1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu yếu tố nguy cơ trên bệnh nhân đột quỵ có rung nhĩ không do bệnh van tim tại Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Khánh Hòa (FULL TEXT)

111 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Yếu Tố Nguy Cơ Trên Bệnh Nhân Đột Quỵ Có Rung Nhĩ Không Do Bệnh Van Tim Tại Bệnh Viện Đa Khoa Tỉnh Khánh Hòa
Tác giả Lê Gia Hoàn
Trường học Đại Học Y Dược Huế
Thể loại luận văn chuyên khoa cấp ii
Năm xuất bản 2020
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (9)
    • 1.1. Tổng quan về rung nhĩ không do bệnh van tim (9)
    • 1.2. Đột quỵ nhồi máu não ở bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim (13)
    • 1.3. Các yếu tố nguy cơ lâm sàng (17)
    • 1.4. Phân tầng nguy cơ đột quỵ của bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim (22)
    • 1.5. Các nghiên cứu liên quan (26)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (32)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (32)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (33)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (49)
    • 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (49)
    • 3.2. Yếu tố nguy cơ theo thang điểm Cha 2 ds 2 -vasc trên bệnh nhân có rung nhĩ không do bệnh van tim (56)
    • 3.3. Mối liên quan, tương quan giữa các yếu tố nguy cơ (63)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (67)
    • 4.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân đột quỵ (67)
    • 4.2. Yếu tố nguy cơ theo thang điểm Cha 2 ds 2 -vasc trên bệnh nhân đột quỵ có (82)
    • 4.3. Mối liên quan, tương quan giữa các yếu tố nguy cơ (88)
  • KẾT LUẬN (90)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (0)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ Rung nhĩ (RN) là một loại rối loạn nhịp thường gặp và có tỷ lệ mắc tăng lên theo tuổi. Chỉ có khoảng 1% rung nhĩ ở các bệnh nhân < 60 tuổi trong khi đó có tới 12% từ 75-84 tuổi và thậm chí tới hơn 1/3 số bệnh nhân từ 80 tuổi trở lên có rung nhĩ [11]. Tại Mỹ, theo thống kê vào năm 2010 cho thấy có 2% bệnh nhân < 65 tuổi có rung nhĩ, tỉ lệ này là 9% ở các bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên. Rung nhĩ ảnh hưởng tới 2,7 đến 6,1 triệu người Mỹ trưởng thành và con số này theo dự kiến sẽ tăng gấp đôi trong vòng 25 năm tới [36]. Gánh nặng bệnh tật liên quan đến rung nhĩ bao gồm các lần nhập viện do rung nhĩ gây rối loạn huyết động, các biến cố tắc mạch, suy tim và tử vong... Rung nhĩ làm tăng 5 lần nguy cơ đột quỵ và tỉ lệ này còn tiếp tục tăng theo tuổi. Rung nhĩ làm tăng 3 lần nguy cơ suy tim, tăng 2 lần nguy cơ tử vong [11],[44]. Bệnh thường xuất hiện khi có bất thường về cấu trúc hoặc điện sinh lý của cơ nhĩ gây ra các xung động và/hoặc đường dẫn truyền bất thường [11], được đặc trưng bởi sự khử cực nhanh và không đều của tâm nhĩ cùng với không xuất hiện sóng P trên điện tâm đồ, do đó thúc đẩy sự hình thành cục máu đông và gia tăng nguy cơ đột quỵ [36]. Tỷ lệ này được ghi nhận xuất hiện trên các bệnh nhân rung nhĩ là 7,04% tại Trung Quốc [63]; Đài Loan 4,9% [38] và Nhật Bản 13,3/1.000 dân [66]. Nguy cơ đột quỵ hàng năm ở bệnh nhân rung nhĩ từ các nghiên cứu dựa vào cộng đồng trên thế giới là 1,09% [44]. Nghiên cứu Framingham đã chứng minh tỷ lệ xuất hiện đột quỵ tổng thể tăng lên gấp 5 lần trên những bệnh nhân có rung nhĩ [18], [72]. Tại Việt Nam, mặc dù chưa có những thống kê hệ thống trên cả nước, tuy nhiên qua một số nghiên cứu báo cáo, tần suất xuất hiện rung nhĩ ở bệnh nhân đột quỵ não của Phạm Quốc Khánh là khoảng 5%[17] và Nguyễn Đức Long (2015) là 17,3% [19]. Đối với rung nhĩ không do bệnh van tim, chiến lược dự phòng huyết khối dựa trên hệ thống phân tầng nguy cơ đột quỵ bằng thang điểm CHA2DS2-VASc và thuốc được chỉ định có thêm các kháng đông đường uống [71]. Phân tầng nguy cơ đột quỵ là hết sức quan trọng trong việc phân loại mức độ nguy cơ cho mỗi bệnh nhân đột quỵ có rung nhĩ và hướng xử trí bệnh. Việc phân tầng nguy cơ đột quỵ trước đây dựa vào hệ thống tính điểm CHADS2. Tuy nhiên sau một thời gian ứng dụng người ta đã thấy có một số hạn chế như: bỏ qua một số yếu tố nguy cơ và không hướng dẫn chi tiết về việc chọn lựa thuốc chống huyết khối đối với điểm CHADS2 =1. Do vậy, Hội tim mạch Châu Âu đã cho ra đời thang điểm mới có nhiều điểm sửa đổi và dễ dàng ứng dụng, đó là hệ thống tính điểm CHA2DS2-VASc và đã được khuyến cáo trong thực hành lâm sàng hàng ngày [11], [50]. Điểm CHA2DS2-VASc càng cao thì nguy cơ đột quỵ càng gia tăng. Tuy vậy, trong thực hành lâm sàng hàng ngày có một tỷ lệ không nhỏ bệnh nhân đột quỵ do rung nhĩ nhưng lại có điểm CHA2DS2-VASc = 0 và 1, thuộc nhóm nguy cơ thấp đến trung bình. Cũng như yếu tố nguy cơ nào hoặc nhóm yếu tố nguy cơ nào thường gặp trên bệnh nhân đột quỵ. Xuất phát từ thực tiễn lâm sàng đó, cùng với mong muốn bên cạnh việc khảo sát các đặc điểm chung của bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não có rung nhĩ không do bệnh van tim cùng với các yếu tố nguy cơ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu yếu tố nguy cơ trên bệnh nhân đột quỵ có rung nhĩ không do bệnh van tim tại Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Khánh Hòa” với 2 mục tiêu 1. Phân tích yếu tố nguy cơ theo thang điểm CHA2DS2-VASc trên bệnh nhân đột quỵ thiếu máu có rung nhĩ không do bệnh van tim. 2. Tìm mối liên quan và tương quan giữa các yếu tố nguy cơ.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân nghiên cứu

Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt giới tính và nghề nghiệp, có thể tự nguyện tham gia nghiên cứu và tuân thủ đầy đủ quy trình Những bệnh nhân đồng ý tham gia sẽ ký cam kết tình nguyện.

