1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng thuyết đa trí thông minh vào dạy học môn tiếng anh lớp 5 tại trường tiểu học anh việt mỹ, quận 4, TP hồ chí minh

190 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 190
Dung lượng 4,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vận dụng thuyết đa trí thông minh vào dạy học môn tiếng anh lớp 5 tại trường tiểu học anh việt mỹ, quận 4, TP hồ chí minh Vận dụng thuyết đa trí thông minh vào dạy học môn tiếng anh lớp 5 tại trường tiểu học anh việt mỹ, quận 4, TP hồ chí minh Vận dụng thuyết đa trí thông minh vào dạy học môn tiếng anh lớp 5 tại trường tiểu học anh việt mỹ, quận 4, TP hồ chí minh

Trang 1

viii

MỤC LỤC

TRANG TRANG TỰA

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI

LÝ LỊCH KHOA HỌC i

LỜI CẢM ƠN ii

LỜI CAM ĐOAN iii

TÓM TẮT LUẬN VĂN iv

MỤC LỤC viii

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT xiii

DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ xiv

DANH MỤC CÁC BẢNG xv

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4.1 Khách thể nghiên cứu 3

4.2 Đối tượng nghiên cứu 3

5 Giả thuyết nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 4

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 4

7.3 Phương pháp khác 5

8 Đóng góp của Luận văn 5

9 Cấu trúc của Luận văn 5

CHƯƠNG 1 7

Trang 2

ix

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC TIẾNG ANH LỚP 5 TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC

THEO 7

1.1 Vài nét về đề tài nghiên cứu 7

1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 7

1.1.2 Nghiên cứu ở trong nước 10

1.2 Các khái niệm 14

1.2.1 Thuyết Đa trí thông minh 14

1.2.2 Dạy học tiếng Anh lớp 5 20

1.2.3 Dạy học tiếng Anh lớp 5 theo thuyết Đa trí thông minh 22

1.3 Một số vấn đề về dạy học tiếng Anh lớp 5 24

1.3.1 Dạy học môn tiếng Anh lớp 5 24

1.3.2 Đặc điểm môn tiếng Anh lớp 5 26

1.3.3 Mục tiêu dạy học và yêu cầu đạt được ở môn tiếng Anh lớp 5 26

1.3.4 Đặc điểm tâm lý học sinh lớp 5 trong học tập 28

1.4 Một số vấn đề ứng dụng thuyết Đa trí thông minh vào dạy học 29

1.4.1 Ứng dụng thuyết Đa trí thông minh trong phương pháp dạy học 29

1.4.2 Môi trường ứng dụng thuyết Đa trí thông minh 31

1.4.3 Đa trí thông minh của học sinh và việc vận dụng vào dạy học 32

1.4.4 Hướng tiếp cận thuyết Đa trí thông minh đối với học sinh 34

1.5 Dạy học môn tiếng anh lớp 5 theo thuyết Đa trí thông minh 37

1.5.1 Biểu hiện các dạng trí thông minh của học sinh lớp 5 theo thuyết Đa trí thông minh 37

1.5.2 Định hướng chung về phương pháp dạy học tiếng Anh lớp 5 theo thuyết Đa trí thông minh 37

1.5.3 Phương pháp dạy học phát huy trí thông minh ngôn ngữ 38

1.5.4 Phương pháp dạy học phát huy trí thông minh lôgic-toán học 38

1.5.5 Phương pháp dạy học phát huy trí thông minh không gian 39

1.5.6 Phương pháp dạy học phát huy trí thông minh giao tiếp 39

1.5.7 Phương pháp dạy học phát huy trí thông minh nội tâm 41

Trang 3

x

1.5.8 Phương pháp dạy học phát huy trí thông minh âm nhạc 41

1.5.9 Phương pháp dạy học phát huy trí thông minh vận động cơ thể 41

1.5.10 Phương pháp dạy học phát huy trí thông minh tự nhiên 41

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 42

CHƯƠNG 2 43

THỰC TRẠNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH LỚP 5 TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC ANH VIỆT MỸ THEO THUYẾT ĐA TRÍ THÔNG MINH 43

2.1 Giới thiệu khái quát về Trường Tiểu học Anh Việt Mỹ 43

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 43

2.1.2 Thông điệp và giá trị cốt lõi 43

2.1.3 Cơ sở vật chất 45

2.2 Tổ chức khảo sát 46

2.2.1 Mục đích khảo sát 46

2.2.2 Nội dung khảo sát 46

2.2.3 Đối tượng khảo sát 46

2.2.4 Phạm vi khảo sát 46

2.2.5 Phương pháp khảo sát 47

2.3 Thực trạng dạy học môn Tiếng Anh lớp 5 theo thuyết Đa trí thông minh tại Trường Tiểu học Anh Việt Mỹ, quận 4, TP Hồ Chí Minh 47

2.3.1 Thực trạng sách giáo khoa môn tiếng Anh tiểu học hiện hành với việc dạy học theo thuyết Đa trí thông minh 47

2.3.2 Thực trạng dạy học môn Tiếng Anh lớp 5 theo thuyết Đa trí thông minh tại Trường Tiểu học Anh Việt Mỹ 53

2.4 Đánh giá chung về thực trạng 75

2.4.1 Những điểm còn tồn tại 75

2.4.2 Nguyên nhân 75

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 78

CHƯƠNG 3 79

Trang 4

xi

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH LỚP 5 THEO THUYẾT ĐA TRÍ THÔNG MINH TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC ANH VIỆT MỸ, QUẬN 4, TP HỒ CHÍ MINH 79 3.1 Định hướng xây dựng và thực hiện các phương pháp dạy học môn tiếng Anh lớp 5 theo thuyết Đa trí thông minh tại Trường Tiểu học Anh Việt Mỹ 79 3.1.1 Định hướng 1: Đảm bảo sự thống nhất giữa tính đồng loạt và tính phân hóa trong dạy học 79 3.1.2 Định hướng 2: Đảm bảo phát huy tính tích cực, độc lập và sáng tạo của học sinh trong học tập 80 3.1.3 Định hướng 3: Tạo môi trường dạy học để học sinh có điều kiện thảo luận, trao đổi ý tưởng với giáo viên, bạn bè 81 3.1.4 Định hướng 4: Hướng tới mục đích phát triển toàn diện cho học sinh, phát huy những dạng trí thông minh nổi trội và khắc phục những khiếm khuyết của các dạng trí thông minh còn thiếu ở mỗi học sinh 81 3.1.5 Định hướng 5: Đảm bảo tính khả thi, dễ áp dụng đối với giáo viên và học sinh 83 3.2 Đề xuất phương pháp dạy học môn Tiếng Anh lớp 5 theo thuyết Đa trí thông minh tại Trường Tiểu học Anh Việt Mỹ, quận 4, TP Hồ Chí Minh 83 3.3 Vận dụng các phương pháp dạy học môn Tiếng Anh lớp 5 theo thuyết Đa trí thông minh tại Trường Tiểu học Anh Việt Mỹ, quận 4, TP Hồ Chí Minh 93 3.3.1 Vận dụng phương pháp dạy học trải nghiệm trong dạy học môn Tiếng Anh lớp 5 tại Trường Tiểu học Anh Việt Mỹ 94 3.3.2 Vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy học môn Tiếng Anh lớp 5 tại Trường Tiểu học Anh Việt Mỹ 101 3.3.3 Vận dụng hoạt động trò chơi trong dạy học môn Tiếng Anh lớp 5 tại

Trường Tiểu học Anh Việt Mỹ 103 3.3.4 Vận dụng phương pháp theo cặp/ nhóm trong dạy học môn Tiếng Anh lớp

5 tại Trường Tiểu học Anh Việt Mỹ 108

Trang 5

xii

3.3.5 Vận dụng kỹ thuật mảnh ghép trong dạy học môn Tiếng Anh lớp 5 tại

Trường Tiểu học Anh Việt Mỹ 111

3.4 Thiết kế giáo án dạy học tiếng Anh lớp 5 theo thuyết Đa trí thông minh tại trường tiểu học Anh Việt Mỹ 113

3.5 Thực nghiệm sư phạm 116

3.5.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 116

3.5.2 Tổ chức thực nghiệm và nội dung thực nghiệm sư phạm 117

3.5.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm 118

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 124

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 125

TÀI LIỆU THAM KHẢO 127

TIẾNG VIỆT 127

TIẾNG ANH 128

PHỤ LỤC 130

PHỤ LỤC 1 131

PHỤ LỤC 2 134

PHỤ LỤC 3 143

PHỤ LỤC 4 147

PHỤ LỤC 5 151

PHỤ LỤC 6 161

PHỤ LỤC 7 170

Trang 7

xiv

DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ

Hình 1 1 Vị trí của các dạng trí thông mình trên bộ não 15

Hình 1 2 Mô tả tám loại hình trí thông minh bằng sơ đồ tư duy 18

Hình 1 3 Sử dụng bản đồ tư duy mô tả tám loại hình trí thông minh 36

Biểu đồ 2 1 Mong muốn của GV về việc tìm hiểu và vận dụng thuyết Đa trí thông minh vào DH tiếng Anh lớp 5 57

Biểu đồ 2 2 Cảm nhận của học sinh về nội dung chương trình tiếng Anh lớp 5 66

Sơ đồ 3 1 Quy trình thực hiện phương pháp đóng vai 102

Sơ đồ 3 2 Quy trình thực hiện phương pháp trò chơi vận động 105

Sơ đồ 3 3 Quy trình thực hiện hoạt động trò chơi mô phỏng 106

Sơ đồ 3 4 Quy trình thực hiện phương pháp thảo luận nhóm 109

Đồ thị 3 1 Đồ thị đường lũy tích kết quả bài kiểm tra thực hiện của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng 123

Trang 8

xv

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2 1 Kết quả khảo sát về nội dung nhận thức của GV về quan niệm DH theo

thuyết Đa trí thông minh 55

Bảng 2 2 Kết quả khảo sát đánh giá về mức độ quan trọng về DH tiếng Anh theo

thuyết Đa trí thông minh 56

Bảng 2 3 Kết quả khảo sát đánh giá về mức độ của việc DH môn tiếng Anh lớp 5

theo thuyết Đa trí thông minh 58

Bảng 2 4 Kết quả khảo sát đánh giá về mức độ của việc DH môn tiếng Anh lớp 5

theo thuyết Đa trí thông minh 60

Bảng 2 5 Khảo sát về việc thực hiện một số kỹ năng trong quá trình DH theo

thuyết Đa trí thông minh 62

Bảng 2 6 Khảo sát về những khó khăn, trở ngại khi tổ chức thực hiện DH môn

tiếng Anh lớp 5 theo thuyết Đa trí thông minh 64

Bảng 2 7 Thái độ học tiếng Anh của học sinh lớp 5 tại Trường Tiểu học Anh Việt

Mỹ 67

Bảng 2 8 Cảm nhận của học sinh lớp 5 về bầu không khí tiếng Anh tại Trường

Tiểu học Anh Việt Mỹ 67

Bảng 2 9 Kết quả khảo sát HS về mức độ Thầy/Cô có thường xuyên sử dụng các

hoạt động trong giờ học 68

Bảng 2 10 Các hành động học tâp của các học sinh lớp 5 thực hiện khi học tiếng

Trang 9

xvi

Trang 10

ở HS Chính vì vậy, nhiều HS có thể học tập tốt hơn nếu các em có điều kiện phát huy được những dạng trí thông minh nổi trội của mình trong các hoạt động học tập Thuyết Đa trí thông minh từ khi ra đời đã nhận được sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu giáo dục, đồng thời mang tính giáo dục nhân văn sâu sắc, rất cần thiết trong hoạt động DH của các nhà trường, của GV và HS Mỗi dạng trí thông minh đều quan trọng, mỗi HS ít, nhiều đều có những thế mạnh riêng, sở trường học tập riêng Vấn đề đặt ra là nhà trường và GV cần phải có những phương pháp phù hợp, những tác động đúng hướng, kịp thời để khơi gợi tiềm năng, tạo điều kiện cho

