MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử, gắn liền với sự ra đời và tồn tại của nhà nước, hiện hữu ở tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, giàu nghèo, phát triển hay đang phát triển hoặc kém phát triển. Tham nhũng ngày nay đã trở thành căn bệnh mang tính phổ biến ở hầu hết mọi quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, lịch sử văn hóa, là một trong những vấn đề có diễn biến phức tạp và nguy hại nhất đối với sự phát triển của mỗi xã hội. Ở nước ta, tham nhũng đã và đang tạo ra những hệ quả nặng nề không chỉ với sự ổn định chính trị xã hội, mà nó còn đang ra tạo những sự cản trở lớn đối với công cuộc xây dựng và sự phát triển đất nước theo hướng xã hội chủ nghĩa. Tại Đại hội Đảng lần thứ IX, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khẳng đinh “ Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã từng chỉ rõ, tụt hậu xã hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên tế giới, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nạn tham nhũng và tệ nạn xã hội, diễn biến hòa bình do các thế lực thù địch gây ra đến nay vẫn tồn tại đan xen, tác động lẫn nhau không thể xem nhẹ nguy cơ nào… Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, Đảng ta luôn xác định phải kiên quyết trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng nhằm ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, coi đó là giải pháp giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế xã hội; củng cố lòng tin của nhân dân; xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh. Trong cuộc đấu tranh đó, Đảng ta cũng nhấn mạnh, việc đấu tranh chống tham nhũng là yêu cầu, nhiệm vụ sống còn của cả hệ thống chính trị, của toàn dân; thực hiện đồng bộ bằng các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức hành chính, kinh tế… Đồng hành với cuộc chiến ấy báo chí luôn thể hiện vai trò quan trọng của mình với tư cách là một chủ thể chính trị, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh mà không phải lực lượng nào cũng dám đương đầu. Với sức mạnh của thông tin và tính công khai, thời gian qua bên cạnh việc tích cực thực hiện tốt chức năng thông tin tuyên truyền trên tất cả các lĩnh vực, báo chí Việt Nam đã ý thức rất rõ trách nhiệm của mình trong công cuộc phòng, chống tham nhũng của đất nước. Trong những năm qua, hàng loạt các đại án tham nhũng đã được phanh phui, điển hình như vụ hối lộ quan chức của công ty PCI, liên quan tới việc đấu thầu dự án Đại lộ Đông Tây tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2008. Vụ án “Cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế, gây hậu quả nghiêm trọng liên quan Tổng công ty Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) hay Mới đây nhất là vụ khởi tố Trịnh Xuân thanh ( đại biểu Quốc hội) với tội danh “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” với khoản thua lỗ gần 3.300 tỷ tại Tổng công ty Xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC) thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam… Điều này đã thể hiện quyết tâm đấu tranh chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta, qua đó cũng đã thấy rõ sự tích cực của báo chí trong công cuộc chiến mang tính sống còn này. Hơn thế nữa, không ít vụ việc tham ô, tham nhũng gần đây đã thể hiện tính tiến công tích cực của báo chí, không ít những việc làm sai trái của các cán bộ, công chức nhà nước khi bị báo chí khui ra đã lộ rõ chân tướng sai phạm gây nguy hại cho đất nước. Tuy nhiên, thực tế cho thấy hiện nay báo chí nước ta chưa thể hiện hết vai trò và khả năng của mình, một số một số cơ quan báo chí đang có dấu hiệu hoạt động sai tôn chỉ, mục đích, một bộ phận người làm báo thoái hóa về đạo đức và có khuynh hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vô tình hoặc hữu ý tiếp tay cho các thế lực thù địch chống chế độ và có một số biểu hiện vi phạm pháp luật. Đáng chú ý là tình trạng báo chí câu kết với doanh nghiệp đưa ra những thông tin không đúng sự thật hoặc sự thật bị bóp méo, bị cắt xén phục vụ việc cạnh tranh không lành mạnh, làm méo mó môi trường kinh doanh, gây hại cho người tiêu dùng.. điều này làm cho báo chí còn gặp không ít khó khăn trong cuộc chiến nhiều cam go, phức tạp này. Vì vậy, việc đánh giá thực trạng vai trò của báo chí trong công tác phòng chống tham nhũng, từ đó có những cơ chế tạo hành lang pháp lý vững vàng cho hoạt động báo chí, có chính sách đúng đắn để phát huy hơn nữa vai trò của báo chí trong công tác phòng chống tham nhũng là một vấn đề cấp thiết giúp xây dựng một nền chính trị trong sạch vững mạnh. Chính vì lý do đó em chọn đề tài “Vai trò của báo chí trong công tác phòng chống tham nhũng ở nước ta hiện nay” để nghiên cứu, đánh giá đồng thời đề xuất một số giải pháp giúp nâng cao hơn nữa vai trò của báo chí trong đấu tranh phòng chống tham nhũng ở nước ta hiện này.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử, gắn liền với sự ra đời và tồn tại củanhà nước, hiện hữu ở tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, giàunghèo, phát triển hay đang phát triển hoặc kém phát triển
Tham nhũng ngày nay đã trở thành căn bệnh mang tính phổ biến ở hầu hếtmọi quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, lịch sử văn hóa, là một trong nhữngvấn đề có diễn biến phức tạp và nguy hại nhất đối với sự phát triển của mỗi xã hội
Ở nước ta, tham nhũng đã và đang tạo ra những hệ quả nặng nề không chỉvới sự ổn định chính trị - xã hội, mà nó còn đang ra tạo những sự cản trở lớn đốivới công cuộc xây dựng và sự phát triển đất nước theo hướng xã hội chủ nghĩa
Tại Đại hội Đảng lần thứ IX, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khẳng đinh “ Bốnnguy cơ mà Đảng ta đã từng chỉ rõ, tụt hậu xã hơn về kinh tế so với nhiều nướctrong khu vực và trên tế giới, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nạn tham nhũng và tệnạn xã hội, diễn biến hòa bình do các thế lực thù địch gây ra đến nay vẫn tồn tạiđan xen, tác động lẫn nhau không thể xem nhẹ nguy cơ nào…
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, Đảng ta luôn xác định phảikiên quyết trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng nhằm ngăn chặn, từngbước đẩy lùi tham nhũng, coi đó là giải pháp giữ vững ổn định chính trị, phát triểnkinh tế - xã hội; củng cố lòng tin của nhân dân; xây dựng Đảng, Nhà nước trongsạch, vững mạnh Trong cuộc đấu tranh đó, Đảng ta cũng nhấn mạnh, việc đấutranh chống tham nhũng là yêu cầu, nhiệm vụ sống còn của cả hệ thống chính trị,
Trang 2của toàn dân; thực hiện đồng bộ bằng các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chứchành chính, kinh tế…
Đồng hành với cuộc chiến ấy báo chí luôn thể hiện vai trò quan trọng củamình với tư cách là một chủ thể chính trị, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh màkhông phải lực lượng nào cũng dám đương đầu
Với sức mạnh của thông tin và tính công khai, thời gian qua bên cạnh việctích cực thực hiện tốt chức năng thông tin tuyên truyền trên tất cả các lĩnh vực, báochí Việt Nam đã ý thức rất rõ trách nhiệm của mình trong công cuộc phòng, chốngtham nhũng của đất nước Trong những năm qua, hàng loạt các đại án tham nhũng
đã được phanh phui, điển hình như vụ hối lộ quan chức của công ty PCI, liên quantới việc đấu thầu dự án Đại lộ Đông - Tây tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2008
Vụ án “Cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế, gây hậu quảnghiêm trọng liên quan Tổng công ty Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin)hay Mới đây nhất là vụ khởi tố Trịnh Xuân thanh ( đại biểu Quốc hội) với tội danh
“Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêmtrọng” với khoản thua lỗ gần 3.300 tỷ tại Tổng công ty Xây lắp dầu khí Việt Nam(PVC) thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam… Điều này đã thể hiện quyết tâm đấutranh chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta, qua đó cũng đã thấy rõ sự tíchcực của báo chí trong công cuộc chiến mang tính sống còn này
Hơn thế nữa, không ít vụ việc tham ô, tham nhũng gần đây đã thể hiện tínhtiến công tích cực của báo chí, không ít những việc làm sai trái của các cán bộ,công chức nhà nước khi bị báo chí khui ra đã lộ rõ chân tướng sai phạm gây nguyhại cho đất nước
Tuy nhiên, thực tế cho thấy hiện nay báo chí nước ta chưa thể hiện hết vaitrò và khả năng của mình, một số một số cơ quan báo chí đang có dấu hiệu hoạt
Trang 3động sai tôn chỉ, mục đích, một bộ phận người làm báo thoái hóa về đạo đức và cókhuynh hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vô tình hoặc hữu ý tiếp tay cho cácthế lực thù địch chống chế độ và có một số biểu hiện vi phạm pháp luật
Đáng chú ý là tình trạng báo chí câu kết với doanh nghiệp đưa ra nhữngthông tin không đúng sự thật hoặc sự thật bị bóp méo, bị cắt xén phục vụ việc cạnhtranh không lành mạnh, làm méo mó môi trường kinh doanh, gây hại cho ngườitiêu dùng điều này làm cho báo chí còn gặp không ít khó khăn trong cuộc chiếnnhiều cam go, phức tạp này
Vì vậy, việc đánh giá thực trạng vai trò của báo chí trong công tác phòngchống tham nhũng, từ đó có những cơ chế tạo hành lang pháp lý vững vàng chohoạt động báo chí, có chính sách đúng đắn để phát huy hơn nữa vai trò của báo chítrong công tác phòng chống tham nhũng là một vấn đề cấp thiết giúp xây dựng mộtnền chính trị trong sạch vững mạnh
Chính vì lý do đó em chọn đề tài “Vai trò của báo chí trong công tác phòng chống tham nhũng ở nước ta hiện nay” để nghiên cứu, đánh giá đồng thời đề
xuất một số giải pháp giúp nâng cao hơn nữa vai trò của báo chí trong đấu tranhphòng chống tham nhũng ở nước ta hiện này
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Trong những năm gần đây, vấn đề đấu tranh chống tham nhũng cũng nhưnhững nội dung liên quan tới vai trò của báo chí trong lĩnh vực đấu tranh chốngtham nhũng đã được rất nhiều nhà khoa học, các nhà nghiên cứu đề cập, trongnhững năm gần đây, đề tài chống tham nhũng cũng như vai trò của các chủ thểchống tham nhũng, trong đó có báo chí trở thành chủ đề nóng được cả xã hội quantâm