Bệnh nhân phải được chẩn đoán đột quỵ có rung nhĩ không do bệnh lý van tim.[11], [12]

+ Tiêu chuẩn chẩn đoán rung nhĩ: Dựa vào đo điện tâm đồ theo tiêu chuẩn của hội tim mạch Việt Nam 2016 [11], bao gồm các dấu hiệu:

2 Không có sóng P lặp lại rõ ràng.

3 Hoạt động của tâm nhĩ không đều.

4 Tần số tim thường là 110- 140 nhịp /phút.

+ Tiêu chuẩn chẩn đoán đột quỵ thiếu máu cục bộ: Theo hội tim mạch Việt Nam 2008 bao gồm các dấu hiệu sau [12]:

1 Triệu chứng xuất hiện đột ngột.

2 Yếu nữa người và hoặc mất cảm giác nữa người bên đối diện.

5 Bán manh từng phần hoặc bán manh hoàn toàn.

6 Rối loạn ý thức và lú lẫn.

7 Nhìn đôi, chóng mặt, rung giật nhãn cầu, thất điều.

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân nghiên cứu

- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.

- Bệnh nhân đột quỵ chảy máu não.

- Bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não do u hoặc chấn thương.

Bệnh nhân mắc bệnh lý van tim có hoặc không có rung nhĩ theo tiêu chuẩn chẩn đoán của Hội Tim mạch Việt Nam năm 2016 bao gồm các trường hợp hẹp hở van hai lá do thấp, hẹp hở van động mạch chủ do thấp, bệnh nhân có van cơ học hoặc sinh học, và những người đã trải qua phẫu thuật sửa van tim.

2.1.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Bệnh nhân đột quỵ có rung nhĩ nhập viện vào khoa nội tim mạch của bệnh viện đa khoa tỉnh.

Thời gian từ tháng 4.2019 đến tháng 2020. Địa điểm khoa nội Tim Mạch

Cở mẫu nghiên cứu: từ 50-100 bệnh nhân.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện để đánh giá tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán đột quỵ có rung nhĩ không do bệnh lý van tim tại khoa nội tim mạch của bệnh viện đa khoa tỉnh Phương pháp này giúp xác định đặc điểm lâm sàng và yếu tố nguy cơ liên quan đến tình trạng bệnh lý.

- Bước 1: Bệnh nhân được hỏi tiền sử, bệnh sử, đo huyết áp, mạch, chiều cao, cân nặng và thăm khám lâm sàng.

+ Bước 2: Bệnh nhân được làm xét nghiệm:

 Đo điên tâm đồ 12 chuyển đạo.

 Siêu âm doppler tim màu.

 Siêu âm doppler động mạch ngoại biên.

 Xét nghiệm đường máu lúc đói và hoặc đường máu bất kỳ.

- Bước 3: Chọn bệnh nhân đủ tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu.

Những bệnh nhân được chọn vào nghiên cứu sau khi được thăm khám, ghi đầy đủ dữ liệu vào phiếu điều tra theo mẫu về các mục liên quan:

- Hành chính : Tuổi, giới tính, nghề nghiệp, địa chỉ

+ Thời gian phát hiện rung nhĩ.

+ Thời gian phát hiện tăng huyết áp.

+ Thời gian phát hiện đái tháo đường.

+ Thời gian bị đột quỵ hoặc thiếu máu não thoáng qua.

+ Thời gian mắc suy tim.

+ Thời gian bị nhồi máu cơ tim.

+ Thời gian phát hiện bệnh lý động mạch ngoại biên.

- Kết quả đo điện tâm đồ lúc vào viện.

- Kết quả chụp cắt lớp vi tính sọ não.

2.2.3.1 Thu nhập phần hành chính:

- Tên, tuổi, giới tính, nghề nghiệp, địa chỉ, ngày vào viện, số vào viện.

2.2.3.2 Khai thác về tiền sử và bệnh sử:

Tiền sử tăng huyết áp (THA) bao gồm những người đã được chẩn đoán THA trước đó, có thể điều trị đầy đủ hoặc không Ngoài ra, sau khi nhập viện, bệnh nhân có thể được xác định có tăng huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg trong khoảng thời gian 3-5 ngày kể từ khi khởi phát triệu chứng.

Khi ghi nhận trị số huyết áp trong trường hợp bị tai biến hoặc khi nhập viện, cần xác định xem bệnh nhân có bị tăng huyết áp hay không Việc này dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán tăng huyết áp (THA) của Hội Tim mạch học Việt Nam năm 2014.

Huyết áp được đo bằng máy đo ALPKA – 2, sản xuất tại Nhật Bản, và được chuẩn hóa định kỳ mỗi 6 tháng bằng máy đo huyết áp thủy ngân.

Cách đo (theo khuyến cáo của Hội Tim mạch Việt Nam)

Bệnh nhân không hút thuốc lá, không uống cà phê 30 phút trước khi đo. Nghỉ ngơi 5 – 10 phút trước khi đo.

Sau khi hoạt động mạnh hoặc trải qua cảm xúc mạnh, bạn nên nghỉ ngơi ít nhất 15 phút Tư thế đo huyết áp có thể là nằm ngửa hoặc ngồi tựa lưng Để đo huyết áp chính xác, sử dụng máy có băng quấn rộng đủ lớn, chiếm 2/3 chiều dài cánh tay Chiều dài túi hơi cần quấn hết 2/3 chu vi cánh tay và băng quấn nên được đặt trên nếp gấp khuỷu cánh tay khoảng 2,5 cm.

Khi đo bơm, tăng áp lực thêm 30 mmHg có thể làm mất mạch quay và xả hơi với tốc độ trung bình từ 2 đến 3 mmHg/giây Phương pháp đo này được thực hiện thông qua kỹ thuật nghe.

Các pha trong huyết áp Korotkoff

Khi đo huyết áp bằng phương pháp Korotkoff, tiếng đập nghe được qua ống nghe là do sự kết hợp giữa dòng máu xoáy chảy qua đoạn động mạch hẹp và dao động của thành động mạch, tạo ra các pha âm thanh đặc trưng.

+ Pha 1: Tiếng đập đầu tiên nghe được, ứng với lúc sờ được mạch quay, là huyết áp tâm thu.

+ Pha 2: tiếng đập êm nhẹ.

+ Pha 3: tiếng đập lớn hơn và nghe sắc hơn, do tăng lượng máu qua vùng động mạch hẹp mạnh quá.

+ Pha 4: tiếng đập nhỏ lại như bị nghẹt.

+ Pha 5: tiếng nghe cuối cùng trước khi mất tiếng đập, ứng với huyết áp tâm trương.

Huyết áp tâm thu được xác định khi nghe thấy tiếng đập đầu tiên trong quá trình đo, trong khi huyết áp tâm trương là mức áp lực khi các tiếng đập không còn nghe thấy nữa.

Để có kết quả đo huyết áp chính xác, cần thực hiện ít nhất hai lần đo cách nhau hai phút và tính trung bình cộng Nếu hai số đo, đặc biệt là huyết áp tâm thu, chênh lệch hơn 5 mmHg, cần đo lại một đến hai lần trước khi tính trung bình Ngoài ra, nên đo huyết áp ở cả hai tay và chọn bên có chỉ số cao hơn.

Khi huyết áp tâm thu và tâm trương thuộc hai phân độ khác nhau, cần chọn phân độ cao hơn Huyết áp tâm thu đơn độc cũng cần được phân độ thành ba mức độ 1, 2, 3, tùy thuộc vào giá trị cụ thể của nó.

Bảng 2.1 Phân độ THA theo Hội tim mạch Việt Nam 2014 và ESC

Phân độ HATT (mmHg) HATTr (mmHg)

THA tâm thu đơn độc ≥140 < 90

Rung nhĩ được đánh giá theo tiêu chuẩn của Hội Tim mạch Hoa Kỳ, Hội Tim mạch Châu Âu ACC/AHA/ESC 2016 bằng điện tâm đồ [50]:

+ Các khoảng RR hoàn toàn không đều.