HS được học tập theo đúng thế mạnh của mình, tối ưu hóa quá trình DH và tiếp thu kiến thức của HS

Đảng và Nhà nước ta luôn đề ra chủ trương, chính sách đúng đắn trong giáo dục và đào tạo, xác định mục tiêu: Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân Đặc biệt,

Trang 11

2

Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo nhấn mạnh: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học” Mục tiêu xác định chủ yếu đối với giáo dục phổ thông là tập trung phát triển trí thông minh, thể chất, hình thành phẩm chất, NL công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho HS Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, NL và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, 2013) Như vậy, quán triệt tinh thần đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo của Đảng và Nhà nước ta, xu hướng vận dụng thuyết Đa trí thông minh vào quá trình đổi mới DH ở các trường học là cần thiết giúp cho HS có điều kiện phát triển toàn diện cả về phẩm chất và NL; hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi cá nhân người học

Từ thực tiễn hoạt động DH mông tiếng Anh và qua các kết quả khảo sát về thực trạng DH môn tiếng Anh cho HS tại Trường Tiểu học Anh Việt Mỹ cho thấy, việc đổi mới PPDH, hình thức tổ chức DH… môn tiếng Anh của GV tuy đã có những chuyển biến đáng kể, song vẫn còn những hạn chế nhất định so với yêu cầu, đòi hỏi của việc đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay Với cách DH hiện nay cho thấy, một bộ phận GV vẫn thiên về sử dụng các phương pháp thuyết trình, giảng giải truyền thống gây ra sự đơn điệu, nhàm chán cho HS; hình thức lên lớp vẫn áp dụng chung một cách dạy, một cách hướng dẫn, cùng một nội dung, bài tập, câu hỏi… cho hầu hết các đối tượng người học Kết quả của cách dạy này đó là khiến cho nhiều HS học tập một cách thụ động, ít có cơ hội phát huy NL, sở trường của mình, đặc biệt, các dạng trí thông minh nổi trội của HS ít có cơ hội được phát huy, phát triển Điều này đặt ra cho GV bài toán đó là phải làm cách nào để tác động tích cực, toàn diện vào HS, giúp các em biết cách tận dụng những thành tố đặc trưng của các dạng trí thông minh để lĩnh hội kiến thức và chủ động giải quyết hiệu

Trang 12

tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn

2 Mục tiêu nghiên cứu

Dựa trên cơ sở lý luận và khảo sát thực trạng, nghiên cứu đề xuất một số phương pháp DH tiếng Anh lớp 5 theo thuyết Đa trí thông minh tại Trường Tiểu học Anh Việt Mỹ, quận 4, TP Hồ Chí Minh; qua đó, góp phần phát triển các kỹ năng cụ thể cho việc học tiếng Anh của HS

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận DH tiếng Anh lớp 5 theo thuyết Đa trí thông minh Khảo sát thực trạng DH tiếng Anh lớp 5 theo thuyết Đa trí thông minh tại Trường Tiểu học Anh Việt Mỹ

Đề xuất phương pháp tổ chức DH môn tiếng Anh theo thuyết Đa trí thông minh tại Trường Tiểu học Anh Việt Mỹ, quận 4, TP Hồ Chí Minh

Tiến hành thực nghiệm sư phạm

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình DH môn tiếng Anh lớp 5 ở trường Tiểu học Anh Việt Mỹ theo Thuyết Đa trí thông minh

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Tổ chức DH môn tiếng Anh lớp 5 theo thuyết Đa trí thông minh

5 Giả thuyết nghiên cứu

Hiện nay, dạy học tiếng Anh cho HS lớp 5 tại trường Tiểu học Anh Việt Mỹ vẫn còn rất thụ động, HS ít có cơ hội phát huy NL, sở trường của mình, đặc biệt, các dạng trí thông minh nổi trội của HS ít có cơ hội được phát huy, phát triển Các

kỹ năng tiếng Anh của HS lớp 5 sẽ được cải thiện khi GV vận dụng các phương

Trang 13

4

pháp DH tiếng Anh theo thuyết Đa trí thông minh vào trong DH môn tiếng Anh lớp

5 tại trường Tiểu học Anh Việt Mỹ

6 Phạm vi nghiên cứu

- Luận văn tập trung nghiên cứu về DH môn tiếng Anh lớp 5 theo thuyết Đa trí thông minh

- Đề xuất một số phương pháp tổ chức DH môn tiếng Anh lớp 5 theo thuyết

Đa trí thông minh Trong mỗi phương pháp chỉ trình bày mục đích của phương pháp; nội dung và cách thức thực hiện

- Thực nghiệm tiến hành ở 2 lớp thuộc khối lớp 5 tại Trường Tiểu học Anh Việt Mỹ, quận 4, TP Hồ Chí Minh

- Thời gian thực nghiệm: Năm học 2020-2021

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng và Nhà nước về việc chỉ đạo hoạt động

DH có liên quan tới DH tiếng Anh lớp 5 theo thuyết Đa trí thông minh

- Sưu tầm, nghiên cứu giáo trình, đề tài khoa học, luận văn, luận án, sách, báo, các tài liệu có liên quan tới vấn đề DH tiếng Anh theo thuyết Đa trí thông minh

- Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu hướng dẫn DH tiếng Anh, các phương pháp DH tiếng anh theo thuyết Đa trí thông minh để xây dựng cơ sở lí luận của luận văn

Các phương pháp nghiên cứu lý luận này chủ yếu tập trung vào giai đoạn nghiên cứu lý thuyết, xây dựng khung lý thuyết trong chương 1 của luận văn

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra: Thông qua phát phiếu trưng cầu ý kiến, tìm hiểu về nhận thức, đánh giá, nguyện vọng của các đối tượng điều tra, qua đó tổng hợp các thông tin cần thiết

- Phương pháp trải nghiệm: Thực hiện một số hoạt động trải nghiệm thực tiễn để thấy được sự thay đổi về nhận thức, kiến thức, kĩ năng tiếng Anh của HS

Trang 14

5

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn một số chủ thể có liên quan (chuyên gia giáo dục, cán bộ quản lý, GV, HS) để thu thập một số nội dung thông tin cần thiết mà các phương pháp khác không thực hiện được

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Nhằm tìm hiểu bản chất, nguồn gốc, nguyên nhân và cách giải quyết những khó khăn trong DH môn tiếng Anh lớp 5 theo thuyết Đa trí thông minh tại Trường Tiểu học Anh Việt Mỹ

- Phương pháp thống kê toán học: Tiến hành thống kê, xử lý số liệu khảo sát

8 Đóng góp của Luận văn

Luận văn khái quát, luận giải làm rõ hơn một số vấn đề lý luận về DH tiếng Anh lớp 5 theo thuyết Đa trí thông minh Làm rõ hoạt động DH môn tiếng Anh lớp

5 theo thuyết Đa trí thông minh tại Trường Tiểu học Anh Việt Mỹ Đồng thời, đề xuất được một số phương pháp DH môn tiếng Anh lớp 5 theo thuyết Đa trí thông minh tại Trường Tiểu học Anh Việt Mỹ, quận 4, TP Hồ Chí Minh có tính thực tiễn

và khả thi

9 Cấu trúc của Luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn được cấu trúc gồm 03 chương, cụ thể:

Chương 1 Cơ sở lý luận về dạy học tiếng Anh lớp 5 tại trường tiểu học theo thuyết Đa trí thông minh

Chương 2 Thực trạng dạy học tiếng Anh lớp 5 theo thuyết Đa trí thông minh tại Trường Tiểu học Anh Việt Mỹ, quận 4, TP Hồ Chí Minh hiện nay

Trang 15

6 Chương 3 Phương pháp dạy học tiếng Anh lớp 5 theo thuyết Đa trí thông minh tại Trường Tiểu học Anh Việt Mỹ, quận 4, TP Hồ Chí Minh

Trang 16

7

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC TIẾNG ANH LỚP 5

TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO THUYẾT ĐA TRÍ THÔNG MINH

1.1 Vài nét về đề tài nghiên cứu

1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài

Nhà tâm lý học người Mỹ Howard Gardner trên cơ sở tận dụng các tiến độ trong y học, dựa trên các phân tích về khả năng hệ thần kinh của con người, đã công

bố tác phẩm “Frames of Mind – The Theory of Multiple Intelligences” năm 1983

Và ông cũng xác định rằng con người tồn tại bảy dạng trí thông minh riêng biệt: Trí thông minh ngôn ngữ, Trí thông minh logic/toán, Trí thông minh không gian, Trí thông minh hình thể - động năng, Trí thông minh âm nhạc, Trí thông minh giao tiếp, Trí thông minh nội tâm

Kể từ khi công bố, thuyết Đa trí thông minh đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học thuộc ngành Tâm lý học, Giáo dục học, tiêu biểu như: Thomas Armstrong (2000), Linda Campbell, Bruce Campbell & Dee Dickinson (1992), Thomas R Hoerr (2000), Mark Wahl (1997)… Các nhà nghiên cứu đã tập trung tìm ra những cách thức, con đường để đưa các phương pháp ứng dụng thuyết Đa trí thông minh vào DH trong các nhà trường để nâng cao chất lượng

DH, đồng thời, có những chỉ dẫn cụ thể giúp cho các bậc phụ huynh HS biết cách phát huy hết tiềm năng trí thông minh tiềm ẩn trong bản thân mỗi HS

Thomas Armstrong đã tập trung nghiên cứu về thuyết Đa trí thông minh dựa trên nền tảng thuyết “Đa trí thông minh” (1983) của Howard Gardner, những nỗ lực nghiên cứu của ông đã giúp cho thuyết Đa trí thông minh tỏa sáng trong giáo dục Đặc biệt, với những công sức nghiên cứu về thuyết Đa trí thông minh, ông đã viết một số cuốn sách rất nổi tiếng xung quanh về trí thông minh con người, như: “7 loại hình thông minh” (Thomas Armstrong, 2011), “Bạn thông minh hơn bạn nghĩ”

Trang 17

8

(Thomas Armstrong, 2011) … Trong các cuốn sách tác giả chủ yếu nghiên cứu và chỉ ra về cách nhận biết các dạng trí thông minh nổi trội của HS để giúp các nhà quản lý giáo dục, GV và phụ huynh HS đưa ra các phương pháp giáo dục phù hợp với các dạng trí thông minh nổi trội đó Bước ngoặt trong nghiên cứu về thuyết Đa trí thông minh của Thomas Armstrong là vào năm 2000 ông đã công bố công trình

“Đa trí thông minh trong lớp học” Cuốn sách đi sâu nghiên cứu chương trình, môi trường học, chiến lược học, cách quản lý, đánh giá và thiết kế kế hoạch DH Đa trí thông minh Đây thực sự là một gợi ý quan trọng để thực hiện DH theo thuyết Đa trí thông minh chung cho tất cả các môn học, các cấp học Tác giả đã có hướng dẫn tương đối cụ thể về tám cách DH Đa trí thông minh, như: (1) Trí thông minh ngôn ngữ, gồm có hoạt động dạy, thuyết trình, thảo luận, chơi chữ, đọc đồng thanh, viết nhật kí; tài liệu dạy, sách băng đĩa, dụng cụ để viết, giấy, sổ nhật kí; kỹ thuật dạy, đọc một tài liệu sau đó thực hiện viết, nói, trao đổi, thảo luận; (2) Trí thông minh logic/toán, gồm: Hoạt động dạy, các trò chơi đấu trí, các bài toán giải quyết vấn đề, các trò chơi với con số, tính nhầm, tư duy phê phán; tài liệu dạy, máy tính, các bài tập toán, các thiết bị khoa học, thiết bị toán; kỹ thuật dạy, DH theo logic/toán, phân tích, so sánh, tổng hợp…; (3) Trí thông minh không gian gồm có: Hoạt động dạy, trưng bày mẫu nhìn, hoạt động nghệ thuật, trò chơi cần trí tưởng tượng, vẽ trang trí, tìm ẩn dụ, tạo ảnh trong đầu; tài liệu dạy, biểu đồ, đồ họa, trò chơi xếp hình, máy ảnh, máy quay phim, các trưng bày hội họa; kỹ thuật dạy, quan sát mô hình, bảng biểu… Cùng với đó, tác giả còn gợi ý các soạn giáo án DH theo thuyết Đa trí thông minh gồm có 7 mục Theo Thomas Armstrong, khi điều khiển các hoạt động học tập, GV phải liên tục thay đổi cách dạy, khi sử dụng ngôn ngữ để thuyết trình (trí thông minh ngôn ngữ), khi sử dụng mô hình, vật thật, chiếu video, clip để minh họa cho bài học (trí thông minh không gian), dừng một khoảng thời gian nhất định để

