưng đều hướng tới ba vấn đề cơ bản:
Một là giáo dục pháp luật nhằm nâng cao khả năng nhận thức pháp lí,
sự hiểu biết pháp luật, hình thành tri thức pháp luật cần thiết cho các chủ thể(với tính cách là đối tượng nhận thức hay là đối tượng của giáo dục) Đây làmục đích hàng đầu của giáo dục pháp luật bởi lẽ sự hiểu biết pháp luật có vaitrò quan trọng trong việc bảo đảm sự phát triển của tư duy pháp lí, địnhhướng các hành vi của chủ the trên thực tế
Tri thức pháp luật tạo nên cơ sở khẳng định lòng tin vào các giá trị củapháp luật, các chuẩn mực pháp lí cần thiết giúp cho các chủ thể chủ động xáclập hành vi và chịu trách nhiệm về hành vi Tri thức pháp luật không thể là sựhiểu biết đơn giản, phiến diện về một số khía cạnh pháp luật nào đó mà nómang tính hệ thống, logíc Do đó, giáo dục pháp luật là hoạt động có vai tròquan trọng đối với quá trình mở rộng khối lượng tri thức pháp lí, nâng caokhả năng hiểu biết pháp luật một cách toàn diện, thống nhất đối với chủ thể
Hai là giáo dục pháp luật nhằm khơi dậy tình cảm, lòng tin và thái độđúng đắn đối với pháp luật Để hình thành lòng tin và đem lại thái độ đúngđắn, tích cực đối với pháp luật ở mỗi người cần phải giải quyết nhiều vấn đề
có liên quan, trong đó giáo dục pháp luật là hoạt động cơ bản Chúng ta biếtrằng lòng tin vào pháp luật là lòng tin vào công lí, lẽ công bằng được tạo lậpbởi chính pháp luật Lòng tin chỉ có giá trị đích thực khi nó đem lại thái độchủ động trong xử sự phù hợp với pháp luật và được hình thành trên tri thócpháp luật cần thiết (nếu không sẽ là niềm tin mù quáng, phản tác dụng) Giáodục pháp luật không đơn thuần là chỉ để hiểu biết về các quy định của pháp
Trang 16luật mà cao hơn nữa là để pháp luật được “sống” trong tư duy, hành vi củamọi người, để khơi dậy tình cảm, lòng tin và thái độ đúng đắn ở mỗi ngườiđối với pháp luật Cần giáo dục tình cảm công bằng, khoan dung, ý thức tráchnhiệm, thái độ không khoan nhượng trước các hành vi vi phạm pháp luật vàthái độ tôn trọng pháp luật, pháp chế.
Ba là giáo dục pháp luật nhằm hình thành thói quen xử sự theo phápluật với động cơ tích cực Tri thức pháp luật không thể là những nội dung líluận thuần tuý mà nó phải được hiện thực hoá thông qua các hoạt động pháp líthực tiễn Mục đích của giáo dục pháp luật không chỉ cung cấp những kiếnthức lí luận hoặc các quy định pháp luật cụ thể mà quan trọng hơn là tạo lậpđược thói quen xử sự theo pháp luật ở mỗi loại chủ thể trong xã hội Thóiquen này được hình thành không phải là thụ động, vô thức mà dựa trên nềntảng của động cơ về hành vi hợp pháp, tích cực Trên thực tế, để có thói quen
xử sự hợp pháp không những đòi hỏi con người phải thu nạp lượng kiến thứcpháp lí cần thiết mà còn trải qua quá trình chuyển hoá chủ quan về mặt tâm lí
b Nội dung của giáo dục pháp luật
Để hoạt động giáo dục pháp luật được tiến hành thuận lợi, có hiệu quảcần xác định nội dung cơ bản, phù hợp với đối tượng giáo dục, loại hình vàcấp độ giáo dục Theo nguyên lí chung thì nội dung và mục đích của giáo dục
có quan hệ hữu cơ với nhau, vì vậy giáo dục pháp luật phải nhằm định hướng
cả về tri thức, tình cảm và hành vi cho đối tượng giáo dục Nhìn chung, nộidung của giáo dục pháp luật tương đối rộng, mang tính đặc thù riêng cho từngchương trình đào tạo Chẳng hạn, kiến thức lí luận về pháp luật, các quy địnhpháp luật hiện hành, các thông tin về thực hiện, bảo vệ pháp luật, các số liệu
về xã hội học pháp luật, giáo dục mô thức hành vi pháp luật Các nội dung
cơ bản này lại được thể hiện phù hợp với kết cấu của mỗi chương trình giảngdạy khác nhau, theo yêu cầu cụ thể khác nhau Hiện nay, nội dung của phổbiến, giáo dục pháp luật ở nước ta được xác định gồm:
Trang 17Quy định của Hiến pháp và vãn bản quy phạm pháp luật, trọng tâm làcác quy định của pháp luật về dân sự, hình sự, hành chính, hôn nhân và giađình, bình đẳng giới, đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trường, lao động, giáodục, y tế, quốc phòng, an ninh, giao thông, quyền và nghĩa vụ cơ bản củacông dân, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cán bộ, côngchức ; các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành.