Trên điện tâm đồ, không có sóng P rõ rệt, nhưng có thể quan sát thấy một số hoạt động điện nhĩ rõ ràng ở một số chuyển đạo, thường gặp nhất là ở V1.

+ Độ dài chu kỳ nhĩ thường thay đổi và dưới 200 (miligiây) (trên

- Tiền sử đái tháo đường: Đã được chẩn đoán đái tháo đường trước đây, đang được theo dõi điều trị hay không được điều trị.

Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa

1 Đường huyết tương lúc đói ≥ 126mmg/dL (7,0 mmol/L) sau khi nhịn đói ít nhất 8 giờ không ăn.

2 Đường huyết tương sau 2 giờ uống 75g Glucose ≥ 200mg/dL (11,1 mmol/L).

4 Đường huyết tương bất kỳ ≥ 200mg/dL (11,1 mmol/L) + triệu chứng tăng đường huyết (tiêu chuẩn 1 – 3 cần làm ít nhất 2 lần).

- Xác định tiền sử về TBMMN:

Dựa vào phim chụp cắt lớp vi tính sọ não trước đây, giấy ra viện, đơn thuốc của bệnh nhân.

Theo khuyến cáo của Hội Tim mạch Quốc gia Việt Nam năm 2016, bệnh nhân được chẩn đoán xác định bệnh khi đáp ứng tất cả các tiêu chuẩn chính hoặc có một tiêu chuẩn chính kèm theo hai tiêu chuẩn phụ, dựa trên tiêu chuẩn Framingham.

Cơn khó thở kịch phát về đêm hoặc khi phải ngồi, phồng tĩnh mạch cổ, rales phổi, tim to, phù phổi cấp và có tiếng T3 là những tiêu chuẩn chính cần chú ý Áp lực tĩnh mạch hệ thống vượt quá 16 cm H2O, thời gian tuần hoàn kéo dài trên 25 giây và phản hồi gan tĩnh mạch cổ dương tính cũng là những chỉ số quan trọng trong việc đánh giá tình trạng sức khỏe.

Tiêu chuẩn phụ: Phù cổ chân; Ho về đêm; Khó thở gắng sức; Gan to;

Tràn dịch màng phổi; Dung tích sống giảm 1/3 so với tối đa; Nhịp tim nhanh(trên 120 chu kì/phút).

- Tiêu chuẩn khác: Giảm 4,5kg/5 ngày điều trị suy tim

Tiêu chuẩn không mắc bệnh van tim

Không mắc bệnh van tim bao gồm: không hẹp van hai lá do thấp, không có van tim cơ học, sinh học, không sửa hẹp van hai lá [11].

2.2.3.3 Thang điểm đánh giá nguy cơ đột quỵ do huyết khối ở các bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim CHA2DS2-VASc

Bảng 2.2 Cách tính điểm theo thang điểm CHA 2 DS 2 -VASc và nguy cơ đột quỵ tùy theo tổng số điểm [11], [35], [54]

Yếu tố nguy cơ lâm sàng CHa2DS2-VASc

Tuổi trên 75 Đái tháo đường

Phân tầng nguy cơ theo thang điểm CHA2DS2-VASc được lấy làm cơ sở cho việc chỉ định điều trị chống đông.

- Không có nguy cơ ( CHA2DS2-VASC=0)

- Nguy cơ trung bình (CHA2DS2-VASC =1)

- Nguy cơ cao (CHA2DS2-VASC > 2)

- Nguy cơ đột quỵ tùy theo tổng số điểm theo H o ng H J và cộng sự

- Nguy cơ thấp (CHADS2 từ 0 đến 1 điểm)

- Nguy cơ trung bình (CHADS2 từ 2 đến 3 điểm),

- Nguy cơ cao (CHADS2 ≥ 4 điểm)

* Điểm CHA2DS2-VASc được chia thành bốn nhóm gồm:

- Từ 6 điểm trở lên nhằm đánh giá sự khác biệt trong mức độ đột quỵ ban đầu theo thang điểm NIHSS [53]

- Xác định các triệu chứng nghi ngờ TBMMN đột ngột xuất hiện.

Yếu hoặc tê mặt, tay và chân.

Rối loạn về ngôn ngữ cũng như hiểu biết về lời nói.

Rối loạn ý thức hoặc hôn mê. Đau đầu, buồn nôn, nôn mửa, chóng mặt hoặc co giật.

Khám toàn diện thần kinh là cần thiết để phát hiện các triệu chứng như yếu cơ, liệt nửa người hoặc nửa mặt, mức độ liệt, thất ngôn, rối loạn cảm giác và rối loạn cơ tròn, cũng như tình trạng nhìn đôi.

- Các phản xạ bệnh lý: dấu Babinski hoặc dấu tương đương.

Bệnh nhân nằm ngửa với hai chân duỗi ra, kích thích dọc bờ ngoài bàn chân cho đến gần nếp gấp các ngón chân Phản xạ bình thường là khi ngón chân cái và các ngón chân cụp xuống, trong khi dấu Babinski (+) xuất hiện khi ngón cái duỗi ra và các ngón chân khác xòe ra hình nan quạt.

2.2.4 Phương pháp nghiên cứu cận lâm sàng

2.2.4.1 Chẩn đoán đột quỵ trên phim cắt lớp vi tính

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu theo tuổi

Tuổi TB (X±SD) 73,36 ± 8,92 tuổi, Tmin= 56, Tmax

Nhận xét: Nhóm đối tượng ≥ 75 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 61,5%; nhóm < 65 tuổi là 11,0% Tuổi TB là 73,36 ± 8,92 tuổi; nhỏ nhất là 56 tuổi và lớn nhất là 95 tuổi.

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu theo giới

Nhận xét: Nữ có tỷ lệ cao hơn nam (53,8% so với 46,2%) Tỷ lệ nam/nữ là 0,86

3.1.3 Chỉ số khối sơ thể BMI

Bảng 3.2 Đặc điểm chỉ số khối cơ thể

BMI TB (X±SD) 21,06 ± 2,64 kg/m 2 , BMImin= 12,49, BMImax ',89

Nhận xét: Đa số bệnh nhân đột quỵ BMI là bình thường (BMI 1,03 mmol/l).

3.1.9 Tỷ lệ rối loạn chuyển hóa mỡ máu (n)

Bảng 3.6 Tỷ lệ rối loạn chuyển hóa mỡ máu (n)

Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ rối loạn lipid máu

Có 56 bệnh nhân có RLLP máu, chiếm 66,7%.

