BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNHPHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ ÐỖ THỊ TUYẾT MINH GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ÐÀO TẠO THẠC SĨ NGÀNH KHOA HỌC MÁY TÍNH TẠI T
Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất giải pháp góp phần nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ ngành KHMT đáp ứng nhu cầu xã hội, dựa trên đánh giá chất lượng hiện tại của chương trình tại Trường ĐH CNTT Các yếu tố cốt lõi bao gồm cải tiến chương trình đào tạo KHMT, nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên và tăng cường liên kết với doanh nghiệp để đảm bảo nội dung và kỹ năng phù hợp thực tiễn Đồng thời đẩy mạnh cập nhật nội dung giảng dạy, tăng cường hoạt động thực hành, nghiên cứu ứng dụng và trao đổi học thuật, ứng dụng công nghệ mới và các mô hình học tập linh hoạt Hệ thống đánh giá chất lượng định kỳ, công khai kết quả và áp dụng học liệu mở sẽ giúp đo lường tiến bộ đào tạo thạc sĩ KHMT và lan tỏa chuẩn chất lượng đến toàn trường.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, đề tài tập trung thực hiện 3 nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu lý luận về chất lượng đào tạo.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo thạc sĩ ngành
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ ngànhKHMT tại Trường ĐH CNTT.
Giả thuyết nghiên cứu
Hiện nay, nhằm đổi mới chất lượng giáo dục và căn cứ vào khảo sát thực trạng đào tạo thạc sĩ ngành KHMT tại các trường đại học khác, có thể nhận thấy chất lượng đào tạo thạc sĩ KHMT tại Trường ĐH CNTT trong những năm qua vẫn chưa đạt kỳ vọng Điều này cho thấy cần triển khai các biện pháp cải tiến toàn diện chương trình đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên và cập nhật phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chuẩn đầu ra cho sinh viên KHMT.
Nếu các giải pháp đề tài được áp dụng tốt, chất lượng đào tạo thạc sĩ ngành KHMT tại Trường ĐH CNTT sẽ được nâng cao, đồng thời mở rộng cơ hội cho sinh viên tiếp cận với nghiên cứu and ứng dụng thực tiễn Việc triển khai hiệu quả các đề tài sẽ cải thiện chất lượng giảng dạy và nâng cao chuẩn đầu ra của chương trình, từ đó tăng tính cạnh tranh của Trường ĐH CNTT trên thị trường giáo dục CNTT và đáp ứng nhu cầu tuyển dụng ngày càng cao trong lĩnh vực KHMT.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Tìm hiểu, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các nguồn tài liệu để vận dụng vào đề tài
- Tham khảo các tạp chí, các bài báo khoa học, tài liệu trên web về giáo dục
- Tham khảo các văn kiện, các nghị quyết liên quan đến chất lượng đào tạo thạc sĩ.
- Nghiên cứu trên tài liệu hoạt động đào tạo của nhà Trường để đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu
Phương pháp điều tra- khảo sát
Đây là một phương pháp nghiên cứu sử dụng hệ thống các câu hỏi được thiết kế theo những nội dung xác định nhằm thu thập thông tin khách quan về nhận thức và thái độ của người được điều tra, bao gồm giảng viên, học viên và cựu học viên Việc triển khai hệ thống câu hỏi giúp thu thập dữ liệu nhất quán và phản ánh rõ quan điểm của từng nhóm đối tượng, từ đó nhận diện các mức độ đồng thuận hay khác biệt trong nhận thức Cấu trúc dựa trên nội dung xác định tăng tính so sánh và độ tin cậy của thông tin, đồng thời tối ưu hóa hiệu quả phân tích và đáp ứng các yêu cầu về SEO nhờ các từ khóa như phương pháp, hệ thống câu hỏi, nội dung xác định, thu thập thông tin khách quan, nhận thức và thái độ.
- Phương pháp này có hai hình thức cơ bản:
Phỏng vấn bằng miệng là phương pháp sử dụng hệ thống câu hỏi được thiết kế để người được phỏng vấn trả lời bằng lời nhằm thu thập thông tin thể hiện nhận thức và thái độ của họ Với bộ câu hỏi có trình tự và mục tiêu rõ ràng, phương pháp này khai thác quan điểm của người tham gia qua trao đổi bằng giọng nói một cách trực tiếp.
7.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp này dựa trên hệ thống câu hỏi đã chuẩn bị sẵn trên giấy, với nội dung được xác định trước, và người được hỏi trả lời bằng cách viết trong một khoảng thời gian nhất định Nhờ cách làm này, nó cho phép khảo sát và thăm dò ý kiến đồng loạt từ nhiều người, từ đó giúp thu thập dữ liệu nhanh chóng Do phù hợp với quy mô lớn, phương pháp thường được ứng dụng trong các cuộc điều tra xã hội học và nghiên cứu khoa học giáo dục.
Phiếu điều tra là công cụ quan trọng của phương pháp điều tra khảo sát, còn được biết đến với các tên gọi như phiếu xin ý kiến, phiếu thăm dò hoặc phiếu khảo sát, và nó chứa một hệ thống các câu hỏi được thiết kế dành cho đối tượng điều tra Qua việc trả lời những câu hỏi này, dữ liệu thu thập được sẽ giúp nghiên cứu viên khai thác thông tin cần thiết, nhận diện xu hướng, đánh giá ý kiến và hành vi của người tham gia, từ đó hỗ trợ phân tích, đưa ra kết luận và quyết định dựa trên bằng chứng thực tế.
Phương pháp quan sát
Phương pháp nghiên cứu này dựa trên tri giác và các công cụ chuyên môn, kết hợp quan sát và thu thập thông tin để cảm nhận và ghi lại hoạt động dạy và học cũng như các hoạt động sinh hoạt học thuật dành cho học viên cao học tại trường Phương pháp này cho phép phân tích mức độ tương tác, chất lượng giảng dạy và hiệu quả học tập trong môi trường đại học, từ đó cung cấp dữ liệu thực nghiệm cho các nghiên cứu và cải tiến chương trình đào tạo.
Phương pháp phân tích- tổng hợp
Phân tích và tổng hợp là hai thao tác cốt lõi trong nghiên cứu: phân tích chia nhỏ các sự vật, hiện tượng thành từng phần để làm rõ đặc trưng riêng của từng vấn đề, còn tổng hợp kết nối các đặc trưng ấy nhằm tìm ra bản chất và quy luật của sự vật, hiện tượng cần nghiên cứu.
Để đánh giá chất lượng đào tạo thạc sĩ của một trường đại học bằng phương pháp này, ta phân tích toàn diện quá trình đào tạo thành các yếu tố cấu thành như đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất và hoạt động nghiên cứu khoa học; từ đó nhận diện đặc trưng và bản chất của từng mặt và xác định mức độ đáp ứng chuẩn đào tạo thạc sĩ Quá trình phân tích giúp nhận diện ưu nhược điểm, xác định các tiêu chí đánh giá chất lượng và cung cấp cơ sở so sánh giữa các chương trình Sau khi đánh giá chi tiết từng thành phần, cần tổng hợp kết quả để có một đánh giá tổng thể về chất lượng đào tạo thạc sĩ, từ đó rút ra những điểm mạnh, điểm yếu và đề xuất giải pháp cải thiện.
Phương pháp chuyên gia
Đây là phương pháp đánh giá chất lượng đào tạo thạc sĩ dựa trên việc lấy ý kiến của các chuyên gia trong các lĩnh vực liên quan nhằm kiểm chứng và khẳng định sự khác biệt khi áp dụng các giải pháp mà người nghiên cứu đề xuất Phương pháp này giúp xác định hiệu quả và mức độ phù hợp của từng giải pháp trong thực tiễn đào tạo Từ kết quả đánh giá, sẽ kết luận việc có nên áp dụng các giải pháp này để nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ tại trường hiện nay.
