Học tập, nghiên cứu, giảng dạy văn học không thể không tập trung vào hình tựợng. Bởi vì, khám phá hình tượng mới thấu hiểu được nội dung, ý nghĩa và cái đẹp của tác phẩm văn học. Đồng thời, hình tượng nghệ thuật không chỉ phản ánh mà còn biểu hiện tiếng nói của tình cảm cảm xúc con người, là sự bộc lộ, giãi bày và gởi gắm tâm tư. Ở đó còn thể hiện cách nhìn, cách suy nghĩ của người nghệ sĩ.
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
I.1 Văn học là một hình thái ý thức xã hội thẩm mỹ đặc thù Là hình thái ý
thức xã hội, văn học gắn liền với cuộc sống Với tính chất thẩm mỹ đặc thù, vănhọc nhận thức, phản ánh, lý giải, biểu hiện cuộc sống, con người bằng hìnhtượng Hình tượng không chỉ là phương tiện phản ánh cuộc sống mà còn làphương tiện giao tiếp của nhà văn
Học tập, nghiên cứu, giảng dạy văn học không thể không tập trung vàohình tựợng Bởi vì, khám phá hình tượng mới thấu hiểu được nội dung, ý nghĩa
và cái đẹp của tác phẩm văn học Đồng thời, hình tượng nghệ thuật không chỉphản ánh mà còn biểu hiện tiếng nói của tình cảm- cảm xúc con người, là sự bộc
lộ, giãi bày và gởi gắm tâm tư Ở đó còn thể hiện cách nhìn, cách suy nghĩ củangười nghệ sĩ
I.2 Phong trào Thơ mới lãng mạn 1932-1945 là một hiện tượng văn học
vô cùng đa dạng và phong phú Thơ mới mang màu sắc của cái tôi cá nhân độc
đáo thể hiện nhu cầu giải phóng tình cảm, phát huy bản ngã và tự do cá nhân
Do vậy, cái tôi của các nhà thơ mới mang nhiều màu sắc khác nhau, muôn màu
muôn vẻ, hết sức đa dạng, phong phú và phức tạp Song, ở đâu cũng phảng phấtnỗi buồn và cô đơn, không lối thoát, không thấy tương lai, chỉ thấy trời đất tối
tăm mù mịt, “cho nên Thơ mới vừa cất tiếng chào đời đã buồn ngay trong
nỗi buồn Đây cũng chính là đề tài mà chúng tôi yêu thích và sẽ đi sâu khai thác.
I.3 Huy Cận là một tác gia lớn có nhiều đóng góp cho phong trào Thơ mới
lãng mạn 1932-1945 nói riêng, cho nền văn học ViệtNam nói chung Tác phẩmcủa Huy Cận rất đa dạng về số lượng và đề tài Sự nghiệp sáng tác của nhà thơ
là một chặng đường sáng tạo độc đáo không mệt mỏi Huy Cận là một trongnhững nhà thơ có nhiều tác phẩm được trích giảng trong nhà trường
phổ thông như: Đoàn thuyền đánh cá, Các vị La Hán chùa Tây Phương, Tràng
giang….
Trang 3Với nhiều đóng góp quan trọng và có giá trị như thế chứng tỏ rằng HuyCận là một tên tuổi không thể thiếu trong nền văn học dân tộc Do đó, việc tìmhiểu, khám phá các tác phẩm của ông rất được nhiều người quan tâm Chúng tôinhận thấy, nỗi buồn trong thơ Huy Cận được nhiều nhà phê bình- nghiên cứuvăn học đề cập đến Tuy nhiên, đó là những nghiên cứu riêng lẻ, chưa có một hệthống thống nhất và hoàn chỉnh Thế nên, người viết muốn khám phá, nghiên
cứu và đi sâu phân tích hình tượng nỗi buồn trong tập thơ Lửa thiêngcủa Huy
Cận để hiểu một cách có hệ thống một khía cạnh trong thơ Huy Cận Mặt khác
để trân trọng sự đóng góp của ông cho nền văn học nước nhà Cuối cùng là để
có một kỹ năng, một ý thức trong việc khai thác hình tượng nghệ thuật trongviệc giảng dạy văn học sau này
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
II.1 Đối tượng nghiên cứu
Thơ Huy Cận đề cập và phản ánh nhiều vấn đề trong cuộc sống Hơn 60năm lao động nghệ thuật, nhà thơ đã để lại một sự nghiệp văn chương đồ sộ vớitrên 20 tập thơ và trở thành cây đại thụ của nền thi ca ViệtNamhiện đại Mỗi tậpthơ đều có nét độc đáo riêng biệt, đề cập đến các vấn đề khác nhau tạo nên sự đadạng và phong phú trong phong cách sáng tác của ông
Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy rằng đi sâu tìm hiểu và khám phá hìnhtượng nỗi buồn trong thơ và để phát hiện ra những sáng tạo độc đáo trong nghệthuật sáng tác của Huy Cận là một đề tài rất thú vị
II.2 Phạm vi nghiên cứu
Tác phẩm Huy Cận để lại vô cùng phong phú cả về số lượng lẫn đề tài.Nhưng do khả năng bản thân và việc cho phép của một khoá luận tốt nghiệp,chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu hình tượng nỗi buồn và nghệ thuật xây dựng
hình tượng nỗi buồn trong Lửa thiêng của Huy Cận Vả lại đây cũng là tập thơ
tập trung nhất nỗi buồn của chủ thể trữ tình
Những vấn đề khác cũng như những tập thơ khác của Huy Cận cũng đượcchúng tôi tìm hiểu xem là tư liệu quý báu, cần thiết để phục vụ cho đề tài
III MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu hình tượng nỗi buồn trong tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận để
thấy được vì sao thi nhân nhìn đời buồn như vậy, nghệ thuật biểu hiện hìnhtượng nỗi buồn đặc biệt như thế nào mà nhiều người đã quan tâm
Trang 4Đây cũng là dịp để người viết áp dụng lí luận đã được trang bị ở trường Đạihọc vào thực tiễn nghiên cứu Từ đó, củng cố lí thuyết, khắc sâu kĩ năng khaithác hình tượng Đây là một việc làm quan trọng mang lại hiệu quả thiết thựccho việc giảng dạy Ngữ văn ở trường phổ thông, phục vụ đắc lực cho nhiệm vụdạy học của một giáo viên tương lai.
IV NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
IV.1 Khái quát về hình tượng, phương thức xây dựng hình tượng trong
thơ, về phong trào Thơ mới 1932-1945, về cuộc đời và sáng tác của nhà thơ HuyCận để làm cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu
IV.2 Tìm hiểu nguyên nhân của nỗi buồn trong Lửa thiêng của Huy Cận,
những đặc sắc của nhà thơ trong việc thể hiện nỗi buồn Từ đó , thấy đượcphong cách riêng rất độc đáo của thi nhân
IV.3 Rút ra kết luận và nêu lên những đề xuất của người viết về việc mở ra
hướng tiếp cận đề tài theo những cấp độ mới của bậc học cao hơn
V ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Nghiên cứu đề tài này một cách nghiêm túc, toàn diện, có hệ thống sẽ giúpngười viết có thêm những kiến thức mới, bổ ích về thơ Huy Cận Qua đó, thấyđược sự đóng góp to lớn, tích cực của nhà thơ cho nền văn học nước nhà
Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy đề tài có các giá trị thực tiễn như sau:
V.1 Cung cấp tài liệu cho học sinh phổ thông tìm hiểu thêm về thơ Huy Cận V.2 Giúp ích cho việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy sau này của bản thân.
Đặc biệt giúp học sinh hiểu được cái hay , cái đẹp của hình tượng văn học
VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng 3 phương pháp cơ bản sau:
VI.1 Phương pháp thống kê
Phương pháp này dựa vào những số liệu cụ thể và tổng hợp chúng một cách
có hệ thống theo mục đích của người viết Từ đó minh chứng cho các ý kiến, nhận định hay lý giải một vấn đề nào đó mà người viết đề cập đến Đồng thời,phương pháp này sẽ giúp cho quá trình nghiên cứu được thuận lợi hơn
Trang 5VI.3 Phương pháp phân tích
Phương pháp phân tích đóng vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu, lí giải,đánh giá văn học Đây là phương pháp cơ bản cho việc nghiên cứu đề tài
Phân tích để thấy được cái hay, cái đẹp, cái độc đáo của hình tượng nỗibuồn trong thơ Huy Cận, thấy được phong cách riêng rất ấn tượng của nhà thơnày
VII LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
VII.1 Văn học là một hình thái ý thức xã hội thẩm mỹ đặc thù, ra đời và
phát triển trong quá trình lao động và hoạt động thực tiễn của con người Cùngvới sự phát triển ngày càng cao của nền văn minh nhân loại, các loại hình nghệthuật cũng ngày càng phát triển phong phú và đa dạng So với các loại hình nghệthuật khác thì văn học chiếm một vị trí rất quan trọng Bởi vì văn học sử dụngchất liệu để xây dựng hình tượng là ngôn từ, mà ngôn từ có một sức mạnh tiềmtàng rất lớn, có thể chứa đựng trong nó tất cả âm thanh, hình ảnh, đường nét,màu sắc…Có thể lấy lời khẳng địng của Belinxki để minh
chứng cho điều này: “Thơ văn là loại hình nghệ thuật cao cấp nhất Thơ
văn thể hiện trong lời nói tự do của con người, mà lời nói vừa là âm thanh, vừa
là bức tranh, vừa là khái niệm Do vậy thơ văn mang trong mình tất cả các yếu
tố của nghệ thuật khác, nó như sử dụng không tách rời phương thức của tất cả các loại hình nghệ thuật riêng biệt Thơ văn chính là toàn bộ nghệ thuật.”[9;91].
