Green sử dụng kỹ thuật lai tế bào soma somatic cell hybridisation đã lần đầu tiên xác định được gen TK mã hóa cho enzyme thymidin kinase nằm trên nhiễm sắc thể 17.. Các tế bào dung hợp n
Trang 1Nhiễm sắc thể người và bản
đồ nhiễm sắc thể người
1 Nhiễm sắc thể người
Năm 1956, J H Tjio và A Levan mới xác định được chính xác số lượng nhiễm sắc thể của người là: 2n = 46 Sau đó nhờ
kĩ thuật nhuộm màu bằng giemsa và
quan sát hiển vi huỳnh quang mới
phát hiện các vệt đặc trưng để xây
dựng nên nhiễm sắc đồ
Sử dụng máu làm tiêu bản quan sát
nhiễm sắc thể:
Nuôi cấy tế bào bạch cầu máu ngoại vi
Trang 2của người bình thường và người mắc bệnh đã được áp dụng trong khoảng năm gần đây Nhưng phương pháp này được ứng dụng rộng rãi nhất sau khi phát hiện được hợp chất
polysacchyrid-protid lấy từ hạt cô ve dùng làm
chất gây ngưng kết không đặc hiệu
hồng cầu Người ta dùng chất
phytohemaglutinin này cùng với dung
dịch nhược trương đã cho phép thu được kết quả của sự phân chia
tế bào máu ngoại vi rất tốt Phương pháp này đã được nhóm nghiên cứu của
Moorhead sửa đổi và áp dụng Cơ sở của phương pháp này là người ta trộn lẫn
huyết thanh có lẫn bạch cầu vào môi
trường dinh dưỡng với một tỷ lệ nhất
định rồi cho thêm vào hỗn hợp đó chất phytohemaglutinin, sau đó cho vào lọ
Trang 3trung tính rồi nuôi cấy Ngoài chất
phytohemaglutinin chiết từ đậu cô ve còn nhiều chất khác cũng có tác dụng ngưng kết hồng cầu
Trong quá trình nuôi cấy bạch cầu cũng
có thể tiến hành quan sát sự chuyển hóa các loại tế bào bạch cầu Sự phân chia tế bào bạch cầu làm cơ sở cho nghiên cứu đặc điểm tế bào bạch cầu trong máu
Trên cơ sở nghiên cứu tế bào máu bình thường và bệnh lý, có thể phát hiện ra
trạng thái bệnh lý của tế bào bạch cầu ở người và động vật
2 Kỹ thuật lai tế bào soma
Đến giữa những năm 1960 chỉ mới xác định được một cách đáng tin cậy 3 nhóm liên kết (mỗi nhóm có 2 gen) trên nhiễm
Trang 4sắc thể thường và 4 gen trên nhiễm sắc thể X ở người, theo thống kê từ các phả
hệ, nhưng chưa biết ở nhiễm sắc thể nào
Vào năm 1967, Mc Weiss và H Green sử dụng kỹ thuật lai tế bào soma (somatic
cell hybridisation) đã lần đầu tiên xác
định được gen TK mã hóa cho enzyme thymidin kinase nằm trên nhiễm sắc thể
17 Các dòng tế bào soma của người và các động vật có vú, khi nuôi chung với
sự hiện diện của virus Sendai có thể dung hợp hay lai với nhau Các tế bào dung
hợp này trong quá trình phân bào tiếp
theo sẽ mất dần một số nhiễm sắc thể của
tế bào cha mẹ
Ví dụ, tế bào người dung hợp với tế bào chuột, khi các tế bào phân chia, các
nhiễm sắc thể của người bị mất nhanh
Trang 5Sau khoảng 30 thế hệ tế bào, ở dòng tế bào lai giữa chuột nhắt và người còn lại toàn bộ nhiễm sắc thể của chuột và còn khoảng 7 nhiễm sắc thể của người ở một
số tế bào chỉ còn 1-2 nhiễm sắc thể
người
Sự xác định vị trí của một gen trên một nhiễm sắc thể nhất định được căn cứ vào
sự tồn tại hay mất đi của gen đó khi đối chiếu với sự hiện diện hay văng mặt