Chuyên gia được hiểu là những người có trình độ cao ở cả hai mặt lý thuyết lẫn thực tiễn, có khả năng kết hợp kiến thức nền tảng với ứng dụng thực tế trong công việc Họ có thể là những nhà quản lý dày dặn kinh nghiệm, nắm bắt và điều hành các quy trình hiệu quả, hoặc là các nhà khoa học sư phạm có chuyên môn sâu đóng góp cho sự phát triển phương pháp giảng dạy Bên cạnh đó, các giảng viên giỏi cũng được xem là những chuyên gia có khả năng truyền đạt kiến thức một cách rõ ràng và thuyết phục Nói ngắn gọn, một chuyên gia là người vừa nắm vững lý thuyết vừa vận dụng tốt thực tế để mang lại giá trị trong lĩnh vực của mình.
Việc tổ chức lấy ý kiến chuyên gia để đánh giá chất lượng đào tạo thạc sĩ có thể thực hiện theo các hình thức sau:
Tổ chức hội thảo khoa học về vấn đề cần nghiên cứu, đánh giá (ví dụ như
Hội thảo về giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo trình độ thạc sĩ ngành KHMT và hội thảo về đổi mới phương pháp giảng dạy đã tập hợp các bản tham luận, ý kiến trao đổi của các chuyên gia và tư liệu thu thập được làm cơ sở để đi đến các kết luận về vấn đề cần nghiên cứu Những nội dung này góp phần định hình chiến lược cải tiến chương trình thạc sĩ KHMT, đổi mới phương pháp giảng dạy và nâng cao chất lượng đào tạo, nhằm đáp ứng yêu cầu của ngành công nghệ thông tin và chuẩn hóa đầu ra của chương trình THCS.
Phỏng vấn chuyên gia bằng cách xây dựng và trình bày một hệ thống câu hỏi được thiết kế để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu, giúp thu thập dữ liệu chất lượng và sâu sắc Hiệu quả của phương pháp này phụ thuộc rất nhiều vào khâu chuẩn bị kỹ lưỡng và nghệ thuật hỏi đáp của người phỏng vấn, từ việc xác định mục tiêu nghiên cứu, lựa chọn câu hỏi phù hợp, cho đến cách lắng nghe, ghi nhận và phân tích câu trả lời để rút ra các kết luận có giá trị.
Thu thập ý kiến chuyên gia thông qua phiếu xin ý kiến các vấn đề cần nghiên cứu với hệ thống các câu hỏi đã chuẩn bị sẵn trên giấy.
Tiến độ thực hiện đề tài nghiên cứu
Xây dựng đề cương chuyên đề
Xây dựng cở sở lý thuyết
Khảo sát thực trạng Đề xuất giải pháp
Kiểm nghiệm và đánh giá giải pháp
Hoàn chỉnh luận văn nộp về Trường
Tổng quan về hoạt động liên quan đến chất lượng đào tạo
Hoạt động nâng cao chất lượng đào tạo đang phát triển ở nhiều mức độ khác nhau trên toàn cầu, đòi hỏi sự hình thành của các Cơ quan đảm bảo chất lượng - Quality Assurance Agencies (QAAs) Một số quốc gia như Mỹ, Australia, Hàn Quốc, New Zealand, Hồng Kông và Ấn Độ đã xây dựng hệ thống kiểm định từ lâu và sau đó lan rộng sang Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore, Malaysia; hiện nay có 15 tổ chức đảm bảo chất lượng cấp quốc gia đang hoạt động, tổ chức được thành lập đầu tiên vào năm 1991 Những cơ quan này có các nhiệm vụ và chức năng khác nhau, nhưng đều là các cơ quan hợp pháp được công nhận để thực hiện kiểm định chất lượng chương trình đào tạo hoặc kiểm định chất lượng các trường đại học và cao đẳng trong quốc gia của mình.
Những nghiên cứu về nâng cao chất lượng đào tạo luôn gắn liền với bảo đảm chất lượng và được triển khai mạnh mẽ, với sự hình thành các lý thuyết về chuẩn, quản lý dựa trên chuẩn và các mô hình kiểm định chất lượng cùng công cụ phong phú; tất cả những vấn đề này thuộc hệ thống quản lý chất lượng giáo dục Ở các nước phát triển, hệ thống quản lý chất lượng giáo dục đã đi trước và coi đây là nền tảng cho sự tin cậy và tính chuẩn mực của chương trình đào tạo Ở Mỹ, để phân biệt chất lượng của các trường đại học và cao đẳng có uy tín, người ta dựa vào hệ thống kiểm định do các cơ quan kiểm định quản lý, và chất lượng cùng độ tin cậy được công nhận chính thức từ tổ chức kiểm định Mỗi cơ quan kiểm định có mức đánh giá chất lượng chương trình khác nhau, khiến các trường tại Mỹ được phân loại thành ba loại kiểm định: regional accreditation (kiểm định vùng), national accreditation (kiểm định quốc gia) và specialized accreditation (kiểm định chuyên ngành).
Ngoại trừ kiểm định chuyên ngành chỉ tập trung vào một số chương trình nhất định, hai loại kiểm định còn lại được xem là phổ biến nhất hiện nay Kiểm định của trường phản ánh xu hướng đào tạo, giá trị được công nhận và chất lượng bằng cấp do trường cấp phát.
Ở Mỹ, có 6 tổ chức kiểm định vùng và một số tổ chức kiểm định quốc gia được công nhận Đây đều là các tổ chức tư nhân độc lập, được Bộ Giáo dục Hoa Kỳ (USDE) và Hội đồng Kiểm định Giáo dục Đại học (CHEA) công nhận Để được các tổ chức kiểm định này công nhận, các trường phải trải qua sự đánh giá thường xuyên về nhiều mặt như giáo trình, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, dịch vụ hỗ trợ sinh viên Ở Australia, năm 1992 Ủy ban Đảm bảo Chất lượng Giáo dục Đại học (The Committee For Quality Assurance in Higher Education) được thành lập với nhiệm vụ tư vấn cho chính phủ về các vấn đề đảm bảo chất lượng đào tạo Ở Hong Kong có Hội đồng Kiểm định chất lượng học thuật Hong Kong (Hong Kong Council on Academic Accreditation), viết tắt là HKCAA Ở Ấn Độ có Hội đồng Đánh giá và Kiểm định chất lượng Ấn Độ (National Assessment and Accreditation Council), viết tắt là NAAC Ở Indonesia: Ủy ban Quốc gia Kiểm định chất lượng giáo dục đại học.
Indonesia (The National Accreditation Board for Higher Education). Ở Nhật Bản (Japan): có Viện Văn bằng Học thuật Quốc gia (National Institution for Academic Degrees (Governmental); viết tắt là NIAD - Hiệp hội Kiểm định chất lượng các trường đại học Nhật Bản (Japan University Accredit-ation Association (Non-governmental); viết tắt là JUAA Ở Hàn Quốc, đã có Uỷ ban Kiểm định Chất lượng Giáo dục Đại học HànQuốc (The Committee For University Accreditation) chịu sự giám sát của hội đồng giáo dục Đại học Hàn Quốc (Korean Council For University Education_KCUE). Ở Mông Cổ (Mongolia): có Hội đồng Kiểm định chất lượng giáo dục đại học Mông Cổ (National Council on Higher Education Accreditation); viết tắt là NCHEA. Ở Tân Tây Lan (New Zealand): Tổ chức Kiểm định chất lượng học thuật Tân Ở Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (People’s Republic of China): Hỗn hợp giữa các tổ chức ĐBCL do Chính phủ thành lập mang tính tập trung và bán tập trung (a combination of centralized and decentralized quality assurance bodies). Ở Philippines: có các tổ chức chính gồm: - Tổ chức Kiểm định chất lượng các trường đại học & cao đẳng Philipin (do Chính phủ thành lập) (Accrediting Agency of
Philippine higher education accreditation is led by AACCUP (the Accrediting Agency of Chartered Colleges and Universities of the Philippines), a government-chartered body, and PAASCU (Philippine Accrediting Association of Schools, Colleges and Universities), a prominent non-governmental accrediting organization In Thailand, the Office of National Educational Standards and Quality Assessment (ONESQA) oversees national education standards and quality assessment In Malaysia, the National Accreditation Board (Lembaga Akreditasi Negara, LAN) handles national accreditation of higher education institutions to ensure consistent quality across the sector.