HS suy nghĩ (trí thông minh nội tâm), đặt câu hỏi cho HS suy nghĩ thảo luận (trí thông minh giao tiếp)… khuyến khích HS vận dụng kiến thức vào thực tế, HS được học trong môi trường tự nhiên, xem vật thật, tham quan dã ngoại (trí thông minh tự nhiên học) (Thomas Armstrong, 2011)

Trang 18

9

Linda Campbell, Bruce Campbell & Dee Dickinson cũng đã có những nghiên cứu tương đối kỹ về “Dạy và học tập theo thuyết Đa trí thông minh” Trong công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã tập trung nghiên cứu chỉ ra phương pháp giáo dục truyền thống chỉ tập trung vào trí thông minh ngôn ngữ và trí thông minh logic/toán, còn lại sáu dạng trí thông minh phi truyền thống lại bị xem nhẹ, chưa tập trung khai thác Nếu quá trình DH vận dụng theo thuyết Đa trí thông minh thì sẽ làm tăng khả năng thành công của HS; đồng thời, tạo ra một môi trường giáo dục lành mạnh, cởi mở và sáng tạo hơn, giúp HS có nhiều cơ hội phát triển tài năng

và thỏa sức sáng tạo Theo các tác giả, để DH theo thuyết Đa trí thông minh, GV cần dựa vào các dạng trí thông minh nổi trội thực tế của HS được thể hiện trong lớp học, trên cơ sở đó tiến hành chia ra thành các nhóm tương ứng Trong các nhóm có các chương trình học tập, như: chương trình giảng dạy theo chủ đề và từng nhóm được cung cấp tám cách khác nhau để học các môn học Khi làm việc tại các nhóm,

HS qua lại giữa các nhóm từ 15 đến 20 phút ở mỗi nhóm và từng cá nhân HS chia

sẻ công việc của họ trong các nhóm (Linda Campbell, Bruce Campbell&Dee Dickinson, 1992)

Thomas R Hoerr (2000) cũng tập trung nghiên cứu về thuyết Đa trí thông minh, tác giả cho rằng: Thuyết Đa trí thông minh dạy chúng ta rằng tất cả mọi HS đều thông minh, nhưng chúng thông minh theo những cách khác nhau Từ quan điểm và cách tiếp cận đó, tác giả và các GV bắt đầu tìm kiếm các dạng trí thông minh nổi trội ở mỗi cá nhân và tạo điều kiện để mọi HS đều có cơ hội phát triển các dạng trí thông minh nổi trội đó Tác giả khẳng định rằng, theo thuyết Đa trí thông minh, HS có nhiều con đường để đạt được thành công trong học tập Trong quá trình nghiên cứu về thuyết Đa trí thông minh, tác giả đã đặt ra được các vấn đề trong DH làm thế nào để giúp HS biết phát huy được các dạng trí thông minh nổi trội Nếu HS có trí thông minh ngôn ngữ nổi trội, làm thế nào để HS lợi dụng mặt mạnh này để học được môn toán hoặc các môn xã hội; nếu HS có trí thông minh logic toán thì lợi dụng những mặt mạnh ấy để học tốt môn toán và các môn khoa học tự nhiên; nếu HS có trí thông minh không gian nổi trội, GV giúp HS lợi dụng

Trang 19

10

thế mạnh này để học môn toán và môn địa lý và chia sẻ với HS khác về cách vẽ tác phẩm nghệ thuật; nếu HS có trí thông minh giao tiếp nổi trội, GV tổ chức các hoạt động học tập mà HS có nhiều cơ hội được tương tác với nhau; nếu HS có trí thông minh nội tâm, GV cần giúp HS tự đề xuất, kế hoạch, mục tiêu học tập cho mình… (Thomas R Hoerr,2000)

Như vậy, trên thế giới nghiên cứu về vận dụng thuyết Đa trí thông minh và

DH nói chung và DH tiếng Anh cấp tiểu học nói riêng đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học giáo dục Những kết quả nghiên cứu đó có thể tiếp cận, khai thác và luận giải dưới nhiều góc độ, khía cạnh và phạm vi khác nhau, song đều là nền tảng quan trọng để tác giả kế thừa có chọn lọc trong thực hiện đề tài của mình

1.1.2 Nghiên cứu ở trong nước

Ở Việt Nam, nghiên cứu về việc vận dụng thuyết Đa trí thông minh vào trong DH ở các cấp học đã được quan tâm nghiên cứu, thông qua các bài viết, luận văn, nhất là trong một số luận án cũng đã tập trung nghiên cứu làm rõ những vấn đề

cơ bản về vận dụng thuyết Đa trí thông minh vào DH các môn học, trong đó có môn tiếng Anh Có thể phân tích một vài công trình có liên quan tới DH theo hướng vận dụng thuyết Đa trí thông minh dưới đây:

Trần Đình Châu-Đặng Thị Thuy Thủy (2013), Vận dụng thuyết Đa trí thông minh trong DH phổ thông Tác giả đã tập trung làm rõ được một số vấn đề lý luận

về thuyết Đa trí thông minh, khái quát 8 loại trí thông minh nổi trội; làm rõ những đặc điểm trong DH ở bậc phổ thông như yêu cầu kiến thức, kỹ năng, đặc điểm đối tượng, đặc điểm môn học… từ đó chỉ ra hướng vận dụng thuyết Đa trí thông minh vào trong DH phổ thông Đặc biệt, tác giả còn chỉ ra được cách thức, trình tự vận dụng thuyết Đa trí thông minh vào DH phổ thông một cách tương đối cụ thể, tương đối khả thi Mặc dù, không đề cập tới DH tiếng Anh theo thuyết Đa trí thông minh, song những nội dung tác giả đề cập, phân tích, khơi gợi mang lại những giá trị quan trọng giúp tác giả kế thừa, phát triển để thực hiện đề tài của mình (Trần Đình Châu-Đặng Thị Thuy Thủy, 2013)

Trang 20

11

Phan Văn Nhân (2013), DH theo thuyết Đa trí thông minh.Tác giả đã tập trung phân tích tương đối kỹ về thuyết Đa trí thông minh với 8 trí thông minh nổi trội mà GV cần biết để phát huy trong mỗi HS Với xu hướng đổi mới quá trình DH, tập trung vào phát huy tính tích cực, tự giác và khả năng của người học, việc DH theo thuyết Đa trí thông minh sẽ giúp cho GV và HS phát huy cao độ vai trò của mình cùng nâng cao chất lượng đào tạo Trong công trình tác giả cũng khái quát về thực trạng hoạt động DH ở trường phổ thông hiện nay chủ yếu theo lối DH truyền thống, không phát huy được sở trường của HS, lối DH đó khiến HS thụ động, hiệu quả DH thấp Tác giả cũng đề xuất một số biện pháp DH theo thuyết Đa trí thông minh có thể vận dụng vào DH ở cấp phổ thông Đây cũng là nguồn tài liệu thiết thực để tác giả nghiên cứu trong quá trình thực hiện đề tài của mình (Phan Văn Nhân, 2013)

Hồ Long Anh (2013), Vận dụng thuyết Đa trí thông minh vào DH chương

“Cảm ứng điện từ” Vật lí 11 nâng cao Tác giả tập trung nghiên cứu thuyết Đa trí thông minh để làm rõ phần lý luận của thuyết này, đồng thời, làm rõ vai trò, tầm quan trọng của việc vận dụng thuyết Đa trí thông minh vào trong quá trình DH ở cấp phổ thông Trước yêu cầu đặt ra của môn Vật lí 11, tác giả cho rằng, việc vận dụng thuyết Đa trí thông minh vào DH chương “Cảm ứng điện từ” Vật lí 11 là rất phù hợp và hiệu quả Vận dụng thuyết Đa trí thông minh vào DH nội dung này sẽ trực tiếp phát huy khả năng tư duy, sáng tạo của HS, giúp các em có cơ hội khám phá, đưa ra những quan điểm, sáng kiến cá nhân một cách thoải mái Tác giả cũng

đã chỉ ra khá rõ về nội dung, cách thức vận dụng thuyết Đa trí thông minh vào DH chương “Cảm ứng điện từ” Vật lí 11 Đề xuất một số biện pháp để tổ chức DH chương “Cảm ứng điện từ” Vật lí 11 có hiệu quả theo thuyết Đa trí thông minh (Hồ Long Anh, 2013)

Võ Thanh Hà (2013), Nghiên cứu lý thuyết Đa trí thông minh (Đa trí thông minh) và khả năng ứng dụng vào giáo dục tiểu học Tác giả đi sâu nghiên cứu về lý thuyết Đa trí thông minh với những phân tích, đánh giá chi tiết, cụ thể làm rõ được những ưu điểm của thuyết Đa trí thông minh Đây là cơ sở lý luận quan trọng, vững

Trang 21

12

chắc để đi đến những nhận định, đánh giá về khả năng ứng dụng trong giáo dục tiểu học Điểm nổi bật của công trình là tác giả đã đi sâu làm rõ được một số vấn đề lý luận cơ bản về thuyết Đa trí thông minh; khái quát một cách hệ thống về giáo dục tiểu học, như mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp… Trên cơ sở đó, đi đến những đánh giá, đề xuất cách thức ứng dụng thuyết Đa trí thông minh vào giáo dục bậc tiểu học Tác giả cũng đã đề xuất được một số cách thức ứng dụng thuyết

Đa trí thông minh vào giáo dục tiểu học có tính thực tiễn và tính khả thi cao Tác giả nhấn mạnh: Lứa tuổi HS bậc tiểu học rất cần sự phát hiện và tạo điều kiện để phát huy khả năng, sở trường vốn có ở bản thân từng em Do vậy, vận dụng thuyết

Đa trí thông minh vào giáo dục tiểu học sẽ giúp cho HS có nhiều cơ hội thành công trong học tập (Võ Thanh Hà, 2013)

Hoàng Thị Thu (2014), Vận dụng thuyết Đa trí thông minh vào DH môn Toán lớp 6 Tác giả tập trung nghiên cứu về thuyết Đa trí thông minh với hướng vận dụng trong DH môn Toán lớp 6 Theo tác giả, cách DH truyền thống tại các trường phổ thông đối với các môn học nói chung và đối với môn Toán nói riêng về cơ bản chưa phát huy được khả năng tiềm tàng ở mỗi HS Mới chỉ tập trung phát huy trí thông minh logic/toán của HS, còn các dạng trí thông minh nổi trội khác chưa được chú trọng để phát triển giúp HS nâng cao khả năng học tập, phát triển toàn diện bản thân Tác giả đã cụ thể hóa thành các nội dung DH theo thuyết Đa trí thông minh trong DH môn Toán lớp 6, đây là một nét đặc trưng tác giả đã làm được Tác giả cũng đã đề xuất được một số phương pháp vận dụng thuyết Đa trí thông minh vào

DH môn Toán lớp 6 tương đối phù hợp và có tính khả thi Các phương pháp đề xuất trong công trình giúp tác giả có cơ sở để nghiên cứu và đề xuất một số nội dung thiết thực trong đề tài của mình (Hoàng Thị Thu, 2014)