Trang 4Khi mới tiếp cận, đề tài gợi tưởng về một vấn đề cũ, đã có ít nhiều công trìnhnghiên cứu, đây cũng được đánh giá là những vấn đề mang tính thời sự, chưa đượckhai thác đầy đủ Và nếu đã được khai phá thì mới chỉ đề cập đến những nội dungchung nhất, hoặc là những khía cạnh đơn lẻ mà chúng ta có thể tìm thấy trong cáccông trình nghiên cứu về báo chí, về đấu tranh phòng chống tham nhũng đã đượccông bố khá phong phú ở trong nước và trên thế giới
Do vậy, để có bức tranh tổng thể về tình hình nghiên cứu các lĩnh vực thuộc đềtài này, chúng ta phải tìm hiểu kỹ thực trạng nghiên cứu những vấn đề liên quan;trước nhất cần tập trung vào hai lĩnh vực chủ yếu, cơ bản, có liên quan trực tiếpđến các nội dung nghiên cứu của đề tài là lĩnh vực tham nhũng và lĩnh vực báo chí,trong số đó phải kể đến:
Tác phẩm “Một số bài nghiên cứu về tham nhũng và phòng, chống tham nhũng” của Ban Nội chính Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, 2005 Tác phẩm
này đã tập hợp nhiều bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và một sốnhà khoa học về đường lối, chính sách phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam quacác giai đoạn khác nhau
Tác phẩm “Phòng chống tham nhũng ở Việt Nam và thế giới” của nhóm tác
giả GS, TS Nguyễn Xuân Yêm, PGS, TS Nguyễn Hòa Bình, TS Bùi Minh Thanh(2007), Nxb Công an nhân dân Công trình đã nghiên cứu tham nhũng dưới góc độ
Trang 5tội phạm học Trong công trình này, tham nhũng được coi là một loại tội phạm liênquan đến chức vụ và tội phạm kinh tế Các tác giả đã phân tích chi tiết các hành vicấu thành tội phạm tham nhũng và cách nhận dạng tộ phạm đó Ngoài những kiếnthức chung về tham nhũng, tác phẩm còn cung cấp những kỹ năng điều tra, đấutranh với tội phạm nguy hiện nay
Tác phẩm “Nhận diện tham nhũng và các giải pháp phòng chống ở Việt Nam hiện nay” của các tác giải Phan Xuân Sơn, Phạm Thế Lực (2010), Nxb CTQG, Hà
Nội Công trình đã làm rõ nguồn gốc của tham nhũng, bản chất của tham nhũng,cách tiếp cận và phân loại tham nhũng, bản chất của tham nhũng, cách tiếp cận vàphân loại tham nhũng, nhận diện tham nhũng theo các cấp độ hành vi (tội phạm vàchưa tội phạm) và hiện tượng, những tác hại của tham nhũng…Từ đó đưa ra cácquan điểm, giải pháp nhằm phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam
Luận văn Thạc sĩ Chính Trị Học của tác giả Đinh Thị Hạnh – Học Viện Báo
chí và Tuyên Truyền (2012) “Đảng lãnh đạo đấu tranh phòng, chống tham nhũng
ở Việt Nam hiện nay” Trong luận văn, trên cơ sở lý luận chung về tham nhũng và
thực tiễn tình hình tham nhũng ở Việt Nam hiện nay, cũng như hệ quả chính trị củatham nhũng gây ra, tác giả làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng,chống tham nhũng thời gian qua Từ đó, tác giả có đề xuất giải pháp nhằm nângcao hiệu quả lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiệnnay, góp phần làm trong sạch bộ máy Đảng, nhà nước, làm lành mạnh hóa cácquan hệ xã hội, khôi phục lòng tin của dân chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng, tạođiều kiện để phát triển bền vững đất nước trong thời kỳ mới
Cuốn sách : “Một số kinh nghiệm quốc tế về công tác phòng chống tham nhũng” – Thanh tra Chính phủ, - Nxb Lao Động (2014) : Cuốn sách đã giới thiệu
Trang 6các cơ quan chuyên trách chống tham nhũng ở nhiều nước trên Thế giới, trong đóbáo chí là một cơ quan quan trọng trong cuộc đấu tranh này
Ngoài ra còn có rất nhiều tài liệu liên quan tới lĩnh vực tham nhũng và đấutranh phòng chống tham nhũng đã giúp chúng ta hiểu sâu sắc các vấn lý luận vềtham nhũng cũng như thực tiễn chống tham nhũng ở nước ta và các nước trên thếgiới
Trong lĩnh vực báo chí có:
Các tác phẩm như: “Báo chí Cách mạng Việt Nam (1925 - 1945)” của Nguyễn Thành – Nxb Khoa học Xã hội xuất bản năm 1984; “Lịch sử báo chí Việt Nam (1865-1945)” của Đỗ Quang Hưng do Nxb Đại học quốc gia xuất bản năm
2000 Nhìn chung, các công tình nghiên cứu nói trên đều tiếp cận báo chí ở góc độlịch sử từ khi báo chí Việt Nam ra đời, hoà nhập trong dòng chảy chung của lịch sử
ở những giai đoạn khác nhau Tất cả đều phản ánh một cách tổng quan về lịch sửbáo chí nước nhà, qua đó cho thấy dù trong thời kỳ phát triển nào thì báo chí, đặcbiệt là báo chí cách mạng Việt Nam luôn thể hiện vai trò chính trị của mình
Giáo trình “Cơ sở lỹ luận báo chí” do GS, TS Tạ Ngọc Tấn (chủ biên), Nxb
Văn hóa Thông tin (1999), Nội dung cuốn sách gồm 7 chương trình bày nhữngquan niệm chung về báo chí; tính giai cấp của báo chí; tự do báo chí; các chứcnăng của báo chí; luật pháp, nguyên tắc hoạt động và lao động sáng tạo trong báochí nói chung
Tác phẩm “Báo chí – những điểm nhìn từ thực tiễn” của Nguyễn Văn
Dững (chủ biên), Nxb VHTT (tập 1- 2000, tập 2- 2001) Nội dung cuốn sách đềcập những vấn đề phong phú của nghề nghiệp báo chí, từ vấn đề lịch sử lý luận báochí, khái niệm, các vai trò xã hội của báo chí, đạo đức nghề nghiệp - trách nhiệm
xã hội đến những vấn đề về thể loại, kỹ năng tác nghiệp của nhà báo…
Trang 7Giáo trình “Cơ sở lý luận của báo chí” của E.P Prôkhôrốp (Đào Tấn Anh,
Đới Thị Kim Thoa dịch), Nxb Thông tấn (2004) Cuốn sách phân tích những vấn
đề chung về lý luận nghiệp vụ và đặc thù của hoạt động báo chí; quá trình xuấthiện và phát triển của báo chí; bản chất của báo chí, quan điểm, nguyên tắc hoạtđộng của báo chí và nhà báo; phương diện pháp lý của tự do báo chí; báo chí trong
hệ thống các thiết chế xã hội; báo chí trong không gian thông tin; sáng tạo báo chí;vai trò chủ thể của nhà báo trong hoạt động thông tin đại chúng…
Đề tài khoa học cấp bộ về “Vai trò của báo chí và dư luận xã hội trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta hiện nay” do PGS, TS Lương Khắc Hiếu
chủ biên – Nxb Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2009) Đề tài nghiên cứu một
số vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về báo chí, dư luận xã hội với cuộc đấu tranhchống tham nhũng; khảo sát, đánh giá thực trạng về vai trò của báo chí trong việctạo lập dư luận xã hội đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta; từ đó đã đề xuất một
số giải pháp nhằm phát huy vai trò của báo chí trong việc tạo lập dư luận xã hộiđấu tranh chống tham nhũng ở nước ta hiện nay
Luận án tiến sĩ “Đạo đức nghề nghiệp của nhà báo Việt Nam hiện nay” của
tác giả Nguyễn Thị Trường Giang, Nxb Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2010),Luận án đã hệ thống lại những nội dung, yêu cầu lý thuyết về vấn đề đạo đức nghềnghiệp của nhà báo; dựng lên bức tranh đầy đủ, khái quát và toàn diện về thựctrạng đạo đức nghề nghiệp của nhà báo Việt Nam hiện nay
Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí và dư luận xã hội, Nxb Lao động, tác giả
đã tập trung trình bày những vấn đề cơ bản của dư luận xã hội: bản chất, cấu trúc,các dạng thức biểu hiện, chủ thể, khách thể, quá trình hình thành và phát triển,chức năng…; bản chất hoạt động báo chí, nhận diện đặc điểm báo chí hiện đại,công chúng báo chí, cơ chế tác động của báo chí vào dư luận xã hội Trên cơ sở đó,
Trang 8tác giả phân tích mối quan hệ tác động của báo chí và dư luận xã hội; nhà báo và
dư luận xã hội, nhà báo với tư cách là nhà chính luận Công trình cung cấp nhữngtri thức về cả lý luận và thực tiễn, luận giải sức mạnh của báo chí hiện đại trong đờisống xã hội…
Giáo trình “Lịch sử báo chí thế giới” của tác giả Phạm Thị Thanh Tịnh, Nxb
Chính trị Hành Chính (2012), đã trình bày điều kiện ra đời của báo chí, lịch sử củacác loại hình báo chí, sự phát triển của báo chí các châu lục (châu Âu, châu Á,châu Mỹ, châu Phi, châu Đại Dương), Xu hướng phát triển của báo chí hiện đại
Tác phẩm “Báo chí và mạng xã hội” do tác giả Đỗ Chí Nghĩa (chủ biên), Nxb
LLCT, (2013) Cuốn sách phân tích khái niệm, đặc điểm, tác động xã hội của mạng
xã hội; báo chí và bản chất mối quan hệ giữa báo chí với mạng xã hội ở Việt Namhiện nay, tác động qua lại lẫn nhau của mạng xã hội với báo chí Đây là cơ sở để
Đề tài phân tích tác động của mạng xã hội đến thông tin báo chí Việt Nam hiệnnay
Tác phẩm “Báo chí điều tra, tuyển chọn và phân tích” do PGS,TS Đỗ Thị Thu
Hằng (chủ biên), Nxb Lao động (2015) cũng đã đặc tả được cách thức người làmbáo tham gia vào hoạt động điều tra, trong đó phần lớn liên quan đến hoạt độngđiều tra chống tham nhũng
Trương Minh Tuấn (2016), Nhận diện nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong lĩnh vực báo chí và một số giải pháp khắc phục, (Báo Nhân dân,
25/10) Bài báo khái quát những thành tựu mà báo chí nước ta đạt được trong thời
kỳ đổi mới, công tác lãnh đạo, quản lý báo chí, đồng thời nêu rõ những biểu hiện
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của đội ngũ những người làm báo Đó là: xa rời sựlãnh đạo của Đảng, đòi tự do báo chí theo kiểu phương Tây, coi báo chí phươngTây là chuẩn mực để hướng tới, xu hướng hư vô về chính trị, thiếu đạo đức nghề
Trang 9nghiệp, bị chi phối bởi lợi ích nhóm, sự buông lỏng quản lý của các cơ quan chủquản Tác giả cũng đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm chấn chỉnh những biểu hiệnnêu trên, nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng, của tổ chức đảng và đảng viêntrong cơ quan báo chí, vai trò của cơ quan chủ quản Đây là công trình ra đời kịpthời, phản ánh đúng bản chất vai trò của TTBC, đồng thời chỉ rõ những hiện tượngtha hóa, biến chất trong đội ngũ những nhà báo
Về lý luận báo chí và thực tiễn hoạt động báo chí trong những năm gần đây cónhững công trình nghiên cứu, đánh giá về công tác phát triển của báo chí trong thời
kỳ đổi mới ở nước ta, tiêu biểu là các tác phẩm : “Nhiệm vụ của báo chí trước yêu cầu mới của đất nước” của Hồng Vinh (Tạp chí Cộng sản số 711/2004); “Tính chiến đấu của báo chí cách mạng” của Hà Đăng (Tạp chí Cộng sản số 7/11/2004)
“Báo chí-truyền thông Việt Nam, những vấn đề đặt ra cho sự phát triển” (Tạp chí
Lý luận Chính trị số 7/2007); “Vai trò của báo chí đối với dư luận xã hội” (Tạp chí