Nhằm biến Malaysia thành trung tâm giáo dục hàng đầu khu vực và tiến tới một nền công nghiệp hiện đại trước năm 2020, từ năm 1995 nước này đã triển khai một biến đổi căn bản đối với hệ thống giáo dục thông qua sáu đạo luật then chốt: Đạo luật Giáo dục 1996; Đạo luật Hội đồng Quốc gia về Trường đại học 1996; Đạo luật Các trường đại học tư 1996; Đạo luật Các trường đại học và cao đẳng 1996; Đạo luật Hội đồng chứng nhận quốc gia 1996; và Đạo luật Hội đồng Quốc gia gây quỹ giáo dục đại học 1997 Những đạo luật này nhằm phục vụ cho cuộc cải cách giáo dục theo hướng thị trường, chấp nhận thách thức của toàn cầu hóa bằng cách đổi mới nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy, đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo và đưa chương trình giảng dạy đi vào tính quốc tế hóa Ở khu vực Đông Nam Á, một trong những biện pháp cơ bản để thúc đẩy giáo dục đại học là xây dựng mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á (ASEAN University Network – AUN), đặc biệt là hệ thống đảm bảo chất lượng của mạng lưới này (AUN-QA) Việc xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng AUN được khởi xướng từ năm 1998 bởi chủ tịch đầu tiên của Hội đồng quản trị AUN (AUN-BOT) là giáo sư, tiến sĩ Vanchai.
Mỗi trường thành viên của AUN sẽ bổ nhiệm một cán bộ cốt cán chịu trách nhiệm về chất lượng (Chief Quality Officer - CQO) để điều phối các hoạt động đảm bảo chất lượng nhằm đạt được mục tiêu chung; cán bộ này sẽ tham dự các hội thảo về đảm bảo chất lượng của AUN nhằm xây dựng tiêu chí chất lượng chung và các quy trình định chuẩn thông qua benchmarking và đoàn đánh giá nội bộ cũng như ngoài trường Trong khuôn khổ các hội thảo này, Hội thảo lần thứ III được tổ chức từ ngày 28 đến 30/3/2002 tại Yangon, Myanmar, với chủ đề “Thực hành ĐBCL: dạy cái tốt nhất, học cái tốt nhất”, tập trung chia sẻ các thực hành tốt trong giảng dạy và học tập; hội thảo đã thành công nhờ sự tích cực tham gia của các trường thành viên trong việc trao đổi kinh nghiệm và kiến thức.
Trong nhiều năm qua, giáo dục Việt Nam đã đạt được một số thành tựu nhưng vẫn tồn tại nhiều nghịch lý và tiêu cực, chưa theo kịp trình độ phát triển của giáo dục thế giới Nhận định “Chúng ta không thiếu việc làm mà thiếu cử nhân làm được việc” cho thấy đào tạo học để có nghề và ra làm được nghề còn nhiều bất cập, tồn tại từ lâu và chưa được khắc phục Chính vì thế mỗi năm Việt Nam có khoảng 223.000 sinh viên tốt nghiệp đại học hệ công lập và 22.700 sinh viên tốt nghiệp đại học hệ dân lập, nhưng tỷ lệ thất nghiệp sau tốt nghiệp lên tới 63% theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Trên cơ sở thực tiễn trong nước và kinh nghiệm của thế giới, việc coi trọng và kiên định thực thi chính sách giáo dục - đào tạo phù hợp là nhân tố quyết định tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển nhanh và bền vững, phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta Đây không chỉ là ý nghĩa quan trọng mà còn là yêu cầu cấp thiết hiện nay để nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Trong bài đăng trên báo Giáo dục và Thời đại ngày 12/3/2010, GS Phạm Vũ Luận, khi ấy là thứ trưởng thường trực Bộ Giáo dục và Đào tạo, đã khẳng định quyết tâm “chấm dứt tình trạng chất lượng đào tạo không được kiểm soát” và coi đó như lời kêu gọi đối phó với thực trạng đáng buồn hiện nay Tuy nhiên, đổi mới giáo dục sẽ chỉ thành công khi các cơ sở giáo dục thực sự thay đổi và tích cực tham gia kiểm soát chất lượng; ngược lại, nếu các cơ sở thiếu sự mặn mà với quản lý chất lượng, giáo dục nước ta sẽ khó có thể tiến bộ Mặc dù đã có nhiều công trình đề cập đến công tác quản lý và đảm bảo chất lượng đào tạo, phần lớn nghiên cứu và luận văn thạc sĩ tập trung vào quản lý chất lượng tại các trung tâm, trường cao đẳng và đại học, cho thấy cần mở rộng phạm vi tiếp cận và áp dụng quản lý chất lượng ở toàn hệ thống.
Đề án của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã được phê duyệt theo quyết định số 4138, nghiên cứu xây dựng và phát triển hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục đối với giáo dục đại học và trung cấp chuyên nghiệp giai đoạn 2011–2020, nhằm củng cố và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về kiểm định chất lượng giáo dục GDĐH – TCCN, tạo môi trường và hành lang pháp lý cho sự phát triển ổn định của hệ thống kiểm định chất lượng; xây dựng và triển khai hệ thống kiểm định chất lượng để đánh giá các cơ sở giáo dục và chương trình GDĐH – TCCN đạt tiêu chuẩn chất lượng, góp phần đảm bảo và nâng cao chất lượng GDĐH – TCCN; xây dựng chính sách để phát triển đội ngũ chuyên gia đánh giá ngoài có đủ trình độ và số lượng để triển khai các hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục đối với GDĐH – TCCN; tăng cường hợp tác quốc tế với các nước khu vực và trên thế giới trong lĩnh vực kiểm định chất lượng giáo dục đối với GDĐH – TCCN.
Thông tư số 04/2016/TT-BGDĐT ngày 14 tháng 3 năm 2016 do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo ở các trình độ của giáo dục đại học, trong đó quy định tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cho các chương trình đào tạo ở trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ [22].
Bài viết "Đảm bảo chất lượng trong giáo dục đại học" đăng trên Tạp chí Khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng (số 4, 2010) của Nguyễn Quang Giao nhấn mạnh vai trò quan trọng của chất lượng đào tạo và đề xuất các giải pháp đảm bảo chất lượng ở các cấp giáo dục từ nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng đến đại học Theo đó, chất lượng đào tạo là yếu tố quyết định nguồn nhân lực đáp ứng ngày càng cao đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới kinh tế - xã hội Bài viết cũng nhấn mạnh sự cần thiết của việc thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý chất lượng để đáp ứng quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong khuôn khổ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đề tài "Đảm bảo chất lượng giáo dục tại Đại học tại Việt Nam với nhu cầu hội nhập" do tác giả Vũ Thị Phương Anh, Giám đốc Trung tâm Khảo thí và Đánh giá chất lượng đào tạo ĐHQG – HCM thực hiện trình bày quan điểm và tổng quan về chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam Bài viết phân tích các giai đoạn phát triển, hệ thống và cơ chế đảm bảo chất lượng hiện nay, đồng thời đánh giá các thành quả đạt được và chỉ rõ các vấn đề cần giải quyết nhằm tiếp tục đẩy mạnh triển khai đảm bảo chất lượng giáo dục đại học tại Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế [1].
Một số khái niệm cơ bản
Chất lượng là một yếu tố quan trọng và là một phạm trù phức tạp mà con người luôn hướng tới trong mọi hoạt động của mình Vì thế, chất lượng thường trở thành chủ đề của các cuộc tranh cãi gay gắt và mang tính thời sự ở mọi lĩnh vực.
Vậy chất lượng là gì?
