Trong bài viết này, trình bày ảnh hưởng của một số loại chất điều hòa sinh trưởng nhóm auxin (IAA, IBA và αNAA) ở các nồng độ khác nhau (50, 100 và 200 ppm) và loại giá thể đến đến sự ra rễ của giâm hom cây triệu chuông.
Trang 1TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Khoa học Tự nhiên và Công nghệ
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Hoa triệu chuông (Calibrachoa praviflora)
là loài cây thân thảo, buông rủ, thuộc họ Cà
(Solanaceae), phân bố chủ yếu ở vùng Nam
Mỹ, Mexico, và tây nam Hoa Kỳ Đây là loài
hoa cảnh được ưa chuộng bởi màu sắc vô cùng
đa dạng và phong phú Cây hoa triệu chuông có
chiều cao khoảng 10 – 20cm, hoa có hình dáng
tròn giống những chiếc chuông nên được gọi là
triệu chuông Hoa có rất nhiều màu sắc: vàng,
đỏ, tím, cam, xanh…[6]
Đặc tính nổi trội của hoa triệu chuông là sai
hoa, có thể ra quanh năm, thời gian chơi dài và
có khả năng chịu được nắng nóng, mưa ẩm, nên
được dùng để làm cảnh trang trí vườn hoa công
viên hoặc đặt tại hiên nhà, ban công làm đẹp
không gian gia đình…
Hiện nay, cây giống triệu chuông chủ yếu
“Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và giá thể đến sự ra rễ của cành giâm cây hoa triệu
chuông (Calibrachoa praviflora)”, nhằm góp
phần giúp người trồng giảm bớt chi phí đầu tư hạt giống khi có thể sử dụng những chậu hoa sắp tàn để tái sản xuất cây giống cũng như chủ động về công tác giống
2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
Cành bánh tẻ cây hoa triệu chuông được gieo từ hạt 2 tháng tuối khỏe mạnh (giống nhập khẩu bởi Công ty TNHH MTV Hạt Giống Rạng Đông) Cành được cắt vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát, không bị dập nát, hom dài 5-7 cm
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm: Thí nghiệm được nghiên cứu tại
ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT ĐIỀU HOÀ SINH TRƯỞNG VÀ GIÁ THỂ ĐẾN SỰ RA RỄ CỦA CÀNH GIÂM CÂY HOA TRIỆU CHUÔNG
(Calibrachoa praviflora)
Nguyễn Thị Thanh Hương, Chu Thị Bích Ngọc, Nguyễn Phương Quý, Nguyễn Thị Hiền
Trường Đại học Hùng Vương
Tóm tắt: Triệu chuông là cây thân thảo, buông rủ, thuộc họ Cà – Solanaceae Hoa triệu chuông là một loài cây
cảnh có hoa đẹp nên được sử dụng làm cây trang trí Có nhiều phương pháp nhân giống, giâm cành là phương thức nhân giống vô tính phổ biến đối với nhiều loại cây trồng Trong bài báo này, trình bày ảnh hưởng của một số loại chất điều hòa sinh trưởng nhóm auxin (IAA, IBA và αNAA) ở các nồng độ khác nhau (50, 100 và 200 ppm)
và loại giá thể đến đến sự ra rễ của giâm hom cây triệu chuông Kết quả nghiên cứu cho thấy, chất điều hoà sinh trưởng ở các nồng độ khác nhau có tác động làm tăng tỉ lệ ra rễ, số lượng rễ và chiều dài rễ cây triệu chuông Sử dụng IBA ở nồng độ 200ppm cho tỷ lệ sống cao nhất 100% và tỷ lệ ra rễ cao nhất 95% IBA có tác động tới tỉ lệ
ra rễ tốt hơn so với IAA và αNAA Tuy nhiên, khi xử lý IAA cho số lượng rễ và chiều dài rễ cao hơn so với αNAA
và IBA ở cùng nồng độ, và ở nồng độ IAA 100 ppm cho số lượng rễ và chiều dài rễ cao nhất đạt 12,84 cm khi sử dụng giá thể 100% cát mịn
Từ khóa: triệu chuông, giâm hom, chất điều hoà sinh trưởng, giá thể, ra rễ.