Yếu tố nguy cơ theo thang điểm Cha 2 ds 2 -vasc trên bệnh nhân có rung nhĩ không do bệnh van tim

3.2.1 Tỷ lệ điểm CHA 2 DS 2 -VASc của bệnh nhân

Bảng 3.7 Tỷ lệ điểm CHA 2 DS 2 -VASc của bệnh nhân Điểm Số bệnh nhân Tỷ lệ

CHA 2 DS 2 -VASc TB (X±SD) 4,80 ± 1,56

Nhận xét: Điểm TB của CHA2DS2-VASC là 4,80 ± 1,56 điểm; điểm nhỏ nhất là 2 và lớn nhất là 8 Nhóm ≤ 2 điểm chiếm 9,9% và nhóm > 2 điểm là 90,1%

3.2.2 Mức độ nguy cơ đột quỵ

Bảng 3.8.a Mức độ nguy cơ đột quỵ [11], [35], [54]

Mức độ nguy cơ n Tỷ lệ (%)

Nguy cơ thấp (CHA2DS2-VASC=0-1) 0 0,0

Nguy cơ trung bình (CHA2DS2-VASC =2-3) 17 18,7

Nguy cơ cao (CHA2DS2-VASC ≥ 4) 74 81,3

Có 17 bệnh nhân có nguy cơ trung bình chiếm 18,7% và nguy cơ cao là 81,3% không có nguy cơ thấp

Bảng 3.8.b Mức độ nguy cơ đột quỵ [53] Điểm CHA 2 DS 2 -VASC n Tỷ lệ (%)

46 bệnh nhân có CHA2DS2-VASC =4-5 chiếm 50,5%; 30,8% vàCHA2DS2-VASC ≥ 6 và CHA2DS2-VASC=2-3 là 18,7%

3.2.3 Tỷ lệ gồm 8 biến số tính theo thang điểm CHA 2 DS 2 -VASc của bệnh nhân

Bảng 3.9 Đặc điểm CHA 2 DS 2 -VASc của bệnh nhân

8 biến số Số bệnh nhân Tỷ lệ

89,0% bệnh nhân nghiên cứu có bệnh mạch máu, 74,7% tăng huyết áp,61,5% là tuổi ≥ 75 và 53,8% là nữ.

3.2.4 Yếu tố nguy cơ theo thang điểm CHA 2 DS 2 -VASC

Bảng 3.10 Điểm CHA 2 DS 2 -VASc của bệnh nhân nghiên cứu theo giới

Nữ có CHA2DS2-VASc trung bình cao hơn nam 5,27 ± 1,54 điểm so với 4,26 ± 1,42 điểm, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,01).

Bảng 3.11 Điểm CHA 2 DS 2 -VASc của bệnh nhân nghiên cứu theo tuổi

Nhóm ≥ 75 tuổi có CHA2DS2-VASc trung bình cao hơn nhóm < 75 tuổi5,34 ± 1,24 điểm so với 3,94 ± 1,64 điểm, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê(p< 0,01).

Bảng 3.12 Điểm CHA 2 DS 2 -VASc của bệnh nhân nghiên cứu theo huyết áp

< 0,05 Không có bệnh tăng huyết áp 23 4,17 ± 1,50

Nhóm THA có CHA2DS2-VASc trung bình cao hơn nhóm không THA là 5,01 ± 1,53 điểm so với 4,17 ± 1,50 điểm, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p< 0,05)

Bảng 3.13 Điểm CHA 2 DS 2 -VASc của bệnh nhân nghiên cứu theo suy tim

Nhóm suy tim có CHA2DS2-VASc trung bình cao hơn nhóm không suy tim là 55,63 ± 1,48 điểm so với 4,12 ± 1,27 điểm, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p< 0,05)

Bảng 3.14 Điểm CHA 2 DS 2 -VASc của bệnh nhân theo đái tháo đường Đái tháo đường n X ± SD p

 0,05 Không có đái tháo đường 80 4,69 ± 1,54

Nhóm bệnh nhân đái tháo đường có điểm CHA2DS2-VASc trung bình cao hơn nhóm không đái tháo đường, với giá trị lần lượt là 5,64 ± 1,50 và 4,69 ± 1,54 Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Bảng 3.15 Điểm CHA 2 DS 2 -VASc của bệnh nhân theo tiền sử đột quỵ

Tiền sử đột quỵ n X ± SD p

Không có TS đột quỵ 66 4,29 ± 1,31

Nhóm bệnh nhân có tiền sử đột quỵ có điểm số CHA2DS2-VASc trung bình cao hơn đáng kể so với nhóm không có tiền sử đột quỵ, cụ thể là 6,16 ± 1,34 điểm so với 4,29 ± 1,31 điểm, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,01).

Bảng 3.16 Điểm CHA 2 DS 2 -VASc của bệnh nhân theo bệnh mạch máu

Không có bệnh mạch máu 10 3,60 ± 1,43

Nhóm bệnh nhân mắc bệnh mạch máu có điểm số CHA2DS2-VASc trung bình là 4,95 ± 1,52, cao hơn đáng kể so với nhóm không mắc bệnh mạch máu, với điểm số trung bình là 3,60 ± 1,43 Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Bảng 3.17 Điểm CHA 2 DS 2 -VASc của bệnh nhân nghiên cứu theo BMI

Nhóm BMI ≥ 23 có CHA2DS2-VASc trung bình cao hơn nhóm BMI 0,05)

Bảng 3.18 Điểm CHA 2 DS 2 -VASc của bệnh nhân nghiên cứu theo RLLP

Nhóm RLLP có CHA2DS2-VASc trung bình tương đương nhóm không RLLP là 4,80 ± 1,49 điểm so với 4,79 ± 1,57 điểm, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

Mối liên quan, tương quan giữa các yếu tố nguy cơ

3.3.1 Nhiều yếu tố nguy cơ phối hợp

Bảng 3.19 Tỷ lệ các yếu tố nguy cơ phối hợp

YTNC Loại YTNC phối hợp n Tỷ lệ % Tổng số n %

THA + ĐQ 1 1,1 ĐTĐ + bệnh MM 1 1,1 ĐQ+ bệnh MM 1 1,1

THA + ĐTĐ + ĐQ + bệnh MM 1 1,1

ST+ ĐTĐ + ĐQ + bệnh MM 1 1,1

ST+ THA + ĐTĐ + bệnh MM 5 5,5

ST+ THA + ĐQ + bệnh MM 10 11,0

Không có yêu tố nguy cơ 1 1,1 1,1 1,1

- Có 1 YTNC chiếm 13,2%, trong đó bệnh MM chiếm 7,7%

- Có 2 YTNC phối hợp chiếm 40,7%, trong đó tăng huyết áp + bệnh

- Có 3 YTNC phối hợp chiếm 26,4%, trong đó Suy tim +THA+ bệnh

- Có 4 YTNC phối hợp chiếm 18,7%, trong đó Suy tim +THA+ đột quỵ và bệnh MM chiếm 11,0%.

3.3.2 Liên quan giữa yếu tố nguy cơ theo điểm CHA 2 DS 2 -VASC

Bảng 3.20 Liên quan giữa yếu tố nguy cơ nguy cơ theo điểm CHA 2 DS 2 -VASC Điểm

Nhận xét: Đa số các nhóm YTNC có điểm CHA2DS2-VASc ≥ 6 chiếm tỷ lệ cao hơn 2 nhóm điểm CHA2DS2-VASc còn lại:

- THA ở điểm CHA2DS2-VASc là 4-5 có tỷ lệ 50,0%

- Suy tim ở điểm CHA2DS2-VASc ≥ 6 có tỷ lệ 53,7%

- ĐTĐ điểm CHA2DS2-VASc ≥ 6 có tỷ lệ 63,6%

- Tiền sử ĐQ điểm CHA2DS2-VASc ≥ 6 có tỷ lệ 76,0%

- Bệnh mạch máu điểm CHA2DS2-VASc = 4-5 có tỷ lệ 51,9%

3.3.2 Liên quan giữa phân nhóm YTNC và thang điểm CHA 2 DS 2 -VASC Bảng 3.21 Liên quan giữa phân nhóm YTNC và thang điểm CHA 2 DS 2 -VASC Phân nhóm YTNC n CHA 2 DS 2 -VASC (điểm TB) p

Nhận xét: Điểm CHA2DS2-VASC trung bình tăng dần theo số các yếu tố nguy cơ

3.3.3 Tương quan giữa CHA 2 DS 2 -VASC và các thông số

Bảng 3.22 Hệ số tương quan giữa CHA 2 DS 2 -VASC và các thông số

CHA2DS2-VASC không có tương quan với biland lipid, HATT,HATTr, chỉ có tương quan với tuổi.