Lý luận Chính trị số 6/2010) của Nguyễn Văn Dững; “Vai trò của báo chí trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng” (tạp chí Đảng cộng sản ngày 11/8/2015) của
Thạc sĩ Nguyễn Tri Thức…
Các công trình nêu trên luận giải cả về lý luận và thực tiễn vai trò của báo chítrong đời sống xã hội nói chung, đời sống chính trị, trong công tác phòng chốngtham nhũng nói riêng; chỉ ra tầm quan trọng của báo chí truyền thông đối với côngtác phòng chống tham nhũng và thực trạng việc sử dụng báo chí truyền thông ởnước ta hiện nay Các tác giả cũng đã nêu bật những bất cập, hạn chế và đề xuấtcác phương hướng, giải pháp nhằm phát huy vai trò của báo chí truyền thông trênmặt trận chống tham nhũng
Tất cả những công trình nghiên cứu trên dù trực tiếp hay gián tiếp liên quan ởgóc độ khác nhau đều có giá trị tham khảo đối với việc nghiên cứu đề tài này
Trang 10Những vấn đề lý luận và thực tiễn về báo chí, về đấu tranh phòng chống thamnhũng đã được các nhà khoa học Việt Nam và thế giới nghiên cứu trên các bìnhdiện, lát cắt khác nhau, kết quả của các công trình nêu trên rất bổ ích, giúp mở rộngtầm nhìn ra nhiều lĩnh vực liên quan và có những thông tin tiếp giáp tới những khíacạnh, nội dung của đề tài Đây là những tiền đề khoa học cơ bản, gợi mở, cung cấpthêm những luận cứ cho tác giả để tham khảo một cách lựa chọn, biết thừa kế, pháttriển nâng cao nhận thức và sáng tạo trong phương pháp tiếp cận khi triển khainghiên cứu.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích
Từ cách tiếp cận Chính trị học, trên cơ sở lý luận chung về Báo chí, Thamnhũng, và cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng mà Đảng và Nhà nước ta đangtiến hành, trên cơ sở tìm hiểu vai trò, sự tác động của báo chí như một chủ thểtham gia vào cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng ở nước ta; luận văn đưa ramột số giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của báo chí trong cuộc đáu tranhphòng chống tham nhũng đang còn gay go, phức tạp ở nước ta hiện nay
- Nhiệm vụ
- Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về báo chí, truyền thông, tham nhũng
và tác động của báo chí trong cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng
- Làm rõ vai trò, tác động của báo chí trong hoạt động đấu tranh và phòngchống tham nhũng ở nước ta hiện nay
- Đề xuất một số giải nhằm nâng cao vai trò của báo chí trong cuộc đấu tranhphòng chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay
Trang 114 Đối tượng nghiên cứu
Trong khuôn khổ của luận văn cao học, đề tài giới hạn xem xét vai trò củabáo chí trong phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay
5 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề Ở Việt Nam hiện nay
6 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Đề tài nghiê cứu dựa trên các nguyên lí của chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương cử Đảng cộng sản vàNhà nước Việt Nam đối với vấn đề tham nhũng cũng như đấu tranh phòng chốngtham nhũng
- Phương Pháp khác: Trong luận văn còn sử dụng một số phương pháp cơ
bản như : Tổng kết thực tiễn, Khảo sát, thống kê, logic – lịch sử, phân tích – tổnghợp, quy nạp và diễn dịch, so sánh…để giải quyết vấn đề đặt ra
7 Cái mới của luận văn
Luận văn góp phần khẳng định vai trò của báo chí trong công tác phòngchống tham nhũng ở nước ta hiện nay
Giúp nhận diện rõ hơn tình hình tham nhũng, tác hại của tham nhũng vànguyên nhân của tham nhũng, đồn thời nhận diện rõ hơn vai trò của báo chí trongcông tác phòng, chống tham nhũng, vạch ra những hạn chế, yếu kém còn tồn tại
Trên cơ sở lý luận và tực tiễn, đề xuất các giải pháp nhằm phát huy hơn nữavai trò của báo chí trong công tác phòng chống tham nhũng ở nước ta hiện nay
8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Trang 12- Về mặt lý luận: Luận văn góp phần làm rõ thêm một số vấn đề nhận thức
về Báo chí, Tham nhũng, Vai trò của báo chí trong lĩnh vực đấu tranh phòng chốngtham nhũng hiện nay
- Về mặt thực tiễn: Trên cơ sở phân tích vai trò của báo chí trong công tác
phóng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay, khóa luận góp tiếng nói vào việcnâng cao chất lượng, vai trò của báo chí nói chung và vai trò của báo chí trong lĩnhvực đấu tranh phòng chống tham nhũng nói riêng
9 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luậnvăn gồm 03 chương, 5 tiết
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÁO CHÍ VÀ VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ TRONG CUỘC ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG
THAM NHŨNG
1.1 Lý luận về báo chí
1.1.1 Khái niệm báo chí.
Theo triết học cổ Hy Lạp, chữ báo chí xuất phát từ chữ information có nghĩa
là thông tin, thông báo, báo tin và được hiểu như việc tạo ra hình thái giúp cho sựhiểu biết của con người về thế giới xung quanh đang tồn tại bằng việc lấy hiện thựckhách quan để phản ánh một cách liên tục, xuyên suốt trong quan hệ chặt chẽ giữanhà báo - tác phẩm - công chúng Báo chí là bao gồm tất cả các tổ chức thông tinthuộc những loại hình khác nhau (xuất bản, radio, vô tuyến truyền hình…) và ởnhững cấp độ khác nhau từ Trung ương đến địa phương, với ý nghĩa là tất cả cácphương tiện thông tin đại chúng
Trang 13Báo chí theo nghĩa rộng là truyền thông đại chúng, nghĩa hẹp là một loạihình của truyền thông đại chúng Đó là cơ quan ngôn luận của các tổ chức đảng, cơquan nhà nước, tổ chức xã hội, là diễn đàn của nhân dân Nó có tính định kỳ, đápứng nhu cầu thông tin nhanh chóng, đa dạng, chính xác của quảng đại quần chúng.
Báo chí là phương tiện thông báo, thông tin thời sự - về những sự việc mớidiễn ra hàng ngày cho nhiều người biết; là phương tiện giao tiếp đại chúng; là diễnđàn cung cấp, trao đổi và chia sẻ thông tin trên phạm vi rộng rãi Theo nghĩa hẹp,báo chí là những ấn phẩm báo và tạp chí; theo nghĩa rộng, báo chí bao gồm cácloại hình: báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử [56]
Theo Luật Báo chí năm 2016, “Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện,
vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sángtạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông quacác loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử…
Hoạt động báo chí là hoạt động sáng tạo tác phẩm báo chí, sản phẩm báo chí,sản phẩm thông tin có tính chất báo chí; cung cấp thông tin và phản hồi thông tincho báo chí; cải chính thông tin trên báo chí; xuất bản, in, phát hành báo in; truyềndẫn báo điện tử và truyền dẫn, phát sóng báo nói, báo hình”.[48]
Hoạt động báo chí phải bảo đảm tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân dân,tính chiến đấu và tính đa dạng
Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, báo chí là phương tiện thông tinthiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quannhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức
xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; là diễn đàn của Nhân dân
1.1.2 Các loại hình báo chí
Trang 14Theo Luật báo chí Việt Nam 2016 (Điều 3), báo chí có 4 loại hình: báo in,báo nói (phát thanh), báo hình (truyền hình) và báo điện tử (trên mạng internet)
Báo in là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, tranh, ảnh, thực hiện bằngphương tiện in để phát hành đến bạn đọc, gồm báo in, tạp chí in, được xuất bảnđịnh kỳ, hoặc không định kỳ Trong các loại hình báo chí, thì báo in ra đời sớmnhất Thế mạnh của báo in là giúp công chúng tìm hiểu kỹ về thông tin qua cáchphân tích, lý giải những vấn đề phức tạp một cách hệ thống, sâu sắc và độ tin cậycao Hạn chế của nó là tính thời sự chậm, do phải trình bày maket, chế bản, in vàphát hành, trong khi nhu cầu của xã hội luôn đòi hỏi thông tin phải nhanh, nhạy
Báo nói (phát thanh) là loại hình báo chí sử dụng tiếng nói, âm thanh, được
truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau.Đây là kênh thông tin rẻ tiền, phát miễn phí, đại đa số người dân đều có thể muađược radio Hạn chế là người nghe dễ quên, nếu nghe không kịp thì thông tin bịtrôi qua; do đặc tính dưới dạng sóng điện từ nên khó có thể trình bày, phân tích vấn
đề có tính phức tạp, nhất là số liệu chi tiết Những hạn chế này có thể khắc phụcđược khi radio - internet ra đời Như vậy, với việc phát triển của radio - internet,các phương tiện kỹ thuật số tích hợp sẽ tạo điều kiện cho hoạt động phát thanh pháttriển tốt hơn
Báo hình là loại hình báo chí sử dụng hình ảnh là chủ yếu, kết hợp tiếng nói,
âm thanh, chữ viết, được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụngcông nghệ khác nhau Thế mạnh của truyền hình là có tính hấp dẫn cao, dễ hiểu, dễnhớ và dễ thực hiện Hạn chế là phải mua máy thu hình Chi phí cho sản xuất, phátsóng chương trình luôn tốn kém và cồng kềnh về nhân sự Người xem phải tậptrung nhìn vào màn hình và bị động về thời gian Tính tư liệu của truyền hình thấp,khó lưu trữ thông tin, mặc dù các điều kiện về băng, đĩa hình đã hiện đại, rẻ hơn và
đã được cải thiện nhờ kỹ thuật và công nghệ số
Trang 15Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được
truyền dẫn trên môi trường mạng Internet, gồm có báo điện tử và tạp chí điện tử.Đây là loại hình báo chí đặc thù, tuy ra đời muộn nhưng do hội tụ được nhiều ưuđiểm vượt trội nên phát triển rất mạnh mẽ Thế mạnh của báo điện tử là có khảnăng kết nối, tìm kiếm và truyền tải dung lượng thông tin lớn, tốc độ truyền tảinhanh, linh hoạt, tạo ra nhiều tầng lớp thông tin không giới hạn; tạo khả năng giaolưu trực tuyến, tương tác nhiều chiều giữa đông đảo công chúng mà không cần quakhâu trung gian biên tập, sửa chữa Nhờ tính đa phương tiện nên thông tin có thểtruyền tải qua nhiều hình thức khác nhau như chữ viết, hình ảnh, âm thanh, đồ họa,audio, video Hạn chế là quá nhiều nguồn tin, trong đó nhiều thông tin chưa đượckiểm định nên không đáng tin cậy, khó kiểm soát
1.1.3 Các chức năng của báo chí
Trong xã hội hiện đại, báo chí có các chức năng sau:
- Chức năng thông tin Đây là chức năng cơ bản, khởi nguồn của báo chí.