Harvey và Green (1993) đã đưa ra 5 quan niệm về chất lượng Cụ thể là: (1) chất lượng là sự xuất sắc, (2) chất lượng là sự hoàn hảo, (3) chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu, (4) chất lượng là sự đáng giá đồng tiền, và (5) chất lượng là giá trị chuyển đổi [31] Trong số những quan nhiệm về chất lượng thì khái niệm chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu được chấp nhận rộng rãi nhất.
Theo Từ điển tiếng Việt 2002, Nhà xuất bản Đà Nẵng “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc” [13].
Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản năm 1987, chất lượng được hiểu là cái làm nên phẩm chất và giá trị của sự vật; đó cũng là yếu tố tạo nên bản chất của sự vật, khiến sự vật này khác biệt với sự vật kia Nói cách khác, chất lượng quy định phẩm chất, giá trị và bản chất của đối tượng, đồng thời giúp nhận diện và phân biệt các sự vật với nhau.
Hiện nay có trên 150 quốc gia tham gia ISO, một tổ chức được thành lập vào năm 1947 Việt Nam gia nhập ISO vào năm 1977 và là thành viên thứ 77 của tổ chức này Theo định nghĩa chất lượng do Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO) công bố, chất lượng là tập hợp các đặc tính của một đối tượng tạo cho đối tượng đó khả năng đáp ứng các nhu cầu đã nêu ra hoặc các nhu cầu tiềm ẩn [29].
Từ các định nghĩa trên có thể thấy chất lượng là sự đáp ứng các yêu cầu.
Sự đáp ứng này thể hiện trên các đặc trưng sau:
Chất lượng dịch vụ sản phẩm
Yêu cầu của thị trường và xã hội
Như vậy, chất lượng luôn ở trạng thái động, chỉ mang tính tương đối và phù hợp với từng thời kỳ cụ thể.
Ngay nay, chất lượng không chỉ là chất lượng sản phẩm mà còn là chất lượng của từng công việc, của các quy trình và của cả hệ thống được đảm bảo và cải tiến liên tục suốt vòng đời của sản phẩm, nhằm tối ưu hiệu suất và nâng cao sự hài lòng của khách hàng Quản trị chất lượng toàn diện nhấn mạnh sự đồng bộ giữa chất lượng công việc, chất lượng quy trình và chất lượng hệ thống từ khâu đầu vào đến khi sản phẩm đến tay người dùng, để đáp ứng các yêu cầu thị trường và các tiêu chuẩn chất lượng.
Trong nền kinh tế thị trường, chất lượng sản phẩm được xác định bởi người tiêu dùng thông qua nhu cầu và mong đợi của họ, từ đó chuyển thành các yêu cầu cụ thể đối với sản phẩm Do đó, chất lượng liên tục biến động theo sự thay đổi của nhu cầu và mong đợi Bên cạnh đó, chất lượng còn phải đáp ứng lợi ích của các bên liên quan, bao gồm xã hội, các tổ chức và cá nhân.
Chất lượng đã trở thành yếu tố cạnh tranh nổi bật nhất của mọi sản phẩm và dịch vụ, quyết định sự thịnh vượng và phát triển bền vững của các tổ chức nói chung và giáo dục nói riêng Việc đảm bảo chất lượng không chỉ nâng cao uy tín và sự hài lòng của khách hàng mà còn tối ưu hóa quy trình vận hành, tăng hiệu suất và tạo lợi thế cạnh tranh lâu dài cho các cơ sở giáo dục.
Các quan điểm về chất lượng có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng đều chung một ý tưởng: chất lượng là sự thỏa mãn các yêu cầu hoặc tiêu chí được đặt ra Trong giáo dục, chất lượng được đánh giá dựa trên mức độ đạt được các mục tiêu đã đề ra của chương trình đào tạo.
1.2.2 Khái niệm đào tạo Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định Về cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong Nhà trường gắn với giáo dục đạo đức nhân cách (Theo Wikipedia)
Đào tạo là một hoạt động có mục đích và được tổ chức nhằm hình thành và phát triển hệ thống tri thức, kỹ năng và thái độ, từ đó hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân và tạo tiền đề để họ vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả.
Khái niệm đào tạo thường được hiểu hẹp hơn khái niệm giáo dục, vì nó tập trung vào những chương trình và hoạt động nhằm trang bị kỹ năng cụ thể cho một giai đoạn nhất định trong đời người Đào tạo thường gắn với giai đoạn sau của quá trình phát triển khi một người đã đạt một độ tuổi và trình độ nhất định, và mục tiêu là áp dụng kiến thức vào thực tiễn hoặc nghề nghiệp Trong khi giáo dục có phạm vi rộng, nhằm hình thành kiến thức nền tảng, giá trị và kỹ năng chung cho sự phát triển toàn diện, đào tạo chú trọng kết quả thực thi và tăng cường năng lực chuyên môn Do đó, hai khái niệm này bổ sung cho nhau nhưng mang trọng tâm khác nhau về phạm vi và mục tiêu.
Có nhiều dạng đào tạo phù hợp với mục tiêu và đối tượng người học, từ đào tạo cơ bản giúp nắm vững kiến thức nền tảng đến đào tạo chuyên sâu nâng cao kỹ năng và trình độ chuyên môn Đào tạo nghề và đào tạo chuyên môn là hai hướng đi bổ sung nhau, trong khi đào tạo lại giúp cập nhật, chuyển đổi hoặc tái cấu hình kỹ năng để thích ứng với thị trường lao động Với xu hướng học từ xa và học trực tuyến ngày càng phổ biến, đào tạo từ xa mang lại sự linh hoạt về thời gian và địa điểm, còn tự đào tạo cho phép người học tự chủ và xây dựng lộ trình học tập cá nhân Việc chọn đúng dạng đào tạo sẽ tối ưu hóa lộ trình phát triển nghề nghiệp và mang lại hiệu quả học tập cao hơn.
Đào tạo là cách thức truyền dạy kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng cho người khác để họ chuyển đổi lên một cấp độ cao hơn với nhiều hiểu biết hơn Quá trình này diễn ra tại các cơ sở đào tạo như trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, trường dạy nghề và trung học phổ thông theo một kế hoạch, nội dung, chương trình và thời gian quy định cho từng ngành nghề cụ thể Nhờ đó, tính chuyên môn được thể hiện rõ qua việc giúp người học đạt được một trình độ nhất định, đáp ứng yêu cầu của hoạt động lao động nghề nghiệp sau này.
1.2.3 Khái niệm chất lượng đào tạo
Chất lượng đào tạo được xác định bởi mức độ phù hợp với mục tiêu đã đề ra, thông qua đánh giá của các bên liên quan gồm người học, người dạy, người quản lý và người sử dụng sản phẩm đào tạo Việc đánh giá đa chiều này đảm bảo chương trình đào tạo đáp ứng yêu cầu về nội dung, phương pháp giảng dạy và hiệu quả áp dụng thực tiễn Thông tin phản hồi từ học viên, giảng viên, quản trị viên và người dùng cuối là cơ sở để cải tiến chất lượng đào tạo và tăng tính phù hợp với mục tiêu đào tạo.
Trong lĩnh vực đào tạo, chất lượng đào tạo được coi là sản phẩm là con người được hình thành, thể hiện qua phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hoặc năng lực hành nghề của người tốt nghiệp, phù hợp với mục tiêu đào tạo của từng ngành trong hệ thống giáo dục Đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, quan niệm về chất lượng đào tạo không chỉ gắn với các điều kiện đảm bảo từ bên trong như cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên và thư viện mà còn phải được kiểm chứng bằng quá trình sử dụng thực tiễn sản phẩm đào tạo, nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường sức lao động.
Các quan niệm về đánh giá chất lượng đào tạo
Chất lượng đào tạo luôn là vấn đề trọng yếu đối với các trường đại học và việc nâng cao chất lượng đào tạo được xem là nhiệm vụ hàng đầu của mọi cơ sở giáo dục đại học Mặc dù có tầm quan trọng lớn, chất lượng vẫn là một khái niệm khó định nghĩa, khó xác định và khó đánh giá, với mỗi người có cách hiểu khác nhau Có nhiều định nghĩa trái ngược về chất lượng và rất nhiều cuộc tranh luận về chủ đề này diễn ra trên các diễn đàn khác nhau, nguyên nhân là thiếu một khung hiểu thống nhất về bản chất của vấn đề.
