1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN ĐÁNH GIÁ cơ cấu NGUỒN vốn của CÔNG TY cổ PHẦN NHỰA hà nội (NHH)

25 51 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 2,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.Tính cấp thiết của đề tài Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều nguồn vốn khác nhau để đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, điều quan trọng là doanh nghiệp cần phối hợp sử dụng các nguồn vốn để tạo ra một cơ cấu nguồn vốn hợp lý đem lại lợi ích tối đa cho doanh nghiệp. Quyết định về cơ cấu nguồn vốn là vấn đề tài chính hết sức quan trọng của doanh nghiệp, bởi lẽ cơ cấu nguồn vốn là một trong các yếu tố quyết định đến chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp, nó ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu hay thu nhập trên một cổ phần và rủi ro tài chính của một doanh nghiệp hay công ty cổ phần. Ngày nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, áp lực cạnh tranh ngày càng cao, các doanh nghiệp, đặc biệt là công ty cổ phần tại Việt Nam cần phải nhận thức được tầm quan trọng của việc đánh giá năng lực tài chính của công ty, cụ thể là đánh giá cơ cấu nguồn vốn để tổ chức cơ cấu nguồn vốn hợp lý, từ đó sử dụng vốn có hiệu quả và nâng cao năng lực về tài chính của mình. Việc đánh giá tốt cơ cấu nguồn vốn của công ty để đưa ra phương án cải thiện sẽ là một lợi thế quan trọng trong môi trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay. Công ty cổ phần Nhựa Hà Nội từ khi thành lập đến nay đã phần nào tạo được chỗ đứng trên thị trường sản xuất linh kiện phụ tùng. Song hiệu quả hoạt động của công ty vẫn còn gặp phải nhiều vấn đề đáng lo ngại. Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng trên là sự bất hợp lý vẫn còn tồn tại trong cơ cấu nguồn vốn. Do đó, nếu không chú trọng xây dựng cơ cấu nguồn vốn phù hợp, công ty sẽ có khả năng không thể đứng vững trong thị trường cạnh tranh trong bối cảnh nền kinh tế như hiện nay. Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài “Cơ cấu nguồn vốn của Công ty cổ phần Nhựa Hà Nội 2 năm 2019 và 2020” được lựa chọn nghiên cứu. 2.Mục đích nghiên cứu -Khái quát một số lý luận về nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp. -Đánh giá được tình hình về cơ cấu nguồn vốn của Công ty cổ phần Nhựa Hà Nội. -Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ cấu nguồn vốn của Công ty cổ phần Nhựa Hà Nội. 3.Đối tượng nghiên cứu Thông tin, số liệu các chỉ tiêu về cơ cấu nguồn vốn của Công ty cổ phần Nhựa Hà Nội. 4.Phạm vi nghiên cứu -Về không gian: các vấn đề liên quan đến cơ cấu nguồn vốn của Công ty cổ phần Nhựa Hà Nội. -Về thời gian: trong 2 năm 2019, 2020 5.Kết cấu đề tài Bài tiểu luận gồm có 3 phần chính: -Phần 1: Nội dung cơ bản về nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp. -Phần 2: Thực trạng về cơ cấu nguồn vốn của Công ty cổ phần Nhựa Hà Nội. -Phần 3: Đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện cơ cấu nguồn vốn của Công ty cổ phần Nhựa Hà Nội.

Trang 1

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

BỘ MÔN TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

-

TIỂU LUẬN

ĐỀ TÀI: ĐÁNH GIÁ CƠ CẤU NGUỒN VỐN CỦA CÔNG TY CỔ

PHẦN NHỰA HÀ NỘI (NHH) NĂM 2019 – 2020

Hà Nội – 6.2021

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

PHẦN 1: NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ NGUỒN VỐN VÀ CƠ CẤU NGUỒN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 3