Báo chí ra đời trước hết phục vụ nhu cầu thông tin giao tiếp của con người và xãhội Thông tin được giải thích, phân tích và bình luận một cách khách quan và cậpnhật cho công chúng Xã hội càng phát triển, nhu cầu thông tin trên tất cả các lĩnhvực của đời sống xã hội càng cao Đây chính là nguyên nhân thúc đẩy báo chí pháttriển ngày càng mạnh mẽ
- Chức năng quản lý, giám sát và phản biện xã hội Báo chí luôn được các học giả ví là công cụ “gác cổng” và giám sát xã hội Báo chí duy trì và phát triển
mối liên hệ chặt chẽ giữa chủ thể và khách thể quản lý thông qua việc duy trì vàphát triển dòng thông tin hai chiều, bảo đảm cho các quyết định quản lý đượcthông suốt và thực thi, Giám sát xã hội của báo chí là quá trình báo chí theo dõi,kiểm tra quá trình thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, bảo đảm
Trang 16đạt được mục đích cao nhất trong điều kiện có thể, bao gốm các bình diện khác nhau, như theo dõi, kiểm tra phát hiện những nơi làm đúng, làm tốt để biểu dương
và nhân rộng; phát hiện phê phán những cá nhân, tập thể vi phạm, làm sai
- Chức năng tư tưởng Đây là chức năng xuyên suốt, thể hiện tính mục đích
của báo chí Báo chí là phương tiện quan trọng dùng để tuyên truyền quan điểm, đường lối,chính sách của các đảng, nhất là cầm quyền đến các tầng lớp xã hội Ở Việt Nam, báo chí cáchmạng có chức năng tuyên truyền, phổ biến chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,quan điểm của Đảng đến đông đảo quần chúng nhân dân
- Chức năng khai sáng – giải trí Báo chí là diễn đàn trao đổi, chia sẻ kỹ
năng và kinh nghiệm phong phú nhằm nâng cao trình độ dân trí, đáp ứng nhu cầuphát triển bền vững Báo chí là kênh quan trọng cung cấp thông tin, kiến thức khoahọc, giáo dục, văn hóa ; đồng thời phục vụ nhu cầu giải trí đối với đông đảo côngchúng, nhất là truyền hình, phát thanh, báo mạng điện tử
- Chức năng kinh tế – dịch vụ Chức năng này xuất phát từ đòi hỏi khách
quan của hoạt động báo chí trong nền kinh tế thị trường Sản phẩm báo chí là mộtloại hàng hóa đặc biệt, được kinh doanh trong cơ chế thị trường Đồng thời báo chíthực hiện chức năng dịch vụ: quảng cáo, giới thiệu sản phẩm [56]
Theo Luật Báo chí 2016, báo chí có nhiệm vụ, quyền hạn: thông tin trungthực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước, của nhândân; tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trươngcủa Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phản ánh và hướng dẫn dư luận xãhội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân; phát hiện, nêugương người tốt, việc tốt, nhân tố mới, điển hình tiên tiến; đấu tranh phòng, chốngcác hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội [48]
1.1.4 Đặc điểm báo chí Việt Nam thời kỳ đổi mới
Trang 171.1.4.1 Khái quát bối cảnh quốc tế và trong nước từ năm 1986 đến nay
Từ thập kỷ 1980 đến nay, thế giới đã biến đổi to lớn, sâu sắc, khó lường.Các nước tư bản chủ nghĩa, do áp dụng kịp thời những thành quả của cách mạngkhoa học- công nghệ, nhờ cải tiến phương pháp quản lý, thay đổi cơ cấu sản xuất,điều chỉnh các chính sách xã hội nên đã vượt qua được những khó khăn, kinh tếtăng trưởng đáng kể Trong khi đó, nhiều nước XHCN lầm vào khủng hoảng trầmtrọng, nhiều nước đã tiến hành cải tổ, cải cách và đổi mới Tuy nhiên, do nhiềunguyên nhân khách quan và chủ quan, như sự chống phá của chủ nghĩa đế quốc,chậm khắc phục những hạn chế, khuyết điểm của mô hình CNXH, lại mắc phảinhững sai lầm nghiêm trọng trong đường lối cải tổ (từ đường lối kinh tế, HTCT,công tác tổ chức cán bộ, đường lối đối ngoại) nên từ cuối thập kỷ 80 đến đầu thập
kỷ 90 thế kỷ XX, các nước XHCN ở Đông Âu sụp đổ Cục diện thế giới chuyển từhai cực sang đa cực, Mỹ là siêu cường duy nhất trên thế giới và muốn thiết lập trật
tự thế giới mới dưới sự lãnh đạo của Mỹ
Toàn cầu hóa, cách mạng khoa học- công nghệ tiếp tục diễn ra mạnh mẽ,thức đẩy quá trình hình thành xã hội thông tin và kinh tế tri thức Tuy nhiên mâuthuẫn cơ bản trên thế giới vẫn còn nguyên, khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hộikhông được ngăn chặn Các vấn đề toàn cầu như an ninh tài chính, an ninh nănglượng, an ninh lương thực, an ninh mạng, biến đổi khí hậu, thiên tại, bệnh dịch…vẫn diến biến phức tạp Các nước lớn vừa hợp tác vừa cạnh tranh gay gắt, chi phối
và làm phức tạp thêm các quan hệ quốc tế Khu vực Đông Nam Á tuy vẫn giữđược hòa bình, ổn định nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định Tranhchấp chủ quyền ở Biển Đông diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những nguy cơ bất ổn,tuy nhiên các nước ASEAN vẫn nố lực xây dựng cộng đồng, thiết lập các cơ chếhợp tác mới ở khu vực, nhằm bảo vệ hòa bình và hợp tác khu vực…
Trang 18Ở trong nước, sau 10 năm đổi mới (1986-1996), trong điều kiện bị bao vây,cấm vận, đất nước ta đã ra khỏi khủng hoảng, cơ bản hoàn thành các nhiệm vụ pháttriển kinh tế- xã hội Trong 10 năm tiếp theo (1996-2006), tình hình đất nước ổnđịnh, các khó khăn, thách thức dần được giải quyết, kinh tế tăng trưởng nhanh, đờisống nhân dân được cải thiện, chính trị- xã hội ổn định, vị thế quốc tế của đất nước
ta được nâng cao
Trong 10 năm gần đây (2006-2016), đất nước ra khỏi tình trạng nước nghèo,kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, tốc độ tăngtrưởng khá, chính trị- xã hội tiếp tục được giữ vững, an ninh xã hội được bảo đảm.Tuy nhiên, đất nước vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, những yếu kémtrong quản lý kinh tế, quản lý xã hội, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạođức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, những biểu hiện của
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ; các thế lực thù địch vẫn tiếp tục đẩy mạnhchống phá cách mạng nước ta…
Với vai trò là một chủ thể của nhà nước, đồng hành cùng vận mệnh của dântộc, báo chí cũng có những bước thanh đổi quan trọng, thể hiện ngày càng tốt chứcnăng vai trò nội tại của mình…
1.1.4.2.Giai đoạn đầu đổi mới ( 1986 – 1995)
Bước vào công cuộc đổi mới đất nước, phát huy truyền thống vẻ vang củanền báo chí cách mạng, báo chí dưới sự lãnh đạo của Đảng đã mạnh dạn nhìnthẳng vào sự thật, phê phán những hiện tượng tiêu cực, tham ô tham nhũng đangdiễn ra trong đời sống xã hội Bên cạnh đó, báo chí cũng đã cổ vũ tích cực chonhững phong trào, đơn vị làm ăn tiên tiến, những nhân tố mới, những gương ngườitốt việc tốt, có nhiều thành tích tiêu biểu được xã hội công nhận
Trang 19Có thể nói rằng, so với các giai đoạn trước đó, báo chí của chúng ta giaiđoạn 1986 -1990 đã có sự chuyển biến rõ rệt về tư duy cũng như cách nhìn nhận,đánh giá các sự kiện, vấn đề đang diễn ra trong cuộc sống Trước đây, Đảngthường coi báo chí là một công cụ nặng về tuyên truyền các chủ trương, chínhsách, thì giờ đây Đảng ta coi báo chí là một công cụ, một kênh thông tin quan trọnggắn kết chặt chẽ giữa Đảng với nhân dân, vừa để phát huy quyền làm chủ của nhândân, vừa để lãnh đạo và quản lý đất nước Qua các kênh thông tin của báo chí,nhân dân đã nói lên được những tâm tư, nguyện vọng của mình tới các cơ quanchức năng, các vị lãnh đạo của Đảng, nhà nước Có thể nói rằng, nhờ việc đổi mới
tư duy và cách nhìn nhận của Đảng ta đối với báo chí, mà báo chí trong điều kiệnmới có cơ hội để phát huy tốt hơn tính dân chủ, tự cởi trói mình để hoàn thành sứmệnh thiêng liêng trong công cuộc đổi mới của đất nước
Thành công của báo chí những năm đầu của thời kỳ đổi mới đã tạo ra chohoạt động báo chí của nước ta những năm sau đó những tiền đề vững chắc để tiếptục công cuộc đổi mới đất nước, đấu tranh chống lại các thế lực thù địch từ bênngoài đang thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” chống phá nước ta trên nhiềulĩnh vực như: kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, an ninh, quốc phòng, cũng nhưcon đường đi lên chủ nghĩa xã hội
Trong giai đoạn này nổi nên là báo Đại đoàn kết, cơ quan ngôn luận của Ủy
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có bề dày lịch sử hơn 50 năm (tiền
thân là báo Cứu quốc) đã được sự yêu mến của bạn đọc trong và ngoài nước Tiếp