Ý kiến của Belinxki đã chỉ rõ ưu thế của văn học trong việc phản ánh cuộcsống Với chất liệu là ngôn từ, văn học đã xây dựng một hệ thống hình tượng cóthể phản ánh bất kì phương diện nào của thế giới khách quan Đồng thời, qua hệthống hình tượng đa dạng và phong phú, văn học còn có chức năng nhận thức,biểu hiện tư tưởng một cách trực tiếp và toàn diện nhất
Hình tượng văn học mang tính phi vật thể Do đó thiếu tính trực quan
nhưng bù lại hình tượng văn học có những ưu thế khác Trước hết, do tác độngvào thế giới tinh thần nên hình tượng văn học kích thích sự liên tưởng, tưởngtượng, tái hiện cuộc sống và con người đối với người đọc Bên cạnh việc tái hiện
những hình tượng hữu hình, văn học còn tái hiện được những hình tượng vô
hình, những cái mỏng manh và mơ hồ nhất mà các loại hình nghệ thụât khác
không thực hiện được Điều đó cho thấy rằng, nhờ có hình tượng mà những
trạng thái tình cảm rất trừu tượng của con người có được một hình hàicụ thể.
Trang 6Qua đó, người đọc có thể cảm nhận được những tư tưởng, tình cảm của tác giả
qua các hình tượng vô hình đó.
VII.2 Hình tượng là vấn đề phổ biến trong văn học và được nhiều người
quan tâm nghiên cứu Ở phương Tây, hình tượng được xem là sự thống nhấtbiện chứng giữa cái riêng và cái chung, giữa cái cá biệt- cảm tính với cái trừutượng- khái quát Hêghen, một trong những nhà nghiên cứu hình tượng khá toàn
diện cho rằng: “Nội dung của nghệ thuật là tư tưởng, còn hình thức của nó là sự
thể hiện một cách hình tượng cảm tính” [21;17].Tiếp nối quan niệm của Hêghen
về hình tượng trong văn học còn có ý kiến của các nhà nghiên cứu văn học như:Sussanne Langer, A Enstein, Belinxki, Timophêep, Pospelov v.v…
Ở phương Đông, hình tượng cũng được quan tâm từ rất sớm Về vấn đề
này, Khổng Tử viết: “Viết không nói hết lời, lời không nói hết ý, vậy thì cái ý
của thánh nhân không thấy hết được sao?” Và Không Tử thấy rằng: “Thánh nhân làm ra tượng để nói hết ý” Nghĩa là, người xưa đã biết dùng hình ảnh,
biểu tượng để diễn đạt những điều mà lời nói không chuyển tải hết được.Ngoài Khổng Tử, còn có các quan niệm về hình tượng của nhà lí luận- phê bìnhvăn học Lưu Hiệp Ông cho rằng, hình tượng là hình ảnh của thế giới kháchquan được nghệ sĩ quan sát, sau đó biểu hiện và sáng tạo bằng những cảm nhận
tinh tế của mình “Tình cảm vì sự vật mà thay đổi, lời vì tình cảm mà phát ra…
Trong cái cảnh bao la muôn vàn hình tượng, nhà thơ trầm ngâm nghe và ngắm,
tả lại cái khí chất, vẻ lại cái dung mạo của nó Nhà thơ đã theo sự vật mà để tâm trí, lại còn thêm sắc thái, góp âm thanh, tâm trạng cũng vì thế mà bồi hồi.” [14;54] Điều đó có nghĩa là sự thay đổi của thế giới khách quan tác động
đến thế giới tinh thần của con người Và từ sự cảm nhận chủ quan tinh tế, ngườinghệ sĩ đã tạo ra hình tượng từ thực tế cuộc sống Điều đó cũng chứng minhrằng, hình tượng là sự gắn bó mật thiết giữa hiện thực khách quan và tình cảmchủ quan
Ở Việt Nam, lí luận văn học hiện đại khẳng định hình tượng là “bức tranh
sinh động về cuộc sống vừa cụ thể- cảm tính vừa khái quát và mang ý giá trị thẩm mỹ” [18;298] Các nhà nghiên cứu, lý luận văn học tiêu biểu như: Phương
Lựu, Trần Đình Sử, Hà Minh Đức, Lê Ngọc Trà… đều rất quan tâm và đề cậpnhiều đến những khía cạnh của hình tượng
Qua nghiên cứu và tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy rằng các ý kiến và quanđiểm của các nhà lí luận văn học phương Tây, phương Đông và ở Việt Nam đều
Trang 7có điểm chung khi cho rằng hình tượng văn học là sự thống nhất biện chứnggiữa cái cụ thể- cảm tính và cái chung- khái quát, giữa chủ quan và khách quan.
VII.3 Trong nền văn học ViệtNam hiện đại, Huy Cận có một vai trò, vị trí
rất quan trọng Hơn nửa thế kỉ cầm bút, Huy Cận đã để lại một sự nghiệp vănchương đồ sộ Trong hành trình nghệ thuật của mình, Huy Cận đã không ngừngphấn đấu sáng tạo và cho ra đời nhiều tác phẩm văn chương có giá trị, đạt đỉnhcao của thành tựu thơ ca ViệtNam
Các nhà thơ, các nhà nghiên cứu đều trân trọng những đóng góp của HuyCận trên cả hai chặng đường, trước và sau Cách mạng Nhiều ý kiến đã lý giảiđược quá trình vận động cảm hứng sáng tạo của Huy Cận qua các tập thơ, phácthảo được những đặc điểm cơ bản trong phong cách thơ của Huy Cận như: tình
yêu sự sống, nỗi khắc khoải không gian, nỗi buồn thế hệ, giọng điệu trầm lắng,
Lửa thiêng tuy là tập thơ đầu tay của Huy Cận nhưng đã đưa tên tuổi nhà
thơ lên vị trí hàng đầu trên thi đàn Việt Nam Đây là tập thơ được nhiều nhà phêbình và các độc giả yêu văn chương quan tâm nhất Đây cũng chính là tập thơ
được coi là một trong những tập thơ “toàn bích nhất của giai đoạn
1932-1945” [25;5].
Lửa thiêng thành công vẻ vang vì tập thơ đã nêu bật được hồn thơ của nhà
thơ, cái buồn chung của cả một thế hệ và nỗi đau của những người dân mất nướcnên đã đánh động được sự đồng tình, ủng hộ của tất cả mọi người, thuyết phục
cả những độc giả khó tính nhất
Nghiên cứu tập thơ Lửa thiêng, các nhà phê bình- nghiên cứu văn học đã
tìm hiểu nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh khác nhau Trong lời giới thiệu về tậpthơ,nhà thơ Xuân Diệu đã nhận xét về hồn thơ Huy Cận- một hồn thơ mang linh
hồn trời đất và nặng tình đời, tình người, tình yêu sự sống: “Linh hồn Huy Cận
là một linh hồn trời đất, nói thế không sai đâu! Xem suốt tập Lửa thiêng, cái
Trang 8cảm giác trội nhất của ta là một cảm giác không gian, ta nghe xa vắng quanh mình, ta đứng trên thiên văn đài của linh hồn, nhìn cõi bát ngát; một cái buồn vời vợi dàn ra cho đến hư vô Huy Cận quá cảm nghe cái mênh mông, thì giọng thơ của người cũng lây cái sầu vũ trụ” [5,27].
Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh- Hoài Chân đã khẳng định vị trí quan trọng của Huy Cận khi cho rằng tác giả Lửa thiêng “đã gọi dậy hồn buồn
của Đông Á, người đã khơi dậy cái mạch sầu mấy nghìn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này” [24;137] Trong tác phẩm Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan
đã chỉ ra vẻ đẹp trong sáng, thanh tao, cổ kính của Đẹp xưa, Tràng giang, Thu
rừng… “Dù nhìn nhận ở những góc độ khác nhau nhưng các nhà thơ và các nhà nghiên cứu đương thời đều đánh giá cao đóng góp của Huy Cận Và Huy Cận đã có một vị trí cao, vững chắc trong phong trào Thơ mới” [25;14].