1.1 Lý luận chung về nguồn vốn của doanh nghiệp 3

1.1.1 Khái niệm 3

1.1.2 Phân loại 3

1.1.3 Mô hình về nguồn tài trợ 4

1.2 Lý luận chung về cơ cấu nguồn vốn 5

1.2.1 Khái niệm 5

1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu nguồn vốn 5

1.2.3 Cơ cấu nguồn vốn tối ưu và cơ cấu nguồn vốn mục tiêu 6

1.2.4 Các nhân tố tác động đến cơ cấu nguồn vốn 6

PHẦN 2: THỰC TRẠNG VỀ CƠ CẤU NGUỒN VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA HÀ NỘI (NHH) 2 NĂM 2019&2020 6

2.1 Giới thiệu khái quát về công ty Cổ phần Nhựa Hà Nội 6

2.1.1 Thông tin khái quát và lịch sử hình thành 6

2.1.2 Ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh 7

2.2 Thực trạng về cơ cấu nguồn vốn của Công ty cổ phần Nhựa Hà Nội năm 2019 và 2020 8

2.3 Kết luận chung về cơ cấu nguồn vốn của Công ty cổ phần Nhựa Hà Nội 13

PHẦN 3: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CƠ CẤU NGUỒN VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA HÀ NỘI 14

3.1 Định hướng phát triển của công ty 14

3.2 Đưa ra một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện cơ cấu nguồn vốn của Công ty cổ phần Nhựa Hà Nội 14

KẾT LUẬN 15

BẢNG BIỂU 16

Bảng 1: 16

Bảng 2: 17

BÁO CÁO TÀI CHÍNH 18

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều nguồn vốn khác nhau để đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, điều quan trọng là doanh nghiệp cần phối hợp sử dụng các nguồn vốn để tạo ra một cơ cấu nguồn vốn hợp lý đem lại lợi ích tối đa cho doanh nghiệp Quyết định về cơ cấu nguồn vốn là vấn đề tài chính hết sức quan trọng của doanh nghiệp, bởi lẽ cơ cấu nguồn vốn là một trong các yếu tố quyết định đến chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp, nó ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu hay thu nhập trên một cổ phần và rủi ro tài chính của một doanh nghiệp hay công ty cổ phần

Ngày nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, áp lực cạnh tranh ngày càng cao, các doanh nghiệp, đặc biệt là công ty cổ phần tại Việt Nam cần phải nhận thức được tầm quan trọng của việc đánh giá năng lực tài chính của công ty, cụ thể là đánh giá cơ cấu nguồn vốn để tổ chức

cơ cấu nguồn vốn hợp lý, từ đó sử dụng vốn có hiệu quả và nâng cao năng lực về tài chính của mình Việc đánh giá tốt cơ cấu nguồn vốn của công ty để đưa ra phương án cải thiện sẽ

là một lợi thế quan trọng trong môi trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay

Công ty cổ phần Nhựa Hà Nội từ khi thành lập đến nay đã phần nào tạo được chỗ đứng trên thị trường sản xuất linh kiện phụ tùng Song hiệu quả hoạt động của công ty vẫn còn gặp phải nhiều vấn đề đáng lo ngại Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng trên

là sự bất hợp lý vẫn còn tồn tại trong cơ cấu nguồn vốn Do đó, nếu không chú trọng xây dựng cơ cấu nguồn vốn phù hợp, công ty sẽ có khả năng không thể đứng vững trong thị trường cạnh tranh trong bối cảnh nền kinh tế như hiện nay Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài

“Cơ cấu nguồn vốn của Công ty cổ phần Nhựa Hà Nội 2 năm 2019 và 2020” được lựa

chọn nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

- Khái quát một số lý luận về nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp

- Đánh giá được tình hình về cơ cấu nguồn vốn của Công ty cổ phần Nhựa Hà Nội

- Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ cấu nguồn vốn của Công ty cổ phần Nhựa Hà Nội

3 Đối tượng nghiên cứu

Thông tin, số liệu các chỉ tiêu về cơ cấu nguồn vốn của Công ty cổ phần Nhựa Hà Nội

Trang 4

- Phần 1: Nội dung cơ bản về nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp

- Phần 2: Thực trạng về cơ cấu nguồn vốn của Công ty cổ phần Nhựa Hà Nội

- Phần 3: Đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện cơ cấu nguồn vốn của Công ty

cổ phần Nhựa Hà Nội

Trang 5

PHẦN 1: NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ NGUỒN VỐN VÀ CƠ CẤU NGUỒN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 Lý luận chung về nguồn vốn của doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm

Nguồn vốn là những nguồn tạo ra sự tăng thêm tổng tài sản của doanh nghiệp

1.1.2 Phân loại

Để tổ chức và lựa chọn hình thức huy động vốn một cách thích hợp và có hiệu quả cần có

sự phân loại nguồn vốn Dựa vào tiêu thức nhất định có thể chia nguồn vốn của doanh

nghiệp thành nhiều loại khác nhau Thông thường, trong công tác quản lý, người ta thường

sử dụng một số phương pháp phân loại nguồn vốn chủ yếu sau:

a) Dựa vào quan hệ sở hữu vốn

Căn cứ vào tiêu thức này có thể chia nguồn vốn thành hai loại: vốn chủ sở hữu và nợ phải trả

- Vốn chủ sở hữu: Là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, bao gồm phần vốn chủ sở hữu bỏ ra và phần bổ sung từ kết quả kinh doanh Vốn chủ sở hữu tại một thời điểm có thể được xác định bằng công thức:

Vốn chủ sở hữu = Giá trị tổng Tài sản - Nợ phải trả

- Nợ phải trả: Là thể hiện bằng tiền những nghĩa vụ doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế khác như: Nợ vay, các khoản phải trả cho người bán, cho Nhà nước, cho người lao động trong doanh nghiệp

b) Dựa vào thời gian huy động và sử dụng vốn

Căn cứ vào tiêu thức này, có thể chia nguồn vốn thành hai loại: nguồn vốn thường xuyên

và nguồn vốn tạm thời

- Nguồn vốn tạm thời: Là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới 1 năm) doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các yêu cầu có tính chất tạm thời phát sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn vốn tạm thời thường bao gồm: vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn khác

- Nguồn vốn thường xuyên: Là tổng thể các nguồn vốn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng vào hoạt động kinh doanh Nguồn vốn này thường được sử dụng để mua sắm, hình thành tài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn vốn thường

xuyên của doanh nghiệp tại một thời điểm có thể được xác định bởi công thức:

Nguồn vốn thường xuyên = vốn chủ sở hữu + nợ dài hạn Hoặc:

Nguồn vốn thường xuyên = giá trị tổng tài sản của doanh nghiệp - nợ ngắn hạn

Trang 6

Trên cơ sở xác định nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp, còn có thể xác định nguồn vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp

- Nguồn vốn lưu động thường xuyên (NWC): là nguồn vốn ổn định, có tính chất dài hạn

để hình thành hay tài trợ cho tài sản lưu động (TSLĐ) thường xuyên cần thiết trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (có thể là một phần hay toàn bộ tài sản lưu động thường xuyên tùy thuộc vào chiến lược tài chính của doanh nghiệp)

Nguồn vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp tại một thời điểm có thể được xác định bằng công thức sau:

Nguồn vốn lưu động thường xuyên = Tổng nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp

– Tài sản dài hạn Hoặc:

Nguồn vốn lưu động thường xuyên = Tài sản ngắn hạn - Nợ ngắn hạn

c) Dựa vào phạm vi huy động vốn

Căn cứ vài tiêu thức này có thể chia nguồn vốn thành hai loại: Nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài

- Nguồn vốn bên trong: là nguồn vốn được huy động từ chính hoạt động của bản thân doanh nghiệp tạo ra Nguồn vốn bên trong thể hiện khả năng tự tài trợ của doanh

nghiệp

Nguồn vốn bên trong bao gồm: Lợi nhuận để lại để tái đầu tư

- Nguồn vốn bên ngoài: là nguồn vốn được huy động từ bên ngoài doanh nghiệp để tăng thêm nguồn tài chính cho hoạt động kinh doanh

Nguồn vốn bên ngoài bao gồm:

 Vốn vay (Ngân hàng, tổ chức tín dụng và các đối tượng khác)