Nguyễn Thị Thanh Hương và nnk (2021)
(24): 61 - 66
Trang 2trưởng từ 2 - 3 phút, tiếp theo nhấc ra để 2 phút
rồi cắm vào cát sạch đã chuẩn bị sẵn trong khay
nhựa loại 72 lỗ, có kích thước lỗ 56,5 cm x 36,5
cm; kích thước lỗ 4 cm x4 cm
- Chăm sóc sau khi giâm: Sau khi giâm, phủ
kín nilon để tránh cành giâm bị mất nước Lớp
nilon được bỏ ra khi tưới nước và khi thời tiết
nắng nóng Hàng ngày tưới ẩm 2 lần vào sáng
sớm và chiều mát, bằng bình phun sương cầm
tay
- Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn
ngẫu nhiên (CRD), mỗi công thức gồm 20 cành,
3 lần nhắc lại Các công thức thí nghiệm được
bố trí trong cùng một điều kiện môi trường Số
liệu được xử lý bằng phần mềm Excel
- Thí nghiệm ảnh hưởng của chất điều hòa
sinh trưởng đến kết quả giâm cành
Thí nghiệm sử dụng 3 loại chất điều hòa
sinh trưởng: IAA, IBA và αNAA, mỗi chất thí
nghiệm với 3 nồng độ khác nhau tương ứng
với 9 công thức thí nghiệm và 1 công thức đối
chứng:
CT1: không sử dụng chất điều hòa sinh
trưởng
CT2: sử dụng IAA nồng độ 50 ppm
CT3: sử dụng IAA nồng độ 100 ppm
CT4: sử dụng IAA nồng độ 200 ppm
CT5: sử dụng αNAA nồng độ 50 ppm
CT6: sử dụng αNAA nồng độ 100 ppm
CT7: sử dụng αNAA nồng độ 200 ppm
CT8: sử dụng IBA nồng độ 50 ppm
CT9: sử dụng IBA nồng độ 100 ppm
CT10: sử dụng IBA nồng độ 200 ppm
Hom được giâm trên giá thể 100% cát mịn Các chỉ tiêu theo dõi: tỷ lệ hom sống, tỷ lệ ra
rễ, số lượng rễ, chiều dài rễ, chỉ số ra rễ
- Thí nghiệm ảnh hưởng của giá thể đến
sự ra rễ của cành giâm
Các loại giá thể 100% cát mịn (GT1), 100% đất phù sa (GT2), đất:trấu hun (1:1) (GT3) và cát:trấu hun (1:1) (GT4) được sử dụng để đánh giá tác động của chúng đối với quá trình giâm hom Các hom được xử lý IAA nồng độ 200 ppm Mỗi công thức gồm có 20 cành, ba lần nhắc lại Các lần lặp lại được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên
Các chỉ tiêu theo dõi: tỷ lệ hom sống, số lượng rễ, chiều dài rễ
Số liệu về tỷ lệ hom sống được thu sau khi
giâm hom 7 ngày, 14 ngày, 21 ngày
Số lượng rễ được quan sát bằng mắt thường, chiều dài rễ được đo bằng thước thước kẹp điện
tử, với độ chính xác 0,01 mm
Phương pháp tính:
- Tỷ lệ hom sống = số hom sống/số hom thí nghiệm
- Tỷ lệ ra rễ = số hom ra rễ/số hom thí nghiệm
- Chỉ số ra rễ = số rễ trung bình/hom x chiều dài rễ trung bình/hom
- Chiều dài rễ được xác định bằng thước kỹ thuật có độ chính xác đến 0,01cm
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Ảnh hưởng của loại chất điều hòa sinh trưởng đến tỷ lệ sống của hom
Kết quả theo dõi tỷ lệ sống của hom được trình bày ở bảng 1
Trang 3Bảng 1 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến tỷ lệ sống của hom cây triệu chuông Chất điều
hòa sinh
trưởng
Nồng độ
(ppm)
Số hom thí nghiệm
Sau 7 ngày Sau 14 ngày Sau 21 ngày Hom
sống Tỷ lệ % Hom sống Tỷ lệ % Hom sống Tỷ lệ %
IAA
αNAA
IBA
Sau khi giâm hom 14 ngày bắt đầu xuất hiện
hom bị chết, đến 21 ngày tỷ lệ hom chết không
tăng ở các CTTN, chỉ ở công thức đối chứng tỷ
lệ hom chết tăng 11,7%
Sau 21 ngày thí nghiệm, tỷ lệ hom sống cao
nhất (100%) ở công thức xử lý IBA nồng độ
200 ppm, cao gấp 1,07 lần so với công thức đối
chứng (ĐC), tiếp đến ở các công thức có sử dụng
chất điều hòa sinh trưởng là IAA 200ppm, αNAA
100ppm và IBA 50ppm cho tỷ lệ hom sống
98,3%, gấp 1,4 lần so với công thức đối chứng
Ở các công thức thí nghiệm còn lại cho tỷ lệ sống