Các nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ, Nguyễn Hoàng Khung trong các giáotrình đại học đều chỉ ra lòng yêu đời, yêu và giữ gìn sự trong sáng của tiếng
Việt Hồn thơ Huy Cận trong trẻo và đầy sức sống Từ năm 1985 đến nay, Lửa
thiêng càng được nhiều nhà phê bình- nghiên cứu văn học quan tâm hơn và được
khai thác từ nhiều phương diện khác nhau Trong chuyên luận Thơ mới, những
bước thăng trầm, Lê Đình Kỵ đặc biệt nhấn mạnh “nguồn mạch truyền thống chảy dào dạt trong những vần thơ Lửa thiêng” [25;15] Còn nhà thơ Trinh
Đường trong tiểu luận Huy Cận và Lửa thiêng đã cảm nhận sâu sắc nỗi buồn
thương của Huy Cận về quê hương, đất nước, về những mảnh đời đau khổ của
kiếp người nô lệ, về nỗi xót xa, thương cảm của một chiếc linh hồn nhỏ,
mang mang thiên cổ sầu (Ê chề) Song song đó là lòng yêu đời thiết tha của thi
nhân Đỗ Lai Thúy trong tiểu luận Huy Cận và sự khắc khoải không gian đã nghiên cứu rất sâu những đặc điểm cơ bản của không gian nghệ thuật Lửa
thiêng Đó là một không gian “hóa thân của thiên đường, của sự hòa đồng nguyên thủy thưở xưa” [25;330] Ở đó có sự tương giao giữa con người, thiên
nhiên và vũ trụ bao la
Trong tập tiêu luận Một thời đại trong thi ca, Hà Minh Đức đã có những kiến giải mới mẻ và phân tích sâu sắc về Ngọn Lửa thiêng trong đời và trong
thơ Ông cho rằng thế giới tâm linh kết thành ngọn Lửa thiêng trong thơ Huy
Cận Đó là “thế giới tâm linh soi rọi như ánh sáng, như niềm tin vào lương tri
của con người và được tác giả xem như phần hồn” [25;52] Nhờ có nguồn ánh
Trang 9sáng ấy mà Huy Cận nhìn thấy được “bóng dáng xưa của ngọn nguồn dân tộc,
cảm nhận được nhịp sầu vũ trụ và nỗi buồn nhân gian, và nhận ra bản thể của con người trong sự sống của thiên nhiên” [25;15].
Đặc biệt, Trần Khánh Thành trong chuyên luận Thi pháp thơ Huy Cận đã nghiên cứu sâu về thơ Huy Cận ở nhiều phương diện, nhiều khía cạnh như: Cái
tôi trữ tình với nhiều đối cực, Quan niệm nghệ thuật, Thời gian và không gian nghệ thuật, Phương thức thể hiện…
Những công trình nghiên cứu của các tác giả đều rất đáng trân trọng và rất
bổ ích đối với những ai quan tâm đến thơ Huy Cận, đặc biệt là giúp ích cho
người viết trong suốt quá trình tìm hiểu hình tượng nỗi buồn trong Lửa
thiêng của Huy Cận.
Tuy nhiên, dù nghiên cứu ở góc độ nào thì các nhà phê bình và nghiên cứuvăn học đều thống nhất với nhau khi cho rằng:
“Huy Cận bước tới thi đàn bằng một tâm hồn đa cảm, đa sầu Với tập thơ đầu tay Lửa thiêng, Huy Cận đã mang đến cho phong trào Thơ mới những vần thơ buồn bã, ảo não bậc nhất Buồn bã, cô đơn là tâm trạng chung của các nhà thơ mới nhưng không có nhà thơ nào buồn nhiều, buồn sâu, buồn thấm như Huy Cận” [25;15].
Khi tìm hiểu lịch sử vấn đề, chúng tôi nhận thấy các nhà nghiên cứu văn
học đặc biệt quan tâm đến tâm trạng cô đơn, bơ vơ, lạc lõng giữa cuộc đời của
Huy Cận Đó chính cảm xúc chủ đạo của thi nhân Đồng thời, thơ của tác
giả Lửa thiêng có một vị trí đặc biệt trong lòng bạn đọc Đó là cơ sở quý giá để
khoá luận tiếp tục làm sáng rõ thêm nguyên nhân của nỗi buồn và nghệ thuật thểhiện nỗi buồn đó đặc sắc như thế nào mà bạn đọc rất quan tâm và yêu thích
VIII KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài nghiên cứu của chúng tôi gồm 3 phần:
A Phần mở đầu
B Phần nội dung
Chương I Cơ sở lí luận
Chương II Nỗi buồn trong Lửa thiêng của Huy Cận
Chương III Nghệ thuật xây dựng hình tượng nỗi buồn trong Lửa
thiêng của Huy Cận
C Phần kết luận
Trang 10B PHẦN NỘI DUNG Chương I CƠ SỞ LÍ LUẬN
I Khái quát về hình tượng
Hình tượng là phương thức biểu hiện chủ yếu của văn học Nói đến văn học
là nói đến hình tượng Hình tượng chính là phương tiện để nhà nghệ sĩ miêu tảcon người và thế giới khách quan một cách sinh động, toàn diện, có hệ thống.Vai trò của hình tượng luôn được các nhà lý luận- phê bình nghiên cứu văn
học nhấn mạnh Heghen viết: “Sứ mệnh của nghệ thuật là ở chỗ dùng hình thức
hình tượng nghệ thuật cảm tính dể làm hiện lên tính chân thực” Còn Macxim
Gorki thì cho rằng: “Tác phẩm nghệ thuật không phải là kể ra mà là dùng hình
tượng và bức tranh để miêu tả hiện thực” Do vậy, hình tượng là phương thức tư
duy đặc thù của nghệ thuật để phản ánh thực tại khách quan
Theo Từ điển văn học thì : “Hình tượng hay hình tượng nghệ thuật là bức
tranh cuộc sống vừa cụ thể cảm tính vừa khái quát và có ý nghĩa thẩm mỹ”
[19;298] Một tác phẩm có tính hình tượng khi tác phẩm đó đem đến cho ngườiđọc những bức tranh sinh động về cuộc sống Đồng thời phải tạo nên nhữngcảm xúc mãnh liệt khi tiếp xúc với tác phẩm qua ngôn ngữ Bức tranh ấy vừaphản ánh cuộc sống của một vài cá thể vừa phản ánh cuộc sống của nhiều ngườitrong xã hội Tình cảm ấy vừa là tình cảm của chủ thể trữ tình vừa là tình cảmcủa một tầng lớp, một dân tộc hay toàn nhân loại Lòng yêu hoà bình và căm thù
chiến tranh không chỉ của riêng Andrey hay Pier trong tiểu thuyết Chiến tranh
và hoà bình của L.Tonxtoi mà là của cả cộng đồng người trên toàn thế giới.
Hình tượng phải có tính chất vừa quen vừa lạ, tức là có sự thống nhất giữa
khách quan và chủ quan trong nghệ thuật xây dựng hình tượng Nhờ có sự thốngnhất biện chứng giữa tính chung của hiện thực khách quan và tính riêng củacảm xúc người nghệ sĩ mà hình tượng phản ánh cuộc sống một cách chân thực,đồng thời mang ý nghĩa thẩm mỹ sâu sắc Có thể thấy, qua nhân vật Thuý Kiều, hình tượng người phụ nữ được phản ánh một cách trọn vẹn và chân thật.Nàng mang tất cả những nét đẹp của người phụ nữ về dung mạo lẫn tâm hồn.Nàng giàu đức hy sinh và giữ vẹn lòng chung thuỷ Dù bị vùi dập giữa muônngàn lớp sóng cuộc đời, nàng vẫn giữ lòng mình trong sạch Nàng ý thức được
về bản thân, về thế giới và quyết không đầu hàng số phận Đó là những nét tínhcách rất thật cuả người phụ nữ trong xã hội phong kiến Đồng thời, Nguyễn Ducũng xây dựng nàng Kiều thành một hình mẫu trọn vẹn, tinh khiết và lý tưởng
Trang 11Nàng trở thành một hình tượng nghệ thuật mang tính thẩm mỹ cao Nàng đãgieo được những hạt mầm tình cảm tốt đẹp trong lòng người đọc.