Biểu đồ 3.6 Tương quan giữa CHA 2 DS 2 -VASC và LDL-c

CHA2DS2-VASc không tương quan với LDL-c

Biểu đồ 3.7 Tương quan giữa tuổi và CHA 2 DS 2 -VASC

CHA2DS2-VASc tương quan thuận với tuổi và phương trình hồi quy tuyến tính y= 0,084x-1,662 và hệ số tương quan là r = 0,485.

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung của bệnh nhân đột quỵ

Trong khảo sát của chúng tôi, tuổi trung bình của 91 bệnh nhân đột quỵ là 73,36 ± 8,92 tuổi, với độ tuổi dao động từ 56 đến 95 Nhóm bệnh nhân từ 75 tuổi trở lên chiếm 61,5%, trong khi nhóm dưới 65 tuổi chỉ chiếm 11,0% So với một số nghiên cứu trong nước, tuổi trung bình của bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn, cụ thể là 63,7 ± 12,0 tuổi của Nguyễn Đức Long (2014), 66,90 ± 12,0 tuổi của Trần Minh Huy (2014), và 67,93 ± 28,44 tuổi của Đỗ Minh Chi (2015) Tuy nhiên, tuổi trung bình của chúng tôi tương đương với nghiên cứu của Nguyễn Tiến Đoàn (2018) là 74,6 ± 9,5 tuổi và thấp hơn một chút so với Đặng Việt Thu (2011) với 75,52 ± 8,20 tuổi.

So sánh với các tác giả nước ngoài, tỷ lệ này như sau: kkE e r M S

(2019) tuổi TB là 44 tuổi [42]; P u rr o y F (2019) tuổi TB của nữ là 78 (41-92) và nam là 71(41-89) [64]; Jaakkola (2016) tuổi TB là 78,3 tuổi [51], Lee S.H

Tuổi trung bình của bệnh nhân đột quỵ đã được ghi nhận qua nhiều nghiên cứu khác nhau Cụ thể, nghiên cứu của Okummura K (2020) trên 12.289 bệnh nhân cho thấy tuổi trung bình là 70,2 ± 11,0 tuổi, trong đó nhóm ≥ 75 tuổi chiếm 37,0% Pana (2019) khảo sát 10.816 bệnh nhân và ghi nhận tuổi trung bình là 77,9 ± 12,1 tuổi Nghiên cứu của Suzuki S (2015) với 3.588 bệnh nhân cho thấy tuổi trung bình là 68,1 ± 13,5 tuổi, trong khi Torp-Pedersen C (2012) ghi nhận tuổi trung bình là 69,4 ± 14,7 tuổi.

Một nghiên cứu của Khan N.A và cộng sự (2017) đã khảo sát nguy cơ đột quỵ ở các quần thể dân số khác nhau với cỡ mẫu lớn, cho thấy 3.290 người Nam Á, 4.444 người Trung Quốc và 160.944 người da trắng bị đột quỵ thiếu máu não cục bộ Kết quả cho thấy người Nam Á có tuổi khởi phát đột quỵ thấp hơn (70 tuổi) so với người da trắng (74 tuổi) Tỷ lệ mắc đột quỵ vào năm 2010 của người Nam Á thấp hơn 63% và của người Trung Quốc là 43% so với người da trắng Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự khác biệt về tuổi tác có thể do chất lượng chăm sóc sức khỏe, đối tượng nghiên cứu và các yếu tố tầm soát Các nghiên cứu tại Phần Lan và Nhật Bản cho thấy đột quỵ ở nhóm tuổi trẻ (15-49 tuổi) có sự gia tăng rõ rệt, với tuổi trung bình lần lượt là 41,3 ± 7,6 tuổi và 40,7 ± 7,7 tuổi.

Đột quỵ não từng chủ yếu xảy ra ở người cao tuổi, nhưng hiện nay khoảng 25% ca đột quỵ xảy ra ở người trẻ Sự gia tăng đáng báo động này thường liên quan đến lối sống không lành mạnh, bao gồm việc lạm dụng bia, rượu, thuốc lá và sử dụng các chất kích thích.

Nghiên cứu cho thấy nam giới có nguy cơ đột quỵ cao hơn nữ giới, với tỷ lệ nam/nữ trong các nghiên cứu khác nhau dao động từ 1,1 đến 2,23 Cụ thể, Lê Thị Hòa Bình (2010) ghi nhận nam giới chiếm 69,1%, gấp 2,23 lần nữ giới (30,9%) Các nghiên cứu khác cũng cho thấy tỷ lệ này như Nguyễn Thành Công (2019) là 1,2, Nguyễn Tiến Đoàn (2018) là 1,4, Hoàng Trọng Hanh (2015) là 1,33, Trần Minh Huy (2014) là 1,16, và Đào Thị Bích Ngọc (2018) là 1,1 Phạm Phước Sung (2019) cũng ghi nhận tỷ lệ nam/nữ là 1,41.

Nghiên cứu quốc tế cho thấy tỷ lệ nam giới mắc đột quỵ cao hơn nữ giới, với Caso V (2010) báo cáo tỷ lệ nam/nữ là 1,3 (642/494) trong số 1.136 bệnh nhân, trong khi Chao T F (2014) ghi nhận tỷ lệ nam là 54% so với 46% nữ Lee S.H (2015) cũng chỉ ra rằng tỷ lệ nữ mắc đột quỵ là 38%.

Bệnh nhân nam thường có nhiều yếu tố nguy cơ như thói quen uống rượu và hút thuốc, góp phần làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý mạch máu, bao gồm cả nhồi máu não Nhồi máu não xảy ra khi cục huyết khối gây tắc nghẽn mạch máu, dẫn đến thiếu máu nuôi não và gây ra khiếm khuyết hoặc mất chức năng thần kinh tại khu vực bị ảnh hưởng Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này có thể là do xơ vữa động mạch, các mảng xơ vữa không ổn định, và tình trạng tăng huyết áp, cũng như tổn thương mạch máu nhỏ do bệnh đái tháo đường.

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự chênh lệch giới tính ở bệnh nhân, trong đó nữ chiếm ưu thế với tỷ lệ 53,8% so với 46,2% của nam, tương ứng với tỷ lệ nam/nữ là 0,86, như được thể hiện trong biểu đồ 3.1.

Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy tỷ lệ bệnh nhân nữ trong các nhóm nghiên cứu có sự tương đồng Cụ thể, Đỗ Minh Chi (2015) ghi nhận tỷ lệ bệnh nhân nữ là 53,4%, trong khi Aparicio H.J (2019) phát hiện rằng tỷ lệ nữ ở nhóm bệnh nhân dưới 55 tuổi là 50-54% và trên 55 tuổi là 54-58% Ngoài ra, Jaakkola G B (2016) báo cáo tỷ lệ bệnh nhân nữ là 55,5%, còn Gladstone D.J (2008) cho thấy con số này là 55,9%.