(từ 95% - 96,7%), và đều cao hơn công thức đối
chứng (tỷ lệ sống 71,6%) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự kết quả nghiên cứu của Bùi Văn Thanh và cs (2013) [3] trên cây nắm cơm, chất điều hoà sinh trưởng IBA ở nồng độ 200ppm cho tỷ lệ hom sống cao nhất (86,7%)
3.2 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến số tỷ lệ ra rễ, lượng rễ và chiều dài
rễ trong quá trình giâm hom cây triệu chuông
Tỷ lệ ra rễ, chiều dài rễ là những chỉ tiêu chịu ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng [1] Trong nghiên cứu này, ảnh hưởng của ba loại chất điều hoà sinh trưởng nhóm auxin đến tỷ ra rễ, số lượng rễ và chiều dài rễ của cây triệu chuông được khảo sát (Bảng 2)
Bảng 2 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến tỷ lệ ra rễ, số lượng rễ và chiều dài
rễ của cây triệu chuông sau 21 ngày giâm hom Chất điều hòa
sinh trưởng Nồng độ Tỷ lệ ra rễ (%) Số lượng rễ cấp 1 (rễ/hom) Chiều dài rễ/ (cm) hom Chỉ số ra rễ
200 83,3 9,43 b ± 2,06 12,84 b ± 2,23 121,08
Trang 4Kết quả nghiên cứu (Bảng 2) cho thấy các
chất điều hòa sinh trưởng thuộc nhóm auxin ở các
nồng độ khác nhau đã có ảnh hưởng khác nhau
đến tỉ lệ ra rễ cành triệu chuông Ở thời điểm 21
ngày sau khi giâm hom, tỉ lệ ra rễ ở các công thức
có sử dụng chất điều hoà sinh trưởng từ 61,7%
đến 95%, cao hơn so với công thức đối chứng
(53,3%) Trong đó, IBA là loại auxin có hiệu quả
tạo rễ cao nhất so với hai loại auxin còn lại ở cùng
nồng độ và cao nhất ở công thức có xử lý IBA ở
nồng độ 200ppm Sau 21 ngày giâm hom, những
cành triệu chuông không phát sinh rễ, xuất hiện
các hiện tượng rụng lá, héo hoặc thối gốc
Số lượng rễ của cây triệu chuông giâm hom
chịu ảnh hưởng bởi loại và nồng độ auxin Ở
thời điểm 21 ngày, số lượng rễ ở công thức đối
chứng chỉ đạt 3,31 rễ/hom trong khi ở các công
thức có xử lí auxin, số lượng rễ dao động từ
4,13 đến 9,43 rễ/hom Trong đó, số lượng rễ đạt
cao nhất ở công thức có xử lý IAA 200 ppm
Công thức xử lí αNAA 50 ppm có số lượng rễ
thấp nhất trong số các công thức thí nghiệm,
nhưng vẫn cao hơn so với công thức đối chứng
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, chiều dài
rễ cây triệu chuông giâm hom bị ảnh hưởng bởi
loại auxin cũng như nồng độ auxin Chiều dài
rễ trung bình của hom ở công thức đối chứng
thấp nhất, đạt 3,3 cm Chiều dài rễ cao nhất ở
các công thức có xử lí IAA ở nồng độ 100 ppm
là 12,84 cm Còn lại ở các công thức có xử lý
auxin khác, chiều dài rễ đều đạt từ 6,33 cm đên
11,29 cm; và đều cao hơn so với công thức đối
chứng Chỉ số ra rễ cao nhất khi được xử lý IAA
nồng độ 200 ppm là 121, 08
Khi xét từng loại auxin, ở công thức IAA
200 ppm cây có số lượng rễ và chiều dài rễ
trung bình lớn hơn so với ở công thức IAA 50
ppm và IAA 100 ppm Chiều dài trung bình rễ
ở các công thức NAA 50ppm, αNAA 100 ppm
và αNAA 200 ppm lần lượt bằng 6,33 cm; 9,09
cm và 7,91 cm Khi được xử lí IBA, chiều dài
rễ tăng khi tăng nồng độ IBA, và chiều dài rễ
đạt cao nhất khi hom được xử lý IBA 200 ppm
(7,59 cm), tuy nhiên vẫn thấp hơn khi hom được
xử lý bởi IAA 200 ppm
Hiện tượng ra rễ của hom giâm chịu ảnh hưởng của loại và nồng độ auxin đã được quan sát ở nhiều loài thực vật như gấc, hoa ban, cây nắm cơm Ở cây hoa ban, tỉ lệ hom ra rễ khi được xử lí ba loại auxin IAA, IBA và αNAA với nồng độ 300 ppm, 400ppm và 500 ppm cho mỗi loại auxin, tỉ lệ ra rễ dao động từ 52,2% đến 77,8% ở thời điểm 80 ngày, ở điều kiện không có chất điều hoà sinh trưởng tỷ lệ ra rễ