Đó chính là cách phản ánh rất riêng và độc đáo của tác phẩm văn học
“Nghệ thuật xây dựng các hình tượng là để phản ánh và lí giải đời sống theo
cách riêng cuả nó” [20;64] Với cách đó, hình tượng chẳng những nói hết ý mà
còn có khả năng tác động trực tiếp đến tình cảm và thế giới tinh thần của conngười
Do có sự thống nhất giữa yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan nên hìnhtượng có thể phản ánh thực tại khách quan một cách chân thực, đồng thời cũngmang đậm nét phong cách, tài năng và bản lĩnh của chủ thể sáng tạo Vì vậy,
hình tượng vừa có giá trị hiện thực vừa là “thành quả của tư duy sáng tạo và
tưởng tượng của người nghệ sĩ” (Pospelov) Qua hình tượng, chúng ta có thể
hiểu được những suy tư, trăn trở, những tư tưởng, tình cảm của tác giả
II Đặc trưng của hình tượng
Hình tượng nghệ thuật là sự kết tinh những kinh nghiệm sống và nhữngmối quan hệ ràng rịt của con người Cho nên hình tượng nghệ thuật vừa có sựthống nhất giữa cái cá biệt, cụ thể- cảm tính và cái chung, khái quát vừa thể hiện
ở chỉnh thể các quan hệ xã hội- thẩm mỹ
Trước hết, đó là quan hệ nghệ thuật với thế giới khách quan mà nó phảnánh Tiếp theo là quan hệ giữa chủ thể sáng tạo và người tiếp nhận, tức là giữatác giả với người đọc Sau nữa là quan hệ giữa hình tượng nghệ thuật với chấtliệu làm nên nó v.v…
Đặc trưng của một ngành nghệ thuật nói chung và hình tượng của nó nóiriêng chịu sự chi phối của chất liệu tổ chức tác phẩm Với chất liệu ngôn từ, hìnhtượng văn học có những đặc trưng riêng
II.1 Tính hình tượng- gián tiếp
Chất liệu của hội hoạ là màu sắc, của âm nhạc là âm thanh, làn điệu, của vũđạo là hình thể, động tác, của điêu khắc là đường nét, hình khối… Nói chung,các loại hình nghệ thuật trên đều có chất liệu là vật chất, vật thể nên chúng đều
có tính hình tượng- trực tiếp, tức là người tiếp nhận có thể trực tiếp nghe hoặcnhìn thấy một cách dễ dàng
Văn học cũng là một loại hình nghệ thuật nhưng hình tượng văn học đặcbiệt không giống như các loại hình nghệ thuật khác Hình tượng văn học là hìnhtượng- trực tiếp bởi chất liệu tổ chức tác phẩm là ngôn từ, mà ngôn từ chỉ là kíhiệu của vật chất chứ không phải là vật chất nên ta không thể cảm quan một
Trang 12cách trực tiếp Đây là hình ảnh cô gái thanh xuân, xinh đẹp, tràn đầy sức sốngtrong thơ Huy Cận:
Ngực trắng dòn như một trái rừng;
Mắt thì bằng rượu, tóc bằng hương, Miệng cười bừng nở hàm răng lựu, Sáng cả rừng xanh mấy dặm trường.
(Hồn xuân)
Rõ ràng ta có thể tưởng tượng ra các hình tượng chứ không thể thấy ngực,
mắt, miệng…cũng như mùi hương của cô gái.
Hình tượng văn học tuy thiếu tính trực quan nhưng bù lại nó có những khảnăng đặc biệt khác Khả năng đặc biệt đó là do sức mạnh của ngôn ngữ manglại Ngôn ngữ trong tác thuộc hệ thống tín hiệu thứ hai nên sẽ tác động vào trínão và ý thức con người, giúp họ nghe thấy được hình tượng một cách gián tiếpqua sự hình dung, tưởng tượng, kích thích quá trình hoạt động trí tuệ của họ
II.2 Tính tư duy- trực tiếp
Do ngôn ngữ là “cái vỏ vật chất trực tiếp của tư duy” (Mác) nên những tư
tưởng, suy nghĩ, tình cảm- cảm xúc của nhà văn hoặc nhân vật trong tác phẩmđều có thể bộc lộ một cách trực tiếp Nói cách khác, do văn học lấy ngôn ngữlàm chất liệu nên hình tượng của nó mang tính tư duy- trực tiếp Chẳng hạn, đaubuồn trước thực trạng tăm tối của xã hội, Huy Cận đã không kìm được tiếnglòng nức nở
Than ôi! trời đẹp nhưng trời buồn Như cảnh tươi màu rạp cải lương Tôi đội tang đen cùng mũ trắng,
Ra đi không hẹn ở trên đường.
(Giấc ngủ chiều) Trước Thượng đế hiền từ tôi sẽ đặt Trái tim đau khô héo thuở trần gian.
Trang 13thất vọng, niềm hạnh phúc…Vì thế, xét trên một bình diện nào đó thì hình tượng
văn học “giàu khuynh hướng tư tưởng hơn các loại hình nghệ thuật
khác” [15;190].
II.3 Tính tuyến tính của hình tượng
Hình tượng văn học được tái hiện một cách hoàn chỉnh, trọn vẹn trong thờigian, tức là những hành động, sự kiện, suy nghĩ, ý định…của con người xuất
hiện nối tiếp nhau theo thời gian “Văn học thuộc loại nghệ thuật thời gian,
nghĩa là hình tượng của nó mở dần trong thời gian, khác hẳn các loại hình nghệ thuật khác” [16;188] Lessing đã rất có lý khi đưa ra lập luận: “Các ký hiệu biểu hiện cái này tiếp sau cái kia thì chỉ có thể chỉ ra các sự vật trong thực tế cũng bộc lộ với ta trong tính liên tục của thời gian” Lập luận của Lessing có thể giải
thích qua chất liệu xây dựng hình tượng Bằng ngôn từ nghệ thuật, khi đọc mộttác phẩm văn học, ta có thể cảm nhận sự xuất hiện dần dần theo thời gian củahình tượng đến khi trở thành một chỉnh thể hoàn chỉnh, thống nhất biểu hiện một
tư tưởng , một quan niệm nào đó của tác giả
Hình tượng Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao xuất hiện vớinhân dáng là một con quỷ dữ của làng Vũ Đại Sau đó, lật qua từng trang viết,hình tượng nhân vật này ngày càng được hoàn chỉnh, người đọc có thể hiểu mộtcách sâu sắc về Chí Phèo ở nhiều khía cạnh: Một anh thanh niên hiền lành, chấtphác với mơ ước giản dị, trong sáng, có vợ sinh con và có cuộc sống bìnhthường, hạnh phúc Rồi anh bị hãm hại, vào tù và sau đó trở nên hung hăng, tànnhẫn mất hết tính người với chuỗi ngày tháng sống vất vưởng bên lề xã hội loàingười, với những mảnh chai chằng chịt trên mặt, với cuộc sống vô nghĩa không
cảm xúc, không tình yêu Rồi Chí Phèo gặp Thị Nở và nảy sinh tình yêu, Chí bắt
đầu ý thức về bản thân và sự bất hạnh khi bị mọi người xa lánh, Chí giết BáKiến và tự kết liễu cuộc đời đầy đau khổ của mình…Tất cả các chi tiết đều hiệnlên tuần tự theo thời gian, tương hỗ nhau để khắc hoạ hoàn chỉnh hình tượng ChíPhèo
Nhờ có chất liệu là ngôn từ nghệ thuật nên văn học đạt được tính vạn năngtrong việc phản ánh , tái hiện đời sống và xây dựng hình tượng Tính vạn năngthể hiện ở chỗ văn học có thể phản ánh bất kỳ phương diện nào, vấn đề nàotrong đời sống- xã hội Văn học chẳng những phản ánh được những sự vật, hiệntượng trong thế giới khách quan mà còn có thể nắm bắt tất cả những cái mơ hồ,
Trang 14vô hình chỉ tồn tại trong tâm thức của con người Điều này làm cho văn họckhông bị giới hạn bởi không gian và thời gian khi miêu tả, thể hiện Chính vìvậy mà có thể nói rằng không ở đâu có thể có hình tượng phong phú như trongvăn học.
I.2.4 Tính đa trị, mơ hồ của hình tượng
Hình tượng văn học thường được cấu tạo bằng các phương thức: so sánh,
ẩn dụ, liên tưởng…cộng với ngôn từ giàu hình ảnh làm cho hình tượng mangtính đa trị, nhiều nghĩa Một nhân vật văn học hay một trạng thái cảm xúc đượcxem là hình tượng khi nó có tính đa trị, tức là nhân vật hay trạng thái cảm xúc
đó phải ẩn chứa trong nó nhiều ý nghĩa, nhiều giá trị tư tưởng sâu sắc, là thôngđiệp cho một quan niệm nhân sinh nào đó của tác giả Chẳng hạn, xây dựng hìnhtượng nỗi buồn, Huy Cận không chỉ nói lên tâm trạng xót xa, đau buồn của mìnhtrước thực tại mà còn thể hiện nỗi buồn chung của thế hệ, của dân tộc, ẩn đằngsau nỗi buồn da diết ấy còn lấp lánh những tia sáng hy vọng vào con người,vào cuộc đời và tương lai đất nước
Do tính đa trị nên kéo theo hệ quả là hình tượng cũng có tính mơ hồ Bởi
“vì hình tượng văn học tác động vào trí tuệ, tưởng tượng và liên tưởng của
người đọc” [16;186] Chế Lan Viên đã đề ra nguyên tắc “thơ là gợi chứ không phải mở” để minh chứng cho cách viết có hình tượng:
Bài thơ anh, anh làm một nửa mà thôi Còn một nửa cho mùa thu làm lấy Cái xào xạt hồn anh chính là xào xạt lá
Nó không là anh nhưng nó là mùa.