Theo các nghiên cứu, tỷ lệ nữ trong nhóm bệnh nhân đột quỵ rất cao, với MS (2019) ghi nhận 53%, Khan NA (2017) cho thấy 52,0% ở Trung Quốc, và Li Su cùng cộng sự (2013) báo cáo là 52,4% Lin S (2011) cho biết bệnh nhân nữ chiếm đến 59%, trong khi Pana TA (2019) và Siu C (2014) lần lượt ghi nhận tỷ lệ 52,0% và 52,1% Các khảo sát này cho thấy phần lớn nữ bệnh nhân đột quỵ là người Châu Á, đặc biệt từ Trung Quốc và Nhật Bản Nguyên nhân có thể do phụ nữ trong độ tuổi mang thai, sinh đẻ, hoặc áp dụng các biện pháp tránh thai, dẫn đến tăng nguy cơ đột quỵ.

Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật (CDC) Hoa Kỳ, 1 trong 5 phụ nữ sẽ bị đột quỵ, và gần 60% trong số họ sẽ không sống sót sau cơn đột quỵ Điều này khiến đột quỵ trở thành một trong ba nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở phụ nữ Mỹ.

Kết quả nghiên cứu khác nhau có thể được giải thích bởi tiêu chí lựa chọn bệnh nhân không đồng nhất giữa các tác giả, cùng với cỡ mẫu biến động ở các khảo sát khác nhau.

4.1.3 Chỉ số khối cơ thể (BMI)

Trong nghiên cứu của chúng tôi, trong số 91 bệnh nhân đột quỵ, nhóm có chỉ số BMI dưới 23 kg/m² chiếm 79,1%, trong khi chỉ có 19 bệnh nhân thừa cân và béo phì, tương đương 20,9% Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Lâm Quốc Vương.

(2010) tỷ lệ béo phì là 22,7% [31], thấp hơn khảo sát của Đặng Việt Thu

(2011) bệnh nhân béo phì chiếm 30,4% [26], và cao hơn Nguyễn Tiến Đoàn

(2018) là 6,5% [8], Lê Thị Hòa Bình (2010) là 17,7% [2] Một số nghiên cứu nước ngoài cho kết quả như sau:

- Li S et al (2013) ghi nhận nhóm BMI < 25 kg/m 2 chiếm 64,9%; nhóm 25-29 kg/m 2 là 30% và nhóm béo phì (≥ 30 kg/m 2 ) là 5,1% [57]

- Okumura K (2020) khảo sát trên 12.289 bệnh nhân đột quỵ cho thấy nhóm BMI < 25 kg/m 2 chiếm 69% và nhóm thừa cân béo phì là 31% [60]

Nghiên cứu của Yang YM (2015) trên 2016 bệnh nhân đột quỵ có rung nhĩ cho thấy chỉ số khối cơ thể (BMI) trung bình là 23,5 ± 3,6 kg/m², phản ánh sự gia tăng tỷ lệ thừa cân và béo phì do điều kiện kinh tế xã hội phát triển Béo phì liên quan đến nhiều yếu tố nguy cơ vữa xơ động mạch và bệnh mạch máu não như tăng huyết áp, kháng insulin, rối loạn dung nạp glucose, cholesterol cao, triglycerid cao, HDL thấp và fibrinogen cao Phân bố mỡ trong cơ thể cũng là yếu tố quan trọng trong việc đánh giá nguy cơ, với bệnh nhân béo trung tâm có nguy cơ cao nhất Mặc dù béo phì không trực tiếp gây ra tai biến mạch máu não, nhưng có thể thông qua các bệnh tim mạch Nguy cơ đột quỵ não ở nhóm có chỉ số khối cơ thể cao gấp 2,33 lần so với nhóm có chỉ số khối cơ thể thấp trong nghiên cứu trên 28.643 nam giới.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), béo phì là tình trạng tích lũy mỡ quá mức tại một hoặc nhiều vùng cơ thể, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe Một người được coi là béo phì khi chỉ số khối cơ thể (BMI) đạt 25 trở lên, và điều này làm tăng gấp đôi nguy cơ đột quỵ não so với những người có BMI bình thường (từ 20-23).

Yếu tố nguy cơ theo thang điểm Cha 2 ds 2 -vasc trên bệnh nhân đột quỵ có

Điểm số CHADS2 hoặc CHA2DS2-VASc cao hơn có liên quan đến nguy cơ tăng đột quỵ thiếu máu cục bộ ở bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim Tuy nhiên, hiện chưa có dữ liệu nào đề cập đến thương tổn thần kinh khu trú sớm sau đột quỵ theo mức độ nguy cơ.

4.2.1 Tỷ lệ điểm CHA 2 DS 2 -VASc của bệnh nhân

Kết quả nghiên cứu cho thấy điểm CHA2DS2-VASc 5 chiếm tỷ lệ cao nhất với 27,5%, tiếp theo là điểm 4 với 23,1% Các điểm 6 và 7 lần lượt chiếm 14,3% và 13,2%, trong khi điểm 8 là thấp nhất với chỉ 3,3% Điểm trung bình của CHA2DS2-VASc là 4,80 ± 1,56, với điểm nhỏ nhất là 2 và lớn nhất là 8 Nhóm có điểm ≤ 2 chiếm 9,9%, trong khi nhóm > 2 điểm chiếm 90,1%.

Theo nghiên cứu của Ngô Văn Đàn (2016), tỷ lệ bệnh nhân có điểm CHA2DS2-VASc = 4 cao nhất đạt 33,8%, trong khi điểm CHA2DS2-VASc = 5 chiếm 21,8% Điểm CHA2DS2-VASc cao nhất là 8, chỉ chiếm 1,3%.

Nghiên cứu của Bùi Thúc Quang (2013) chỉ ra rằng sự phân bố điểm số CHA2DS2-VASc khá đồng đều giữa các nhóm, với 24,8% người có 1 điểm, 17,9% có 2 điểm, 19,7% có 3 điểm, trong khi nhóm 6 điểm chỉ chiếm 5,1% và nhóm 7 điểm là 4,3% Đặc biệt, không có trường hợp nào đạt 8 điểm trong nghiên cứu này.

4.2.2 Phân tầng nguy cơ đột quỵ theo thang điểm CHA 2 DS 2 -VASC

So sánh với một số tác giả trong và ngoài nước: Đỗ Minh Chi, Cao Phi Phong (2015) cho thấy tỷ lệ CHA2DS2-VASC ≥ 2 điểm chiếm 75,5% [5]; Lại

Theo nghiên cứu của Tố Hương (2013), nguy cơ đột quỵ cao (điểm CHADS2 ≥2) chiếm 80,4% mẫu nghiên cứu, trong khi nguy cơ đột quỵ trung bình (điểm CHADS2 =1) và thấp (điểm CHADS2 =0) lần lượt chiếm 13,7% và 5,9% Bùi Thúc Quang và cộng sự (2013) ghi nhận điểm CHA2DS2-VASC trung bình là 2,8 ± 1,6, chủ yếu tập trung ở nhóm 1, 2 và 3 điểm với 24,8%; 17,9%; 19,7%, trong khi nhóm 6 điểm chỉ có 5,1% và 7 điểm là 4,3% Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nguy cơ đột quỵ cao tương tự như nghiên cứu của Jaakkola J (2016) với điểm CHA2DS2-VASC trung bình là 4,0 ± 2,0, trong đó nhóm 0-1 điểm chỉ chiếm 9,9% và nhóm ≥ 2 điểm chiếm 90,1% Điểm CHA2DS2-VASC trung bình của chúng tôi cao hơn so với các tác giả khác.