Dưới đây là 6 quan điểm về đánh giá chất lượng trong giáo dục đại học.[36]
1.3.1 Chất lượng được đánh giá bằng đầu vào
Ở một số nước phương Tây, quan điểm cho rằng chất lượng đào tạo phụ thuộc vào chất lượng và/hoặc số lượng của các yếu tố đầu vào tại cơ sở đào tạo được gọi là quan điểm nguồn lực; theo quan điểm này, nguồn lực được xem là yếu tố quyết định chất lượng đào tạo.
Theo quan điểm này, chất lượng đào tạo được đảm bảo khi trường tuyển được học viên giỏi, có đội ngũ giảng viên uy tín, có phòng thí nghiệm để thực hành và được trang bị cơ sở vật chất, thiết bị hiện đại phục vụ tốt cho giảng dạy và học tập.
Đánh giá chất lượng giáo dục dựa trên đầu vào bỏ qua sự tác động của quá trình đào tạo diễn ra xuyên suốt quá trình học tập tại trường Chất lượng đầu ra khó được khẳng định chỉ từ chất lượng đầu vào, vì một trường có nguồn lực đầu vào tốt nhưng hoạt động đào tạo có thể hạn chế, hoặc một trường có nguồn lực đầu vào khiêm tốn nhưng lại cung cấp cho học viên một chương trình đào tạo hiệu quả Đầu vào chỉ là một yếu tố để đánh giá chất lượng; quá trình đào tạo và chất lượng đầu ra mới là những yếu tố cốt lõi của chất lượng giáo dục.
1.3.2 Chất lượng được đánh giá bằng đầu ra
Đầu ra của giáo dục chính là kết quả, là sản phẩm của quá trình học tập được thể hiện qua năng lực, trình độ và chuyên môn của người học, đủ để họ có thể áp dụng vào công việc thực tế Đây là thước đo rõ ràng về khả năng chuyển giao kiến thức và kỹ năng đã học thành hành động cụ thể, giúp người học đáp ứng yêu cầu công việc và tạo giá trị trong môi trường làm việc.
Kết quả đầu ra của chương trình đào tạo được thể hiện qua các phẩm chất, giá trị, nhân cách và năng lực làm việc của người tốt nghiệp, phù hợp với mục tiêu đào tạo của ngành và đáp ứng nhu cầu của xã hội Kết quả này không chỉ phụ thuộc vào đầu vào mà còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác như quá trình giảng dạy của giảng viên, sự tham gia và nỗ lực học tập của học viên, nội dung giáo trình, phương pháp truyền đạt kiến thức, điều kiện học tập, cơ sở vật chất và hệ thống phòng thí nghiệm phục vụ cho quá trình dạy và học Vì vậy, để nâng cao chất lượng đầu ra, cần đồng bộ từ thiết kế chương trình, chất lượng đội ngũ giảng viên đến môi trường học tập và trang thiết bị thực hành hiện đại.
Một quan điểm khác về chất lượng giáo dục đại học cho rằng đầu ra của quá trình đào tạo có vai trò lớn hơn đầu vào Đầu ra được hiểu là sản phẩm của giáo dục đại học, thể hiện qua mức độ hoàn thành công việc của học viên tốt nghiệp và khả năng của trường trong việc cung cấp các hoạt động đào tạo cho sinh viên.
Có 2 vấn đề cơ bản có liên quan đến cách tiếp cận chất lượng giáo dục đại học này:
Thứ nhất, mối liên hệ giữa “đầu vào” và “đầu ra” trong giáo dục thường bị xem nhẹ Trong thực tế, mối quan hệ này có thật dù không phải là quan hệ nhân quả Việc một trường có khả năng nhận sinh viên xuất sắc không đồng nghĩa với việc sinh viên của trường sẽ tốt nghiệp loại xuất sắc, cho thấy sự khác biệt giữa chất lượng đầu vào và kết quả đầu ra của quá trình học tập.
Hai là, cách đánh giá “đầu ra” của các trường rất khác nhau.
1.3.3 Chất lượng được đánh giá bằng “ giá trị gia tăng”
Quan điểm này cho rằng một trường học có tác động tích cực tới học viên khi nó tạo ra sự khác biệt trong sự phát triển trí tuệ và tay nghề cá nhân của học viên Điều này đồng nghĩa với việc môi trường giáo dục phải kích thích tư duy phản biện, khuyến khích sáng tạo và rèn luyện các kỹ năng thực hành để mỗi học viên phát triển toàn diện Sự tiến bộ về trí tuệ và kỹ năng cá nhân được xem là thước đo chính của chất lượng giáo dục và sự trưởng thành của học sinh Do đó, một trường học hiệu quả sẽ tập trung vào các chương trình giảng dạy được thiết kế cá nhân hóa và phương pháp giảng dạy tích cực nhằm tối đa hóa tiềm năng của từng học viên.
“ Giá trị gia tăng” được xác định bằng giá trị của “đầu ra”, trừ đi giá trị của
Quan điểm về chất lượng đào tạo dựa trên sự so sánh giữa đầu vào và đầu ra do trường mang lại cho học viên được đo bằng giá trị gia tăng và xem như thước đo chất lượng của trường Tuy nhiên, quan điểm này chỉ mang tính lý thuyết, bởi thực tế khó thiết kế một thước đo nhất quán để đánh giá đầu vào và đầu ra, từ đó tính được hiệu số và đánh giá chất lượng trường học Thêm vào đó, hệ thống giáo dục đại học có mức độ đa dạng cao nên không thể áp dụng một bộ công cụ đo lường duy nhất cho tất cả các trường Ngay cả khi có thể thiết kế được một bộ công cụ như vậy, giá trị gia tăng được xác định sẽ không cung cấp thông tin về sự cải tiến quá trình đào tạo trong từng trường.
1.3.4 Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị học thuật” Đây là quan điểm truyền thống của nhiều trường phương Tây, chủ yếu dựa vào sự đánh giá của chuyên gia về năng lực học thuật của đội ngũ cán bộ giảng dạy trong từng trường Điều này có nghĩa là trường nào có đội ngũ giảng viên giỏi, số lượng giáo sư, tiến sĩ đông, có uy tín khoa học cao thì được xem là rường có chất lượng đào tạo cao. Điểm yếu của cách tiếp cận này là ở chỗ, cho dù năng lực học thuật có thể được đánh giá một cách khách quan, thì cũng khó có thể đánh giá những cuộc cạnh tranh của các trường đại học để nhận tài trợ cho các công trình nghiên cứu trong môi trường bị chính trị hoá Vấn đề là liệu có đánh giá được năng lực chất xám và tay nghề của đội ngũ giáo viên khi xu hướng chuyên ngành hoá ngày càng sâu, phương pháp luận ngày càng rộng.
1.3.5 Chất lượng được đánh giá bằng “văn hoá tổ chức”
Quan điểm này dựa trên nguyên tắc các trường phải xây dựng và duy trì một văn hóa tổ chức riêng biệt, nhằm hỗ trợ quá trình cải tiến chất lượng đào tạo Trường được xem là có chất lượng khi nó thể hiện nét đặc trưng riêng và có thể không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo thông qua các phương pháp và thói quen tổ chức phù hợp Do đó chất lượng được xem xét không chỉ ở kết quả mà còn ở bản chất của tổ chức và cách thức tổ chức ấy tạo ra và duy trì văn hóa, học hỏi, đổi mới liên tục Quan điểm này bao hàm giả thiết về bản chất của chất lượng và bản chất của tổ chức như hai yếu tố đồng hành, trong đó văn hóa tổ chức là động lực để cải tiến chất lượng giáo dục và đạt được chuẩn đào tạo.
Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo
Chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học được hình thành từ toàn bộ quá trình đào tạo và chịu tác động của nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan, đồng thời bị ảnh hưởng bởi môi trường nội bộ và môi trường bên ngoài; các yếu tố này liên kết với nhau thành một hệ thống có mối quan hệ chặt chẽ, tác động tổng hợp lên chất lượng đào tạo của cơ sở giáo dục đại học.
1.4.1 Các yếu tố môi trường bên ngoài
1.4.1.1 Thị trường lao động Đây là yếu tố quan trọng nhất, xuất phát điểm, tạo lực hút định hướng cho sự phát triển chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học Sản phẩm của đào tạo sau đại học chỉ có thể được tồn tại khi nó đáp ứng được nhu cầu của thị trường Xu hướng phát triển và hoàn thiện chất lượng đào tạo phụ thuộc chủ yếu vào đặc điểm và xu hướng vận động của nhu cầu thị trường lao động Do vậy, sản phẩm của đào tạo sau đại học phải là những người với đầy đủ những kiến thức, kỹ năng chuyên môn ở cấp độ cao hơn về một ngành nghề cụ thể so với các lao động có trình độ đại học Nhưng nếu người học sau khi học xong không tìm được việc làm (đối với sinh viên tiếp tục học lên bậc cao học) hoặc mức thu nhập cũng như cơ hội trong công việc không đượccải thiện thì đó chính là dấu hiệu cho thấy sản phẩm của cơ sở giáo dục đại học không phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động Nói cách khác, chất lượng đào tạo của cơ sở giáo dục đại học nàychưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội.
Nhu cầu thị trường lao động là căn cứ then chốt để các cơ sở giáo dục đại học xác định mục tiêu và nội dung chương trình đào tạo Khi nhu cầu ngày càng khắt khe, các doanh nghiệp và đơn vị sử dụng lao động yêu cầu ở người lao động không chỉ kiến thức chuyên môn mà còn kiến thức xã hội, kỹ năng thực hành, thái độ làm việc và khả năng nghiên cứu Vì vậy, các cơ sở giáo dục đại học phải nhận diện và bắt kịp các nhu cầu này để điều chỉnh mục tiêu, nội dung và phương pháp đào tạo, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo và đảm bảo sản phẩm đào tạo phù hợp với nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp và xã hội.
Nguồn cung lao động ngày càng mở rộng về quy mô và chất lượng, đẩy cuộc cạnh tranh giữa các cơ sở giáo dục đại học lên mức gay gắt Nếu các trường không nhận thức đúng đắn và nâng cao chất lượng đào tạo thì chắc chắn sẽ bị đào thải khỏi thị trường Vì vậy, việc xác định đúng nhu cầu, cấu trúc, đặc điểm và xu hướng vận động của thị trường lao động là nền tảng đầu tiên và quan trọng nhất để định hướng phát triển chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học.
1.4.1.2 Tình hình phát triển của nền kinh tế
Sự phát triển của nền kinh tế tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội và đặc biệt ảnh hưởng đến lĩnh vực đào tạo, từ đó định hình hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học Khi kinh tế phát triển, Nhà nước càng quan tâm và tăng cường đầu tư cho giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao nguồn lực và chất lượng nguồn nhân lực cho xã hội Ý thức của người học được nâng lên tương ứng với sự phát triển kinh tế, dẫn đến những đòi hỏi khắt khe về chất lượng giáo dục đại học và sự đa dạng trong lựa chọn trường để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng Bên cạnh đó, nhu cầu của các đơn vị sử dụng lao động về số lượng và chất lượng lao động ngày càng cao, làm tăng cạnh tranh và bão hòa thị trường, buộc các cơ sở giáo dục đại học phải tìm lời giải cho bài toán nâng cao chất lượng đào tạo Vì vậy, mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo trở thành yếu tố cốt lõi để đáp ứng nhu cầu xã hội ngày càng đòi hỏi. -**Support Pollinations.AI:** -🌸 **Ad** 🌸Powered by Pollinations.AI free text APIs [Support our mission](https://pollinations.ai/redirect/kofi) to keep AI accessible for everyone.
Xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập của hệ thống giáo dục đại học vào nền kinh tế thế giới mở ra nhiều cơ hội cho các trường đại học mở rộng quan hệ hợp tác với các cơ sở giáo dục chất lượng cao trên toàn cầu, đồng thời thu nhận kinh nghiệm quản trị đào tạo và nâng cao chất lượng chương trình giảng dạy Sự phát triển nhanh chóng của tiến bộ khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, đã làm thay đổi cách tư duy và đòi hỏi các cơ sở giáo dục đại học phải thích ứng nhanh chóng để đổi mới phương pháp giảng dạy và cập nhật chương trình đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu của một nền kinh tế toàn cầu.
Xu hướng hội nhập quốc tế tạo điều kiện cho các trường cử giảng viên và cán bộ đi học nâng cao trình độ, từ đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của cơ sở giáo dục đại học Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế cũng kéo theo những mặt trái trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, nổi bật là sự thương mại hóa giáo dục Nếu không nhận thức và kịp thời giải quyết các vấn đề này, chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
1.4.1.3 Sự phát triển của khoa học kỹ thuật - công nghệ
Phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ là động lực chính giúp các cơ sở giáo dục đại học nâng cao hiệu quả công tác điều tra và nghiên cứu nhu cầu của thị trường lao động Nhờ được trang bị các thiết bị đo lường, dự báo và thí nghiệm hiện đại, các trường có thể thiết kế chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy phù hợp với thực tế lao động Quá trình này góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của doanh nghiệp và người học, đồng thời nâng cao vị thế cạnh tranh của giáo dục đại học trên thị trường lao động.
Khoa học quản lý đang phát triển và hình thành các phương pháp quản trị tiên tiến, hiện đại giúp nắm bắt nhanh chóng và chính xác hơn nhu cầu của khách hàng, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm đào tạo tại các cơ sở giáo dục đại học và tăng mức thỏa mãn của khách hàng đối với dịch vụ giáo dục.
1.4.1.4 Các cơ chế, chính sách, chế độ của nhà nước trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo đại học, sau đại học
Mọi cơ sở giáo dục đại học đều vận hành trong một bối cảnh nhất định, trong đó môi trường pháp lý và các cơ chế, chính sách của Nhà nước tác động trực tiếp và lớn đến quá trình hình thành và nâng cao chất lượng sản phẩm giáo dục Sự phù hợp giữa khung pháp lý và thực tiễn giảng dạy là yếu tố then chốt giúp đảm bảo chất lượng và hiệu quả của các chương trình đào tạo, đồng thời thúc đẩy sự phát triển bền vững của hệ thống giáo dục.
Cơ chế, chính sách và chế độ của Nhà nước đối với giáo dục, đặc biệt là đào tạo đại học và sau đại học, có tác động trực tiếp đến chất lượng đào tạo Trong thời gian vừa qua, lĩnh vực giáo dục - đào tạo đã nhận được sự quan tâm đặc biệt từ Đảng và Nhà nước, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo của toàn ngành cũng như của các cơ sở giáo dục đại học nói riêng, và điều này được thể hiện thông qua một số nội dung cụ thể.
Các cơ chế, chính sách của Nhà nước tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các cơ sở giáo dục đại học hoạt động.
Các cơ chế và chính sách của Nhà nước tạo ra sức ép buộc các cơ sở giáo dục đại học, bất kể là công lập hay ngoài công lập, phải nâng cao chất lượng đào tạo Trong bối cảnh xã hội hóa giáo dục diễn ra gần đây, nhiều trường đại học đã mở và mở rộng đào tạo sau đại học nhằm nâng cao uy tín và nguồn lực Để tồn tại và phát triển giữa bối cảnh cạnh tranh, các cơ sở giáo dục đại học trước tiên và quan trọng nhất là bảo đảm chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu của người học và thị trường lao động.