(Sổ tay thơ)
Với quan niệm đó, chúng ta có thể thấy, để có hình tượng thơ thì người thi
sĩ không nên trình bày hết những điều mình nghĩ, tức là chỉ nên nói một phần vàphần còn lại phải để cho người đọc tìm hiểu, khám phá Do tự tìm hiểu, khámphá, người đọc phải liên tưởng, tưởng tượng Do không có sự liên tưởng, tưởngtượng nào giống nhau nên hình tượng văn học mang tính mơ hồ
Cùng một hình tượng văn học nhưng mỗi người tiếp nhận sẽ sáng tạo cho
riêng mình một hình ảnh nhất định tuỳ theo sự tưởng tượng của họ về nhân vật
đó, tác phẩm đó Thuý Kiều đẹp, điều đó ai cũng biết, nhưng vẻ đẹp của Kiều ởmỗi người lại khác vì sự tưởng tượng của mỗi người không giống nhau
Đó chính là tính đa trị, mơ hồ của hình tượng văn học
III Hình tượng trong thơ trữ tình
Trang 15Như đã phân tích ở trên, ta thấy không chỉ có văn học mới có hình tượng
mà trong điêu khắc, hội hoạ, âm nhạc…đều có hình tượng của nó với những nétriêng mang tính đặc thù
Những hình tượng thuộc các lĩnh vực nghệ thuật khác cũng phản ánh cuộcsống một cách sinh động nhưng chúng được xây dựng bằng chất liệu mang tínhvật thể Còn hình tượng văn học nói chung và hình tượng thơ nói riêng cũng là
bức tranh sinh động về cuộc sống nhưng chất liệu của nó lại mang tính phi vật
thể.
Theo Hữu Đạt thì:“Hình tượng thơ là một bức tranh sinh động và tương
đối hoàn chỉnh về cuộc sống được xây dựng bằng một hệ thống các đơn vị ngôn ngữ có tính chất vần, điệu với trí tưởng tượng, óc sáng tạo và cách đánh giá của nghệ sĩ” [7;127].
Như vậy, ta thấy hình tượng thơ là một phương tiện để phản ánh cuộc sống
Đó là sản phẩm độc đáo của trí tưởng tượng, óc sáng tạo và cách đánh giá đốitượng của nhà nghệ sĩ
Bản chất nghệ thuật là sáng tạo Vì thế, hình tượng phải ngày càng mới lạ,độc đáo và gắn với hiện thực cuộc sống và con người
IV Phương thức xây dựng hình tượng trong thơ trữ tình
Văn học là nghệ thuật ngôn từ Có nghĩa văn học là một hình thái ý thức
xã hội thẩm mỹ sử dụng ngôn từ tổ chức tác phẩm Đặc trưng xã hội thẩm mỹcủa văn học là phản ánh cuộc sống bằng hình tượng Như vậy hình tượng vănhọc được xây dựng bằng ngôn từ Cái tài của nhà thơ là am hiểu, vận dụng sángtạo ngôn ngữ trong thơ để tạo nên hình tượng nghệ thuật
Trước hết là ở lớp từ ngữ có tính hình tượng Đó là các từ ngữ chỉ sự vật,
hoạt động, trạng thái Ví dụ như: tót, nhờn nhợt, trọc lóc…,lớp từ này sẽ tạo nên
một thế giới hình tượng sinh động
Tiếp theo là lớp từ ngữ đa nghĩa Tiếng Việt có nhiều từ đa nghĩa gợi lên sự
liên tưởng đến hình tượng Chẳng hạn từ mận, đào, vườn hồng…trong bài ca
dao sau đây:
Bây giờ mận mới hỏi đào:
-Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Mận hỏi thì đào xin thưa:
-Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.
Cách ngắt nhịp khéo léo cũng có thể tạo nên hình tượng
Kìa đạn, kìa gạo
Kìa gạo, kìa đạn.
Trang 16Nhịp bài thơ gợi lên sự hối hả của đoàn tàu tiếp nối nhau mang lương thực
và vũ khí của hậu phương miền Bắc để chi viện cho chiến trường miền Nam.Ngoài ra, nhịp thơ còn gợi lên sự ác liệt của chiến trường và sự khắc nghiệt của những tháng ngày chiến tranh
Có thể nói một nghệ sĩ tài hoa là người biết vận dụng linh hoạt lợi thế ngônngữ để xây dựng hình tượng một cách sáng tạo cho riêng mình Hình tượng đóphải sinh động và gợi được cảm xúc của người đọc
Đặc biệt, hình tượng được xây dựng rất nhiều từ các phương tiện chuyểnnghĩa như: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, đối lập, nhân hoá v.v…So sánh tu từ trongcâu thơ sau đây của Xuân Diệu thật độc đáo:
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.
(Vội vàng)
So sánh tháng giêng với cặp môi người thiếu nữ thì quả là rất độc đáo Đôimôi người thiếu nữ là biểu tượng của cái đẹp, duyên dáng và tinh khiết Đôi môimềm ấy sẽ thốt lên những lời dịu êm, nhẹ nhàng gây ấn tượng đẹp trong lòngngười Tháng giêng là mùa đẹp nhất trong năm, là mùa bắt đầu một năm mới với
những hy vọng mới Tháng giêng cũng đẹp, cũng ngon như môi người thiếu nữ
vậy Thật là một sự so sánh hết sức đặc biệt và mới mẻ!
Hay biện pháp đối lập được Huy Cận sử dụng trong Mai sau cũng tạo được
hiệu quả tu từ độc đáo trong phương thức xây dựng hình tượng
Chàng yêu lắm nên bị người hắt hủi
Chàng yêu lâu nên thiên hạ lìa xa.
Thật là nghịch lí! Chủ thể trữ tình mang tình yêu chân thành, tha thiết đếncho người nhưng người không thèm nhận, cũng chẳng đoái hoài đến Đã vậy,
người còn hắt hủi, lìa xa Nỗi buồn Huy Cận triền miên, trĩu nặng là vì thế!
Ngoài ra, cách tổ chức câu thơ khác thường cũng tạo được hình tượng Bấtthường về ngữ pháp và bất thường về ý đều tạo được những hình tượng độc đáo
Có thể thấy rằng, khi sáng tác nhà thơ tận dụng tối đa mọi phương tiệnngôn ngữ để xây dựng thế giới hình tượng đa dạng, phong phú của con người.Hình tượng thơ là hình tượng của cảm xúc, suy tư thể hiện cách nhìn, cách đánhgiá của chủ thể trữ tình
Hình tượng trong thơ được xây dựng bằng nhiều yếu tố như đã trình bày ở trên.Tuy nhiên, chúng tôi chỉ chú trọng khai thác các phương tiện chuyển nghĩa trong
phương thức xây dựng hình tượng nỗi buồn trong Lửa thiêngcủa Huy Cận.
Trang 17Chương II NỖI BUỒN TRONG LỬA THIÊNG CỦA HUY CẬN
I Vài nét chính về phong trào Thơ mới lãng mạn 1932-1945 và tập
thơ Lửa thiêng của Huy Cận
I.1 Thơ mới và đặc điểm của phong trào Thơ mới
Thơ mới là thơ có sự thay đổi ở hình thức, ở nội dung cảm xúc, mà đặc
biệt là ở nội dung Theo Hoài Thanh, Thơ mới là tiếng nói của cái tôi lần đầu tiên được giải phóng khỏi cái ta chung của cộng đồng.
Phong trào Thơ mới xuất hiện trong thời kì khủng bố trắng và cuộc khủng
hoảng kinh tế Các nhà thơ mới tương đối thống nhất về thái độ chính trị và quanđiểm mỹ học, có nhiều yếu tố tiến bộ và tích cực Tuy nhiên, mang nhiều lítưởng tốt đẹp nhưng lại gặp thực trạng đen tối của xã hội thực dân lúc bấy giờnên các nhà thơ mới dễ rơi vào bế tắc, hụt hẩng Vì thế, họ luôn mang trong lòng
tâm trạng buồn và những nỗi “đau đời” không tránh khỏi “Buồn và cô đơn là
nét chung của Thơ mới” [11,22].