Các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam làthành viên, các thoả thuận quốc tế
Ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; ý thức bảo vệ pháp luật; lợiích của việc chấp hành pháp luật; gương người tốt, việc tốt trong thực hiệnpháp luật
c Hình thức của giáo dục pháp luật
Hình thức giáo dục pháp luật là cách thức mà nhà nước sử dụng để tácđộng vào ý thức và tâm lí của các chủ thể Do nội dung giáo dục, đối tượnggiáo dục khác nhau nên cần đa dạng hoá các hình thức giáo dục, phương phápgiáo dục mới có hiệu quả Việc sử dụng một hình thức giáo dục pháp luật nàocho phù hợp và có hiệu quả trên thực tế tùy thuộc vào từng đối tượng và yêucầu mục đích đặt ra Hơn nữa, việc lồng ghép các hình thức giáo dục phápluật khác nhau cho cùng một đối tượng, chương trình cũng hết sức cần thiết.Mặt khác, việc xã hội hoá các hình thức giáo dục pháp luật nhằm thúc đẩy,kích hoạt ý thức và khả năng tham gia của nhiều loại chủ thể đối với việc từngbước đưa pháp luật vào đời sống xã hội Trên thực tế, chúng ta không nên coi
Trang 18trọng hoặc xem nhẹ một hình thức nào đó của hoạt động giáo dục pháp luật.Hiện nay, theo quy định của pháp luật các hình thức phổ biến, giáo dục phápluật ở nước ta bao gồm:
− Họp báo, thông cáo báo chí
− Phổ biến pháp luật trực tiếp; tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật;cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật
− Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh,internet, pa-nô, áp-phích, tranh cổ động; đăng tải trên Công báo; đăngtải thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử; niêm yết tại trụ sở,bảng tin của cơ quan, tổ chức, khu dân cư
− Tổ chức thi tìm hiểu pháp luật
− Thông qua công tác xét xử, xử lí vi phạm hành chính, hoạt động tiếpcông dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hoạt động kháccủa các cơ quan trong bộ máy nhà nước; thông qua hoạt động trợ giúppháp lí, hoà giải ở cơ sở
− Lồng ghép trong hoạt động văn hoá, văn nghệ, sinh hoạt của tổ chứcchính trị và các đoàn thể, câu lạc bộ, tủ sách pháp luật và các thiết chếvăn hoá khác ở cơ sở
− Thông qua chương trình giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dụccủa hệ thống giáo dục quốc dân
− Các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật khác phù hợp với từng đốitượng cụ thể mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có thể ápdụng để bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đem lạihiệu quả
Việc lựa chọn phương pháp giáo dục pháp luật thích hợp có tầm quantrọng đặc biệt Rõ ràng là không thể áp dụng các phương pháp như nhau chocác loại đối tượng giáo dục, cấp độ giáo dục hoàn toàn khác nhau được Tuynhiên, cần nhận thấy là hoạt động giáo dục pháp luật có thể mang tính bắtbuộc hoặc không bắt buộc Vì thế tính chất của các phương pháp giáo dụccũng cần phải được nghiên cứu cho phù hợp các đối tượng mới đem lại hiệuquả
Trang 19Thực tế ở nước ta, trong thời gian gần đây giáo dục pháp luật đã đượcquan tâm, nhất là giáo dục pháp luật trong nhà trường ở các bậc học Cơ sởpháp lí và hoạt động quản lí nhà nước về giáo dục pháp luật nói chung và giáodục pháp luật trong nhà trường cũng ngày càng hoàn thiện hơn.