 Vốn góp liên doanh, liên kết

 Tín dụng thương mại của nhà cung cấp

Trang 7

- Hạn chế: Chưa tạo ra sự linh hoạt trong việc tổ chức sử dụng vốn, thường vốn nào nguồn ấy, tính chắc chắn được đảm bảo hơn, song kém linh hoạt hơn

b) Mô hình thứ hai

- Nội dung: Toàn bộ tài sản cố định, tài sản lưu động thường xuyên và một phần tài sản lưu động tạm thời được tài trợ bằng nguồn vốn thường xuyên Phần tài sản lưu động tạm thời còn lại được tài trợ bằng nguồn vốn tạm thời

- Lợi ích: Khả năng thanh toán và mức độ an toàn cao

 Chi phí sử dụng vốn thấp, cơ may mang lại hiệu quả sử dụng vốn cao

 Tính linh hoạt cao

- Hạn chế: Khả năng thanh toán và mức độ an toàn thấp

1.2 Lý luận chung về cơ cấu nguồn vốn

1.2.1 Khái niệm

Cơ cấu nguồn vốn là thể hiện tỷ trọng của các nguồn vốn trong tổng giá trị nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động, sử dụng vào hoạt động kinh doanh

1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu nguồn vốn

Khi xem xét cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp, người ta chú trọng đến mối quan hệ giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu trong nguồn vốn của doanh nghiệp Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp được thể hiện qua các chỉ tiêu chủ yếu sau:

a) Hệ số nợ

Tổng nguồn vốn (hoặc Tổng tài sản)

Hệ số nợ phản bình quân một đồng vốn doanh nghiệp huy động trong kỳ có bao nhiêu đồng hình thành từ nợ phải trả

b) Hệ số vốn chủ sở hữu

Hệ số vốn chủ sở hữu = Nguồn vốn chủ sở hữu

Tổng nguồn vốn (hoặc Tổng tài sản)

Trang 8

Hệ số này phản ánh bình quân một đồng vốn doanh nghiệp huy động trong kỳ thì có bao nhêu đồng hình thành từ vốn chủ sở hữu

c) Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu

Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu =

Tổng số nợ Vốn chủ sở hữu

Hệ số này cho biết cứ một đồng vốn chủ sở hữu thì có bao nhiêu đồng vốn nợ phải trả, phản ánh sự an toàn khi huy động nợ

1.2.3 Cơ cấu nguồn vốn tối ưu và cơ cấu nguồn vốn mục tiêu

Cơ cấu nguồn vốn tối ưu là cơ cấu nguồn vốn làm cân bằng giữa rủi ro và lợi nhuận, qua

đó tối đa hóa được giá trị công ty hay giá cổ phiếu của công ty

Cơ cấu nguồn vốn tối ưu cũng là cơ cấu nguồn vốn làm tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn bình quân của công ty đồng thời tối đa hóa giá trị của công ty

Trên thực tế, rất khó để xác định 1 điểm cơ cấu nguồn vốn tối ưu cụ thể của doanh nghiệp

vì thế, các doanh nghiệp thường xác định một khoảng cơ cấu nguồn vốn tối ưu gọi là cơ cấu nguồn vốn mục tiêu và xây dựng chính sách cơ cấu vốn căn cứ vào mức mục tiêu này

1.2.4 Các nhân tố tác động đến cơ cấu nguồn vốn

Có hai nhóm nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu nguồn vốn: nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan

- Nhân tố chủ quan bao gồm: rủi ro kinh doanh, sự ổn định của doanh thu, lĩnh vực mà doanh nghiệp hoạt động, chính sách huy động vốn của doanh nghiệp, sự mạo hiểm của nhà quản lý và năng lực quản lý doanh nghiệp

- Nhân tố khách quan bao gồm: chính sách thuế, sự phát triển của thị trường tài chính,

sự ổn định của nền kinh tế

2 d

PHẦN 2: THỰC TRẠNG VỀ CƠ CẤU NGUỒN VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA HÀ NỘI (NHH) 2 NĂM 2019&2020

2.1 Giới thiệu khái quát về công ty Cổ phần Nhựa Hà Nội

2.1.1 Thông tin khái quát và lịch sử hình thành

- Thông tin cơ bản:

Tên giao dịch: Công ty cổ phần Nhựa Hà Nội

Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số: 0100100858

Địa chỉ: Tổ 12, Phường Phúc Lợi, Quận Long Biên, TP Hà Nội

Trang 9

Số lượng cố phiếu lưu hành năm 2019: 34.440.000 cổ phiếu

Số lượng cổ phiếu lưu hành năm 2020: 36.440.000 cổ phiếu

- Lịch sử hình thành:

Công ty Cổ phần Nhựa Hà Nội tiền thân là Xí nghiệp Nhựa Hà Nội trực thuộc Sở Công nghiệp Hà Nội, được thành lập theo Quyết định số 126/QĐ/UB-CN ngày 24/01/1972 của UBND Thành phố Hà Nội

Ngày 10/8/1993, Xí nghiệp Nhựa Hà Nội được chuyển đổi thành Công ty Nhựa Hà Nội trực thuộc Sở Công Nghiệp Hà Nội

Ngày 08/8/2005, Công ty Nhựa Hà Nội được chuyển đổi thành Công ty TNHH nhà nước một thành viên Nhựa Hà Nội Thực hiện chủ trương của Chính phủ về việc sắp xếp, đổi mới Công ty nhà nước trực thuộc UBND thành phố Hà Nội giai đoạn 2007-2010, ngày

26/11/2007 UBND Thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 4730/QĐ-UBND về việc phê duyệt giá trị doanh nghiệp và phương án cổ phần hóa của Công ty TNHH nhà nước một thành viên Nhựa Hà Nội Ngày 27/12/2007, Công ty đã tiến hành bán đấu giá cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO) tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội

Ngày 31/10/2008, Công ty TNHH nhà nước một thành viên Nhựa Hà Nội chính thức đổi tên thành Công ty Cổ phần Nhựa Hà Nội với vốn điều lệ là 65.000.000.000 đồng

Ngày 25/11/2018, Công ty Cổ phần Nhựa Hà Nội trở thành thành viên của Tập đoàn An Phát Holdings

Ngày 12/12/2019, Công ty CP Nhựa Hà Nội chính thức nhận quyết định niêm yết, chào mừng ngày giao dịch đầu tiên của 34,44 triệu cổ phiếu trên sàn HoSE, mã chứng khoán: NHH

2.1.2 Ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh

Công ty cổ phần Nhựa Hà Nội là một doanh nghiệp công nghiệp nhựa phụ trợ, sản xuất linh kiện nhựa và Phụ tùng ô tô – xe máy; Phụ kiện điện – điện tử; Thiết bị phụ trợ công nghiệp; Phụ kiện xây dựng, gia dụng, khuôn mẫu Từ khi ra đời đến nay, Công ty Nhựa Hà Nội đã chế tạo được hàng trăm chủng loại sản phẩm nhựa kỹ thuật cao, cung cấp cho các ngành công nghiệp và dân dụng, đáp ứng nhu cầu trong nước thay hàng nhập khẩu và tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu Các sản phẩm chủ lực của Công ty cổ phần Nhựa Hà Nội là linh kiện điện tử viễn thông, linh kiện ô tô xe máy, linh kiện điều hòa không khí, pallet nhựa Toàn bộ các chủng loại sản phẩm này mang thương hiệu đăng ký độc quyền của Công ty cổ phần nhựa Hà Nội, đều được sản xuất hàng loạt trên hệ thống máy, thiết bị tự động, công nghệ tiên tiến bằng các loại vật tư chuẩn nhập khẩu và quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001-2015 đạt chất lượng cao theo tiêu chuẩn của Nhật Bản JIS 10K Công ty cổ phần Nhựa

Hà Nội có mạng lưới khách hàng rộng khắp, từ các Tập đoàn đa quốc gia toàn cầu như

Honda, Toyota, Piaggio, LG, Panasonic… cho đến các doanh nghiệp lớn trong nước như Vinfast, Công ty Xích líp Đông Anh…