là 45,6% [2] Nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự như nghiên cứu của nhóm tác giả,
đó là khi hom được xử lý với chất điều hoà sinh trưởng IBA cho tỷ lệ ra rễ cao nhất Tuy nhiên, tỷ lệ ra rễ cao nhất (77,8%) khi hom cây ban được xử lý IBA ở nồng độ 400ppm
ở thời điểm 80 ngày sau khi giâm hom, còn ở cây triệu chuông, tỷ lệ ra rễ cao nhất (95%) khi hom được xử lý ở nồng độ 200ppm ở thời điểm
21 ngày sau khi giâm hom Các loại auxin khác nhau cũng ảnh hưởng đến số lượng rễ và chiều dài rễ ở cây hoa ban giâm hom Ở các nồng độ nghiên cứu, số lượng rễ đạt từ 3,6 đến 6,8 rễ/ cây; chiều dài rễ đạt trung bình từ 3,5 đến 6,7
cm, cao hơn ở công thức đối chứng (3,3 rễ/cây
và 3,1 cm) [2] Kết quả nghiên cứu trên cây nắm cơm của Bùi Văn Thanh và cs (2013) [3] cũng khẳng định nồng độ chất điều hoà sinh trưởng ảnh hưởng đến số rễ và chiều dài rễ Ở nồng độ αNAA 300 ppm số rễ/ cây thấp nhất
là 20,25 và cao nhất ở nồng độ IBA 200 ppm
là 41,35 Chiều dài rễ đạt cao nhất IBA 200 ppm là 4,91 cm và thấp nhất ở nồng độ αNAA 300ppm là 1,71 cm [3] Trong nghiên cứu của chúng tôi, hom triệu chuông được xử lý αNAA 50ppm cũng cho số rễ/hom và chiều dài rễ trung bình là thấp nhất, nhưng hom được xử
lý IAA 200ppm cho số rễ/hom và chiều dài rễ trung bình cao nhất
3.4 Ảnh hưởng của giá thể đến quá trình giâm hom cây hoa triệu chuông
Trong nghiên cứu này, ảnh hưởng của giá thể đến khả năng sinh sống và tỉ lệ ra rễ khi giâm hom triệu chuông được xử lý với chất điều hoà sinh trưởng IAA 200 ppm trên 4 loại giá thể khác nhau Kết quả được tổng hợp ở bảng 3
Trang 5Bảng 3 Ảnh hưởng của giá thể đến tỉ lệ ra rễ và số lượng rễ của cây triệu chuông sau 21
ngày giâm hom
Kết quả nghiên cứu theo bảng 3 cho thấy khi
được xử lý bởi cùng một chất điều hoà sinh trưởng
trên các giá thể khác nhau thì cho kết quả về tỷ lệ
sống, tỷ lệ ra rễ, số lượng rễ và chiều dài rễ là khác
nhau Trên giá thể cát có tỷ lệ ra rễ 100%, trong
khi đó tỷ lệ ra rễ và tỷ lệ hom sống ở các hom
trên giá thể 100% đất chỉ đạt 58,3%, thấp hơn so
với ở 3 giá thể còn lại Kết quả trên cũng tương
tự như kết quả trong nghiên cứu của Phạm Thị
Quỳnh và cs (2017) khi nghiên cứu giâm hom
cây Ban trên các giá thể khác nhau là cát mịn, đất
màu, cát mịn:trấu hun (1:1), đất:trấu hun (1:1) và
cát:đất:trấu hun (1:1:1), tỷ lệ ra rễ và tỷ lệ hom
sống cao nhất ở giá thể cát (tỷ lệ ra rễ 80% và tỷ
lệ hom sống 78,9%), trong khi đó, các giá trị này
thấp nhất (60% và 56,7 %) ở giá thể đất màu [2]
Kết quả nghiên cứu (Bảng 3) cũng cho thấy
số lượng rễ của hom cây triệu chuông chịu ảnh
hưởng bởi giá thể Số lượng rễ nhiều nhất trên
giá thể 100% cát (9,51 rễ/hom), thấp nhất trên
giá thể 100% đất phù sa (3,89 rễ/hom) Trên giá
thể cát: trấu hun (1:1) và đất: trấu hun (1:1) cho
số lượng rễ lần lượt là 8,95 rễ/hom và 6,87 rễ/
hom, cao hơn so với giá thể là đất phù sa nhưng
vẫn thấp hơn so với giá thể cát Phạm Thị Quỳnh
và cs (2017) nghiên cứu trên cây Ban cũng cho
(13,26 cm), cao hơn so với chiều dài rễ ở thí nghiệm sử dụng 50% cát: 50% trấu hun nhưng
sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê với