Trần Bình Trọng (2015), Vận dụng thuyết Đa trí thông minh vào DH môn Toán lớp 10 Trung học Phổ thông Trong công trình tác giả tập trung phân tích về nội dung của thuyết Đa trí thông minh chỉ ra với 8 dạng trí thông minh nổi trội Đặc biệt, tác giả đã đưa ra một số nội dung vận dụng thuyết Đa trí thông minh trong DH môn Toán lớp 10, đây là nội dung đề xuất mới của tác giả trong quá trình nghiên

Trang 22

13

cứu Tác giả chỉ rõ, việc vận dụng thuyết Đa trí thông minh vào DH môn Toán tạo điều kiện cho HS phát huy một cách tốt nhất khả năng học tập, sáng tạo, rèn luyện khả năng tư duy độc lập, linh hoạt Đồng thời, GV cũng tối ưu hóa PPDH nhằm đạt mục tiêu đề ra Mặc dù, chỉ nghiên cứu ở phạm vi hẹp đối với DH môn Toán lớp 10 Trung học Phổ thông song cách thức tổ chức DH theo thuyết Đa trí thông minh mà tác giả trình bày, phân tích hoàn toàn có thể tham khảo, vận dụng trong các cấp học khác Tác giả cũng đề xuất được một số phương pháp vận dụng thuyết Đa trí thông minh vào DH môn Toán lớp 10 Trung học Phổ thông có tính khả thi cao (Trần Bình Trọng, 2015)

Nguyễn Thị Thanh Tuyền (2017), Luận án tiến sĩ DH theo hướng hỗ trợ HS lớp 4 gặp khó khăn trong học Toán Trong công trình Luận án tác giả đã tập trung bàn luận, phân tích tương đối sâu về các vấn đề lý luận, thực tiễn DH theo hướng hỗ trợ HS lớp 4 gặp khó khăn trong học Toán Trong đó, tác giả đề cập về những đặc thù, yêu cầu trong dạy toán và học môn Toán Nếu HS không phát huy cao mọi khả năng, sở trường của mình trong quá trình giải quyết vấn đề học tập nói chung và trong học môn Toán nói riêng sẽ gặp nhiều khó khăn Tác giả đã tiếp cận thuyết Đa trí thông minh như một hướng đi, cách thức để giúp GV và HS học tốt môn Toán lớp 4 Đặc biệt, trong chương lý luận tác giả trình bày rất chặt chẽ, khoa học và hệ thống các khái niệm, các luận điểm chính của Luận án Đây là thành công nổi bật để

từ đó tác giả đánh giá thực trạng DH theo hướng hỗ trợ HS lớp 4 gặp khó khăn trong học Toán Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp DH theo hướng

hỗ trợ HS lớp 4 gặp khó khăn trong học Toán có tính khả thi, hoàn toàn có thể ứng dụng vào thực tiễn DH ở cấp tiểu học (Nguyễn Thị Thanh Tuyền, 2017)

Hoàng Thị Thu Thủy (2017), Ứng dụng thuyết Đa trí thông minh trong việc giảng dạy tiếng Trung tại Khoa Đông phương Tác giả đã phân tích khá sâu sắc về thuyết Đa trí thông minh với những đánh giá, nhận định có nét riêng của tác giả Tác giả đặc biệt nhấn mạnh tới tầm quan trọng cũng như hiệu quả của ứng dụng thuyết Đa trí thông minh vào giảng dạy tiếng Trung Tác giả làm rõ đặc thù của giảng dạy và học tập tiếng Trung cần phát huy tổng thể các dạng trí thông minh của

Trang 23

14

sinh viên mới đạt được hiệu quả cao Việc ứng dụng thuyết Đa trí thông minh vào giảng dạy tiếng Trung sẽ giúp cho GV tối ưu hóa được PPDH, nâng cao khả năng truyền thụ kiến thức Đối với sinh viên, các em sẽ phát huy được sở trường, khả năng của mình để học tập tốt nhất có thể Theo tác giả, để học tốt tiếng Trung cần phát huy các dạng trí thông minh tương ứng với các kỹ năng cơ bản trong học ngoại ngữ, có vậy sinh viên mới tiếp thu kiến thức một cách tốt nhất, trên cơ sở đó, có sự sáng tạo, phát triển khả năng của bản thân Trên cơ sở phân tích thực trạng ứng dụng thuyết Đa trí thông minh trong việc giảng dạy tiếng Trung tại Khoa Đông phương, tác giả đã chỉ rõ ưu, khuyết điểm và nguyên nhân của những ưu, khuyết điểm Tác giả cũng đã đề xuất được một số giải pháp ứng dụng thuyết Đa trí thông minh trong việc giảng dạy tiếng Trung tại Khoa Đông phương; các giải pháp có tính đồng bộ và khả thi, hoàn toàn có thể triển khai vào thực tiễn giảng dạy tiếng Trung tại Khoa Đông phương (Hoàng Thị Thu Thủy, 2017)

Như vậy, qua phân tích một số công trình của các tác giả nêu trên cho thấy, thuyết Đa trí thông minh đã được quan tâm nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn

DH ở các trường phổ thông DH theo hướng vận dụng thuyết Đa trí thông minh giúp cho GV chọn ra PPDH tối ưu nhất cho từng nội dung và từng đối tượng HS, biết khơi dậy, phát huy khả năng nổi trội ở HS

1.2 Các khái niệm

1.2.1 Thuyết Đa trí thông minh

* Giới thiệu về thuyết Đa trí thông minh

Sau thời gian nghiên cứu trên nhiều mặt về trí thông minh, năm 1983 Howard Gadner đã công bố kết quả nghiên cứu bằng một lý thuyết tâm lý học mới,

đó là lý thuyết về nhiều dạng trí thông minh mà ông gọi tắt là MI (Theory of Multiple Intelligences) Cốt lõi của của lí thuyết tâm lý học MI là sự thừa nhận nhiều thành phần của trí thông minh trong một hoặc những NL người Theo đó, Ông đưa ra tám dạng trí thông minh khác nhau, đó là: Trí thông minh ngôn ngữ, trí thông minh âm nhạc, trí thông minh lôgic-toán, trí thông minh không gian, trí thông minh hình thể - động năng, trí thông minh cá nhân nội tâm, trí thông minh về tự

Trang 24

15

nhiên Và mỗi dạng trí thông mình sẽ ứng với từng vùng trên bộ não (Howard Gardner, 2012)

Hình 1 1 Vị trí của các dạng trí thông mình trên bộ não

Về nội dung cụ thể của tám loại hình trí thông minh mà Howard Gadner đưa

ra bao gồm:

Trí thông minh ngôn ngữ (Linguistic Intelligence): Bao gồm khả năng nói và

viết, khả năng học ngôn ngữ và khả năng sử dụng một cách có hiệu quả các từ ngữ, hoặc bằng lời nói, hoặc bằng chữ viết để đạt được mục tiêu Dạng trí thông minh này bao gồm khả năng xử lý cấu trúc ngôn ngữ, âm thanh của ngôn ngữ, nghĩa của ngôn ngữ và sử dụng trong thực tiễn Một số ứng dụng thực tế như thuật hùng biện, thuật gợi nhớ, thuật giải thích, thuật siêu ngôn ngữ… Theo Howard Gadner, các nhà văn, nhà thơ, luật sư và diễn giả là những người có trí thông minh ngôn ngữ tốt.(Howard Gardner, 2012)

Trí thông minh lôgic-toán học (Logical - Mathematical Intelligence): Bao

gồm khả năng phân tích, lý luận các vấn đề một cách lôgic, thực hiện các hoạt động liên quan đến toán học tốt, xem xét các vấn đề khoa học Theo Howard Gadner, những người có trí thông minh lôgic-toán học sẽ có khả năng phát hiện, suy diễn ra các trình tự, lý do và tư duy lôgic tốt, nhạy cảm với các quan hệ và cá sơ đồ lôgic, các mệnh đề và tỉ lệ thức, các hàm số và các dạng trừu tượng hóa có liên quan Việc

Trang 25

16

ứng dụng trí thông minh lôgic-toán học bao gồm thuật xếp loại, phân lớp, suy luận, khái quát hóa, tính toán và kiểm nghiệm chứng minh giả thuyết Những người có trí thông minh lôgic tốt là các nhà khoa học, nhân viên thuế, kế toán, nhà thống kê, kỹ

sư phần mềm, nhà kinh tế… (Howard Gardner, 2012)

Trí thông minh về âm nhạc (Musical Intelligence): Đó là khả năng cảm nhận

âm nhạc, phân biệt các hình thức âm nhạc, biến đổi âm nhạc, và thể hiện âm nhạc Dạng trí thông minh này bao gồm tính nhạy cảm với nhịp điệu, âm sắc, âm tần của một bản nhạc Trí thông minh âm nhạc song song với trí thông minh về ngôn ngữ-theo Howard Gadner (Howard Gardner, 2012)

Trí thông minh về hình thể - động năng (Bodily - Kinesthetic Intelligence ):

Đó là khả năng sử dụng toàn bộ cơ thể hoặc một phần cơ thể để thể hiện các ý tưởng và cảm xúc, cũng như sự khéo léo trong việc sử dụng cơ thể để sản xuất hay biến đổi sự vật (như một diễn viên kịch, một lực sĩ, một diễn viên múa), cũng như

sự khéo léo trong việc sử dụng cơ thể để sản xuất hay biến đổi sự vật Dạng trí thông minh này bao gồm các kỹ năng cơ thể đặc biệt như sự phối hợp cử động, khả năng giữ thăng bằng, sự khéo tay, sức mạnh cơ bắp, sự mềm dẻo… Những người có trí thông minh cơ thể vận động tốt là những người thực hành, nhạy cảm, thường xuyên muốn vận động cơ thể (Howard Gardner, 2012)

Trí thông minh thông minh về không gian (Spatial - Visual Intelligence): Đó

là khả năng liên quan tới suy nghĩ bằng hình ảnh, hình tượng, khả năng cảm nhận, chuyển đổi và khả năng tái tạo lại những góc độ khác nhau của thế giới không gian trực quan Dạng trí thông minh này liên hệ chặt chẽ với tính nhạy cảm về màu sắc, đường nét, hình dạng, và các tương quan vốn có giữa những yếu tố đó Những người sở hữu trí thông minh không gian ở mức độ cao thường hình dung được một cách sống động, vẽ ra hay phác họa những ý tưởng của họ dưới dạng hình ảnh, đồ họa, cũng như có khả năng tự định hướng bản thân trong không gian 3 chiều một cách dễ dàng (Howard Gardner, 2012)

Trí thông minh giao tiếp (Interpersonal Intelligence): Là khả năng cảm nhận

và phân biệt giữa các tâm trạng, ý đồ, động cơ và cảm nghĩ của người khác Dạng

Trang 26

17

trí thông minh này được thể hiện qua việc nắm bắt được những thay đổi về nét mặt, giọng nói, động tác, tư thế của đối phương khi giao tiếp, từ đó đáp ứng lại các biểu hiện của đối phương một cách thích hợp Những người có trí thông minh về giao tiếp có thể giàu lòng trắc ẩn và đầy tinh thần trách nhiệm đối với xã hội, hoặc có sức lôi cuốn với tập thể, họ có khả năng thấu hiểu người khác (Howard Gardner, 2012)

Trí thông minh nội tâm (Intrapersonal Intelligence ): Là khả năng hiểu biết bản thân và hành động một cách thích hợp trên cơ sở sự tự hiểu mình Những người

có trí thông minh nội tâm mạnh mẽ có thể dễ dàng tiếp cận và nhìn rõ được những cảm xúc của chính bản thân mình, phân biệt được giữa nhiều loại trạng thái tình cảm bên trong và sử dụng chính những hiểu biết về bản thân mình để làm phong phú thêm con đường cho cuộc đời mình Những người có trí thông minh nội tâm thường hay tự xem xét nội tâm, ham thích được trầm tư suy nghĩ, được ở trong trạng thái tĩnh lặng hay trong các trạng thái tìm hiểu tinh thần một cách sâu sắc khác Đồng thời, họ cũng có thể là người có tính độc lập cao, thẳng thắn cao độ và rất kỷ luật, tự giác Do vậy, trong mọi trường hợp, họ thường có xu hướng thích làm việc một mình hơn (Howard Gardner, 2012)