thu truyền thống của những tờ báo tiền thân, báo Đại đoàn kết không ngừng cảitiến nội dung cũng như hình thức trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân thựchiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, góp phần tạo nên sức mạnh chocông cuộc đổi mới Bên cạnh đó, báo Đại đoàn kết cũng đã chú trọng phản ánh vớiĐảng, Nhà nước những kiến nghị, đề xuất của tầng lớp nhân dân, giúp Đảng và
Trang 20Nhà nước kịp thời sửa chữa sai lầm, bổ sung thiếu sót, nhất là trong những vấn đềbức xúc của xã hội đặt ra Mặt khác, đi đôi với việc biểu dương nhân tố mới, điểnhình mới, những kinh nghiệm làm ăn giỏi của nhân dân, báo còn góp phần đấutranh chống tiêu cực, chống các tệ nạn ức hiếp, trù dập quần chúng, vi phạm quyềncông dân, thông tin những vấn đề sôi động, những sự kiện lớn trong nước và quốc
tế, vạch trần âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch chống phá nước ta trênđường đổi mới
Nhìn chung, báo chí nước ta giai đoạn này có những đổi mới trên nhiều bìnhdiện, điều đáng nói trước tiên là trong giai đoạn này, đội ngũ nhà báo nước ta, cảchuyện nghiệp lẫn không chuyên đã có sự lớn mạnh hơn nhiều so với đội ngũ nhàbáo các thời kỳ trước đó Với sự lớn mạnh và trưởng thành như vậy, họ đã pháthuy và đóng góp tích cực của mình trong công cuộc đổi mới đất nước
Cùng với sự lớn mạnh về số lượng, đội ngũ những người làm báo đã có sựđổi mới trong tư duy cũng như phương thức làm báo, tư duy khác trước, các vấn đềthường được xem xét dưới nhiều góc độ, nhiều hướng, nhiều chiều, phát huy đượctính khách quan trong hoạt động báo chí Nhiều vấn đề bức xúc trong xã hội đãđược nhà báo dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, đưa ra trước công luận nên đã được
sự ủng hộ nhiệt tình của đông đảo công chúng Nhà báo cũng trở nên khẩn trươnghơn trong tác nghiệp, đưa tin, viết bài và bình giá các vấn đề để đáp ứng yêu cầucủa đất nước trong thời kỳ đổi mới
Báo chí giai đoạn này cũng tỏ ra năng động hơn, nhạy bén hơn trong tuyêntruyền, phổ biến các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng đến với đông đảoquần chúng nhân dân Qua đó, giúp nhân dân có được nhận thức đúng đắn, thựchiện tốt hơn những quyết sách mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra trong công cuộcđổi mới đất nước
Trang 21Báo chí bám sát thực tiễn, phản ảnh sự đổi mới hàng ngày, hàng giờ của đấtnước trên tất cả mọi lĩnh vực đời sống Nhiều nhà báo không ngại đi sâu, đi sát cơ
sở, phản ánh kịp thời các vấn đề nảy sinh, từ đó giúp Đảng và Nhà nước có đượcnhững chủ trương phù hợp, sát với tình hình thực tế Đây có thể xem là đóng góplớn nhất của báo chí nước ta thời kỳ này
Với chức năng và vai trò của mình, báo chí nước ta giai đoạn này đã hoànthành được sứ mệnh lịch sử, góp phần đắc lực vào việc thúc đẩy nhanh tiến trìnhđổi mới đất nước
1.1.4.3.Giai đoạn từ 1996 đến nay
Theo thống kê tính đến tháng 2/ 1995, cả nước có 375 cơ quan báo và tạpchí, khoảng hơn 360 triệu bản in với nhiều loại hình phong phú: hàng ngày, hàngtuần, nửa tháng, hàng tháng, số cuối tuần, số cuối tháng Một số tờ báo ra thêmphụ san định kì hoặc không định kì Một số báo bằng tiếng nước ngoài ( Anh,Pháp, Hoa…) Quảng cáo cũng là một hoạt động được mở rộng trên báo chí
Đến đầu 2007, cả nước đã có 687 cơ quan báo chí với khoảng hơn 800 ấnphẩm, gồm 172 báo ( trung ương: 71, địa phương 101); 448 tạp chí( trung ương:352; dịa phương: 96); 67 đài phát thanh, truyền hình ( trung ương: 2; địa phương65); 5 báo điện tử, 105 trang tin điện tử của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp…
Chưa đầy một năm sau đó, cuối 2007, cả nước đã có 702 tờ báo và tạp chívới 830 ấn phẩm, 68 đài phát thanh, truyền hình ( trong đó 3 đài truyền hình trungương là VTV, VTC, VCTV; 1 đài phát thanh quốc gia là Đài tiếng nói Việt Nam,
64 đài phát thanh, truyền hình cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương, trên
600 đài phát thanh cấp huyện và hàng chục phường, xã, thị trấn, nhà máy, xínghiệp, bệnh viện, trường học; 1 hãng thông tấn nhà nước là Thông tấn xã Việt
Trang 22Nam, 6 báo mạng điện tử, 100 tờ báo in đưa lên mạng Internet bằng các thứ tiếng,hàng ngàn trang điện tử…
Đến cuối năm 2009, cả nước có 706 cơ quan báo in, 1 hãng thông tấn quốcgia, 2 đài phát thanh truyền hình quốc gia và trên 560 đài phát thanh - truyền hìnhcấp tỉnh, huyện Ở tất cả các bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội đều có cơ quanbáo chí Các bộ lớn như: Bộ Quốc phòng, trên 20 cơ quan báo chí, Bộ Công An cógần 20 cơ quan báo chí, Bộ Y tế, 15 cơ quan báo chí Tổ chức chính trị có nhiều cơquan báo chí nhất là Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh với 10
cơ quan báo chí Các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đều có ít nhất 2 đến 3
cơ quan báo chí, gồm báo của Đảng bộ địa phương, đài phát thanh - truyền hình,tạp chí của Hội văn nghệ…Các địa phương có nhiều cơ quan báo chí nhất là thànhphố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải phòng, Đà Nẵng, Nghệ An, Thừa Thiên - Huế,Đồng Nai…
Sự tăng trưởng của báo chí Việt Nam thời kì này thể hiện rõ nét ở sự pháttriển về chủng loại Báo in, ngoài những ấn phẩm vốn có như: nhật báo, tuần báo,báo thưa kì, tạp chí, bản tin… đã xuất hiện những tờ tạp chí với nội dung thiên vềgiải tri và mục đích rõ ràng là tập trung thu hút quảng cáo điều này có nghĩa là đãxuất hiện một loại sản phẩm báo chí có mục đích thương mại Mặt khác, vào thờiđiểm 1986, cả nước mới chỉ có 5 tờ nhật báo, nay đã lên tới trên 20 tờ Trên cảnước, hiện có 533 cơ quan báo in, tạp chí với 713 ấn phẩm và hơn 1000 bản tin.Hàng năm, số lượng báo phát hành ở nước ta khoảng 600 triệu bản, bình quân có7,5 bản báo/người/năm Hầu hết các trung tâm tỉnh lị đều được đọc báo phát hànhtrong ngày
Theo số liệu của Bộ Thông tin- Truyền thông, tính đến tháng 12/2016, cảnước ta có 859 cơ quan báo chí in (199 báo (trung ương 86; địa phương 113); 660tạp chí (trung ương 523; địa phương 137); 135 báo, tạp chí điện tử (112 của cơ
Trang 23quan báo chí in và 23 - độc lập); 258 trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơquan báo chí; 67 đài phát thanh, truyền hình (2 đài quốc gia là Đài Tiếng nói ViệtNam, Đài Truyền hình Việt Nam; 1 đài truyền hình kỹ thuật số VTC; 64 đài phát
thanh, truyền hình địa phương; 5 đơn vị hoạt động truyền hình không có hạ tầng
phát sóng truyền hình riêng, gồm: Đài Tiếng nói Việt Nam (Kênh Truyền hìnhVOV TV, kênh truyền hình Quốc hội); Trung tâm PTTH, Điện ảnh Công an nhândân của Bộ Công an (kênh truyền hình Công an nhân dân ANTV); Trung tâmTruyền hình thông tấn- TTXVN (kênh VNews); Trung tâm PTTH Quân đội (kênhtruyền hình Quốc phòng); Báo Nhân dân (kênh truyền hình Nhân dân) 03 đơn vị
có chương trình truyền hình phát sóng trên VTV, gồm: Trung tâm Truyền hìnhnhân đạo (chương trình truyền hình Nhân đạo); Trung tâm Truyền thông - Truyềnhình Công thương (Chương trình Truyền hình Công thương); Trung tâm vận độngtruyền thông xã hội, Cục Bảo trợ chăm sóc trẻ em- Bộ Lao động, Thương Binh và
Xã hội (chương trình truyền hình Vì trẻ em) Tổng số kênh phát thanh, truyền hìnhtrong nước được cấp phép là 268 kênh (77 kênh phát thanh phát quảng bá, 9 kênhphát thanh phát trên dịch vụ truyền hình trả tiền, 103 kênh truyền hình phát quảng
bá, 79 kênh truyền hình sản xuất phục vụ truyền hình trả tiền; 47 kênh chương
trình nước ngoài được cấp phép biên tập, biên dịch Số lượng thuê bao đạt khoảng12,5 triệu
Số lượng người sử dụng Internet ở Việt Nam là 49 triệu người (Internetstatistics, 12/2016) [39], ở mức cao trong khu vực Sự phát triển với tốc độ cao củabáo điện tử cùng với tính chất tích hợp truyền thông đã mở ra khả năng to lớn choviệc truyền tải, thu nhận thông tin, đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao củacông chúng Mặt khác, các cơ quan báo chí của ta đã và đang phải đương đầu vớicuộc đấu tranh ngày càng gay gắt, quyết liệt của mạng xã hội và các phương tiệntruyền thông khác trên mạng Internet
Đồng hành cùng sự phát triển đó là đội ngũ người làm báo ngày càng phát
triển lớn mạnh Cụ thể, năm 1991, nước ta có gần 7000 nhà báo, đến 2005, cả nước
đã có 15.000 nhà báo được phát thẻ ( tăng hơn 2 lần trong vòng 15 năm) Chưa kểhàng chục nghìn người đang làm việc tại hơn 600 đài truyền thanh, truyền hình cấp
Trang 24huyện, ở các bản tin định kì ở các cơ quan báo chí đảm bảo cho quá trình tácnghiệp của các nhà báo.
Đến cuối 2009, đội ngũ người làm báo nước ta đã phát triển lên hơn 17nghìn hội viên hội nhà báo Tính đến tháng 9/2016, cả nước có 18.360 nhà báo vàkhoảng trên 5.000 phóng viên đang làm việc tại cơ quan báo chí, nhưng chưa đủđiều kiện cấp thẻ nhà báo [10] Về trình độ chuyên môn, phần lớn số người làmviệc trong lĩnh vực báo chí đều có trình độ cao đẳng, đại học trở lên; số người cótrình độ dưới đại học giảm trung bình 1%/ năm Hầu hết các nhà báo có bản lĩnhchính trị, đạo đức nghề nghiệp, hành nghề trung thực, tuân thủ pháp luật và Quyđịnh về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo
Báo chí Việt Nam về cơ bản đã làm tốt chức năng là cơ quan ngôn luận củaĐảng, Nhà nước, là diễn đàn của nhân dân Báo chí đã đi đầu trong tuyên truyềnchủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương của Đảng,chính sách, pháp luật của Nhà nước; công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước vàhội nhập quốc tế; tăng cường quốc phòng an ninh, đối ngoại; đấu tranh phản bácnhững thông tin, quan điểm sai trái, âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật
đổ của các thế lực thù địch, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước
và sự nghiệp đổi mới
Trên lĩnh vực kinh tế, báo chí đã tuyên truyền việc thực hiện các nghị quyếtcủa Đảng, Quốc hội, Chính phủ về ổn định kinh tế vĩ mô, tái cấu trúc nền kinh tế,đẩy mạnh cải cách hành chính, đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.Báo chí góp phần tổng kết các bài học của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế,phát hiện, phân tích, đánh giá những hạn chế, bất cập trong quá trình xây dựnghoặc thực hiện chính sách, quyết định của các cơ quan nhà nước; phản ánh kịpthời các ý kiến, nguyện vọng của nhân dân Báo chí đã hình thành một lênh tươngtác thường xuyên giữa các cơ quan của Chính phủ và người dân, góp phần quantrọng tăng cường tính công khai, minh bạch, dân chủ, tạo sự đồng thuận xã hội
Trang 25Báo chí đã đi đầu và có những đóng góp quan trọng trong công tác thông tinđối ngoại, nêu bật những thành tựu xây dựng và phát triển đất nước, các giá trịvăn hóa truyền thống dân tộc, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, thúcđẩy hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và thế giới; gópphần tăng cường tình hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc; nâng caonhận thức chính trị, định hướng tư tưởng, văn hóa cho nhân dân; giúp các nhàhoạch định chính sách Việt Nam đưa ra những quyết sách phù hợp
Báo chí trong nước đã phát triển cả về số lượng, chất lượng và thời lượngtheo hướng chuyên biệt hóa về nội dung, đa dạng hóa về thể loại, tốc độ thông tin,hình thức thể hiện Báo chí vừa tiếp tục làm tốt nhiệm vụ chính trị thông tin, tuyêntruyền, vừa tiến tới đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng đa dạng của công chúng Các phóng viên, biên tập viên, nhân viên kỹ thuật, cán bộ lãnh đạo quản lý và
cơ quan báo chí được trang bị máy móc, thiết bị tương đối hiện đại, tiên tiến vàđồng bộ - chủ yếu là kỹ thuật số Nhờ đó việc thu - phát thông tin của báo chí đượcnhanh chóng, chất lượng và hiệu qua hơn nhiều so với trước đây Tóm lại, báo chíViệt Nam đã có bước trưởng thành và phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng, toàn diện,hiệu quả, đặc biệt là trong thời kỳ Đổi mới và hội nhập quốc tế…
Bên cạnh những thành tựu nêu trên, hoạt động báo chí ở nước ta thời gian
qua cũng còn nhiều hạn chế, khuyết điểm:
Hệ thống báo chí nhiều về số lượng nhưng chất lượng chưa tương xứng, cònchồng chéo về tôn chỉ, mục đích, nội dung, đối tượng phục vụ Một số cơ quan báochí và nhà báo thiếu nhạy bén chính trị, chưa làm tốt chức năng giáo dục tư tưởng,chính trị, văn hóa; chưa thực hiện tốt tôn chỉ, mục đích, đối tượng phục vụ chính;chưa coi trọng đúng mức việc phát hiện, tuyên truyền các nhân tố mới, điển hìnhtiên tiến, gương người tốt, việc tốt Xu hướng “thương mại hóa” trong hoạt độngbáo chí, khai thác thông tin thiếu chọn lọc, nặng về phản ánh mặt trái, tiêu cực của
xã hội, nhiều nội dung tin bài giật gân, câu khách; tính trung thực của báo chí bịgiảm sút; có hiện tượng một số báo điện tử, kênh chương trình phát thanh, truyềnhình,… bị tư nhân chi phối đã làm giảm chất lượng chính trị, chất lượng văn hóa,
Trang 26chất lượng khoa học, chất lượng nghiệp vụ báo chí Lãnh đạo một số cơ quan báochí buông lỏng công tác quản lý, giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ cán bộ,phóng viên, biên tập viên Quy trình biên tập, duyệt bài chưa coi trọng và thực hiệnnghiêm túc, cá biệt có báo và nhà báo đưa thông tin thiếu chuẩn xác, thiếu tráchnhiệm, thông tin sai nhiều nhưng không cải chính, vi phạm đạo đức người làm báo,lợi dụng nghề nghiệp để trục lợi, thậm chí có trường hợp vi phạm pháp luật Vẫncòn sự chênh lệch lớn về sự hưởng thụ thông tin báo chí giữa các khu vực, địa bàn,vùng, miền Vai trò quản lý nhà nước của cơ quan chủ quản báo chí chưa đượcphát huy nên hiệu lực quản lý còn hạn chế, chưa theo kịp sự phát triển của các loạihình báo chí trong tình hình mới; chưa nghiên cứu, phân loại, xác định tính chất,nhiệm vụ của báo chí để có cơ chế, chính sách phù hợp Việc cung cấp thông tincho báo chí thiếu kịp thời, gây khó khăn cho hoạt động của các cơ quan báo chí
Các cơ quan báo chí chưa chủ động dự báo, định hướng thông tin trước các
sự việc phức tạp, nhạy cảm; việc xây dựng và thực hiện quy hoạch báo chí cònchậm Xử lý sai phạm trong hoạt động báo chí tuy được tăng cường nhưng nhìnchung chưa nghiêm, chưa có chế tài thích đáng, đủ mạnh để khắc phục dứt điểmsai phạm Mạng xã hội đã tạo nên một loại hình truyền thông phi chính thống, tácđộng ngày càng mạnh đến dư luận xã hội, nhưng các cơ quan báo chí và nhà báochưa nhận rõ, đầy đủ thách thức lớn này để tranh giành công chúng, hạn chế mặttrái và ảnh hưởng tiêu cực của nó…
1.2 Một số vấn đề về tham nhũng và phòng, chống tham nhũng
1.2.1 Quan niệm về tham nhũng
Xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử xã hội loài người, gắn liền với việc xuấthiện quyền lực nhà nước, quyền lực công Tham nhũng, thông thường được hiểu lànhững hành vi lợi dụng quyền lực, đặc biệt là quyền lực nhà nước để trục lợi chomục đích cá nhân Ngày nay, tham nhũng đã trở thành một hiện tượng khá phổbiến trên thế giới; là một trong những nguy cơ của sự phát triển của mỗi quốc gia,
đe dọa ổn định xã hội, làm xói mòn những giá trị đạo đức, các giá trị dân chủ, cản
Trang 27trở quá trình phát triển và tăng trưởng kinh tế cũng như làm suy giảm lòng tin củangười dân vào chính quyền và pháp luật
Trong tiếng Anh, tham nhũng thường được dùng bằng từ Corruption với
nghĩa rất chung và rộng là: hư hỏng, đồi bại, thối nát [5] Còn trong tiếng Pháp là
từ Corrytional có hai nghĩa: nghĩa đen, hẹp hơn, chỉ sự thối rữa, sự tự phá hủy, sự
đồi bài, sự mục nát từ trong bản thể; nghĩa bóng gắn với nhà nước: là một loại tộiphạm diễn ra trong sử dụng công cụ và quyền lực nhà nước cho bản thân, gây thiệthại cho chính nhà nước và công dân [6]
Trong tài liệu hướng dẫn của Liên Hợp quốc về cuộc đấu tranh quốc tếchống tham nhũng (1969) tham nhũng được định nghĩa đơn giản và cô đọng rằng:
"Tham nhũng là sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi" Từ đó, Ban Tổng thư
ký Liên Hợp quốc đã chỉ ra các yếu tố cơ bản của tham nhũng xoay quanh vấn đềlợi ích là: 1/ Hành vi của những người có chức có quyền ăn cắp, tham ô và chiếmđoạt tài sản của Nhà nước 2/ Lợi dụng chức quyền để trục lợi bất hợp pháp thôngqua việc sử dụng quy chế chính thức một cách không chính thức 3/ Sự mâu thuẫn,không cân đối giữa các lợi ích chính đáng do thực hiện nghĩa vụ xã hội với nhữngmón tư lợi
Tại hội nghị Quốc tế về chống tham nhũng ở Bắc Kinh ngày 10/10/1995,tham nhũng được xem là ”lòng tham của con người thông qua quyền” Công ướcQuốc tế về chống tham nhũng của Liên hợp quốc (2003) cho rằng: ”tham nhũng là
sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi cho mục đích cá nhân” Sau đó, LiênHợp quốc, trong tài liệu Chương trình toàn cầu về chống tham nhũng (2004) nhậnthấy, hiện nay không có một định nghĩa nào duy nhất mang tính tổng hợp và đượcchấp nhận trên phạm vi toàn cầu về tham nhũng Do vậy, Liên Hợp quốc cân nhắcrằng, thay vì định nghĩa thế nào là tham nhũng, nên liệt kê các hành vi tham nhũng
Trang 28cụ thể Đồng thời, Liên Hợp quốc quan tâm đến mục đích của hành vi, đã khuyếncáo các quốc gia hãy hình sự hóa các hành vì tham nhũng chủ yếu bao trùm, nhữngtội phạm cụ thể hoặc những nhóm tội phạm cụ thể tùy thuộc vào hành vi có liênquan thuộc loại gì, những người có liên can có phải là công chức hay không, hành
vi có dấu hiệu xuyên quốc gia hoặc có sự liên quan của một công chức nước ngoàihay không, và vụ việc có liên quan đến việc làm giàu một cách bất hợp pháp hoặckhông đúng đắn hay không Một số hành vi đáng chú ý trước tiên của tham nhũng
là: Hối lộ, tham ô, trộm cắp và lừa đảo, tống tiền, lạm dụng quyền quyết định, chủ nghĩa thiên vị và nhất thân nhì thế,
Như vậy, với quan niệm khác nhau của cá nhân, hoặc tổ chức quốc tế, thamnhung được nhận diện trên 2 phương diện:
Một là, sự lợi dụng chức vụ, quyền lực, trọng tâm là quyền lực nhà nước để
"nhũng" để thỏa mãn lòng "tham" Vì vậy, từ điển tiếng Việt đã giải thích thamnhũng là: "Lợi dụng quyền hạn để nhũng nhiễu dân và lấy của" [8]
Trong Pháp lệnh phòng, chống tham nhũng (1998, sửa đổi, bổ sung năm
2000 ), khái niệm "tham nhũng" chính thống được pháp luật quy định là theo nghĩahẹp ghi rõ: "Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụngchức vụ, quyền hạn đó để tham ô, hối lộ hoặc cố ý làm trái pháp luật vì động cơ vụ
Trang 29lợi, gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, tập thể và cá nhân, xâm phạm hoạtđộng đúng đắn của các cơ quan, tổ chức" [7] Cũng trên tinh thần này, Luật Phòng,chống tham nhũng năm 2005 (và được sửa đổi, bổ sung năm 2008) xác định ngắn
gọn: "Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ quyền hạn đó vì vụ lợi"
Bộ luật hình sự, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 đã liệt kê các hành
vi tham nhũng Theo đó, những hành vi sau đây thuộc nhóm hành vi tham nhũng:
- Tham ô tài sản
- Nhận hối lộ
- Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụlợi
- Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi
- Giả mạo trong công tác vì vụ lợi
- Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyềnhạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụlợi
- Nhũng nhiễu vì vụ lợi
- Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi
Trang 30- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạmpháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra,kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi.