Tóm lại, giáo dục pháp luật là quá trình hoạt động đòi hỏi có tính kếthừa và đi từ thấp tới cao cần tổng kết, đánh giá kết quả thực tiễn để rút ranhững bài học kinh nghiệm nhằm nhận thức một cách thấu đáo cho việc thựchiện đạt hiệu quả trên thực tế
2.2 Thực trạng ý thức pháp luật của nhân dân ta hiện nay
2.2.1 Ưu điểm
Những năm gần đây, công tác phổ biến giáo dục pháp luật ở nước ta đãđược Đảng và Nhà nước quan tâm chú trọng nhiều hơn Những hoạt động củacác cấp các ngành trong việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật đã góp phầnnâng cao ý thức pháp luật của người dân, hầu hết người dân đã nắm rõ đượctầm quan trong của pháp luật trong đời sống từ đó mà nhìn nhận đúng và tựgiác hơn trong việc chấp hành pháp luật mà nhà nước đề ra
Hiện nay trong các hoạt động của pháp luật, ý thức của người dân ViệtNam đã nâng lên Sự hiểu biết về pháp luật của nhân dân đã biểu hiện rõ nét,nhân dân ý thức được trách nhiệm, quyền hạn của mình đối với nhà nướcthông qua pháp luật do đó họ tích cực tham gia vào các hoạt động quản lí nhànước, giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước để thực hiện quyền lợihợp pháp của mình
Trong những năm qua, người dân
đã tích cực tham gia đóng góp các ýkiến cho các văn bản pháp luật, những ýkiến đó được đánh giá cao và có tínhthực tiễn Có những ý kiến cũng đãđược các cơ quan có thẩm quyền ghi
Trang 20nhận để xem xét, nghiên cứu và bổ sung thêm Như vậy, do nhận thức đúngtrách nhiệm của mình trong các vấn đề quan trọng của đất nước cho nênngười dân ngày càng quan tâm đến pháp luật; tự giác học hỏi và nghiên cứunhằm hoàn hiện nhận thức đúng đắn nhất đưa ra những quan điêm sáng suốt
và có giá trị
Trong hoạt động thực hiện và tổ chức thực hiện pháp luật hiện nay cũng
có nhiều bước chuyển biến tích cực, người dân Việt Nam đã chủ động tíchcực, đã tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật.Trong các cơ quan nhà nước, các tổ
Bên cạnh đó, ý thức bảo vệ pháp luật hiện nay cũng đã được quan tâm.Xuất hiện trong cuộc sống của chúng ta nhiều tấm gương về người tốt, việctốt trong thực hiện pháp luật, họ đã nâng cao tinh thần trách nhiệm của mìnhtrong việc bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, trợ thành những tấm gương sángtrong việc giúp cho các cơ quan chức năng thi hành công vụ, trong việc bắt
Trang 21trái pháp luật Như vậy có thể nói rằng đã có nhiều bước chuyển biến đángmừng trong tư tưởng tình cảm của người dân đối với việc chấp hành phápluật.
2.2.2 Hạn chế
Bên cạnh những mặt tích cực về ý thức pháp luật của người dân hiệnnay thì vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế nhất định ảnh hưởng không nhỏđến đời sống của toàn xã hội Có thể nhận thấy những sự hạn chế như sau:
Hiện nay, ý thức pháp luật của một bộ phận người dân vẫn còn thấp Họchưa tôn trọng pháp luật, thái độ thờ ơ và lẩn tránh các quy định của pháp luậtvẫn còn xảy ra nhiều, sự tùy tiện trong việc chấp hành kỉ luật lao động, sinhhoạt và làm việc Nguyên nhân của vấn đề trên chính là do nhân dân ViệtNam vẫn còn chiếm tỉ lệ lớn trong các ngành nông nghiệp, quanh năm chútrọng đến sản xuất, chăn nuôi, người dân sống và thực hiện trách nhiệm củamình bằng các phong tục, tập quán từ lâu đời do đó ý thức vẫn còn thấp tronghiểu biết và chấp hành pháp luật
Những cuộc chiến tranh liên miên, khốc liệt trong lịch sử Việt Nam đãlàm ý thức ý bị gắn kết, người dân dẫu rằng thể hiện ý thức, trách nhiệm củamình tuy nhên vẫn dẫn đến thói quen là cấp trên thì ra lệnh, thiếu dân chủ, cấpdưới thì đợi mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên nên người dân thiếu sự chủ động
và sáng tạo Có đôi khi, ý thức của cá nhân còn bị hòa nhập vào ý thức tậpthể, cộng đồng nên người dân không bộc lộ được rõ ràng nhân cách, lối sốngcủa mình
Ý thức pháp luật trong mỗi người dân vẫn còn chậm được nâng cao donhững thói quen truyền thống Những thói quen như “ bất tuân pháp luật”,nhiêu người cố tìm mọi cách để lách luật, tìm ra những kẽ hở và hạn chế củapháp luật để thực hiện hành vi vi phạm nhằm đạt được mục đích
“Lách luật” xảy ra rất nhiều trong hoạt động giao thông hiện nay, có thểthấy rõ tình trạng một số người dân tham gia giao thông trên đường bằng xemáy chỉ chấp hành việc đội mũ bảo hiểm khi nhìn thấy cảnh sát giao thông