Trí thông minh thông minh về tự nhiên (Naturalist Intelligence): Là khả năng

nắm bắt, nhận dạng và phân loại các loài đông đảo có mặt trong môi trường sống của con người Dạng trí thông minh này bao gồm sự nhạy cảm với các hiện tượng của thiên nhiên Những người có trí thông minh về tự nhiên luôn hòa hợp với thiên nhiên và thích thú với sự nuôi trồng, khám phá thiên nhiên, tìm hiểu về các sinh vật Những người có trí thông minh về tự nhiên thường rất thích thú với các hoạt động liên quan tới tự nhiên, như cắm trại, làm vườn, leo núi, khám phá thế giới (Howard Gardner, 2012)

Trang 27

18

Hình 1 2 Mô tả tám loại hình trí thông minh bằng sơ đồ tư duy

* Các quan điểm về trí thông minh và đóng góp của thuyết Đa trí thông minh

Trong tiến trình phát triển của lịch sử loài người, chưa có định nghĩa nào mang tính khoa học về trí thông minh Các từ ngữ được sử dụng thường xuyên để hàm ý nói về trí thông minh như là “sáng dạ”, “lanh lợi” hoặc “thông minh” Tất cả những nhân vật nổi tiếng theo những cách khác nhau đều được gọi chung là “tài giỏi” Mặc dù vậy, trí thông minh luôn được đề cập cao, ít nhất là từ khi xuất hiện thành bang Hy Lạp: “Tác giả quan trọng nhất và động lực đầu tiên của vũ trụ là trí thông minh Do đó, nguyên nhân cuối cùng của vũ trụ ắt phải là lợi ích của trí thông minh, và trí thông minh là chân lý… Trong tất cả những điều con người theo đuổi

sự thông thái là điều hoàn hảo nhất, là điều cao cả nhất, điều hữu ích nhất, và thú vị nhất…” (Howard Gardner, 2012)

Bước sang thế kỉ XIX, các nhà tâm lý học đã nỗ lực nhằm định nghĩa khái niệm trí thông minh theo cách chuyên môn và nghĩ ra các test để đo nghiệm trí thông minh Đây là một tiến bộ và là một sự thành công đặc biệt Những test đo nghiệm trí thông minh đầu tiên ra đời vào đầu thế kỉ 20 nhằm lọc ra các trẻ em chậm phát triển và đưa những em còn lại vào lớp học phù hợp với trình độ Đây chính là tiền đề cho sự ra đời trào lưu trắc nghiệm IQ Chỉ số thông minh (IQ) là một khái niệm được nhà khoa học người Anh Francis Galton đưa ra trong cuốn sách Hereditary Genius xuất bản vào cuối thể kỷ XIX Sau đó được J Cattell và Alfred phát triển bằng việc thảo ra những bài trắc nghiệm để kiểm tra NL trí thông minh

Trang 28

19

của trẻ khi đi học Sau đó không lâu, nhà tâm lý học người Mỹ Giáo sư Lewis Terman đã phát triển bài trắc nghiệm gồm những câu phức tạp hơn để dùng cho người trưởng thành và đặt tên là bài trắc nghiệm chỉ số thông minh Stanford-Binet Xung quanh test đo nghiệm trí thông minh cũng có những ý kiến, quan điểm đánh giá trái chiều, nói cách khác là chỉ ra những hạn chế của cách đánh giá này Có thể nhận định rằng, nếu xét những nhân tố về phương pháp đo nghiệm tâm lí tiêu chuẩn thì đã có sự lạm dụng đáng kể sự “đo nghiệm IQ” một cách dễ dãi và không có mấy tiến bộ về lý thuyết Thời gian gần đây, xuất hiện thêm phương pháp đo nghiệm mới, đó là phương pháp tiếp cận xử lý thông tin (Hoàng Thị Yến, 2017)

Thế hệ đầu tiên của các nhà tâm lý học về trí thông minh như Charles Speaman (1927) và Lewis Terman (1975) có khuynh hướng tin rằng, trí thông minh

là một khả năng đơn giản nhất mang tính tổng hợp Họ tìm cách chứng minh rằng một tập hợp những điểm số trong các trắc nghiệm phản ánh một nhân tố nền tảng đơn giản nhất của “Trí thông minh tổng quát” Sau này nhà tâm lí học J P Guilford (1967) đã đưa ra lí lẽ ủng hộ sự tồn tại của một số những nhân tố hoặc thành phần của trí thông minh Xung quanh mối quan hệ giữa các thành phần của trí thông minh cũng tồn tại hai lí lẽ được đưa ra: (1) Ủng hộ mối quan hệ thứ bậc giữa các nhân tố, coi trí thông minh tổng quát, trí thông minh ngôn ngữ hoặc trí thông minh

về con số như là cái điều khiển những trí thông minh khác (2) Cho rằng mỗi trí thông minh đều là thành viên bình đẳng của cấu trúc trí thông minh (Howard

Gardner, 2012)

Ở một cách tiếp cận theo nghĩa rộng, thuyết Đa trí thông minh của Howard Gardner cũng là một đóng góp cho quan điểm đa nguyên về trí thông minh Chỉ khác biệt ở những nguồn chứng cứ mà nó dựa vào Nếu hầu hết những người theo quan điểm đa nguyên đều nhấn mạnh những mối tương quan ở mức thấp giữa các nhóm test thì Howard Gardner lại đặt lý thuyết nhiều dạng trí thông minh trên những bằng chứng từ việc nghiên cứu hàng loạt các lĩnh vực có liên quan: Nhân loại học, tâm lý học nhận thức, phân tích tâm lý, khoa học tiểu sử, sinh lý học về động vật… Chính vì thế, mặc dù có rất nhiều các loại luận thuyết về trí thông minh

Trang 29

20

được đưa ra nhưng khuôn mẫu về trí thông minh của Gardner lại trở thành đặc biệt, hữu dụng và có sức thuyết phục Gardner đã thiết lập được các yêu cầu cần thiết mang tính đặc trưng mà mỗi loại trí thông minh phải đạt được để có đủ điều kiện xác định đó là một loại trí thông minh (Howard Gardner, 2012)

1.2.2 Dạy học tiếng Anh lớp 5

Ở một cách tiếp cận khác, dựa trên quan điểm phát triển, nhất là phát triển về khoa học và công nghệ cho rằng: DH là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có

tổ chức và có định hướng giúp người học từng bước có NL tư duy và NL hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kỹ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được để trên cơ sở đó có khả năng giải quyết được các bài toán thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học (PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn, 2009)

Theo quan điểm của PGS TS Nguyễn Văn Tuấn, DH là hoạt động đặc trưng nhất, chủ yếu nhất của nhà trường, diễn ra theo một quá trình nhất định từ t0 đến tn gọi là quá trình DH Đó là một quá trình xã hội bao gồm và gắn liền với hoạt động dạy và hoạt động học, trong đó HS tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển và điều chỉnh hoạt động nhận thức của mình dưới sự điều khiển chỉ đạo, tổ chức, hướng dẫn của GV nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ DH (PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn, 2009)

Dạy học tiếp cận theo quan điểm hoạt động bao gồm hai hoạt động: Hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS Theo đó, hoạt động dạy thì GV giữ vai trò chủ đạo tổ chức điều khiển tối ưu quá trình truyền đạt nội dung hệ thống tri thức,

kĩ năng, kĩ xảo một cách khoa học cho HS tiếp thu Hoạt động dạy do GV làm chủ

Trang 30

21

thể và tác động vào đối tượng là HS và hoạt động nhân thức của HS Hoạt động học thì HS với tâm thế chủ động tự điều khiển tối ưu quá trình tiếp thu một cách tự giác, tích cực, tự lực nội dung hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà GV truyền đạt nhằm phát triển và hình thành nhân cách HS Hoạt động học do HS làm chủ thể và tác động vào đối tượng là nội dung kiến thức mới chưa đựng trong tài liệu học tập (PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn, 2009)

Như vậy, qua các quan điểm về DH nêu trên, tác giả nhận định: Dạy học là

hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm định hướng người học chiếm lĩnh tri thức, phát triển về NL tư duy và NL hành động, thông qua đó tăng thêm hiểu biết kiến thức, phát triển kỹ năng, có NL giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra trong cuộc sống

* Phương pháp dạy học

Hiện nay, vẫn chưa hoàn toàn có một định nghĩa thống nhất và PPDH, trên

cơ sở cách tiếp cận khác nhau mà mỗi tác giả đưa ra quan niệm về PPDH khác nhau

Một số quan niệm định rằng: PPDH chính là cách thức làm việc giữa người dạy và người học, thông qua đó giúp người học có thể nắm vững đầy đủ các kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo nhằm hình thành nên NL và thế giới quan

Tuy nhiên, theo quan niệm khác lại cho rằng: PPDH thực ra là các hình thức kết hợp về hoạt động của người dạy và người học với mục tiêu hướng vào một việc

để cùng đạt được một mục đích nào đó

Theo tác giả Trần Thị Phương Linh, PPDH là những hình thức và cách thức hoạt động của GV và HS trong những điều kiện DH xác định nhằm đạt được mục đích DH Tác giả cũng khái quát một số đặc điểm của PPDH, như: Thực hiện mục tiêu DH; là sự thống nhất của phương pháp dạy và phương pháp học; thực hiện thống nhất chức năng đào tạo và GD; có mặt bên ngoài và bên trong; là sự thống nhất của cách thức hành động và phương tiện DH… (Trần Thị Phương Linh, 2017)

Theo tác giả David Nunan, PPDH là một hệ thống tác động liên tục của GV nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của HS, để HS lĩnh hội vững chắc

Trang 31

22

các thành phần của nội dung GD nhằm đạt được mục tiêu đã định (David Nunan, 1991) Theo cách tiếp cận này thì PPDH luôn đặt trong mối quan hệ hai chiều với mục tiêu và nội dung DH

Như vậy, có thể nhận định về PPDH như sau: PPDH là hoạt động tương tác

giữa GV và HS nhằm giúp người học nắm kiến thức, kỹ năng, phát triển toàn diện

cả về NL và phẩm chất nhân cách

* Dạy học tiếng Anh lớp 5

Hiện nay, chương trình dạy học môn tiếng Anh ở cấp tiểu học nói chung và tiếng Anh lớp 5 nói riêng được tiến hành theo chương trình mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình môn học tiếng Anh lớp 5 góp phần hình thành và phát triển ở HS năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, tự phục vụ, tự quản, tự học và khả năng giải quyết vấn đề Thông qua chương trình dạy học tiếng Anh lớp 5 cũng tập trung bồi dưỡng và phát triển cho HS các phẩm chất khác, như: Chăm học, chăm làm, tự tin, trách nhiệm, trung thực, kỷ luật, đoàn kết và yêu thương của HS

Dạy học tiếng Anh lớp 5 cũng giống như các hoạt động DH khác bao gồm sự tác động của chủ thể giáo dục tới đối tượng giáo dục, nhằm trang bị, củng cố kiến thức, phát triển kỹ năng cho HS Ngoài các đặc điểm giống như các hoạt động DH khác, DH tiếng Anh lớp 5 còn có những đặc điểm riêng của môn học về mục tiêu, yêu cầu, phương pháp… Do vậy, để thực hiện tốt nội dung DH môn tiếng Anh lớp 5 cần quán triệt và thực hiện tốt các vấn đề đặt ra trong quá trình DH

Như vậy, DH môn tiếng Anh lớp 5 là tổng thể các hoạt động tác động của

GV nhằm trang bị, củng cố và phát triển cho HS những kiến thức, kỹ năng cụ thể về tiếng Anh (Nghe-Nói-Đọc-Viết); thông qua đó, phát triển cho HS những phẩm chất đạo đức, NL giải quyết vấn đề đặt ra trong cuộc sống