Xét về tổng thể, tham nhũng với bản chất lợi dụng ưu thế của chức vụ,quyền hạn để trục lợi bất chính, tham nhũng trở thành hiện tượng tiêu cực trênnhiều phương diện như:
Về chính trị, tham nhũng là sự tha hóa quyền lực xã hội (biến quyền lực
-quyền uy mà tập thể, giai cấp, xã hội giao cho thành vũ khí của mình thành phươngtiện để thực hiện long tham, nhằm trục lợi)
Về kinh tế, tham nhũng phá hoại sức sản xuất và thậm chí bóc lột siêu kinh
tế
Về văn hóa, tham nhũng là tệ nạn xã hội, là điển hình của cái xấu được che
đậy nhiều khi bằng những hình thức có vẻ văn hóa và công khai
Về xã hội, tham nhũng là xúc tác của phân hóa giàu nghèo, cách biệt xã hội
và tha hóa tộc loại (các cộng đồng, cá nhân xa lạ với nhau)
Về đạo đức, tham nhũng là hiện thân của tham lam, độc ác và nhiều khi
bất chấp cả dư luận xã hội
Về pháp luật, tham nhũng là "nghệ sĩ" lách luật và vi phạm, thậm chí coi
thường và bóp méo pháp luật; ít nhiều là một dạng tội phạm hình sự, nguy hiểmđến đời sống xã hội và cần phải loại bỏ
Từ những đánh giá trên có thể xem: Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn, lợi dụng quyền lực không bị kiểm soát, hoặc kiểm soát chưa
Trang 31đủ độ, để chiếm đoạt tài sản của nhà nước, của tổ chức hoặc cá nhân làm của riêng cho mình nhằm thỏa mãn lòng tham và sự hám lợi cá nhân.
1.2.2 Đặc điểm tham nhũng ở Việt Nam
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tham nhũng có những đặc trưng cơbản như sau:
a) Chủ thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn
Đặc điểm của tham nhũng là chủ thể thực hiện hành vi phải là người cóchức vụ, quyền hạn Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: cán bộ, công chức,viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơquan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ
sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; cán
bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý
là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; người được giaothực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ
đó (khoản 3, Điều 1, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005).
Nhìn chung, nhóm đối tượng này có đặc điểm đặc thù so với các nhóm đốitượng khác như: họ thường là những người có quá trình công tác và cống hiến nên
có nhiều kinh nghiệm; được đào tạo có hệ thống, là những chuyên gia trên nhiềulĩnh vực khác nhau; là những người có quan hệ rộng và có uy tín xã hội nhất định
và thậm chí có thế mạnh về kinh tế Những đặc điểm này của chủ thể hành vi thamnhũng chính là yếu tố gây khó khăn cho việc phát hiện, điều tra, xét xử hành vitham nhũng
b) Phương thức tham nhũng là lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao
Trang 32“Lợi dụng chức vụ, quyền hạn” để vụ lợi là đặc trưng thứ hai của thamnhũng Khi thực hiện hành vi tham nhũng, kẻ tham nhũng phải sử dụng “chức vụ,quyền hạn của mình” như một phương tiện để mang lại lợi ích cho mình, cho giađình mình hoặc cho người khác Đây là yếu tố cơ bản để xác định hành vi thamnhũng Một người có chức vụ, quyền hạn nhưng không lợi dụng chức vụ, quyềnhạn đó thì không thể có hành vi tham nhũng Tuy nhiên, không phải mọi hành vicủa người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó đều được coi
là hành vi tham nhũng, mà chỉ những hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụlợi, để thỏa mãn lòng tham mới là tham nhũng
c) Mục đích của hành vi tham nhũng là thỏa mãn lòng tham và sự hám lợi
cá nhân.
Hành vi tham nhũng là hành vi cố ý Mục đích của hành vi tham nhũng là vụlợi Nếu chủ thể thực hiện hành vi không cố ý thì hành vi đó không là hành vi thamnhũng Vụ lợi ở đây được hiểu là lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần mà người cóchức vụ, quyền hạn đã đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi thamnhũng Như vậy, khi xử lý về hành vi tham nhũng, không bắt buộc chủ thể thamnhũng phải đạt được lợi ích
Pháp luật Việt Nam hiện nay quy định việc đánh giá tính chất và mức độnguy hiểm của hành vi tham nhũng chủ yếu dựa trên căn cứ xác định những lợiích vật chất mà kẻ tham nhũng đạt được để từ đó quyết định mức độ xử lý Lợiích vật chất hiện nay trong cơ chế thị trường thể hiện ở rất nhiều dạng khác nhau,nếu chỉ căn cứ vào những tài sản phát hiện hoặc thu hồi được để đánh giá lợi ích
mà kẻ tham nhũng đạt được thì sẽ là không đầy đủ Thêm nữa, các lợi ích vật chất
và tinh thần đan xen rất khó phân biệt; ví dụ như: việc dùng tài sản của Nhà nước
để khuyếch trương thanh thế, gây dựng uy tín hay các mối quan hệ để thu lợi bất
Trang 33chính Trong trường hợp này, mục đích của hành vi vừa là lợi ích vật chất, vừa làlợi ích tinh thần
Đối với khu vực tư, khi có vụ việc tham nhũng xảy ra, pháp luật đã có những
sự điều chỉnh nhất định Tuy nhiên, cũng có trường hợp, người có chức vụ, quyềnhạn trong các tổ chức, doanh nghiệp thuộc khu vực tư cấu kết, móc nối với nhữngngười thoái hoá, biến chất trong khu vực công hoặc lợi dụng ảnh hưởng của nhữngngười này để trục lợi Trong trường hợp đó, họ trở thành đồng phạm khi người cóhành vi tham nhũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Tiểu kết chương 1:
Trong chương 1, tác giả tập trung khái quát một số vấn đề mang tính lý luận về báochí, tham nhũng được quy định trong chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng,pháp luật của nhà nước và một số văn bản liên quan khác đã được công bố
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THAM NHŨNG VÀ VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ TRONG CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG Ở NƯỚC
TA HIỆN NAY.
2.1 Tình hình tham nhũng ở nước ta hiện nay, nguyên nhân và hậu quả
2.1.1 Tình hình tham nhũng ở nước tra trong những năm gần đây
Thực trạng công tác phóng chống tham nhũng ở nước ta những năm qua đãđạt được nhiều những thành tựu đáng kể, tuy nhiên vẫn không tránh khỏi bộc lộnhững hạn chế yếu kém mà chính Đảng và nhà nước ta phải nhìn nhận và đánh giábằng số liệu cụ thể Theo những thông tin được công bố trong những năm qua cóthể thấy một số biểu hiện của tham nhũng như:
Thứ nhất, mức độ tham nhũng ngày càng nghiêm trọng
Trang 34Theo báo cáo của Thanh tra Chính phủ vào quý I năm 2015, đã tiến hànhtriển khai 1.553 cuộc thanh tra hành chính và 33.927 cuộc thanh tra, kiểm trachuyên ngành.