- Okummra Y, (2020) khảo sát trên 12.289 bệnh nhân đột quỵ có rung nhĩ không do bệnh van tim theo thang điểm CHA2DS2-VASC ghi nhận điểm

TB là 2,9 ± 1,7; nhóm nguy cơ đột quỵ thấp (CHA2DS2-VASC 0-1) chiếm 22% và nhóm nguy cơ đột quỵ cao ( CHA2DS2-VASC ≥ 2 điểm) là 78% [60].

Theo nghiên cứu của Siu SW (2014), thang điểm nguy cơ đột quỵ CHADS2 có giá trị trung bình là 2,1 ± 1,4 điểm, trong khi thang điểm CHA2DS2-VASC có giá trị trung bình là 3,7 ± 1,8 điểm Trong nhóm CHA2DS2-VASC, tỷ lệ người có nguy cơ đột quỵ thấp (0-1 điểm) chiếm 12,0%, trong khi nhóm có nguy cơ cao (2-9 điểm) chiếm đến 88%.

- Torp-Pedersen C (2012) ghi nhận điểm nhóm CHA2DS2-VASC có điểm 0-1 chiếm 37,0% và nhóm 2-4 điểm là 63,0% trong đó nhóm CHA2DS2- VASC có 4 điểm chỉ chiếm 3,1% [72].

- Iguchi M (2018), khảo sát trên 3.411 bệnh nhân có nguy cơ đột quỵ kết quả ghi nhận CHA2DS2-VASC trung bình là 3,27 ± 1,70 điểm [50].

- Chao TF (2014) nhóm đột quỵ thấp (CHA2DS2-VASC=0-1) chiếm 15,5%, nhóm đột quỵ CHA2DS2-VASC ≥ 4 chiếm 84,5% [41].

Thang điểm CHA2SD2-VASc đã được chứng minh là nhạy cảm hơn thang điểm CHASD2 trong việc xác định bệnh nhân có nguy cơ đột quỵ thấp Công cụ này đã được áp dụng trong khuyến cáo mới của ESC như một phương pháp hiệu quả hơn để lựa chọn điều trị kháng đông.

Các tác giả giải thích rằng sự khác biệt giữa hai nhóm có thể liên quan đến yếu tố bệnh mạch máu ngoại biên, được xem xét trong thang điểm CHA2DS2-VASc, là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tiên lượng.

Nhiều nghiên cứu, như của Wilson (2013) và Ekker MS (2019), đã chỉ ra rằng không có sự khác biệt về giới tính có ý nghĩa thống kê trong tiên lượng Tuy nhiên, các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên lại cho thấy nữ giới nhận được nhiều lợi ích hơn nam giới Nguyên nhân của sự bất tương đồng này có thể là do sự thiếu đại diện của dân số nữ và thời gian theo dõi trung bình còn ngắn.

Nghiên cứu cho thấy bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim có điểm CHADS2 hoặc CHA2DS2-VASc cao hơn có nguy cơ phát triển đột quỵ nghiêm trọng cao hơn Những bệnh nhân này cũng có diễn biến lâm sàng và tiên lượng xấu hơn so với những người có nguy cơ trung bình hoặc không có nguy cơ.

Nghiên cứu cho thấy thang điểm CHADS2 có khả năng đánh giá tần suất rung nhĩ ở bệnh nhân đột quỵ không tử vong mà không có tiền sử rung nhĩ, đồng thời cho thấy nguy cơ tử vong sau đột quỵ tăng theo số điểm CHADS2 Ngoài ra, nghiên cứu của Van Door S và cộng sự đã chỉ ra rằng cả thang điểm CHADS2 và CHA2DS-VASc đều có thể dự đoán tử vong, tái phát đột quỵ và các biến cố tim mạch chính trong vòng 5 năm theo dõi ở bệnh nhân đột quỵ không tử vong và không có tiền sử rung nhĩ.

4.2.2 Mức độ nguy cơ đột quỵ theo thang điểm CHA 2 DS 2 -VASC

Các bệnh nhân được chia thảnh 3 nhóm: nhóm nguy cơ thấp có điểm CHA2DS2-VASc =2-3, trung bình (4-5), cao (>6) Kết quả chúng tôi ghi nhận

Trong nghiên cứu, 46 bệnh nhân có nguy cơ đột quỵ não trung bình chiếm 50,5%, nguy cơ cao là 30,8% và nguy cơ thấp là 18,7% So với nghiên cứu của Trần Thanh Tuấn (2017), tỷ lệ CHA2DS2-VASc = 2-3 điểm là 36,3%, 4-5 điểm chiếm 46,4% và nguy cơ cao (CHA2DS2-VASc ≥ 6) chỉ chiếm 10,3% Hong HJ (2011) ghi nhận tỷ lệ tương tự với nhóm CHA2DS2-VASc 2-3 điểm là 37,9%, nhóm 4-5 điểm là 37,5% và nhóm ≥ 6 điểm là 8,1% Khảo sát của Nguyễn Văn Thái (2014) cho thấy 8,2% bệnh nhân có nguy cơ đột quỵ thấp, 13,7% nguy cơ vừa và 78,1% nguy cơ cao Các kết quả này cho thấy sự khác biệt về tỷ lệ do cách tính toán thang điểm CHA2DS2-VASc của từng tác giả.

4.2.3 Yếu tố nguy cơ theo thang điểm CHA 2 DS 2 -VASC

Theo chỉ số CHA2DS2-VASc, các yếu tố nguy cơ cho thấy bệnh mạch máu chiếm tỷ lệ cao nhất với 89,0%, tiếp theo là tăng huyết áp (74,7%), người cao tuổi từ 75 trở lên (61,5%) và giới nữ (53,8%) (bảng 3.9).

- Tthang điểm CHA 2 DS 2 -VASC và giới

Bảng 3.10 ghi nhận nữ có CHA2DS2-VASc trung bình cao hơn nam 5,27 ± 1,54 điểm so với 4,26 ± 1,42 điểm, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p0,05) Đối với bệnh nhân suy tim, tỷ lệ này tăng lên 53,7% khi điểm CHA2DS2-VASc đạt ≥ 6 (p