1.2.3 Dạy học tiếng Anh lớp 5 theo thuyết Đa trí thông minh

Từ quan niệm về DH, DH tiếng Anh lớp 5 và quan niệm về thuyết Đa trí thông minh, tác giả đưa ra quan niệm về DH tiếng Anh lớp 5 theo thuyết Đa trí thông minh như sau:

Trang 32

Các chuyên gia giáo dục học đều chỉ ra rằng, không phải tất cả mọi HS đều giống nhau, giữa HS này và HS kia có sự khác biệt về nhu cầu, NL, sở trường và các thế mạnh học tập cũng như khác nhau Khi nghiên cứu về vấn đề này, các tác giả cho rằng, mỗi người học đều có quyền được tôn trọng và có cơ hội phát triển tiềm năng vốn có của mình DH đòi hỏi phải tổ chức, tiến hành DH dựa trên những khác biệt này, nhằm tạo ra những kết quả tốt nhất cho HS

Quan niệm về DH theo hướng vận dụng thuyết Đa trí thông minh của Thomas Armstrong (Thomas Armstrong, 2011) cho rằng: Mỗi trẻ em đều có đủ tám dạng trí thông minh và đều có thể phát triển cả tám dạng trí thông minh đạt tới một mức độ hợp lý Những trẻ nhỏ thường bộc lộ cái mà Gardner gọi là “sở trường” (thiên hướng) phát triển các trí thông minh đặc trưng nào đó ngay từ nhỏ và trong học tập, có lẽ chúng đã xếp đặt cho mình cách học phù hợp với các dạng trí thông minh này hơn với dạng trí thông minh khác Chẳng hạn, có HS mạnh về tư duy logic toán học, có HS phát triển về tư duy ngôn ngữ, một số HS khác lại có điểm mạnh và phương pháp học tập thiên về trí thông minh không gian… Vì vậy, trong quá trình DH, GV cần tính đến sự khác biệt về thiên hướng phát triển các dạng trí thông minh của HS để có những biện pháp, cách thức tiếp cận DH phù hợp với sự khác biệt này Sử dụng nhiều con đường DH khác nhau, từ đó mới tạo ra nhiều hình thức, đa dạng hoạt động học tập, là nhân tố tích cực để tạo ra cơ hội học tập cho mỗi

HS, HS không có cơ hội này thì có cơ hội khác, nhờ vào đó mà các dạng trí thông minh nổi trội được phát triển

Dạy học tiếng Anh lớp 5 theo thuyết Đa trí thông minh là dựa vào sự khác biệt về tám dạng trí thông minh để xây dựng mục tiêu, nội dung, PPDH và sử dụng

Trang 33

24

các hình thức tổ chức DH thích hợp nhằm khai thác triệt để thế mạnh học tập của mỗi HS, tập trung phát triển các kiến thức, kỹ năng tiếng Anh cụ thể cho HS

Tác giả gợi ý một số cách DH theo thuyết Đa trí thông minh như sau:

Xác định mục tiêu học tập Đa trí thông minh Cho HS bảng các mục tiêu về hoạt động học tập Đa trí thông minh để mỗi HS biết được kế hoạch học tập của mình; thiết kế các chương trình DH Đa trí thông minh tập trung vào thế mạnh các dạng trí thông minh của HS; kết hợp nhiều mảng kiến thức, thiết kế bài DH Đa trí thông minh, trong bài dạy chú ý vào phát huy thế mạnh từng dạng trí thông minh của HS; tận dụng nhiều nguồn tài liệu khi soạn giáo án; điều chỉnh nội dung phù hợp với phương pháp học tập của từng HS; chuẩn bị giáo án lấy HS làm gốc, không mang tính áp đặt từ GV

Đáp ứng tính đa dạng về các trí thông minh trong học tập của HS; GV áp dụng nhiều hình thức DH khác nhau trong quá trình DH; Đa dạng các hình thức đánh giá, theo dõi sự tiến bộ của HS Mỗi HS có những nét riêng biệt về cách thể hiện các dạng trí thông minh nổi trội trong từng hoạt động học tập DH cần phải chú

ý đến nét riêng biệt này của từng HS, để thiết kế các hoạt động DH, tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ học tập cả về nội dung lẫn hình thức nhằm tạo điều kiện cho mỗi

HS phát huy thế mạnh về dạng trí thông minh nổi trội, qua đó lĩnh hội được kiến thức tiếng Anh một cách dễ dàng nhất

Trong luận văn tác giả đưa ra quan niệm về DH môn tiếng Anh lớp 5 theo

thuyết Đa trí thông minh như sau: DH môn tiếng Anh lớp 5 theo thuyết Đa trí thông

minh là DH đòi hỏi phải tổ chức, tiến hành các hoạt động DH dựa trên sự khác biệt

về các dạng trí thông minh HS nhằm tạo ra những kết quả học tập tốt nhất cho từng

HS, góp phần phát triển các kỹ năng tiếng Anh cụ thể cho HS

1.3 Một số vấn đề về dạy học tiếng Anh lớp 5

1.3.1 Dạy học môn tiếng Anh lớp 5

Tiếng Anh là môn học có tính trừu tượng cao, đòi hỏi sự phối hợp của rất nhiều kỹ năng, tiếng Anh ngày càng quan trọng và cần thiết trong cuộc sống, là thứ ngôn ngữ dùng phổ biến trong các giao dịch quốc tế Kỹ năng tiếng Anh giúp con

Trang 34

25

người hòa nhập tốt hơn trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay; làm tăng khả năng học tập, chiếm lĩnh tri thức cho HS, giúp HS tự tin hơn để trở thành những công dân toàn cầu trong thế kỷ 21

Dạy học tiếng Anh tiểu học góp phần hình thành và phát triển ở HS các phẩm chất chủ yếu đã được quy định tại chương trình giáo dục phổ thông tổng thể với những biểu hiện cụ thể, như: Tự học, kỷ luật, chăm chỉ, siêng năng, kiên trì, chủ động, linh hoạt, sáng tạo; có tư duy độc lập, có hứng thú và có niềm tin trong học tiếng Anh; có thế giới quan khoa học, hiểu được nguồn gốc thực tiễn và khả năng ứng dụng rộng rãi của tiếng Anh trong các lĩnh vực của đời sống xã hội; có khả năng thích ứng trước những thay đổi và khả năng đối mặt với những thử thách khó khăn; biết giải quyết những vấn đề xuất hiện trong thực tiễn; tham gia tích cực và thành công vào xu thế phát triển, đổi mới, hội nhập của thời đại

Dạy học tiếng Anh lớp 5 góp phần hình thành và phát triển ở HS các năng lực chung được quy định trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể qua các cơ hội phối hợp hoạt động giáo dục tiếng Anh với các HĐTN, cũng như tích hợp, phát triển các năng lực chung trong chương trình môn tiếng Anh Một số năng lực cụ thể được bồi dưỡng, phát triển trong DH tiếng Anh lớp 5, như: Năng lực giao tiếp và hợp tác; năng lực giải quyết vấn đề…

Dạy học môn tiếng Anh lớp 5 có nhiều ưu thế nổi trội để hình thành và phát triển ở HS các năng lực đặc thù, như: Năng lực ngôn ngữ; năng lực tư duy; năng lực giải quyết vấn đề; năng lực giao tiếp… Ngoài ra, việc lĩnh hội tri thức tiếng Anh còn góp phần phát triển ở HS năng lực thẩm mỹ, hiểu biết về thế giới xung quanh

Dựa trên các kết quả nghiên cứu về DH theo thuyết Đa trí thông minh và đặc điểm DH tiếng Anh lớp 5 cho HS, tác giả xác định mục đích DH tiếng Anh lớp 5 theo thuyết Đa trí thông minh là thông qua các phương pháp tác động sự phạm, tạo

cơ hội cho HS phát huy các dạng trí thông minh nổi trội của mình để tìm kiếm, khám phá kiến thức, giải quyết vấn đề tiếng Anh, từ đó giúp HS hứng thú hơn với việc học tập tiếng Anh

Trang 35

26

1.3.2 Đặc điểm môn tiếng Anh lớp 5

Môn tiếng Anh lớp 5 thuộc chương trình tiếng Anh ở bậc tiểu học được giảng dạy theo quy định về chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo Theo đó, tiếng Anh là một trong những môn học bắt buộc ở trường phổ thông từ lớp 3 đến lớp 12 Môn tiếng Anh không chỉ giúp HS hình thành và phát triển NL giao tiếp bằng tiếng Anh mà còn góp phần hình thành và phát triển các NL chung, để sống và làm việc hiệu quả hơn, để học tập các môn khác và có kỹ năng học suốt đời

Môn học tiếng Anh cung cấp cho HS một công cụ giao tiếp quốc tế quan trọng, giúp các em trao đổi thông tin, tri thức khoa học và kỹ thuật tiên tiến, tìm hiểu các nền văn hóa, qua đó góp phần tạo nên sự hiểu biết giữa các dân tộc

Môn tiếng Anh lớp 5 nằm trong chương trình tiếng Anh tiểu học, việc DH tiếng Anh lớp 5 góp phần giúp HS bước đầu hình thành và phát triển năng lực giao tiếp thông qua bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, chú trọng nhiều hơn đến hai kỹ năng nghe và nói

Môn tiếng Anh lớp 5 hướng tới trang bị, củng cố và phát triển cho HS khả năng giao tiếp đơn giản bằng tiếng Anh thông qua bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết;

có kiến thức cơ bản và tối thiểu về tiếng Anh bao gồm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp; thông qua tiếng Anh có những hiểu biết ban đầu về đất nước, con người và nền văn hóa của các nước nói tiếng Anh; có thái độ tích cực đối với việc học tiếng Anh; hình thành cách học tiếng Anh hiệu quả, tạo cơ sở cho việc học các ngoại ngữ khác trong tương lai

1.3.3 Mục tiêu dạy học và yêu cầu đạt được ở môn tiếng Anh lớp 5

a Mục tiêu dạy học

Theo quy định trong chương trình tiếng Anh lớp 5 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, sau khi học xong môn tiếng Anh lớp 5, học sinh cần đạt được một số mức độ kiến thức, kỹ năng sau:

Giao tiếp đơn giản bằng tiếng Anh thông qua bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, trong đó nhấn mạnh kỹ năng nghe và nói

Trang 36

27

Có kiến thức cơ bản và tối tiểu về tiếng Anh bao gồm từ vựng, ngữ âm, ngữ pháp; thông qua tiếng Anh có những hiểu biết ban đầu về đất nước, con người và nền văn hóa của các quốc gia nói tiếng Anh và các quốc gia khác trên thế giới

Có thái độ tích cực đối với việc học tiếng Anh; biết tự hào, yêu quý và trân trọng nền vững hóa và ngôn ngữ của dân tộc mình

Hình thành cách học tiếng Anh hiệu quả, tạo cơ sở cho việc học các ngoại ngữ khác trong tương lai

b Yêu cầu đạt được

Môn tiếng Anh ở cấp tiểu học nói chung và lớp 5 nói riêng có vai trò quan trọng giúp HS phát triển kiến thức, rèn luyện kỹ năng tiếng Anh, góp phần phát triển toàn diện về phẩm chất và NL Cụ thể về yêu cầu cần đạt được như sau:

Một là, góp phần hình thành và phát triển ở HS các phẩm chất chủ yếu được

quy định tại Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể với những biểu hiện cụ thể, như: Tự học, kỷ luật, chăm chỉ, siêng năng, kiên trì, chủ động, linh hoạt, sáng tạo;

có trách nhiệm và thái độ tích cực đối với việc học tiếng Anh; biết tự hào, yêu quý

và trân trọng ngôn ngữ và nền văn hóa của dân tộc mình; phát triển các phẩm chất như yêu thương, tôn trọng bản thân, bạn bè, gia đình, môi trường, chăm chỉ, trung thực