độ tin cậy 95% Chiều dài rễ thấp nhất (6,15 cm) ở thí nghiệm sử dụng 100% đất phù sa Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu của Phạm Thị Quỳnh và cs (2017) [2] trên cây hoa ban Tuy nhiên, khi sử dụng giá thể cát:trấu hun thì trồng hom vào bầu sẽ dễ dàng hơn vì bầu không bị vỡ, cây sống 100%
4 KẾT LUẬN
Kết quả sau 21 ngày giâm hom cho thấy sự
ra rễ ở cây triệu chuông chịu ảnh hưởng của loại
và nồng độ auxin Trong đó, ở công thức xử lí IBA 200 ppm có tỷ lệ sống và tỷ lệ tạo rễ cao nhất lần lượt là 100% và 95%
Số lượng rễ và chiều dài rễ chịu ảnh hưởng của loại auxin và nồng độ auxin Số lượng rễ đạt mức cao nhất ở công thức IAA 200 ppm (9,51 rễ/cây) Chiều dài rễ cao nhất ở nồng độ IAA 200ppm (12,84 cm) Trong 4 loại giá thể khảo sát thì giá thể là cát mịn cho số lượng rễ và chiều dài rễ cao nhất
Lời cảm ơn
Công trình này được hoàn thành với sự hỗ
Loại giá thể Tỉ lệ hom sống (%) Tỉ lệ ra rễ
(%) Số lượng rễ (rễ/hom) rễ TB/hom Chiều dài
Ngày 14 Ngày 21
Trong một cột, các chữ cái a,b,c khác nhau thể hiện sự sai khác có ý nghĩa ở mức 5% (p=0,05) với test Duncan.
Trang 6[2] Phạm Thị Quỳnh, Nguyễn Thị Yến (2017),
Nghiên cứu nhân giống cây ban (Bauhinia
variegata L.) bằng phương pháp giâm
hom Tạp chí khoa học và Công nghệ lâm
nghiệp, (49-56).
[3] Bùi Văn Thanh, Ninh Khắc Bản (2013),
Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến
kết quả giâm hom nắm cơm (Kadsura
coccinea (Lem.) A C Smith) Hội nghị
Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật toàn
quốc lần thứ 5, (1236 -1241).
[4] Nguyễn Đình Thi (2016), Nghiên cứu một
số biện pháp kỹ thuật giâm hom cây gấc
(Momordica cochinchinensis) tại Nghệ
An Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Huế 119(5):1-5.
[5] Koleva Gudeva L, Trajkova F, Mihajlov
L, Troiciki J (2017), Influence of different auxins on rooting of rosemary,
sage and elderberry Annual Research & Review in Biology, 12(5):1-8.
[6] https://hoadepviet.com/hoa-trieu-chuong/
THE EFFECTS OF GROWTH REGULATORS AND SUBSTRATE ON
THE ROOTING OF Calibrachoa praviflora
Nguyen Thi Thanh Huong, Chu Thi Bich Ngoc,
Nguyen Phương Quy, Nguyen Thi Hien
Faculty of Natural Sciences, Hung Vuong University, Phutho.
Abstract: Calibrachoa praviflora is a herbaceous plant belonging to the Solanaceae family
With beautiful flowers, this plant is grown for decorative purposes There are many breeding methods and cutting is a common asexual propagation method for many crops This paper presents the effects of some auxin group growth regulators (IAA, IBA, and αNAA) at different concentrations (50 ppm, 100 ppm, 200 ppm) to the rooting process employing cutting method of Calibrachoa praviflora The results show that the growth regulators at different concentrations lead to an increase in rate, quantity and length of roots IBA at 200ppm turns out the highest rate
of survival at 100% and that of rooting at 95 Compared to IAA and αNAA, IBA has the better impact on rooting rate, but IAA produces higher number and longer roots than αNAA and IBA at the same concentration IAA at the concentration of 200 ppm generates the most and the longest root when using 100% sand as the cultivating ground.
Keywords: Calibrachoa praviflora, cuttings, growth regulators, substrate, rooting.
Ngày nhận bài: 16/12/2020 Ngày nhận đăng: 25/01/2021
Liên lạc: Nguyễn Thị Thanh Hương, e - mail: nthuong1979@gmail.com