Cái buồn đã thấm sâu trên từng trang viết và quan niệm thẩm mỹ của các
nhà thơ mới “Cô độc là bệnh của chủ nghĩa lãng mạn” [8;565] Song, dù buồn
và cô độc nhưng Thơ mới vẫn ấp ủ một tinh thần dân tộc, một lòng khao khát tự
do Biểu hiện rất rõ của tinh thần dân tộc là lòng yêu và bảo vệ sự trong sáng củatiếng Việt Thơ mới còn thể hiện sâu sắc tinh thần yêu đất nước, yêu thiên nhiên.Đồng thời, Thơ mới thể hiện tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc
Thơ mới lãng mạn mang đậm màu sắc của cái tôi cá nhân Cái tôi ấy đã nói
lên được nhu cầu lớn trong việc giải phóng tình cảm, phát huy bản ngã và tự do
cá nhân Do đó, thế giới tâm hồn- tình cảm của con người được mở rộng và ngàycàng phong phú Thơ mới chú trọng sự sáng tạo mang màu sắc cá thể (phongcách cá nhân) độc đáo và sắc nét
Mỗi nhà thơ mới đều đi tìm lối thoát bằng cách thoát ly khỏi cuộc sống
Nhưng càng thoát ly lại càng bế tắc, “càng đi sâu vào cái tôi lại càng cô đơn,
vắng lạnh” (Phan Cự Đệ).
Thơ mới lãng mạn 1932-1945 chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của thơ Pháp vàcũng chịu ảnh hưởng của thơ Đường (Trung Quốc) Sự kết hợp nhuần 21nhuyễn giữa Đông và Tây, truyền thống và hiện đại đã làm cho Thơ mới phát
triển mạnh mẽ với những nét độc đáo riêng, tạo nên “một thời đại trong thi ca”
(Hoài Thanh) và tạo nên diện mạo mới cho văn học nước nhà
“Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở
như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong
Trang 18sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê màu như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu.” [24;34].
I.2 Tập thơ Lửa thiêng
Lửa thiêng là tập thơ đầu tay của Huy Cận, ra mắt bạn đọc năm 1940 Tập
thơ được Xuân Diệu- người bạn thơ thân nhất của Huy Cận- giới thiệu với tất cả
sự trân trọng và nhiệt tình:
“…Thơ Huy Cận không được vui Âu cũng là sự tự nhiên của đất trời:
hàng phi lao đứng bên sóng xanh kia, gió xa thổi vào, cứ tự nhiên phát ra những lời rầu rĩ…Cái buồn Huy Cận là cái thương vô hạn hóa thành cái tủi vô cùng: ấy là thứ hận sầu dài dặc lâu bền, nó gieo hoa trong lòng bọn thi sĩ! Nỗi buồn đó vốn là nỗi buồn chung của con người…
Huy Cận nói hộ ta đó; những giọt nước mắt thường đến quanh mi rồi ngừng Huy Cận đã vì ta để rơi xuống má…” [25;29].
Lửa thiêng là một tập thơ kết tinh của những nỗi buồn Nỗi buồn Huy Cận
thời Lửa thiêng là kết quả của quá trình lắng nghe tinh tế nhịp sầu vũ trụ và nỗi
buồn nhân gian, là sự ý thức về thân phận con người trong cuộc đời nô lệ
Với Lửa thiêng, Huy Cận đã mang đến cho phong trào Thơ mới “những
vần thơ buồn bã, ảo não bậc nhất” [25;15] Lửa thiêng có 50 bài thì có đến 35
bài trực tiếp bộc lộ tâm trạng buồn bã, cô đơn, lạc lõng Tập thơ đã đưa tên tuổiHuy Cận lên vị trí hàng đầu trong làng Thơ mới lãng mạn 1932-1945
II Nỗi buồn của người dân mất nước, mất tự do
Những nhà thơ lớn bao giờ cũng có sự đồng cảm rộng lớn và sâu sắc trongbất kì hoàn cảnh nào Dường như hoàn cảnh càng khắc nghiệt thì sự đồng cảm
càng lớn Phong trào Thơ mới xuất hiện trong thời kì khủng bố trắng và cuộc
khủng hoảng kinh tế trầm trọng , đời sống người dân vô cùng
khó khăn, chật vật Tuy là giai cấp tiểu tư sản trí thức có học vấn nhưngđời sống của các văn nghệ sĩ cũng hết sức bấp bênh Do đó, hơn ai hết, các nhàvăn, nhà thơ rất hiểu nỗi khổ của người dân nô lệ sống trong xiềng xích kẻ thù.Nói đến Thơ mới là nói đến nỗi buồn của những tâm hồn đa cảm đa sầu.Buồn bã, cô đơn là đặc điểm chung của khuynh hướng lãng mạn Huy Cận cũngkhông thoát khỏi khuynh hướng tất yếu ấy Nỗi buồn của Huy Cận không chỉxuất phát từ sự đa cảm của bản thân mà nó còn có nguyên nhân từ đời sống xã
hội Cũng như những nhà thơ lãng mạn khác, Huy Cận cảm thấy ngột ngạt, ê
chề khi phải sống trong một đất nước mất chủ quyền, mất tự do:
Trang 19Hay lòng chàng vẫn tủi nắng, sầu mưa Cùng đất nước và nặng buồn sông núi.
(Mai sau)
Nỗi buồn đó chính là hệ quả tất yếu khi nhà thơ ý thức được một cách sâusắc về cảnh ngộ đất nước và thân phận con người trong xã hội nô lệ, một xã hội
bế tắc, quằn quại Trong tập thơ Bài thơ cuộc đời mà Huy Cận sáng tác sau Cách
mạng, tuy giọng thơ và cảm hứng của tác giả có thay đổi nhưng nỗi buồn vẫnđeo đẳng, phảng phất đâu đó trước thực tại quê hương Có thể lấy một ví dụ điển
hình trong bài thơ Các vị La Hán chùa Tây Phương:
…Có vị chân tay co xếp lại Tròn xoe tựa thể chiếc thai non Nhưng đôi tai rộng dài ngang gối
Cả cuộc đời nghe đủ chuyện buồn…
Mặt cúi, mặt nghiêng, mặt ngoảnh sau Quay theo tám hướng hỏi trời sâu Một câu hỏi lớn không lời đáp Cho đến bây giờ mặt vẫn chau.
(Các vị La Hán chùa Tây phương)
Đó là sự trăn trở, vật vã của con người khi phải đối mặt với những cảnh đờiđau khổ, với sự thay đổi của xã hội không tình người Cuộc đời thay đổi với biếtbao thăng trầm khiến cho thi nhân không nén được tiếng thở dài
Than ôi, trời đẹp nhưng trời buồn Như cảnh tươi màu rạp cải lương.
(Gíấc ngủ chiều)
Trên sân khấu cuộc đời đã có biết bao bi kịch diễn ra Khi cánh màn nhung
mở ra, những cảnh huy hoàng xuất hiện, nào là áo mới, nào là những khuôn mặtđẹp…Nhưng đằng sau đó là gì? Là lọc lừa, giả dối, là sự xa cách, chia ly Là sự
hả hê của những người chiến thắng và nỗi chua xót của kẻ thất bại Cuộc đờicũng như rạp cải lương với biết bao sắc màu rực rỡ, muôn hình vạn trạng, khó
mà phân biệt được người tốt kẻ xấu Vì vậy, lòng chân thành của chàng trai haimươi mang trong lòng nhiệt huyết tuổi trẻ rất thiết tha với cuộc sống, rất yêu tự
do đã không được đáp trả Chàng trai ấy lại phải chứng kiến đất nước bị giàyxéo, còn người dân thì phải chịu cảnh nô lệ đau khổ Còn nỗi buồn nào hơn khichứng kiến sự đau khổ của đồng bào mình, dân tộc mình? Nỗi buồn của Huy
Cận “có cái gốc từ lòng yêu đời, từ tình yêu quê hương, đất nước Nỗi buồn ấy
Trang 20không chán chường, bi lụy mà trong trẻo, dễ cảm thông và được nhiều người đồng cảm” [26;48]
Trước thực tại tối tăm, tẻ nhạt, quẩn quanh, bế tắc, Huy Cận vẫn cảm nhậnđược cuộc đời đang vận động Tinh tế thấy được sự dịch chuyển ấy, đó là sự thểhiện của tấm lòng yêu cuộc đời, con người và lòng yêu nước thiết tha
Nghe mạch đời đang thao thức âm thanh
Và nhạc sống vẫn âm thầm tiến tới.
(Vỗ về)
Cái mạch ngầm chảy trong lòng đất vốn đã khó tìm thấy rồi, huống chi
là mạch đời Thế nhưng Huy Cận vẫn phát hiện ra Mạch đời ấy chính là những
xao động sâu kín nhất, vô hình vô thanh trong hồn người Vậy mà Huy Cận vẫn
cho rằng nó có âm thanh, có thể nghe được và thấy được nhạc sống đang âm
thầm tiến tới Qua sự cảm nhận tinh tế, ta có thể thấy tấm lòng yêu thương sâu
nặng của thi nhân với cuộc đời, với con người Vì vậy mà nhà thơ cảm nhậnđược những bước chân xa vắng trên những dặm mòn lẻ loi, mới cảm nghe đượcnhững trái sầu đang rơi nặng tâm hồn mình
Từ đó có thể thấy, lòng yêu đời, tình yêu quê hương của Huy Cận đằmthắm, ẩn dấu đằng sau nỗi buồn dằng dặc Vì yêu đời nên khi thấy cuộc đờikhông tốt đẹp như ý muốn, đất nước không thanh bình, yên vui, thi nhân mớibuồn như vậy Với một tâm hồn đa cảm đa sầu, nhà thơ cảm nhận được cảnh mấtmát, lầm than của đất nước như nỗi đau của chính bản thân mình Tình yêu ấy làmáu thịt, là linh hồn Tình yêu ấy không sôi nổi, ồn ào mà thâm trầm, lặng lẽ,nhưng không kém phần sâu sắc Nó triền miên, trĩu nặng từng trang thơ Đó làmạch ngầm bền bỉ trong tâm hồn Huy Cận! Qua đó, chúng tôi nhận thấy rằng,
thấm đượm hơn cả trong Lửa thiêng là cái sầu về đời người, về trần thế!
Tình trạng cô đơn, lẻ loi của con người trong xã hội cũ một phần là do họkhông tìm thấy sự giao cảm với cuộc đời Ngay từ thuở học trò, Huy Cận đã
cảm thấy bơ vơ, đơn chiếc trong những đêm rét mướt ngủ chung với bạn bè trong nhà trọ Ngủ chung nhưng vẫn cảm thấy cô độc bởi thi nhân không tìm
thấy sự thân thiết và ngọn lửa ấm áp của tình người, mà chỉ thấy cái rét mướt,lạnh lẽo của sự cô độc Có thể nhận thấy điều đó trong những câu thơ sau:
Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng Mênh mông không một chuyến đò ngang Không cầu gợi chút niềm thân mật Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
(Tràng giang)
Trang 21Cái buồn ở đây được gợi lên từ một không gian bao la nhưng rời rạc, hờhững, không hề có sự giao hòa Các sự vật của thế giới khách quan vẫn tồn tại
và đươc đặt bên cạnh nhau nhưng giữa chúng chẳng hề có sự liên hệ nào
cả Cầuvà đò là những phương tiện nối kết đôi bờ, để cho con người có thể liên lạc Thế mà ở đây không có gì cả, không cầu, không một chuyến đò ngang.
Trước mắt ta là một thế giới không liên hệ, cảnh vật thì đìu hiu, vắng vẻ, conngười thì nhỏ bé, cô độc Dường như cuộc sống bị bỏ quên! Tất cả tạo nên mộtnỗi buồn trùng điệp trong lòng chủ thể trữ tình và ngay cả trong lòng người đọcbao thế hệ
Có thể khẳng định rằng: Nỗi buồn của Huy Cận không phải là nỗi buồn ủy
mị, bạc nhược mà là cái buồn của người có tâm huyết “Thơ Huy Cận buồn, căn
bệnh tinh thần của thế hệ không dễ đổi thay, nhưng nỗi buồn của Lửa thiêng không mang tính riêng tư, không gắn liền với dục vọng, đam mê để rồi chán chường, tuyệt vọng” [25;57] Huy Cận đau buồn vì đất nước rơi vào cảnh xiềng
xích và bế tắc, bất lực vì chưa tìm được lối thoát trong bóng đêm nô lệ Thế nên,
khi tìm thấy ánh sáng của Cách mạng thì Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu
lắm đã đi theo Cách mạng, đem sức mình phục vụ quê hương!
III Nỗi buồn nhân thế- nỗi buồn thời cuộc của giai cấp tiểu tư sản
Tình trạng cô đơn của giai cấp tiểu tư sản trong xã hội cũ xuất phát từ sự bếtắc của họ trong hành trình đi tìm niềm giao cảm với cuộc đời Đó là khuynhhướng chung của Thơ mới lãng mạn
Huy Cận cũng giống như các nhà thơ lãng mạn cùng thời cảm nhận rất rõnỗi buồn thế hệ, nỗi buồn của những con người bị mất thiên đường, bị cuộc đờithờ ơ, lạnh nhạt Huy Cận ý thức sâu sắc về cá nhân và thế giới nội tâm củamình Vì vậy mà nhà thơ càng ý thức sâu sắc về nỗi cô đơn của con người giữacuộc đời đầy gió bụi Không tìm được niềm giao cảm nên thi nhân cảm thấy hụthẩng, thất vọng:
Nhưng cô độc đã thầm ghi trên trán Lòng lạc loài ngay từ thuở sơ sinh.
(Trình bày) Lòng chàng xưa chốn nọ với nơi này Đây hay đó chỉ dựng chòi cô độc.
(Mai sau)
Con người sinh ra trong cuộc đời là một điều rất thiêng liêng và có ý nghĩanhân sinh sâu sắc Để tồn tại và phát triển, họ cần phải có sự giao lưu và đoàn
Trang 22kết với nhau Điều đó rất có ý nghĩa về mặt tinh thần đối với con người Trongcuộc sống phải có tình người Đó là phương thuốc hiệu nghiệm chữa lành mọi
vết thương và đau khổ Thế nhưng từ thuở sơ sinh, Huy Cận đã cảm thấy lạc
loài và cô độc, đã thấy sợi buồn giăng mắc khắp nơi.
Lửa thiêng đưa ta về một thế giới của nỗi buồn- những nỗi buồn day dẳng,
sâu lắng, ảo não, đa dạng và nhiều cung bậc Nỗi buồn ấy thấm đẫm cả khônggian, kéo dài từ quá khứ đến hiện tại Sầu muộn, buồn bã như kết lại, đọng lạithành giọt làm nặng lòng nhà thơ
Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm Gió trăng ơi! Nay còn nhớ người chăng?
Hơn một lần chàng đã gởi cho trăng Nỗi hiu quạnh của hồn buồn không cớ.
(Mai sau)
Huy Cận bảo rằng mình cảm thấy hiu quạnh bởi hồn buồn không cớ Song
đọc thơ Huy Cận ta thấy nỗi buồn của người rõ ràng là có cớ Nỗi buồn ấy xuấtphát từ tâm trạng chung của một lớp người có cùng lý tưởng, cùng chung ước
mơ, khát vọng Với tâm hồn lãng mạn đa cảm, giàu tình yêu thương, nhà thơthương cho mình và thương cho mọi người
U sầu chắc hẳn đang nhanh bước Lưng khọm ngàn năm đến chỗ tôi.
(Buồn)
U sầu không chỉ đang tiến nhanh đến với một mình Huy Cận mà với tất cả
mọi người, đặc biệt là tầng lớp trí thức tiểu tư sản Bởi vì họ cùng được đào tạotrong một môi trường giống nhau, cùng hấp thụ một nền văn minh Tây họcgiống nhau và cùng có một nỗi buồn giống nhau Đó là nỗi buồn của cả một thế
hệ, của những con người mong muốn sống tốt sống đẹp để cống hiến tài năng vàsức trẻ cho đời Nhưng xã hội tối tăm không biết quý trọng tài năng và trí tuệ
của họ, đã thế còn vùi dập họ, tấn công dân tộc họ bằng bạo lực, bằng chính
sách ngu dân Vì vậy Huy Cận đã đại diện cho tầng lớp trí thức tiểu tư sản nói
lên tâm trạng buồn bã, cô đơn, xót xa vô hạn này !
Qua việc tìm hiểu tập thơ Lửa thiêng, một lần nữa chúng tôi xin đưa ra
nhận định: Tâm trạng cô đơn của Huy Cận chính là tâm trạng chung của các nhàthơ lãng mạn trước Cách mạng tháng Tám Không chỉ riêng Huy Cận mà XuânDiệu, Vũ Hoàng Chương, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính… cũng có nỗi buồn
chung này tuy mỗi người có mỗi cách diễn đạt riêng,“….họ cảm thấy bơ vơ lạc
Trang 23lõng giữa lòng nhân loại, không tìm thấy niềm thân mật giữa cõi đời” [26 ;193].
Tầng lớp tiểu tư sản trí thức cũng ý thức một cách sâu sắc về đất nước đauthương nô lệ, về số phận buồn tủi của con người trước vận mệnh quê hương Là
người nhạy cảm, “Huy Cận đi lượm lặt những chút buồn rơi rác để rồi sáng tạo
nên những vần thơ ảo não” [24 ;136].
Ở Huy Cận, ta không thấy những khát khao âm ĩ, nồng nàn như Xuân Diệu,không thấy sự mộc mạc, quê mùa như Nguyễn Bính, không thấy cái buồn ủy
mị, trụy lạc như Vũ Hoàng Chương và cũng không thấy cái buồn nhẹ
nhàng, vơ vẩn như Lưu Trọng Lư Huy Cận than thân thì ít mà khóc cho
đời, cho người thì nhiều Đó chính là tinh thần nhân văn cao đẹp của tác giả Lửa
thiêng!