Qua thanh tra, cơ quan chức năng đã phát hiện vi phạm về kinh tế 23.351,4 tỷđồng và 1.973,5 ha đất; trong đó, kiến nghị thu hồi về ngân sách Nhà nước 731,5
tỷ đồng và 335,6 ha đất; xuất toán, loại khỏi giá trị quyết toán và đề nghị cơ quan
có thẩm quyền xem xét xử lý 22.619,9 tỷ đồng và 1.637,9 ha đất; ban hành 60.661quyết định xử phạt vi phạm hành chính với tổng số tiền 642,7 tỷ đồng; kiến nghị
xử lý kỷ luật hành chính đối với 156 tập thể, 34 cá nhân; chuyển cơ quan điều tra
xử lý 5 vụ việc, 5 đối tượng [10]
Cũng trong quý I, cơ quan hành chính nhà nước các cấp đã tiếp 65.662 lượtcông dân với 35.428 vụ việc; có 906 đoàn đông người (giảm 17,3% về số lượtngười và 20% về số đoàn đông người so với cùng kỳ 2015), trong đó Trụ sở tiếpcông dân của Trung ương Đảng và Nhà nước tại Hà Nội và TPHCM tiếp 5.919lượt công dân đến trình bày 1.560 vụ việc; có 175 đoàn đông người (tăng 17,8% về
số lượt người và 20,7 % số đoàn đông người so với cùng kỳ năm 2015) [10]
Tiếp tục, trong quý II năm 2016, Thanh tra Chính Phủ đã triển
khai 1.805 cuộc thanh tra hành chính và 84.817 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyênngành Qua thanh tra đã chấn chỉnh quản lý, hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luậttrên nhiều lĩnh vực; phát hiện vi phạm hơn 8 nghìn tỷ đồng, 860 ha đất; kiến nghịthu hồi hơn 6,7 nghìn tỷ đồng và 515 ha đất; xuất toán, loại khỏi giá trị quyết toán
và đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét xử lý hơn 1,2 nghìn tỷ đồng, 345 ha đất;kiến nghị xử lý kỷ luật hành chính đối với 221 tập thể; ban hành 45.652 quyết định
xử phạt vi phạm hành chính tổ chức, cá nhân với số tiền hơn 1,4 nghìn tỷđồng; chuyển cơ quan điều tra xử lý hình sự 19 vụ, 31 đối tượng [11]
Trang 35Trong công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo,
cơ quan hành chính nhà nước các cấp tiếp 80.506 lượt công dân với 39.842 vụviệc; có 1.192 đoàn đông người Kết quả, đã giải quyết 5.427/8.527 vụ việc khiếunại, tố cáo thuộc thẩm quyền (đạt 64%) Qua công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo
đã kiến nghị thu hồi cho nhà nước và trả lại cho 224 công dân 16 tỷ đồng, 18 hađất; kiến nghị xử lý hành chính 76 người Qua thanh tra, giải quyết khiếu nại, tốtcao, ngành Thanh tra đã phát hiện 7 vụ, 8 đối tượng có hành vi tham nhũng và liênquan đến tham nhũng Các cơ quan cảnh sát điều tra đã thụ lý điều tra 148 vụ, 354đối tượng tham nhũng và liên quan đến tham nhũng [11]
Theo thống kê của Tổ chức Minh bạch Thế giới về chỉ số tham nhũng của cácnước trên thế giới qua các năm, Việt Nam xếp hạng thứ 112/182 trong năm 2011[12]
Chỉ số tham nhũng (CPI) của Việt Nam từ năm 2002 đến năm 2011
102/145
107/158
111/163
123/179
121/180
120/180
116/178
112/182
Mặc dù trong những năm qua đã có những bước tiến quan trọng trong việc hoàn
thiện thể chế và chính sách liên quan đến phòng, chống tham nhũng: thông qua Luật Tiếp cận thông tin, hoàn thành công tác đánh giá 10 năm thực hiện Luật
Phòng, chống tham nhũng và triển khai sửa đổi toàn diện Luật phòng chống tham
Trang 36nhũng, tiếp tục nội luật hóa quy định của Công ước Chống tham nhũng của Liên Hợp quốc (UNCAC) về hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước trong
Bộ Luật Hình sự sửa đổi…Nhưng theo theo thống kê của CPI từ năm 2012 đến
2016 dù đã có những bước giảm nhưng năm 2016 lại đang có dấu hiệu tăng trở lại
Bảng Kết quả CPI hàng năm của Việt Nam
Từ những số liệu thống kê trên đây, cho thấy tình tham nhũng càng trở lênbáo động, nguy hiểm và đòi hỏi Đảng, Nhà nước cần phải có biện pháp xử lý triệtđể
Thứ hai, phạm vi tham nhũng ngày càng lan rông, phổ biến, xảy ra ở các lĩnh vực quản lý khác nhau
Trang 37Tham nhũng ngày càng phát triển, không chỉ bó hẹp ở một số lĩnh vực, một
số ngành mà hiện nay phạm vi tham nhũng còn được mỏ rộng hơn rất nhiều Ngoàicác lĩnh vực nhạy cảm hay xảy ra tham nhũng như đầu tư xây dựng cơ bản, quản
lý đất đai, quản lý tài chính công, thuế, hải quản… thì tham nhũng đã lan sang cáclĩnh vực vốn được coi trọng về mặt đạo đức như giáo dục, y tế, các chính sách ansinh, phúc lợi xã hội…Thậm chí ngay cả tại cơ quan pháp luật đại diện cho công
lý, nghiêm minh như tòa án, công an cũng xuất hiện tiêu cực
Tham nhũng xảy ra ở nhiều cấp trong bộ máy nhà nước, không chỉ cấp trungương, cấp tỉnh mà ngay cả cấp huyện, xã, tệ tham ô, hối lộ, vòi vĩnh, sách nhiễu,tiêu cực cũng ngày càng phổ biến, thậm chí diễn ra một cách “trắng trợn” ngangnhiên
Biểu đồ những lĩnh vực bị xem là chịu tác động nhiều nhất bởi tham nhũng ở nước ta (nguồn:
thuvienphapluat.vn)
Trang 38Cụ thể: Trong lĩnh vực Giao thông, xã hội đang lên án mạnh mẽ nạn mãi lộ
đặc biệt là dọc các quyến quốc lộ, trong các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giaothông… Năm 2014, qua công tác giải quyết tố cáo, phòng chống tham nhũng đã thuhồi về ngân sách nhà nước tổng số tiền 3,7 tỷ đồng, thu hồi trả lại quỹ lương đơn vị3,43 tỷ đồng Buộc thôi việc 02 cá nhân, cách chức 03 cá nhân, cảnh cáo 04 cá nhân,miễn nhiệm chức vụ 02 cá nhân, khiển trách 07 tập thể và cá nhân vi phạm Bộ giaothông vận tải phối hợp với bộ công an khởi tố, điểu tra 4 vụ tiêu cực lớn, đang kể nhất
là vụ xảy ra tại ban quả lý dự án đường sắt trong nghi án đưa và nhận hối lộ của công
ty tư vấn giao thông vận tải, đã điểu tra khởi tốt và tạm giam 6 cán bộ thuộc ban quán
lý các dự án đường sắt về tội lợi dụng chức vụ quyền hạn khi thi hành công vụ, và tộithiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng Các vụ án khác xảy ra ở cảngQuảng Ninh, Tổng công ty xây dựng đường thủy, công ty quản lý bay miền nam, Bộ
đã xử lý trách nhiệm người đứng đầu, trong đó có một hiệu trưởng, miễn nhiệm chứcdanh một giám đốc, ngoài ra bộ cũng xử lý 6 vụ tiêu cực nội bộ [13]
Theo Bộ GTVT, năm 2015, Thanh tra Bộ đã chủ trì triển khai tổng số 54cuộc thanh tra hành chính và chuyên ngành Thực hiện kết luận thanh tra, đã thuhồi về ngân sách nhà nước số tiền trên 11,4 tỷ đồng; phê bình 12 tập thể, rút kinhnghiệm 37 tập thể, phê bình 14 cá nhân, rút kinh nghiệm 34 cá nhân, khiển trách 3
cá nhân, cảnh cáo 3 cá nhân Lực lượng thanh tra chuyên ngành GTVT trên toànquốc đã tiến hành 151.864 cuộc thanh tra, kiểm tra; đã xử phạt 138.980 vụ vi phạmvới số tiền trên 439 tỷ đồng, tạm giữ 1.188 ô tô, đình chỉ hoạt động 937 bến đòngang, 445 phương tiện thủy nội địa; giám sát đột xuất được 953 kỳ sát hạch ô tô,1.237 kỳ sát hạch mô tô [14]
Gần đây, có vụ án gây chấn động thuộc lĩnh vực giao thông khi các thanh tragiao thông nhận hối lộ với số tiền lớn Ngày 20/7, Công an Cần Thơ đã bắt 4 đốitượng: Lý Hoàng Minh (SN 1985), Võ Hoàng Anh (SN 1982) - Đội phó và Đội
Trang 39trưởng Đội 3 Thanh tra giao thông TP Cần Thơ phụ trách quận Ninh Kiều; Đoàn
Vũ Duy (SN 1978) - Đội trưởng Đội số 11 phụ trách địa bàn quận Bình Thuỷ vàNguyễn Văn Cần (SN 1987, ở xã Tân Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long) - đốitượng chuyên môi giới nhận tiền, gom tiền đưa cho thanh tra giao thông
Trong lĩnh vực quản lý đất đai, tài nguyên khoáng sản: tham nhũng chủ
yếu diễn ra trong việc quy hoạch, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, thu hồi đấtnông nghiệp để xây dựng các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu đô thị, giao đất,cho thuê đất, định giá đất khi thu hồi, đền bùi, cấp phép khai thác tài nguyên,khoáng sản, một số đối tượng đã lợi dịch chức vụ quyền hạn để giao đất khôngđúng thẩm quyền, lập hồ sơ khống hoặc khai tăng diện tích đất khi đền bù…
Năm 2014, thanh tra về phòng chống tham nhũng tại Hà Nội phát hiện số tiền
vi phạm tới trên 1.500 tỷ đồng, chủ yếu liên quan đến đất đai, do tổ chức, cá nhân
nợ tiền sử dụng đất, nợ tiền thuê đất Thanh tra trên diện rộng các dự án bằngnguồn vốn nhà nước, Thanh tra Chính phủ đã phát hiện 12 dự án không nằm trongquy hoạch, phê duyệt của Thủ tướng, 9 dự án không nằm trong quy hoạch nhưngvẫn triển khai thi công với tổng mức đầu tư 14.638 tỷ đồng, gây nợ đọng xây dựng
cơ bản 673 tỷ đồng
Trong lĩnh vực hải quan: Mức độ tham nhũng ngày càng nghiêm trọng,
tháng 10/2013 diễn đàn doanh nghiệp Viêt Nam- VBF đã thực hiện một cuộc khảosát doanh nghiệp tại Việt Nam để biết tham nhũng ảnh hưởng thế nào đến họ mỗingày và nghe những đề xuất cải thiện Những người tham gia xác định 3 lĩnh vực
mà Chính phủ cần ưu tiên chống tham nhũng, xếp đầu tiên là Hải quan với 55,2%tiếp đó là đến thuế 46,2% và quản lý đất đai 39,8% Trước đó, vào cuối tháng11/2012, Thanh tra Chính phủ và Ngân hàng thế giới đã công bố Báo cáo kết quảkhảo sát xã hội học “Tham nhũng từ góc nhìn của người dân, doanh nghiệp và cán
Trang 40bộ, công chức, viên chức” Kết quả khảo sát cho thấy, Hải quan thuộc 1 trong 4ngành tham nhũng phổ biến nhất.
Trong năm năm 2008 - 2013, có 295 cán bộ hải quan bị xử lý kỉ luât từ cảnhcáo đến thôi việc, nổi nhất là vụ nhập ụ nôi 83M do Dương Chí Dũng nguyên làchủ tịch hội đồng quản trị Tổng công ty hàng hải Việt Nam Vinalines thực hiện,kết luận của công chi điều tra cho thấy mặc dù biết rõ ụ nổi 83M là tàu biển có tuổithọ 43 năm, đã cũ nát, hư hỏng nặng, không hoạt động được, không đủ điều kiệnnhập khẩu, nhưng một số cán bộ thuộc chi cục hải quan vẫn không thông báo cholãnh đạo mà vẫn làm thủ tục đề nghị cho thông quan, nhập khẩu, nếu cán bộ hảiquan thực hiện đúng, có thể Vinaline không nhập khẩu được ụ nổi và không gâythiệt hại hơn 335 tỷ đồng
Vụ Nguyễn Tường Duy (là cán bộ của đội kiểm soát Hải quan thuộc Cục Hảiquan TP HCM) bị bắt đầu năm 2016 vừa qua Vụ án đã được Cục An ninh tàichính tiền tệ và đầu tư, Bộ Công an khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thi hành lệnhbắt tạm giam đối với Nguyễn Tường Duy (48 tuổi, ngụ tại quận 1, TP HCM) đểđiều tra về hành vi “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.Nguyễn Tường Duy đã “tự đặt” ra luật chơi và buộc nhiều doanh nghiệp phải chấpnhận
Trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản: Phần lớn các công trình xây dựng
đều xảy ra thất thoát tài sản, chủ yếu do tham ô và cô ý làm trái, sai phạm ở hầu hếtcác khâu từ lập dự án, thiết kế dự án, thủ đoạn chủ yếu là không chấp hành đứngtrình tự, thủ tục đầu tư xây dựng cơ bản, gian lận, thiếu minh bạch trong đấu thầu,khai khống khối lượng và giá trị vật tư, thiết bị, đưa vật liệu kém chất lượng, saiquy cách vào sử dụng…