Trang 10

2.2 Thực trạng về cơ cấu nguồn vốn của Công ty cổ phần Nhựa Hà Nội năm 2019

và 2020

- Cái nhìn chung về sự biến động cơ cấu nguồn vốn của Công ty cổ phần Nhựa Hà Nội từ năm 2019 đến năm 2020:

Để phân tích về sự biến động về cơ cấu nguồn vốn của Công ty cổ phần Nhựa Hà Nội

năm 2019 – 2020 ta dựa vào số liệu của bảng 1, để phân tích các chỉ tiêu trong tổng nguồn

vốn nhu

Phân tích khái quát:

Nhìn chung thì tổng nguồn vốn của công ty cổ phần Nhựa Hà Nội cuối năm 2020 giảm so với cuối năm 2019 Cụ thể tổng nguồn vốn của công ty cuối năm 2020 là 923661 triệu đồng, giảm 48879 triệu đồng với tỷ lệ giảm 5,03% Tổng nguồn vốn giảm là do nợ phải trả giảm

149487 triệu đồng với tỷ lệ giảm là 29,54%, mặt khác vốn chủ sở hữu lại tăng 100608 triệu đồng với tỷ lệ tăng là 21,57%

Trong tổng nguồn vốn thì nợ phải trả cuối năm 2020 so với cuối năm 2019 giảm 13,43% (cuối năm 2019 nợ phải trả chiếm 52,04% nhưng đến cuối năm 2020 thì nợ phải trả chỉ

chiếm 38,61% trong tổng nguồn vốn) tương ứng với tỷ trọng vốn chủ sở hữu cuối năm 2020

so với cuối năm 2019 tăng 13,43% (cuối năm 2019 vốn chủ sở hữu chiếm 47,96%, đến cuối năm 2020 vốn chủ sở hữu đã chiếm 61,39% trong tổng nguồn vốn) Điều này chứng tỏ cơ cấu nguồn vốn của công ty từ cuối 2019 đến cuối 2020 thay đổi theo xu hướng tăng tỷ trọng vốn chủ sở hữu, giảm tỷ trọng nợ phải trả, làm cho công ty tăng khả năng tự chủ về tài chính, giảm rủi ro tài chính Tại thời điểm cuối năm 2019 tỷ trọng nợ phải trả lớn hơn 0,5 chứng tỏ công ty đang phải chịu phụ thuộc tài chính với bên ngoài, đến cuối năm 2020 thì cơ cấu nguồn vốn dịch chuyển nhanh chóng giúp công ty ít phụ thuộc tài chính hơn và tăng mức độ

tự chủ và an toàn tài chính

Phân tích chi tiết:

Nợ phải trả:

Nợ phải trả cuối năm 2020 là 356630 triệu đồng, giảm 149487 triệu đồng so với cuối năm

2019 với tỷ lệ giảm là 29,54% Cuối năm 2020, nợ phải trả chiếm 28,61%, giảm 13,43% so với cuối năm 2019 Tỷ trọng nợ phải trả giảm đi chứng tỏ công ty đang có xu hướng giảm tài trợ hoạt động từ nguồn nợ phải trả, mức độ an toàn về tài chính cao hơn, nhưng mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính giảm đi, làm giảm khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu của công ty Nợ phải trả giảm là do nợ ngắn hạn giảm 107346 triệu đồng với tỷ lệ giảm là 27,37% và nợ dài hạn giảm 42141 triệu đồng với tỷ lệ giảm là 37,01%

Nợ ngắn hạn:

Nợ ngắn hạn của công ty cuối năm 2020 là 284903 triệu đồng, giảm 107346 triệu đồng với tỷ lệ giảm là 27,37% Tỷ trọng nợ ngắn hạn cuối năm 2020 so với cuối năm 2019 tăng 2,34 % (cuối năm 2019 nợ ngắn hạn chiếm 77,50% đến cuối năm 2020 chiếm 79,89% trong