Ngày đăng: 15/03/2022, 11:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Đinh Hữu Hùng (2014), Nguy cơ tái phát sau đột quỵ thiếu máu não cục bộ theo phân tầng một số yếu tố liên quan, LATS ĐH Y Dược TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đinh Hữu Hùng (2014), "Nguy cơ tái phát sau đột quỵ thiếu máu não cụcbộ theo phân tầng một số yếu tố liên quan
Tác giả: Đinh Hữu Hùng
Năm: 2014
14. Lai Tố Hương, Hà Kim Chi (2013), Khảo sát sử dụng thuốc chống huyết khối dự phòng đột quỵ theo thang điểm CHADS2 trên bệnh nhân rung nhĩ, Y học TP Hồ Chí Minh 17(3), tr.90-95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lai Tố Hương, Hà Kim Chi (2013), Khảo sát sử dụng thuốc chống huyếtkhối dự phòng đột quỵ theo thang điểm CHADS2 trên bệnh nhân rungnhĩ", Y học TP Hồ Chí Minh
Tác giả: Lai Tố Hương, Hà Kim Chi
Năm: 2013
15. Trần Minh Huy (2014), Nghiên cứu tiên lượng nhồi máu não cấp bằng thang điểm PLAN tại Bệnh viện Trung ương Huế, Luận văn Thạc sĩ, ĐHY Dược Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Minh Huy (2014), "Nghiên cứu tiên lượng nhồi máu não cấp bằngthang điểm PLAN tại Bệnh viện Trung ương Huế
Tác giả: Trần Minh Huy
Năm: 2014
18. Nguyễn Thị Bảo Liên (2018), Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, các yếu tố nguy cơ đột quỵ của nhồi máu não cấp ở bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim, Luận án tiến sĩ ĐHY Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Bảo Liên (2018), "Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, các yếutố nguy cơ đột quỵ của nhồi máu não cấp ở bệnh nhân rung nhĩ không dobệnh van tim
Tác giả: Nguyễn Thị Bảo Liên
Năm: 2018
20. Huỳnh Văn Minh (2014), “Tăng huyết áp”, Tim mạch học, Nhà xuất bản Đại học Huế, tr. 70-105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huỳnh Văn Minh (2014), “Tăng huyết áp
Tác giả: Huỳnh Văn Minh
Nhà XB: Nhà xuất bảnĐại học Huế
Năm: 2014
21. Đào Thị Bích Ngọc (2018), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của chức năng nhận thức sau nhồi máu não và một số yếu tố liên quan , Luận án Tiến sỹ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào Thị Bích Ngọc (2018), "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của chứcnăng nhận thức sau nhồi máu não và một số yếu tố liên quan
Tác giả: Đào Thị Bích Ngọc
Năm: 2018
22. Bùi Thúc Quang, Vũ Điện Biên, Phạm Nguyên Sơn (2013). Giá trị dự báo huyết khối tiểu nhĩ trái bằng thang điểm ChaDS 2 ; Cha 2 DS 2 VASc, các thông số siêu âm tim thành ngực ở bệnh nhân rung nhĩ không có bệnh van tim, Tạp chí Y dược học, Trường Đại học Y dược Huế, 11, tr 36-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùi Thúc Quang, Vũ Điện Biên, Phạm Nguyên Sơn (2013). Giá trị dựbáo huyết khối tiểu nhĩ trái bằng thang điểm ChaDS2; Cha2DS2VASc, cácthông số siêu âm tim thành ngực ở bệnh nhân rung nhĩ không có bệnhvan tim, "Tạp chí Y dược học
Tác giả: Bùi Thúc Quang, Vũ Điện Biên, Phạm Nguyên Sơn
Năm: 2013
23. Phạm Phước Sung (2019), Kết quả điều trị nhồi máu não trong giai đoạn từ 3 đến 4,5 giờ bằng thuốc tiêu huyết khối Alteplase liều thấp, Luận án Tiến sỹ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Phước Sung (2019), "Kết quả điều trị nhồi máu não trong giaiđoạn từ 3 đến 4,5 giờ bằng thuốc tiêu huyết khối Alteplase liều thấp
Tác giả: Phạm Phước Sung
Năm: 2019
24. Nguyễn Văn Thái, Nguyễn Oanh Oanh (2017), Nghiên cứu các yếu tố nguy cơ lâm sàng và phân tầng nguy cơ đột quỵ não bằng thang điểm CHADS2 và CHA2DS2 - VASc ở bệnh nhân bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn tính có rung nhĩ, Tạp chí Y-Dược học quân sự (2),tr. 87-91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Thái, Nguyễn Oanh Oanh (2017), Nghiên cứu các yếu tốnguy cơ lâm sàng và phân tầng nguy cơ đột quỵ não bằng thang điểmCHADS2 và CHA2DS2 - VASc ở bệnh nhân bệnh tim thiếu máu cục bộmạn tính có rung nhĩ, "Tạp chí Y-Dược học quân sự
Tác giả: Nguyễn Văn Thái, Nguyễn Oanh Oanh
Năm: 2017
25. Nguyễn Bá Thắng (2015), Khảo sát các yếu tố tiên lượng của nhồi máu não do tắc động mạch cảnh trong, Luận văn Tiến sĩ, ĐHY Dược TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bá Thắng (2015), "Khảo sát các yếu tố tiên lượng của nhồi máunão do tắc động mạch cảnh trong
Tác giả: Nguyễn Bá Thắng
Năm: 2015
26. Đặng Việt Thu (2011) Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân tai biến mạch máu não (TBMMN) từ 60 tuổi trở lên tại bệnh viện lão khoa trung ương, LV Thạc sĩ, ĐH Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Việt Thu (2011) "Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân taibiến mạch máu não (TBMMN) từ 60 tuổi trở lên tại bệnh viện lão khoatrung ương
27. Phạm Thành Trang, Cao Phi Phong (2015), Đánh giá hiện trạng bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp tại Bệnh viện Nhân Dân 115 TP.HCM, Y học TP Hồ Chí Minh, 19(1), tr. 235-235 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Thành Trang, Cao Phi Phong (2015), Đánh giá hiện trạng bệnhnhân đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp tại Bệnh viện Nhân Dân 115TP.HCM, "Y học TP Hồ Chí Minh
Tác giả: Phạm Thành Trang, Cao Phi Phong
Năm: 2015
30. Đỗ Văn Việt, Nguyễn Văn Tuấn (2016), Đặc điểm đột quỵ nhồi máu não tại bệnh viện quân y 103, Tạp chí Y-Dược học quân sự, p.56-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Văn Việt, Nguyễn Văn Tuấn (2016), Đặc điểm đột quỵ nhồi máu nãotại bệnh viện quân y 103, "Tạp chí Y-Dược học quân sự
Tác giả: Đỗ Văn Việt, Nguyễn Văn Tuấn
Năm: 2016
31. Lâm Quốc Vương (2010), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và giá trị chẩn đoán phân biệt thể bệnh của thang điểm lâm sàng đột quỵ não, LV Thạc sĩTIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm Quốc Vương (2010), "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và giá trị chẩnđoán phân biệt thể bệnh của thang điểm lâm sàng đột quỵ não
Tác giả: Lâm Quốc Vương
Năm: 2010
35. Camm A. John; Kirchhof P, Gregory Y.H. Lip (2011), Guidelines for the management of atrial fibrillation, European Heart Journal Sách, tạp chí
Tiêu đề: Camm A. John; Kirchhof P, Gregory Y.H. Lip (2011), Guidelines forthe management of atrial fibrillation
Tác giả: Camm A. John; Kirchhof P, Gregory Y.H. Lip
Năm: 2011
36. Carmona Puerta R., Castro-Torres Y., et al (2017). Atrial fibrillation and cryptogenic stroke. What is the current evidence Role of electrocardiographic monitoring. Journal of Arrhythmia, 34(1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Carmona Puerta R., Castro-Torres Y., et al (2017). Atrial fibrillationand cryptogenic stroke. What is the current evidence Role ofelectrocardiographic monitoring. "Journal of Arrhythmia
Tác giả: Carmona Puerta R., Castro-Torres Y., et al
Năm: 2017
10. Hội tim mạch học Việt nam (2015). Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị suy tim Khác
11. Hội tim mạch học Việt nam (2016). Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị rung nhĩ Khác
12. Hội tim mạch học Việt nam (2008). Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị trị nhồi máu não cấp (Đột quỵ thiếu máu não) Khác
16. Hoàng Khánh (2011), Tai biến mạch máu não, Giáo trình Nội thần kinh, NXB Y học, tr.96-108 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w