Những cơ chế và chính sách của Nhà nước được thiết kế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở giáo dục đại học trong nước tham gia trao đổi, hợp tác và học hỏi kinh nghiệm với các trường ở khu vực và trên toàn thế giới trong lĩnh vực đào tạo sau đại học Các hoạt động cụ thể được khuyến khích gồm trao đổi chương trình đào tạo, trao đổi giảng viên và trao đổi trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học, nhằm nâng cao chất lượng và quy mô đào tạo sau đại học Việc tham gia với các đối tác quốc tế giúp sinh viên, giảng viên và cán bộ quản lý tiếp cận chuẩn mực giáo dục tiên tiến, công nghệ mới và các mô hình giáo dục hiện đại, đồng thời tăng cường năng lực cạnh tranh của hệ thống giáo dục Việt Nam trên trường quốc tế.
1.4.2 Các yếu tố bên trong các trường đại học
1.4.2.1 Chất lượng đầu vào (chất lượng tuyển sinh)
Chất lượng đào tạo chịu sự tác động của chất lượng người học; cơ sở đào tạo có lợi thế khi tuyển được học viên có lực học ở các cấp trước cao và đã tích lũy nhiều môn học liên quan đến ngành nghề, vì điều này giúp họ nắm bắt kiến thức nền tảng nhanh và hòa nhập tốt hơn với chương trình đào tạo Nhờ sự chuẩn bị trước này, quá trình học tập trở nên hiệu quả hơn, giảng viên có thể triển khai nội dung chuyên sâu và sinh viên dễ đạt kết quả cao hơn.
1.4.2.2 Lực lượng lao động trong các trường đại học
Con người là yếu tố trực tiếp tạo ra và quyết định chất lượng dịch vụ giáo dục, đặc biệt trong các cơ sở giáo dục đại học, nơi đội ngũ giảng viên và cán bộ, viên chức đóng vai trò quyết định chất lượng đào tạo Chất lượng đào tạo được hình thành trên mọi khâu của quá trình đào tạo và được đảm bảo bởi mọi mặt của quá trình này, ở đó sự tham gia của đội ngũ giảng viên và cán bộ nhân viên là yếu tố then chốt Vì vậy, chất lượng đào tạo phụ thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn, tay nghề, kinh nghiệm, ý thức trách nhiệm và tinh thần hợp tác của toàn bộ đội ngũ; năng lực và tinh thần làm việc của họ, cùng với các chính sách nhân sự tại mỗi cơ sở giáo dục đại học, có tác động sâu sắc đến chất lượng đầu ra của trường Chất lượng không chỉ thỏa mãn nhu cầu khách hàng bên ngoài mà còn phải đáp ứng nhu cầu của khách hàng bên trong, do đó việc hình thành và phát triển nguồn nhân lực phù hợp với mục tiêu chất lượng là nội dung cốt lõi của quản lý chất lượng trong giáo dục đại học hiện nay.
1.4.2.3 Trình độ tổ chức quản lý của cơ sở giáo dục đại học
Phân tích các yếu tố tác động đến chất lượng đào tạo thạc sĩ
Dựa trên quan điểm đã phân tích và lựa chọn các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo ở trên, đề tài xác định rõ các tiêu chí cơ bản của các yếu tố nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo trình độ thạc sĩ Các tiêu chí này bao gồm sự phù hợp giữa chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra và nhu cầu thị trường lao động; chất lượng đội ngũ giảng viên và hoạt động nghiên cứu; tính đổi mới và tính ứng dụng của phương pháp giảng dạy; hệ thống đánh giá và cấp chứng chỉ phản ánh đúng năng lực học tập; cơ sở vật chất, hạ tầng và công nghệ hỗ trợ cho đào tạo và nghiên cứu; sự hỗ trợ và tham gia của người học; quản trị chất lượng và cơ chế cải tiến liên tục; cùng với sự hợp tác quốc tế để nâng cao chuẩn chất lượng và khả năng hội nhập của chương trình thạc sĩ Việc áp dụng các tiêu chí này giúp đảm bảo chương trình thạc sĩ đạt chuẩn chất lượng, nâng cao hiệu quả đào tạo và tạo nền tảng cho sinh viên phát triển kiến thức, kỹ năng và nghiên cứu độc lập.
1.5.1 Chất lượng học viên (đầu vào)
- Học viên có hiểu biết, đam mê về ngành học trước khi vào học.
- Học viên có định hướng về nghề nghiệp rõ ràng sau khi học xong.
- Kết quả học tập ở bậc đại học, mức độ tiếp thu kiến thức và thái độ học tập.
- Học viên được tuyển chọn công bằng, khách quan.
1.5.2 Chất lượng đội ngũ giảng viên
- Đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu về số lượng, có trình độ chuyên môn, học hàm học vị, nghiệp vụ phù hợp với chuyên ngành giảng dạy.
Về chất lượng giảng dạy
- Định kỳ họp chuyên môn với Khoa và lãnh đạo Nhà trường.
- Chú trọng đánh giá phương pháp giảng dạy, nội dung giảng dạy, thực hiện quy định giảng dạy và thái độ giảng dạy của giảng viên
- Đánh giá về đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và tự học của người học.
- Được giảng dạy theo đúng chuyên ngành được đào tạo.
- Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ.
- Được tham gia các hội đồng đánh giá đề tài.
- Được tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học.
- Được thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học tại các cơ sở giáo dục khác sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tiết giảng đối với Trường.
- Được bảo vệ nhân phẩm, danh dự.
- Được hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật.
1.5.3 Chất lượng đội ngũ quản lý
- Trình độ, số lượng đội ngũ quản lý đáp ứng tiêu chuẩn theo điều lệ của trường đại học.
- Được phân công nhiệm vụ và quy định quyền hạn, trách nhiệm rõ ràng.
- Xác định được mục tiêu, sứ mạng, tầm nhìn chiến lược cho Nhà trường.
- Xây dựng được kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn cho từng hoạt động.
- Có giải pháp, biện pháp tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo đảm bảo chất lượng.
- Định kỳ tổng kết, đánh giá để nâng cao hiệu quả quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý.
1.5.4 Chất lượng đội ngũ chuyên viên phục vụ đào tạo
- Đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu theo quy định.
- Có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ trong mảng được phân công phụ trách.
- Có khả năng làm việc độc lập, giải quyết tốt các vấn đề liên quan trong công tác phục vụ đào tạo
- Chủ động thực hiện công việc chuyên nghiệp như: lập kế hoạch, xây dựng quy trình, tổ chức hoạt động…
- Có phẩm chất đạo đức.
1.5.5 Chất lượng chương trình đào tạo
Theo Khoản 4, Điều 39, Mục 4 của Luật Giáo dục đại học năm 2005 về mục tiêu đào tạo thạc sĩ, thạc sĩ được xem là người nắm vững lý thuyết và có trình độ cao về thực hành; đồng thời có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và năng lực phát hiện, nhận diện và giải quyết các vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo.
Bên cạnh đó, học viên được trang bị kiến thức chuyên sâu ở một lĩnh vực khoa học cụ thể thuộc ngành CNTT và nắm vững kỹ năng vận dụng kiến thức để nghiên cứu cũng như ứng dụng vào hoạt động thực tiễn nghề nghiệp Nhờ đó, họ có khả năng phân tích, thiết kế và triển khai các giải pháp công nghệ thông tin hiệu quả, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và đóng góp vào sự tiến bộ của ngành.
Mục tiêu chương trình đào tạo cần được định kỳ rà soát và điều chỉnh theo hướng cải tiến nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Chương trình đào tạo cần thể hiện đầy đủ tổng thể nội dung giáo dục và phân bổ thời lượng cho từng nội dung một cách hợp lý để đáp ứng mục tiêu của khóa học Việc sắp xếp nội dung theo trình tự logic, kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, giúp người học nắm bắt kiến thức và vận dụng vào thực tế Sự cân đối giữa nội dung và thời lượng còn tối ưu hóa quá trình học tập, đánh giá và kết quả đạt được của khóa học.