Trang 11

nợ phải trả) Tại cả hai thời điểm, nợ ngắn hạn đều chiếm vị trí chủ yếu trong nợ phải trả, tỷ trọng về nợ ngắn hạn cũng tăng lên, điều này chứng tỏ công ty khi huy động vốn từ nguồn

nợ phải trả thì vẫn luôn chú trọng vào nguồn vốn nợ ngắn hạn Huy động nợ ngắn hạn giúp cho doanh nghiệp có thể thực hiện dễ dàng, thuận lợi hơn so với việc sử dụng nợ dài hạn Bởi vì thông thường các điều kiện cho vay ngắn hạn mà ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác đưa ra đối với doanh nghiệp thường ít khắt khe hơn là cho vay dài hạn Đồng thời nợ ngắn hạn có chi phí sử dụng thấp hơn so với nợ dài hạn và giúp cho doanh nghiệp dễ dàng, linh hoạt điều chỉnh hơn cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp Tuy nhiên, công ty sẽ phải chịu rủi ro về lãi suất cao hơn bởi lẽ lãi suất của tín dụng ngắn hạn biến động nhiều hơn so với lãi suất dài hạn, rủi ro vỡ nợ ở mức cao hơn vì sử dụng tín dụng ngắn hạn đòi hỏi công ty phải có nghĩa vụ thanh toán lãi vay và hoàn trả vốn gốc trong một thời gian ngắn, nếu tình hình kinh doanh gặp khó khăn, công ty dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, việc sử dụng quá nhiều tín dụng ngắn hạn dễ dẫn đến tình trạng tài chính của công ty luôn căng thẳng Nợ ngắn hạn giảm chủ yếu là do vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn giảm 74339 triệu đồng với tỷ lệ giảm là 30,35%; phải trả người bán ngắn hạn giảm 28947 triệu đồng với tỷ lệ giảm là 25,07%, phải trả người lao động giảm 8465 triệu đồng với tỷ lệ giảm là 53,01%

Trong nợ ngắn hạn thì vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn nhất Cụ thể,

tỷ trọng vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn trong nợ ngắn hạn cuối năm 2020 chiếm 59,88%, cuối năm 2019 chiếm 62,44%, giảm 2,56% Như vậy trong cơ cấu nợ ngắn hạn, doanh

nghiệp đang ưu tiên sử dụng các khoản vay hơn là cac khoản vốn đi chiếm dụng Đây là nguồn vốn với chi phí thấp, do vậy nếu doanh nghiệp tận dụng tốt sẽ giúp tăng khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu Nếu trong nợ ngắn hạn không xuất hiện khoản nợ quá hạn nào thì việc vay nợ của công ty được đánh gái là hợp lý Tuy nhiên việc vay vốn với số lượng lớn trong thời gian ngắn đòi hỏi công ty phải có kế hoạch trả nợ chi tiết và chặt chẽ để không rơi vào trạng thái mất thanh toán Việc khoản vay và nợ thuê tài chính cuối năm 2020 giảm đi so với cuối năm 2019 giảm đi cho thấy công ty đã trả được một phần nợ vay và thuê tài chính,

áp lực thanh toán các khoản vay trong ngắn hạn giảm đi

Sau vay và nợ thuê tài chính thì phải trả người bán ngắn hạn cũng chiếm tỷ trọng khá lớn trong nợ ngắn hạn Cụ thể, tỷ trọng phải trả người bán ngắn hạn cuối năm 2020 là 30,37%, cuối năm 2019 là 29,44%, tăng 0,93% Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng chính trong nguồn vốn đi chiếm dụng của công ty Công ty trả tiền hàng cho các vật tư, tài sản phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh đã mua mà chưa trả tiền ngay, làm giảm vốn đi chiếm dụng Công

ty cần phải thường xuyên kiểm tra chất lượng của hàng hóa nhận về tránh tình trạng hàng hóa nhận về kém chất lượng gây ảnh hưởng xấu đến quá trình sản xuất kinh doanh

Tỷ trọng của phải trả người lao động trong nợ ngắn hạn cuối năm 2020 là 2,63%, cuối năm 2019 là 4,07%, giảm 1,44% Mặc dù đây là một nguồn vốn chiếm tỷ trọng nhỏ trong nợ ngắn hạn nhưng công ty cũng cần phải quan tâm và tính toán hợp lý Việc chiếm dụng vốn quá lâu có thể ảnh hưởng đến thái độ, tinh thần làm việc của người lao động Điều đó cuối cùng sẽ ảnh hưởng ít nhiều đến kết quả kinh doanh của công ty

Trang 12

Ngoài ra, còn các chỉ tiêu khác trong nợ ngắn hạn như: người mua trả tiền trước ngắn hạn, thuế và các khoản phải nộp Nhà nước, chi phí phải trả ngắn hạn, phải trả ngắn hạn khác, quỹ khen thưởng phúc lợi cũng có những sự biến động về mức độ trong tổng nợ ngắn hạn Tuy tỷ trọng của nó không lớn nhưng công ty cũng cần quan tâm, quan sát và quản lý một cách hiệu quả

Vốn chủ sở hữu

Vốn chủ sở hữu cuối năm 2020 là 567031 triệu đồng, tăng 100608 triệu đồng so với cuối năm 2019 với tỷ lệ tăng là 13,43% Vốn chủ sở hữu tăng là do vốn cổ phần đã phát hành tăng

20000 triệu đồng với tỷ lệ tăng là 5,81%, thặng dư vốn cổ phần tăng 96871 triệu đồng với tỷ

lệ tăng là 91,94%, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối tăng 10737 triệu đồng với tỷ lệ tăng là 25,31% Như vậy, để tài trợ cho hoạt động, công ty đã tăng vốn chủ sở hữu bằng cả nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài

Trong vốn chủ sở hữu, cuối năm 2020 vốn cổ phần đã phát hành là 364400 triệu đồng, tăng 20000 triệu đồng với tỷ lệ tăng là 5,81% Trong đó, vốn cổ phần đã phát hành cuối năm

2020 chiếm 64,26% trong vốn chủ sở hữu, cuối năm 2019 chiếm tỷ trọng 73,84% trong vốn chủ sở hữu, giảm 9,58% Vốn cổ phần đã phát hành tăng là do trong năm công ty đã phát hành thêm cổ phiếu để huy động vốn Sử dụng vốn từ cổ phiếu một mặt sẽ làm tăng vốn chủ

sở hữu, từ đó làm giảm hệ số nợ và tăng thêm mức độ vững chắc về tài chính cho công ty, trên cơ sở đó làm tăng khả năng vay vốn và mức độ tín nhiệm cho công ty nhưng mặt khác

sẽ tạo thêm áp lực kinh doanh do chi phí sử dụng vốn cao Phát hành thêm cổ phiếu ra bên ngoài đồng nghĩa với việc chia sẻ quyền sở hữu công ty cho cổ đông mới, thiệt cho các chủ

sở hữu có mong muốn giữ nguyên quyền sở hữu công ty cung với thêm khoản chi phí phát hành phát sinh khiến cho lợi nhuận giảm Tỷ trọng của vốn cổ phần đã phát hành cuối năm

2020 so với cuối năm 2019 có xu hướng giảm chứng tỏ, công ty có xu hướng giảm huy động nguồn vốn chủ sở hữu từ bên ngoài, vậy nên để đảm bảo nhu cầu về vốn, công ty phải tăng cường hiệu quả sản xuất kinh doanh để tăng lợi nhuận, tăng khả năng tài trợ vốn từ nguồn vốn bên trong

Thặng dư vốn cổ phần cuối năm 2020 là 145867 triệu đồng, cuối năm 2019 là 75996 triệu đồng, tăng 69871 triệu đồng với tỷ lệ tăng là 91,94% Tỷ trọng thặng dư vốn cổ phần cuối năm 2020 là 25,72%, cuối năm 2019 là 16,29%, tăng 9,43% Thặng dư vốn cổ phần là phần chênh lệch giữa mệnh giá và giá phát hành của cổ phiếu Thặng dư vốn cổ phần của công ty tăng cả về quy mô và cơ cấu thể hiện công ty có năng lực tài chính rất mạnh, giá trị vô hình

Ngày đăng: 15/03/2022, 20:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w