nhiễm sắc thể đó trong dòng tế bào Kỹ thuật này đã giúp vượt qua khó khăn khi thống kê theo phả hệ và nhờ nó mà gần trăm gen được xác định vị trí trên 23
nhóm liên kết gen
Trong trường hợp gen TK, dòng tế bào chuột TK- được lai với tế bào người
TK+ Sự dung hợp tạo tế bào lai
Trang 6chuột-người Mặc dù phần lớn nhiễm sắc thể người bị loại mất nhanh trong các
dòng tế bào lai, nhưng một số dòng còn một ít nhiễm sắc thể người Khi các dòng tế bào này được nuôi trên các môi trường có chất aminopterin, các tế bào
TK- sai hỏng hoạt tính thymidin kinase, không mọc được do mất khả năng
chuyển hóa thymidine thành thymidylic acid cần cho tổng hợp ADN Do vậy chỉ
có tế bào lai có nhiễm sắc thể 17 này của người mới tạo được dòng ổn định Chứng
tỏ gen TK+ phải nằm trên nhiễm sắc thể này Chứng cứ xác nhận thêm được thực hiện bằng cách chọn các dòng trên môi trường có thêm chất bromodeoxyuridin riboside (BUDR) là chất đồng đẳng với nitrogenous base
được chuyển hóa bởi thymidin kinase
(TK+) gắn vào ADN làm tế bào chết
Trang 7Hậu quả, nuôi trên môi trường có
BUDR là các dòng tế bào sống được không có gen TK+ và tương ứng với
điều đó, chúng không có nhiễm sắc thể
17 của người
Dựa vào phương pháp này, người ta lập bản đồ nhiễm sắc thể người trên cơ sở sự
có mặt của một sản phẩm do một gen nào
đó thì tương ứng với sự có mặt nhiễm sắc thể trong tế bào
- Điều kiện để thực hiện được việc lập
bản đồ nhiễm sắc thể người nhờ phương pháp này
+ Tính trạng nghiên cứu được mã hóa bởi một gen trên nhiễm sắc thể của người,
mà nó được phân biệt rõ ràng với tính
trạng tương ứng của chuột
Trang 8Ví dụ: Dòng tế bào người chứa
Lactatdehydrgenase A đột biến, enzyme này phải được phân biệt với protein được
mã hóa bởi một gen tương ứng của chuột (LDHA của người và chuột được phân biệt bằng phương pháp điện di)
+ Khả năng có thể xác định được nhiễm sắc thể của người còn lại ở dòng tế bào
Ví dụ: gen LDHA của người được phát hiện trong các dòng tế bào lai mà trong
đó chỉ còn lại độc nhất một nhiễm sắc
thể Đó là nhiễm sắc thể số 2 Chứng tỏ LDHA nằm trên nhiễm sắc thể số 2
Phần lớn các gen được xác định theo
phương pháp trên liên quan đến các
enzyme, mà việc phát hiện chúng căn cứ
Trang 9theo phản ứng do chúng xúc tác Về sau một số thủ thuật khác được sử dụng như dùng các "mất đoạn" để xác định vị trí
gen
- Xác định nhóm liên kết của các gen
bệnh
Dựa vào các nhóm liên kết gen đã được xác định bằng lai tế bào soma, nhiều gen bệnh được gắn vào các nhiễm sắc thể Việc xác định này căn cứ theo
nhiều phả hệ của các gia đình có các
bệnh di truyền
Gần đây (1993) vài bệnh di truyền được xác định bằng cách sử dụng gen dự tuyển (canđiate gene approach) Một trong các
ví dụ là các đột biến của gen fibrillin gây hội chứng Marfan Gen gây hội chứng
Trang 10Marfan được lập bản đồ ở nhóm liên kết
15, ngay giưa vai dài của nhiễm sắc thể Gen mã hóa cho fibrillin cũng có vị trí tương tự khi sử dụng phương
pháp FISH (fluorescent in situ
hybridization - phát hiện bằng huỳnh quang khi lai tại chỗ)