- Nội dung CTĐT phải phù hợp mục tiêu đào tạo, đảm bảo tính hiện đại và hội nhập quốc tế, phù hợp với yêu cầu phát triển của ngành, của xã hội Đồng thời phải kế thừa kiến thức, kinh nghiệm của người đi trước và đảm bảo khả năng liên thông với chương trình đào tạo ở bậc đại học Do đặc thù ngành KHMT thuộc khối kỹ thuật nên cần phải tăng cường thời lượng thực hành.
- Xác định được danh mục các học phần, thời lượng cho từng học phần Mô tả được nội dung và chuẩn đầu ra của học phần.
- CTĐT thể hiện được yêu cầu tối thiểu về điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, tài chính khi triển khai nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo.
- Thể hiện được phương pháp đánh giá kết quả học tập.
Chương trình đào tạo cần được xây dựng và đánh giá bởi các chuyên gia phát triển CTĐT, cán bộ quản lý giáo dục, giảng viên và đại diện của các cơ quan, đơn vị sử dụng nguồn nhân lực có kinh nghiệm trong cùng lĩnh vực về xây dựng CTĐT.
- Được cập nhật và điều chỉnh trên cơ sở nghiên cứu đánh giá việc thực hiện
1.5.6 Chất lượng phương pháp giảng dạy
Phương pháp giảng dạy phù hợp là các chiến lược được thiết kế để thích nghi với nội dung đào tạo, tập trung vào phát triển năng lực tư duy và khả năng tự học, tự nghiên cứu của người học, đồng thời nâng cao khả năng vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề thực tiễn trong lĩnh vực nghề nghiệp Những phương pháp này khuyến khích người học tham gia tích cực, liên kết giữa lý thuyết và thực hành và phát triển kỹ năng tư duy phản biện, sáng tạo cũng như quản lý quá trình học tập Việc chú trọng thực tiễn giúp người học thích nghi nhanh với yêu cầu công việc, tự tin ứng dụng kiến thức vào các tình huống thực tế và liên tục nâng cao trình độ chuyên môn.
Tiêu chí để đánh giá chất lượng phương pháp giảng dạy gồm:
- Đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát triển năng lực người học.
- Sử dụng đa dạng nhiều phương pháp giảng dạy nhằm đem lại hứng thú cho người học.
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy.
- Định kỳ tổ chức họp chuyên môn tại Khoa nhằm đánh giá và phổ biến kinh nghiệm đổi mới phương pháp giảng dạy
1.5.7 Chất lượng quản lý đào tạo
Về kế hoạch đào tạo
Việc quản lý chất lượng kế hoạch đào tạo được đánh giá theo các tiêu chí:
- Có thực hiện đầy đủ kế hoạch đào tạo.
- Có thực hiện đầy đủ đề cương chi tiết từng môn học.
- Giám sát chặt tiến độ học tập của học viên nhằm đôn đốc, nhắc nhở học viên hoàn thành kế hoạch học tập đúng tiến độ.
- Thông báo định kỳ các mốc thời gian đăng ký bảo vệ luận văn trong năm để học viên chủ động sắp xếp đăng ký bảo vệ.
- Định kỳ rà soát, liên tục cải tiến chất lượng kế hoạch đào tạo
- Thực hiện đánh giá tiến độ đào tạo, điều chỉnh và có giải pháp thực hiện kế hoạch đào tạo có hiệu quả.
Về quản lý lớp học
Việc quản lý lớp học được đánh giá theo các tiêu chí sau:
- Công tác tư vấn hỗ trợ các vấn đề liên quan đến quá trình học tập qua giảng viên phụ trách cố vấn học tập.
- Học viên được phổ biến đầy đủ các quy định của Nhà trường liên quan đến đào tạo trình độ thạc sĩ.
- Học viên được tạo điều kiện học tập và nghiên cứu khoa học liên quan đến ngành học.
Đối với học viên, quyền lợi được đảm bảo suốt quá trình học tập, bao gồm việc cung cấp tài liệu điện tử dễ tiếp cận, tiếp nhận và giải quyết nhanh mọi đơn từ và thắc mắc, đồng thời bảo đảm mạng internet ổn định phục vụ cho quá trình học tập và nghiên cứu.
1.5.8 Chất lượng cơ sở vật chất
- Đảm bảo đầy đủ trang thiết bị, dụng cụ và vật tư, máy móc phục vụ cho đào tạo.
- Đảm bảo phòng học đủ rộng và thoáng mát đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học tập.
- Hệ thống các phòng chức năng có đủ số lượng, diện tích và sử dụng có hiệu quả.
- Cung cấp đầy đủ, giáo trình, tài liệu tham khảo, tài liệu giảng dạy và học tập.
- Đảm bảo môi trường sư phạm văn minh, an toàn.
- Có biện pháp cải tiến, nâng cao chất lượng CSVC đảm bảo chất lượng đào tạo.
1.5.9 Chất lượng nghiên cứu khoa học Được thể hiện qua những tiêu chí sau:
- Đăng ký tham gia tuyển chọn và thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giao.
- Sử dụng có hiệu quả kinh phí đầu tư phát triển khoa học công nghệ.
- Bồi dưỡng nhân tài về khoa học công nghệ.
- Kết hợp đào tạo với NCKH và sản xuất, dịch vụ KHCN theo quy định của Luật KHCN, Luật Giáo dục.
- Tăng cường các hoạt động sinh hoạt học thuật nhằm phát triển KHCN.
- Có nhiều đề tài được công bố và đưa vào ứng dụng trong thực tiễn.
Chất lượng đầu ra của chương trình đào tạo được đánh giá dựa trên khả năng học viên sau khi tốt nghiệp có đầy đủ kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và thái độ lao động phù hợp với nhu cầu thực tiễn của ngành nghề mà học viên theo đuổi Để đảm bảo tính khách quan và khả năng cải tiến liên tục, chất lượng đầu ra được đo lường qua các tiêu chí như mức độ nắm vững kiến thức cơ bản và nâng cao, năng lực áp dụng kiến thức và kỹ năng vào công việc thực tế, và thái độ nghề nghiệp gồm tinh thần trách nhiệm, kỷ luật và làm việc nhóm Bên cạnh đó, các tiêu chí bổ sung như khả năng giải quyết vấn đề, giao tiếp hiệu quả, tự học và thích nghi với môi trường làm việc cũng được xem xét để phản ánh đúng chuẩn đầu ra của chương trình.
- Bằng cấp có uy tín trong thị trường sử dụng nguồn nhân lực.
- Số lượng học viên đăng ký mới chủ yếu do sự giới thiệu từ học viên cũ.
- Tiếp tục học tập và nghiên cứu ở bậc cao hơn ở trình độ tiến sĩ tại Trường sau khi tốt nghiệp.
Chương này làm rõ cơ sở lý luận về chất lượng đào tạo và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng ấy; trong đó, yếu tố môi trường bên ngoài gồm tình hình thị trường lao động, sự phát triển của nền kinh tế, tiến bộ khoa học - kỹ thuật, các cơ chế chính sách và chế độ của Nhà nước đối với giáo dục và đào tạo đại học đóng vai trò định hướng và tác động đến chất lượng đào tạo Bên cạnh đó, các yếu tố bên trong được xem xét như chất lượng đầu vào, lực lượng lao động bên trong trường, trình độ tổ chức quản lý, phương pháp giảng dạy và năng lực của giảng viên (PPGD), hệ thống giáo trình và tài liệu tham khảo, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy và học, cùng hoạt động nghiên cứu khoa học NCKH nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.
Dựa trên cơ sở lý luận được trình bày ở Chương 1, nghiên cứu tiếp tục phân tích các yếu tố nội tại của Trường Đại học CNTT ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo thạc sĩ ngành KHMT, tập trung vào chất lượng đầu vào, đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý, chương trình đào tạo (CTĐT) và phương pháp giảng dạy của giáo viên (PPGD), công tác tổ chức và quản lý hoạt động đào tạo, cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài liệu phục vụ dạy và học, cũng như hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH); từ đó tiến hành đánh giá chất lượng đào tạo và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng thạc sĩ KHMT tại Trường Đại học CNTT.