Hai là, góp phần hình thành và phát triển ở HS các NL chung được quy định

trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể qua các hoạt động trải nghiệm, cũng như tích hợp, phát triển các NL chung trong chương trình môn tiếng Anh Đó

là, NL tự chủ và tự học thông qua quá trình học các kiến thức ngôn ngữ và kỹ năng giao tiếp cũng như khi thực hành, luyện tập giải quyết các vấn đề; NL giao tiếp và hợp tác thông qua việc tham gia vào các hoạt động học tập; NL giải quyết vấn đề và sáng tạo thông qua việc giúp HS nhân biết được tình huống vấn đề; chia sẻ sự am hiểu vấn đề với người khác; biết đề xuất, lựa chọn được cách thức, quy trình giải quyết vấn đề và biết trình bày giải pháp cho vấn đề

Thứ ba, góp phần hình thành và phát triển ở HS các NL đặc thù Theo đó, có

thể giúp HS đạt được trình độ tiếng Anh Bậc 1 của Khung NL ngoại ngữ 6 bậc dùng

Trang 37

28

cho Việt Nam Cụ thể là: “Có thể hiểu, sử dụng các cấu trúc quen thuộc thường nhật; các từ ngữ cơ bản đáp ứn nhu cầu giao tiếp cụ thể Có thể tự giới thiệu bản thân và người khác; có thể trả lời những thông tin về bản thân như nơi sinh sống, người thân… có thể giao tiếp đơn giản nếu người đối thoại nói chậm, rõ ràng và sẵn sàng hợp tác giúp đỡ” Ngoài ra, HS có những hiểu biết ban đầu về đất nước, con người và nền văn hóa của một số nước nói tiếng Anh và của các quốc gia khác trên thế gới (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, 2018)

Qua những phân tích ở phần trên cho thấy, thuyết Đa trí thông minh có tám dạng trí thông minh thông minh với những đặc điểm và cách biểu hiện khác nhau Trong DH tiếng Anh khó có thể hình thành và phát triển ở HS tất cả tám dạng trí thông minh đó Với đặc thù DH tiếng Anh thì trí thông minh ngôn ngữ và trí thông minh giao tiếp la hai dạng trí thông minh có nhiều ưu thế nổi trội hơn cả để hình thành và phát triển Tuy nhiên, quá trình DH tiếng Anh thông qua các hoạt động trải nghiệm, DH tích hợp và DH phân hóa thì các dạng trí thông minh, như: Trí thông minh lôgic-toán học, trí thông minh không gian, trí thông minh cá nhân, trí thông minh tự nhiên học cũng có điều kiện để khai thác và phát huy

1.3.4 Đặc điểm tâm lý học sinh lớp 5 trong học tập

Qua nghiên cứu về đặc điểm tâm lí HS lớp 5 trong hoạt động học tập, có thể khái quát trên một số nội dung chủ yếu sau:

Một là, về động cơ học tập: Động cơ học tập của HS lớp 5 rất đa dạng nhưng

chưa bền vững, biểu hiện ở những thái độ nhiều khi mâu thuẫn từ rất tích cực đến lười biếng, từ nỗ lực học tập đến thụ động học thuộc lòng (Phạm Minh Hùng, Thái Văn Thành, Nguyễn Thị Hường, 2016)

Hai là, về chú ý: HS lớp 5 trong quá trình học tập sự chú ý thường không chủ

định, nó chiếm ưu thế hơn hẳn, tính bền vững đang phát triển nhưng chưa bền vững, chú ý dễ bị phân tán, dễ quên (Phạm Minh Hùng, Thái Văn Thành, Nguyễn Thị Hường, 2016)

Ba là, về ghi nhớ: Tốc độ ghi nhớ tài liệu, ghi nhớ hiệu quả thông qua các tài

liệu trực quan hình tượng; có khuynh hướng ghi nhớ bằng máy móc bằng cách học

Trang 38

29

thuộc tài liệu, chưa biết tổ chức, xây dựng ghi nhớ có ý nghĩa (Phạm Minh Hùng, Thái Văn Thành, Nguyễn Thị Hường, 2016)

Bốn là, về tư duy: HS lớp 5 chủ yếu tư duy hình tượng trực quan, tư duy cụ

thể, chưa thể tự mình suy luận một cách lôgic, dễ xúc cảm với tất cả những điều suy nghĩ (Phạm Minh Hùng, Thái Văn Thành, Nguyễn Thị Hường, 2016)

Năm là, về tưởng tượng: Khả năng tưởng tượng của HS lớp 5 còn tản mạn, ít

có tổ chức, xa rời thực tế Càng về cuối cấp thì khả năng tưởng tượng càng gần với thực tiễn hơn, càng có xu hướng phản ánh đúng đắn và đầy đủ thực tế khách quan hơn (Phạm Minh Hùng, Thái Văn Thành, Nguyễn Thị Hường, 2016)

Sáu là, về ngôn ngữ: HS lớp 5 đã có sự phát triển rất rõ cả về số lượng và

chất lượng ngôn ngữ Do nội dung học tập đã mở rộng nên ngôn ngữ của các em đã vượt ra khỏi phạm vị những từ sinh hoạt, cụ thể và đã bao gồm nhiều khái niệm khoa học, trừu tượng (Phạm Minh Hùng, Thái Văn Thành, Nguyễn Thị Hường, 2016)

Như vậy, có thể nhận định rằng, đặc điểm tâm lý của HS tiểu học nói chung

và HS lớp 5 nói riêng phát triển theo quy luật không đồng đều Trong cùng một lứa tuổi, khả năng và sự phát triển trí thông minh của các em không giống nhau: NL, sở trường phương pháp học tập, khả năng học tập… cũng không giống nhau Chính sự khác biệt này tạo nên một bộ mặt riêng, phong phú và đa dạng trong đời sống tâm lý

HS Trong một lớp học có bao nhiêu HS thì cũng có gần đó sự khác biệt vê tâm lý, tính cách, sở trường, NL Điều này cho thấy, việc lựa chọn các phương pháp DH môn tiếng Anh lớp 5 theo hướng vận dụng thuyết Đa trí thông minh cần tạo ra những điều kiện thuận lợi để lôi cuốn và tích cực hóa các hoạt động học tập của HS, mang lại hiệu quả tối ưu (Phạm Minh Hùng, Thái Văn Thành, Nguyễn Thị Hường, 2016)

1.4 Một số vấn đề ứng dụng thuyết Đa trí thông minh vào dạy học

1.4.1 Ứng dụng thuyết Đa trí thông minh trong phương pháp dạy học

Cho đến hiện nay hoàn toàn chưa có một định nghĩa thống nhất về PPDH Tuy nhiên, quan niệm được đồng tính ở mức cao định nghĩa về PPDH như sau:

Trang 39

30

“PPDH chính là cách thức làm việc giữa người dạy và người học, thông qua đó giúp người học có thể nắm vững đầy đủ các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo nhằm hình thành nên NL và thế giới quan” (Vũ Thị Phương Anh, 2020)

Như vậy, ứng dụng thuyết Đa trí thông minh vào DH sẽ giúp GV lựa chọn được PPDH phù hợp nhất, hiệu quả nhất cho bản thân GV sẽ hiểu một cách thấu đáo các PPDH và việc áp dụng từng PPDH trên từng đối tượng HS sao cho tối ưu hóa hiệu quả DH Đồng thời, thuyết Đa trí thông minh cũng giúp GV có thể áp dụng linh hoạt hơn các PPDH và kỹ năng sử dụng các tài liệu, các thiết bị DH một cách phong phú, đa dạng và hiệu quả hơn Trong lớp học Đa trí thông minh, GV phải linh hoạt thay đổi phương pháp và khéo léo chuyển từ dạy ngôn ngữ sang lối dạy không gian rồi lối dạy âm nhạc hay vận động, giao tiếp…

Qua quá trình nghiên cứu và tiến hành thực nghiệm cho thấy, việc tổ chức

DH bằng cách áp dụng linh hoạt, tổng hợp các phương pháp, kỹ thuật DH tích cực

mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đang tích cực triển khai gần đây như đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, bản đồ tư duy… sẽ tạo ra môi trường học tập Đa trí thông minh rất hiệu quả Trong đó, PPDH bản đồ tư duy huy động nhiều trí thông minh ở HS hơn cả, góp phần phát triển toàn diện cho HS Theo đó, tổ chức DH bằng bản đồ tư duy thông qua các hoạt động sau:

Hoạt động 1: HS nghiên cứu tài liệu, đọc thầm sách giáo khoa, tìm từ khóa (phát huy trí thông minh nội tâm, ngôn ngữ);

Hoạt động 2: HS thảo luận nhóm, lớp về nội dung dưới sự hướng dẫn, gợi ý của GV (phát huy trí thông minh giao tiếp;

Hoạt động 3: HS thiết lập bản đồ tư duy về bài học (phát huy trí thông minh ngôn ngữ, lôgic, không gian) vì bản đồ tư duy là sự kết hợp cả đường nét, màu sắc, chữ viết và có thể vẽ thêm các hình ảnh liên tưởng trong thực tế cuộc sống, trong thiên nhiên vào bản đồ tư duy (trí thông minh tự nhiên học);

Hoạt động 4: HS thuyết trình về bản đồ tư duy trước nhóm, lớp Việc thuyết trình cần cả ngữ điệu, âm điệu, điệu bộ cơ thể (phát huy trí thông minh thông minh giao tiếp, hình thể động năng, âm nhạc) (Hoàng Thị Yến, 2017)

Trang 40

31

1.4.2 Môi trường ứng dụng thuyết Đa trí thông minh

Khác với cách DH truyền thống, môi trường lớp học Đa trí thông minh phải được thiết kế, bố trí, sắp xếp theo một cách riêng để phù hợp với nhu cầu của nhiều loại trí thông minh khác nhau ở HS Theo đó, ứng với mỗi loại trí thông minh, cần đặt ra một số câu hỏi theo gợi ý sau: Từ ngữ dùng trong lớp học đã phù hợp với HS chưa? HS được tiếp xúc với chữ viết như thế nào? Thời gian biểu đã phù hợp với

HS chưa (lôgic/toán); bàn ghế, các thiết bị DH trong lớp đã bố trí hợp lý chưa? Có thuận tiện cho hoạt động thực nghiệm hay chỉ kê bàn ghế theo một kiểu, một dãy bàn thẳng từ trên xuống dưới? Trang trí lớp học như thế nào? Trang trí lớp học như thế nào?