Không buồn sao được khi Huy Cận cững như các nhà thơ mới đều có
chung tâm trạng của người dân mất nước, của thế hệ đầu thai nhầm thế kỉ (Vũ
Hoàng Chương), hằng ngày phải chứng kiến xã hội nhiễu nhương, nhân dânchìm trong nghèo khổ, tối tăm Bản thân các nhà thơ cũng chẳng hơn gì!
Đôi guốc năm hiên kéo bốn mùa Tiền nhà ít gởi biết chi mua.
(Học sinh)
Do vậy, “đời buồn, lòng buồn, thơ buồn là điều dễ hiểu” [25;368] Nỗi
buồn thương của Huy Cận về kiếp người, về thời cuộc hồ như lan rộng khắp đấttrời, lan cả vào lòng người như sương khói làm mờ cảnh vật, rồi buông nhữnggiọt sương là những giọt nước mắt mà con người đồng cảm đã khóc cùng thi
nhân Bởi vì thấm đượm trong Lửa thiêng chính là tinh thần dân tộc, là kiếp
người trong muôn thuở, là những giá trị nhân văn ẩn trong những câu thơ buồn
ảo não và cô đơn Đúng như Hà Minh Đức đã từng viết trong tập tiểu luận Một
thời đại trong thi ca: “Lửa thiêng đúng như tên gọi của tập thơ là mạch tình cảm mang nhiều tình đời, tình người trong những cảnh ngộ buồn chán của xã hội cũ nhưng vẫn giữ được sự thiêng liêng và niềm tin cậy với cuộc đời”
[25;60]
IV Nỗi buồn của một tâm hồn nhạy cảm, luôn cảm thấy bơ vơ, cô đơn, lạc lõng giữa cuộc đời
Trước hết, nỗi buồn ấy xuất phát từ sự nhạy cảm của Huy Cận với cuộc
đời Bởi chàng là con của một người mẹ hay sầu- nên trọn kiếp mắt chàng
thường đẫm lệ (Mai sau) Người đa cảm thường hay đa sầu, nhìn vào đâu cũng
Trang 24cảm thấy buồn mà đã buồn thì không sao nguôi được! Trong bài thơ Ê chề, Huy
Cận đã không kiềm được tiếng thở dài khi cất lên lời than:
Một chiếc linh hồn nhỏ Mang mang thiên cổ sầu.
Chiếc linh hồn nhỏ ấy chính là chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm! (Mai
sau) Huy Cận buồn vì cô đơn, vì bị người hắt hủi, bị thiên hạ lìa xa Đối với
nhà thơ, nỗi buồn không chỉ hiển hiện trong nội tâm mà còn có thể tìm thấy,nghe thấy ở tất cả mọi nơi Nỗi buồn kết đọng lại thành giọt tuôn tràn như mưa
lũ và khi đi vào thơ Huy Cận thì những giọt sầu ấy lắng đọng vào hồn người,mang một nỗi buồn man mác, mênh mông, trùng điệp Có những lúc ta bắt gặp
nụ cười nhẹ nhàng trên môi người thi sĩ khi người đang đón mùa xuân cuộc đờivào lòng Tình yêu và niềm khát khao giao cảm với đời như mạch nước ngầmvẫn chảy mãi và không hề cạn trong tâm hồn nhà thơ
Ồ những người ta đi hóng xuân Cho tôi theo với, kéo tôi gần!
Rộn ràng bước nhịp hương vương gót Nhựa mạnh tuôn tràn tưởng dính chân.
(Xuân) Đêm nay không khí say nồng Nghìn cây mở ngọn, muôn lòng hé phơi.
(Trình bày)
Ngay cả trong lúc vui, ta cũng bắt gặp nỗi buồn thấp thoáng, dường như nỗibuồn chưa bao giờ lìa xa người thi sĩ
Chính sự trái ngược giữa một bên là tình yêu thiết tha và một bên là sự thờ
ơ, ghẻ lạnh đã tạo nên những mối băn khoăn, giằng xé trong nội tâm, khiến nhàthơ cảm thấy bơ vơ, cô độc, lạc lõng giữa cuộc đời Không buồn sao được khi
nhà thơ say mến bạn với tất cả lòng thành, chàng yêu lắm, yêu lâu và yêu sâu sắc nhưng cái chàng nhận được là sự hắt hủi, lìa xa và cô lập của con người.
Trang 25Chính vì buồn nên thơ Huy Cận có vẻ già dặn, chín chắn của một người từngtrải, chiêm nghiệm nhiều khía cạnh cuộc đời tuy nhà thơ lúc này chỉ mới đôimươi Cái ảo não thê lương dường như lên tới đỉnh khi nhà thơ bắt gặp chiếc xetang đưa linh hồn người đã khuất về thế giới nghìn thu Thi nhân xót xa, nghẹnngào trước cái hữu hạn của đời người:
Ai chết đó? Nhạc buồn chi lắm thế!
Chiều mồ côi, đời rét mướt ngoài đường
Aỏ não quá trời buồn chiều vĩnh biệt!
(Nhạc sầu)
Ai chẳng đau đớn trước sự kết thúc của một kiếp người! Có điều mỗi người
có cách biểu hiện khác nhau, và Huy Cận đã nói hộ chúng ta những điều sâu kínnhất trong tâm hồn mà ta ít khi thể hiện Lang thang trong thế giới đau buồnnhưng Huy Cận không quay lưng với cuộc sống Dù có tìm về với cảnh cũ,người xưa song thi nhân không lìa bỏ thực tại:
Ngàn năm sực tỉnh lê thê Trên thành son nhạt- Chiều tê cúi đầu….
(Chiều xưa)
Giấc mộng dù có đẹp cũng không thể là hiện thực, quá khứ dù có huyhoàng và lãng mạn cũng không thể xóa đi chuỗi ngày buồn của thực tại Thinhân sực tỉnh để sống ngày hôm nay, không thể lấy ngày hôm qua làm cứu cánhcho nỗi buồn
Đó cũng là điểm khác nhau cơ bản giữa Huy Cận và Chế Lan Viên trên con
đường tìm về quá khứ Nhà thơ họ Chế chỉ gặp những cảnh Điêu tàn đau đớn
khi quay về tháp xưa:
Đây, những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi.
(Trên đường về)
Còn Huy Cận trở về với trời xưa, người xưa để thắp sáng ngọn Lửa
thiêng cho muôn đời Ta bắt gặp trong cái buồn của một tâm hồn nhạy cảm, luôn
cảm thấy bơ vơ, lạc lõng giữa cuộc đời là khát khao giao cảm với mọi người làlòng ham sống, yêu thiết tha và gắn bó máu thịt với thế giới này Đó là nét đẹprất đáng quý trong tâm hồn nhà thơ Huy Cận
Lòng ham sống được thể hiện rõ rệt ở tình yêu của tuổi trẻ Tình yêu trong
sáng đáng yêu chỉ có ở tuổi học trò, ở những cô gái, chàng trai có linh hồn bằng
ngọc chưa vướng bụi đời, nhưng mộng đẹp vỡ tan, nhà thơ buồn bã, lắng nghe
nhịp đời mình trải dài theo năm tháng, cô đơn và lặng lẽ
Hồn đơn chiếc như đảo rời dặm bể
Trang 26Suốt một đời như núi đứng riêng tây Lòng chàng xưa chốn nọ với nơi này Đây hay đó chỉ dựng chòi cô độc.
“Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm và gió trăng, và người đời vẫn còn
nhớ đến người đấy thôi Chỉ lo là của giả chứ nghìn lần bị vùi dưới lớp bụi thời gian thì ngọc quý vẫn là ngọc quý” [5;264] Chúng tôi cũng tin rằng ngọn Lửa thiêng sẽ sáng mãi trong lòng độc giả ở mọi nơi và ở mọi thời đại, vì ngọn lửa
ấy được thắp sáng bởi một trái tim đầy nhiệt thành của một người đã cống hiến
cả cuộc đời cho nghệ thuật, cho dân tộc Huy Cận sẽ mãi hiện hữu trong lòngchúng ta, bởi thi nhân đã giúp chúng ta bộc lộ những nỗi niềm sâu kín nhất mà
từ lâu ta đã bỏ quên để bắt nhịp dòng đời hối hả, hoặc rụt rè ngại ngần không
dám nói “Huy Cận gợi lên và ta bỗng nhớ, bỗng cảm thấy chút gì như thiếu sót
vì đã hững hờ với quanh ta chan chứa bao tình” [25;369].
Từ đó, chúng tôi nhận thấy rằng: Triền miên trong nỗi sầu thương ảo nãonhưng Huy Cận dường như chưa bao giờ tuyệt vọng, nhà thơ cũng không chánchường rũ bỏ tất cả Thi sĩ họ Cù vẫn thiết tha gắn bó ràng rịt với cuộc sống, vớingười đời Nhiều lúc bị cuộc đời hờ hững song nhà thơ vẫn không sao xa lánhmọi người được, ông vẫn yêu say đắm và mãnh liệt!