Vận dụng thuyết Đa trí thông minh giúp Hiệu trưởng nhà trường đổi mới toàn diện quy trình từ phân công, đánh giá GV chủ nhiệm, GV bộ môn, GV giỏi… Vận dụng thuyết Đa trí thông minh trong DH, GV cần vận dụng các PPDH tích cực một cách linh hoạt, mềm dẻo, đa dạng, phù hợp với các loại trí thông minh khác nhau của HS lớp mình đang giảng dạy Việc thực hiện tốt năm nội dung của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đang phát động cũng góp phần thiết thực phát huy Đa trí thông minh cho

HS Vận dụng thuyết Đa trí thông minh trong DH giúp GV đổi mới cách dạy, cách nhìn nhận, đánh giá HS, tránh việc dán nhãn mác yếu, kém cho những HS chưa giỏi toán, giỏi văn, giúp HS tự tin hơn và có cách học phù hợp nhất, hiệu quả nhất với khả năng nổi trội của riêng mình

Cùng với đó, vận dụng thuyết Đa trí thông minh giúp cha mẹ HS giảm áp lực

về điểm số, chú ý tới phát triển toàn diện, khích lệ các em trong học tập, rèn luyện, định hướng việc lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai phù hợp với sở trường của mỗi em Trong cuộc sống, mỗi người đều sử dụng tám loại hình trí thông minh theo những cách khác nhau Mỗi người đều có cách học tập riêng biệt nhằm tiếp thu kiến thức một cách tốt nhất Cách học tập có ảnh hưởng đến hiệu quả học tập và sự thành công của mỗi cá nhân trong cuộc sống Chỉ khi hiểu sâu sắc cách học của HS, GV

Ngày đăng: 15/03/2022, 20:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Armstrong, T. (2011). Đa trí thông minh trong lớp học. NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa trí thông minh trong lớp học
Tác giả: Armstrong, T
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
2. Armstrong, Thomas . (2011). 7 loại hình thông minh (Người dịch: Mạnh Hải,. Người dịch: Mạnh Hải,: NXB Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 7 loại hình thông minh (Người dịch: Mạnh Hải
Tác giả: Armstrong, Thomas
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2011
3. Armstrong, Thomas. (2011). Bạn thông minh hơn bạn nghĩ, (Người dịch: Thu Trang, Ngọc Bích). NXB Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bạn thông minh hơn bạn nghĩ, (Người dịch: Thu Trang, Ngọc Bích)
Tác giả: Armstrong, Thomas
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2011
4. Dryden, Gordon và Jean nett Vos . (2010). Cách mạng học . Người dịch: Phạm Anh Tuấn: NXB Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng học
Tác giả: Dryden, Gordon và Jean nett Vos
Nhà XB: NXB Tri thức
Năm: 2010
5. Gardner, Howard. (2012). Cơ cấu trí khôn, “Lý thuyết về nhiều dạng trí khôn” . Người dịch: Phạm Toàn: NXB Trí thức trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu trí khôn, “Lý thuyết về nhiều dạng trí khôn”
Tác giả: Gardner, Howard
Nhà XB: NXB Trí thức trẻ
Năm: 2012
6. Hồ Long Anh. (2013). Vận dụng thuyết Đa trí thông minh vào DH chương “Cảm ứng điện từ” Vật lí 11 nâng cao". Luận văn thạc sĩ, ĐH Sư phạm Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm ứng điện từ” Vật lí 11 nâng cao
Tác giả: Hồ Long Anh
Năm: 2013
7. Hoàng Thị Thu. (2014). Vận dụng thuyết Đa trí thông minh vào dạy học môn Toán lớp 6. Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng thuyết Đa trí thông minh vào dạy học môn Toán lớp 6
Tác giả: Hoàng Thị Thu
Năm: 2014
8. Hoàng Thị Thu Thủy. (2017). Ứng dụng thuyết Đa trí thông minh trong việc giảng dạy tiếng Trung tại Khoa Đông phương. Luận văn thạc sĩ, ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng thuyết Đa trí thông minh trong việc giảng dạy tiếng Trung tại Khoa Đông phương
Tác giả: Hoàng Thị Thu Thủy
Năm: 2017
9. James, H. Strong. ( 2011). Những phẩm chất của người giáo viên hiệu quả. (Người dịch: Lê Văn Canh), NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phẩm chất của người giáo viên hiệu quả
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
10. Linda Campbell, Bruce Campbell, Dee Dickinson. (1992). Teaching and Learning Through Multiple Intelligences. . Stanwood: WA: New Horizons for Learning Sách, tạp chí
Tiêu đề: Teaching and Learning Through Multiple Intelligences
Tác giả: Linda Campbell, Bruce Campbell, Dee Dickinson
Năm: 1992
12. Nguyễn Thị Thanh Tuyền. (không ngày tháng). Dạy học theo hướng hỗ trợ học sinh lớp 4 gặp khó khăn trong trong dạy học Toán. Luận án tiến sĩ Giáo dục học, ĐH Sư phạm Hà Nội 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học theo hướng hỗ trợ học sinh lớp 4 gặp khó khăn trong trong dạy học Toán
14. Phạm Minh Hùng, Thái Văn Thành, Nguyễn Thị Hường. (2016). Giáo trình Giáo dục học . NXB Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Giáo dục học
Tác giả: Phạm Minh Hùng, Thái Văn Thành, Nguyễn Thị Hường
Nhà XB: NXB Đại học Vinh
Năm: 2016
15. Phan Văn Nhân. (2013). “Dạy học theo thuyết Đa trí thông minh”. Tạp chí Khoa học. Tạp chí Khoa học Giáo dục, tr 9 - 11, Số 98 - tháng 11/2013. Viện KHGD Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Dạy học theo thuyết Đa trí thông minh”. Tạp chí Khoa học
Tác giả: Phan Văn Nhân
Năm: 2013
16. Trần Bình Trọng. (2015). Vận dụng thuyết Đa trí thông minh vào DH môn Toán lớp 10 Trung học Phổ thông. Luận văn thạc sĩ khoa học, ĐH Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng thuyết Đa trí thông minh vào DH môn Toán lớp 10 Trung học Phổ thông
Tác giả: Trần Bình Trọng
Năm: 2015
17. Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy. (2013). Vận dụng thuyết Đa trí thông minh. Tạp chí giáo dục số 316, kì 2 - 8/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng thuyết Đa trí thông minh
Tác giả: Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy
Năm: 2013
18. Võ Thanh Hà. (2013). Nghiên cứu lí thuyết Đa trí thông minh (Đa trí thông minh) và khả năng ứng dụng vào giáo dục tiểu học. Viện KHGDVN, mã số: V2012 - 16.TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu lí thuyết Đa trí thông minh (Đa trí thông minh) và khả năng ứng dụng vào giáo dục tiểu học
Tác giả: Võ Thanh Hà
Năm: 2013
23. Charles Speaman. (1927). The Abilities of Man: Their Nature and Measurement . New York: The Macmillan Co Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Abilities of Man: Their Nature and Measurement
Tác giả: Charles Speaman
Năm: 1927
24. David Nunan. (1991). Language Teaching Methodology. Prentice Hall . 25. Gardner, H. (1983). Frames of Mind - The Theory of Multiple Intellgences Sách, tạp chí
Tiêu đề: Language Teaching Methodology." Prentice Hall . 25. Gardner, H. (1983)
Tác giả: David Nunan. (1991). Language Teaching Methodology. Prentice Hall . 25. Gardner, H
Năm: 1983
26. Hoerr, T. (2001). Becoming a multiple intelligences school. VA: ASCD Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Becoming a multiple intelligences school
Tác giả: Hoerr, T
Năm: 2001
27. J. P. Guilford. (1967). The nature of human intelligence. McGraw-Hill Sách, tạp chí
Tiêu đề: The nature of human intelligence
Tác giả: J. P. Guilford
Năm: 1967

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. 1 Vị trí của các dạng trí thông mình trên bộ não - Vận dụng thuyết đa trí thông minh vào dạy học môn tiếng anh lớp 5 tại trường tiểu học anh việt mỹ, quận 4, TP  hồ chí minh
Hình 1. 1 Vị trí của các dạng trí thông mình trên bộ não (Trang 24)
Hình 1. 2 Mô tả tám loại hình trí thông minh bằng sơ đồ tư duy - Vận dụng thuyết đa trí thông minh vào dạy học môn tiếng anh lớp 5 tại trường tiểu học anh việt mỹ, quận 4, TP  hồ chí minh
Hình 1. 2 Mô tả tám loại hình trí thông minh bằng sơ đồ tư duy (Trang 27)
Hình 1. 3 Sử dụng bản đồ tư duy mô tả tám loại hình trí thông minh - Vận dụng thuyết đa trí thông minh vào dạy học môn tiếng anh lớp 5 tại trường tiểu học anh việt mỹ, quận 4, TP  hồ chí minh
Hình 1. 3 Sử dụng bản đồ tư duy mô tả tám loại hình trí thông minh (Trang 45)
Bảng 2. 1 Kết quả khảo sát về nội dung nhận thức của GV về quan niệm DH - Vận dụng thuyết đa trí thông minh vào dạy học môn tiếng anh lớp 5 tại trường tiểu học anh việt mỹ, quận 4, TP  hồ chí minh
Bảng 2. 1 Kết quả khảo sát về nội dung nhận thức của GV về quan niệm DH (Trang 64)
Bảng 2. 2 Kết quả khảo sát đánh giá về mức độ quan trọng về DH tiếng Anh - Vận dụng thuyết đa trí thông minh vào dạy học môn tiếng anh lớp 5 tại trường tiểu học anh việt mỹ, quận 4, TP  hồ chí minh
Bảng 2. 2 Kết quả khảo sát đánh giá về mức độ quan trọng về DH tiếng Anh (Trang 65)
Bảng 2. 3 Kết quả khảo sát đánh giá về mức độ của việc DH môn tiếng Anh - Vận dụng thuyết đa trí thông minh vào dạy học môn tiếng anh lớp 5 tại trường tiểu học anh việt mỹ, quận 4, TP  hồ chí minh
Bảng 2. 3 Kết quả khảo sát đánh giá về mức độ của việc DH môn tiếng Anh (Trang 67)
Bảng 2. 4 Kết quả khảo sát đánh giá về mức độ của việc DH môn tiếng Anh - Vận dụng thuyết đa trí thông minh vào dạy học môn tiếng anh lớp 5 tại trường tiểu học anh việt mỹ, quận 4, TP  hồ chí minh
Bảng 2. 4 Kết quả khảo sát đánh giá về mức độ của việc DH môn tiếng Anh (Trang 69)
Bảng 2. 5 Khảo sát về việc thực hiện một số kỹ năng trong quá trình DH - Vận dụng thuyết đa trí thông minh vào dạy học môn tiếng anh lớp 5 tại trường tiểu học anh việt mỹ, quận 4, TP  hồ chí minh
Bảng 2. 5 Khảo sát về việc thực hiện một số kỹ năng trong quá trình DH (Trang 71)
Bảng 2. 6 Khảo sát về những khó khăn, trở ngại khi tổ chức thực hiện DH - Vận dụng thuyết đa trí thông minh vào dạy học môn tiếng anh lớp 5 tại trường tiểu học anh việt mỹ, quận 4, TP  hồ chí minh
Bảng 2. 6 Khảo sát về những khó khăn, trở ngại khi tổ chức thực hiện DH (Trang 73)
Bảng 2. 7 Thái độ học tiếng Anh của học sinh lớp 5 tại Trường Tiểu học - Vận dụng thuyết đa trí thông minh vào dạy học môn tiếng anh lớp 5 tại trường tiểu học anh việt mỹ, quận 4, TP  hồ chí minh
Bảng 2. 7 Thái độ học tiếng Anh của học sinh lớp 5 tại Trường Tiểu học (Trang 76)
Bảng 2. 9 Kết quả khảo sát HS về mức độ Thầy/Cô có thường xuyên sử dụng các - Vận dụng thuyết đa trí thông minh vào dạy học môn tiếng anh lớp 5 tại trường tiểu học anh việt mỹ, quận 4, TP  hồ chí minh
Bảng 2. 9 Kết quả khảo sát HS về mức độ Thầy/Cô có thường xuyên sử dụng các (Trang 77)
Bảng 2. 11 Các hành động học tâp tiếng Anh của các học sinh lớp 5 sau giờ - Vận dụng thuyết đa trí thông minh vào dạy học môn tiếng anh lớp 5 tại trường tiểu học anh việt mỹ, quận 4, TP  hồ chí minh
Bảng 2. 11 Các hành động học tâp tiếng Anh của các học sinh lớp 5 sau giờ (Trang 80)
Bước 2: Hình thành ngữ pháp - Vận dụng thuyết đa trí thông minh vào dạy học môn tiếng anh lớp 5 tại trường tiểu học anh việt mỹ, quận 4, TP  hồ chí minh
c 2: Hình thành ngữ pháp (Trang 95)
Bước 2: Hình thành ngữ pháp - Vận dụng thuyết đa trí thông minh vào dạy học môn tiếng anh lớp 5 tại trường tiểu học anh việt mỹ, quận 4, TP  hồ chí minh
c 2: Hình thành ngữ pháp (Trang 103)
Sơ đồ 3. 1 Quy trình thực hiện phương pháp đóng vai - Vận dụng thuyết đa trí thông minh vào dạy học môn tiếng anh lớp 5 tại trường tiểu học anh việt mỹ, quận 4, TP  hồ chí minh
Sơ đồ 3. 1 Quy trình thực hiện phương pháp đóng vai (Trang 111)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm