Bài viết trình bày một số yêu cầu về năng lực sư phạm của GV trẻ ở các cơ sở giáo dục đại học trong điều kiện hiện nay; Giải pháp phát triển năng lực sư phạm của đội ngũ GV trẻ dưới tác động của cách mạng công nghiệp 4.0.
Trang 11 Đặt vấn đề
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang
tác động mạnh mẽ tới mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội, trong đó có giáo dục đào tạo nói chung
và giáo dục đại học nói riêng Quá trình hội nhập
quốc tế và sự biến đổi của đời sống xã hội đã
tạo ra những thay đổi to lớn và môi trường giáo
dục, mục tiêu – yêu cầu đào tạo, phương pháp
giảng dạy cũng như vai trò của GV (GV) nhằm
đạt được hiệu quả giáo dục nhất định Điều này
đã được Đảng ta nhận thức và khẳng định trong
các văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI,
XII, XIII; đồng thời Đảng ta cũng ra Nghị quyết
số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn
bản toàn diện GD&ĐT Trong các nghị quyết đã
chỉ rõ nâng cao chất lượng giáo dục đòi hỏi sự
chuyển đổi trong vai trò của GV từ người truyền
thụ kiến thức truyền thống sang người hướng
dẫn và thiết kế môi trường học tập tiên tiến, giúp
người học tự định hướng việc học Vì vậy, GV
cần được nâng cao trình độ, năng lực chuyên
môn sư phạm bằng nhiều biện pháp đồng bộ như:
tăng cường công tác đào tạo, nâng cao trình độ tri thức, nâng cao trình độ ngoại ngữ, trình độ tin học; đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học; bồi dưỡng kỹ năng (KN), kỹ xảo nghề nghiệp sư phạm…
2 Nội dung nghiên cứu
2.1 Một số yêu cầu về năng lực sư phạm của
GV trẻ ở các cơ sở giáo dục đại học trong điều kiện hiện nay
GV trẻ tại các trường đại học có thể được hiểu
là những GV đang làm công tác giảng dạy tại các cơ sở giáo dục đại học có tuổi đời dưới 40
và thời gian tham gia công tác giảng dạy dưới 5 năm Nguồn lực GV trẻ tại các cơ sở giáo dục đại học là những SV đã được đào tạo chính quy tại các học viện, nhà trường trong và ngoài nước có trình độ tri thức và tiềm năng phát triển trở thành một GV đại học; được các cơ sở giáo dục đại học tuyển dụng đảm bảo đáp ứng tốt các tiêu chí cơ bản của một GV mà cơ sở đó đã đề ra Bên cạnh những điểm mạnh về trình độ tri thức, sự nhạy bén của sức trẻ, tinh thần nhiệt huyết, ham muốn học hỏi, thể hiện bản thân thì đội ngũ GV trẻ vẫn còn tồn tại một số mặt còn hạn chế Đó là những
* TS Học viện Kỹ thuật quân sự
YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SƯ PHẠM CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRẺ DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ
Vũ Đức Bộ*
ABSTRACT
The pedagogical capacity of lecturers is one of the important factors that govern the quality and effectiveness of the educational and training process at schools In the current situation, the situation
of the world and the country has changed rapidly, especially the impact width of the fourth industrial revolution (industrial revolution 4.0), the objectives and requirements of the training education has the power to transfer variable This thing set of the following request and the newformed for the team
of the school of great ads Therefore, developing the capacity of young lecturers at universities under the influence of the industrial revolution 4 0 is a required device nowadays.
Keywords: Pedagogical capacity; young lecturers; industrial revolution
Received: 6/11/2021; Accepted: 21/11/2021; Published: 12/12/2021
Trang 2hạn chế về KN, kỹ xảo nghề nghiệp sư phạm;
kinh nghiệm thực tiễn trong giảng dạy đại học;
kinh nghiệm hoạt động thực tiễn chuyên môn về
chuyện ngành của bản thân; KN xử lý các tình
huống sư phạm trong quá trình giảng dạy cũng
như sự phong phú về tri thức tổng hợp… Dưới
sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0,
để hoàn thành tốt nhiệm vụ giảng dạy đại học thì
đội ngũ GV trẻ tại các cơ sở giáo dục đại học cần
phải trau dồi, phát triển năng lực sư phạm bản
thân đáp ứng một số yêu cầu sau đây:
GV trẻ cần nâng cao năng lực giảng dạy của
bản thân: Năng lực giảng dạy bao gồm nền tảng
kiến thức chuyên môn đáp ứng yêu cầu giảng
dạy, hệ thống tri thức rộng, khả năng phát triển
giáo trình giảng dạy phong phú, khả năng tổ chức
lớp học đa dạng, cập nhật các thông tin tri thức
mới, ứng dụng công cụ công nghệ cho lớp học
sinh động và tương tác đa chiều Kết hợp nhuần
nhuyễn, linh hoạt các phương pháp dạy học là
một trong những yêu cầu căn bản trong đổi mới
GD&ĐT hiện nay GV trẻ phải nắm chắc các
phương pháp dạy học, nắm chắc đối tượng người
học, sử dụng thành thạo các phương tiện kỹ thuật
phục vụ cho quá trình dạy học Quá trình dạy
học GV thường xuyên cập nhật những tri thức
khoa học mới, tự học tập, tự nghiên cứu nâng cao
kho tàng tri thức của bản thân Bên cạnh đó, xu
hướng hội nhập và toàn cầu hóa về giáo dục đòi
hỏi GV trẻ không ngừng nâng cao trình độ ngoại
ngữ theo chuẩn quốc tế, tạo tiền đề thuận lợi để
tiếp cận nguồn tri thức mới trên thế giới, nâng cao
trình độ năng lực sư phạm đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ GD&ĐT
Khả năng truyền đạt, truyền cảm hứng, kết nối
và ứng biến linh hoạt: KN này đòi hỏi một quá
trình rèn luyện liên tục cũng như sự đam mê và
nhiệt huyết của GV GV không chỉ là người trang
bị tri thức mà còn phải trở thành người hướng
dẫn, định hướng cho SV phương pháp tiếp cận tri
thức, hình thành phẩm chất nhân cách người học
Người học chỉ tích cực, hăng say, hứng thú với
nội dung bài giảng khi GV có khả năng truyền đạt
tốt, trình bày bài giảng một cách rõ ràng, mạch
lạc, sinh động, sát thực tiễn Đồng thời, quá trình giảng dạy ở bậc đại học thường xuyên gặp phải những tình huống sư phạm có tính đột ngột, diễn biến phức tạp khó lường do đặc điểm lứa tuổi của
SV GV phải thực sự bình tĩnh và linh hoạt trong ứng xử, giải quyết các tình huống sư phạm nảy sinh để không làm ảnh hưởng tới hoạt động giảng dạy và tinh thần của SV Do vậy, GV cần rèn luyện và vận dụng một cách linh hoạt các phương pháp giảng dạy, kết hợp với các trang bị, phương tiện kỹ thuật hiện đại để làm phong phú bài giảng, đặc biệt trong điều kiện hoạt động giảng dạy trực tuyến ngày càng phát triển hiện nay KN này có thể được lượng hóa bằng đánh giá cuối kỳ của học viên, SV về hoạt động giảng dạy của từng
GV hoặc quá trình dự giảng, thông qua bài giảng của đồng nghiệp, bộ môn, khoa chuyên ngành
Năng lực nghiên cứu khoa học: Năng lực này
chưa thật sự được chú trọng, do đặc thù đào tạo định hướng ứng dụng hơn là nghiên cứu của hầu hết các trường đại học ở Việt Nam Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng dưới tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đặt ra yêu cầu về sự tham gia thị trường đào tạo quốc
tế, nâng cao vị thế của giáo dục đại học Việt Nam trên trường quốc tế Vì vậy, cần đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ giữa các cơ sở giáo dục đào tạo Trong đó, đội ngũ GV trẻ là lực lượng rất quan trọng trong mọi hoạt động nghiên cứu khoa học hiện đại – lực lượng nhanh nhạy nắm bắt được sự biến đổi của thế giới nói chung và sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại nói riêng
Kinh nghiệm thực tế hoạt động khoa học theo chuyên môn Lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin đã
chỉ ra, lý luận phải gắn liền với thực tiễn, trong nhận thức và hoạt động phải quán triệt và thực hiện nghiêm nguyên tắc này Do đó, GV chỉ có thể thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học khi tích lũy được vốn kinh nghiệm thực tiễn phong phú Vốn kinh nghiệm giúp cho
GV có thể triển khai nội dung bài giảng một cách phong phú, sát thực tiễn hơn; đồng thời có thể
Trang 3phát hiện và giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt
ra thông qua các công trình nghiên cứu khoa học
Từ đó, nâng cao hiệu quả, chất lượng đào tạo của
cơ sở giáo dục, góp phần đào tạo nguồn nhân lực
chất lượng cao cho sự phát triển bền vững của
đất nước
Giữ vững và rèn luyện đạo đức nghề nghiệp:
Đó là sự trung thực, đáng tin cậy là điểm tựa cho
SV, có đam mê và gắn bó lâu dài với sự nghiệp
giảng dạy, tận tâm, tận tụy với công việc định
hướng SV; trong giao tiếp luôn ứng dụng các quy
tắc ứng xử chuẩn mực theo hệ giá trị đạo đức Việt
Nam nói chung và chuẩn mực đạo đức của nhà
giáo nói riêng GV phải là người có trình độ cao,
có thói quen học tập và nghiên cứu không ngừng,
trở thành một tấm gương sáng cho SV học tập,
noi theo
Những năng lực then chốt này sẽ giúp GV có
cái nhìn toàn diện, đủ độ sâu và độ rộng để hoàn
thiện bản thân và đồng hành cùng sự phát triển
của thế hệ trẻ trong thời đại giáo dục 4.0
2.2 Giải pháp phát triển năng lực sư phạm
của đội ngũ GV trẻ dưới tác động của cách
mạng công nghiệp 4.0
Phát triển năng lực sư phạm của đội ngũ GV
trẻ tại các cơ sở giáo dục đại học là quá trình nhận
thức và hoạt động của các chủ thể trên cơ sở nắm
vững tính quy luật, làm chuyển hóa, hoàn thiện
các yếu tố cấu thành năng lực sư phạm của GV
trẻ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ GD&ĐT Điều này
thực hiện đồng bộ, thống nhất nhiều giải pháp
khác nhau Theo tác giả, trước hết cần tập trung
thực hiện tốt một số giải pháp sau đây:
2.2.1 Đẩy mạnh tăng cường hoạt động bồi
dưỡng tri thức, đào tạo đội ngũ GV trẻ
Nâng cao trình độ tri thức cho GV trẻ là một
hoạt động cơ bản để phát triển năng lực sư phạm
Bởi vì, tri thức là điều kiện tiên quyết giúp cho
GV chuẩn bị và tổ chức thực hành bài giảng đạt
hiệu quả cao Các cơ sở giáo dục cần phải nâng
cao tỷ lệ GV trẻ đạt học vị thạc sĩ, tiến sĩ trong
đội ngũ GV trẻ Đây có thể coi là một tiêu chí bắt
buộc để trở thành GV tại cơ sở giáo dục
Các cơ sở giáo dục cần đặt ra chỉ tiêu giới hạn
độ tuổi tối đa mà GV trẻ cần đạt được học vị thạc
sĩ, tiến sĩ trong quá trình công tác dựa trên điều kiện thực tiễn của từng đơn vị Xây dựng cơ chế chính sách thuận lợi cho GV trẻ có điều kiện bồi dưỡng nâng cao trình độ tri thức, ví dụ cơ chế chính sách về tài chính, điều kiện vật chất, thủ tục hành chính… Đề ra các chế tài khen thưởng GV đạt tiêu chí trước thời hạn quy định, xử phạt đối với GV chậm đạt tiêu chí so với kế hoạch Đội ngũ GV cần phải được bồi dưỡng, nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn bằng những biện pháp như tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, sử dụng công nghệ thông tin phục vụ dạy học, ứng dụng các hình thức tiên tiến vào công tác bồi dưỡng GV, đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng theo hướng nghiên cứu và nâng cao trình độ ngoại ngữ Cụ thể: bồi dưỡng cho GV chủ động tham gia các hình thức đào tạo tiên tiến, đào tạo trực tuyến, để vừa nâng cao trình
độ, vừa tiếp cận các mô hình dạy học mới, qua đó giúp họ bổ sung kiến thức, đa dạng hóa các hình thức giảng dạy Trong thời gian tới, các mô hình giảng dạy trực tuyến sẽ được ứng dụng trong đào tạo đại học, như E-learning; B-learning; hội thảo truyền hình Ngoại ngữ cũng là một phương tiện quan trọng trong quá trình phát triển của cá nhân mỗi GV cũng như sự phát triển chung của mỗi nhà trường Do đó, cần tổ chức các lớp ngoại ngữ hoặc cử GV trẻ tham gia các lớp đào tạo ngoại ngữ theo những phương thức khác nhau (chuyên
tu, bồi dưỡng chứng chỉ, bằng hai cử nhân ) cho
GV trẻ phù hợp với các nhu cầu khác nhau Các khoa/bộ môn/tổ chuyên môn cần xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ GV trẻ của đơn
vị mình phù hợp với tình hình thực tiễn Tránh hiện tượng gây áp lực, cản trở, trù dập GV trẻ trong quá trình bồi dưỡng Căn cứ vào tình hình thực tiễn có thể phân công GV có kinh nghiệm,
có học hàm, học vị cao trong đơn vị giúp đỡ, kèm cặp GV trẻ trong quá trình phát triển Phải coi việc phát triển năng lực của đội ngũ GV trẻ là nhiệm vụ chung của toàn đơn vị, là chiến lược phát triển chung của nhà trường, cơ sở giáo dục
2.2.2 Tăng cường các hoạt động bồi dưỡng
Trang 4KN, kỹ xảo nghề nghiệp cho đội ngũ GV trẻ
GV trẻ có ưu điểm về tinh thần nhiệt huyết,
sự nhạy bén trong quá trình nhận thức các vấn đề
mới Tuy nhiên, GV trẻ còn thiếu kinh nghiệm
thực tiễn nghề nghiệp cũng như các KN, kỹ xảo
cần thiết trong hoạt động giảng dạy và nghiên cứu
khoa học Một số KN, kỹ xảo cần thiết mà GV trẻ
cần trau dồi đó là: KN thuyết trình, KN vận dụng
tri thức tổng hợp, KN dẫn dắt đặt vấn đề gợi mở
cho người học, KN xây dựng kịch bản bài giảng,
KN đọc tài liệu, KN giao tiếp với người học, KN
phân tích đánh giá người học…
Các KN, kỹ xảo trên có thể được bồi dưỡng,
tăng cường thông qua các khóa học, các lớp bồi
dưỡng KN chuyên môn Các cơ sở giáo dục đào
tạo cần cử GV trẻ tham gia các lớp tập huấn do
cấp trên hoặc các cơ sở bạn tổ chức, đặc biệt nếu
có điều kiện có thể cử GV trẻ tham gia các lớp tập
huấn do các trường đại học có uy tín trên thế giới
tổ chức để học hỏi kinh nghiệm dạy học tiên tiến
Thường xuyên kiểm tra, đánh giá phương pháp,
tác phong, KN, kỹ xảo nghề nghiệp của GV nói
chung và GV trẻ nói riêng
Cung cấp cho GV trẻ các KN về xây dựng đề
cương chi tiết môn học và soạn thảo các bài giảng
cụ thể; các KN sư phạm cơ bản về phương pháp
đánh giá kết quả học tập của SV; phương pháp
dạy học, phát triển chương trình giáo dục đại học,
cách sử dụng các phương tiện kỹ thuật tiên tiến
vào dạy học; các KN phân tích, tổng hợp và đánh
giá quá trình dạy học; KN đọc, viết, trình diễn
và giao tiếp trong quá trình dạy học Từ đó, hình
thành ý thức nghề nghiệp, đạo đức và tác phong
sư phạm mẫu mực của nhà giáo trong các trường
đại học, lòng say mê và hứng thú trong hoạt động
giảng dạy, thái độ khách quan, khoa học trong tổ
chức và quản lí quá trình dạy học
Tăng cường hoạt động dự giảng, thông qua bài
giảng của các bộ môn, khoa chuyên môn là một
hoạt động học thuật thiết thực để GV trẻ trau dồi
tri thức chuyên ngành và KN sư phạm thông qua
sự đóng góp của các GV có kinh nghiệm Phân
công các GV có kinh nghiệm, có KN sư phạm tốt
giúp đỡ GV trẻ trong quá trình phát triển, thực
hiện nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học Duy trì và nâng cao chất lượng hoạt động đánh giá GV của SV nhà trường, lấy đó làm cơ sở để đánh giá chất lượng giảng dạy của GV Mạnh dạn giao nhiệm vụ cho GV trẻ tham gia hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học để tích lũy kinh nghiệm
2.2.3 Chú trọng phát triển năng lực hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ GV trẻ
Đây là một yếu tố cần quan tâm đặc biệt trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay Bởi, nghiên cứu khoa học là một hoạt động chuyên môn quan trọng giúp GV nâng cao trình độ tri thức và tích lũy kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu, là cơ sở để GV nâng cao chất lượng hoạt động giảng dạy tại các trường đại học
Cần tạo cơ chế thúc đẩy, bắt buộc GV trẻ tham gia nghiên cứu khoa học (ví dụ, đặt ra yêu cầu
số lượng bài báo khoa học được đăng trên tạp chí khoa học uy tín hoặc đề tài nghiên cứu khoa học được nghiệm thu, đánh giá trong khoảng thời gian nhất định) Kịp thời có các hình thức khen thưởng, khuyến khích đối với các GV trẻ có kết quả hoạt động nghiên cứu khoa học vượt bậc Tổ chức các hoạt động định hướng nghiên cứu khoa học phù hợp với năng lực, thế mạnh của mỗi GV trẻ giúp cho họ lựa chọn hướng nghiên cứu phát triển phù hợp nhất
Tổ chức các hội nghị khoa học trẻ thường niên
để GV trẻ có điều kiện trao đổi, học hỏi; tạo điều kiện cho GV trẻ tham gia các hội nghị khoa học
do các tổ chức, đơn vị trong và ngoài nước tổ chức; mạnh dạn giao việc cho GV trẻ trong các
đề án, dự án nghiên cứu khoa học lớn; hỗ trợ kinh phí cho các công trình nghiên cứu đòi hỏi nguồn kinh phí nghiên cứu lớn
2.2.4 Thường xuyên phát huy vai trò chủ thể của GV trẻ trong quá trình phát triển năng lực
sư phạm của họ Quá trình bồi dưỡng, đào tạo
chỉ thực sự đạt hiệu quả tối ưu khi nó trở thành quá trình tự đào tạo Đây là cơ sở để GV trẻ tự bồi dưỡng phát triển năng lực chuyên môn nghề nghiệp sư phạm của bản thân
Trang 5Phát huy vai trò tích cực của GV trẻ tự phát
triển năng lực sư phạm có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng nhằm huy động sức mạnh nội lực của bản
thân mỗi người GV trẻ phải nhận thức đúng đắn
về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc tự đào tạo,
bồi dưỡng, rèn luyện Từ đó, hình thành nhu cầu,
động cơ tự đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện của mỗi
GV để hoạt động đó trở thành ý thức và hành
động tự giác của mỗi người
GV trẻ cần xây dựng chương trình, kế hoạch
tự đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện thực sự khoa
học Kế hoạch tự đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện là
một việc làm thể hiện tính khoa học của GV, là cơ
sở để GV phấn đấu đạt mục tiêu đề ra Cần đưa
việc xây dựng kế hoạch tự đào tạo, bồi dưỡng,
rèn luyện thành nề nếp, chế độ; phải thiết thực,
cụ thể bao gồm: mục tiêu cần đạt được, nội dung,
phương pháp, tài liệu điều kiện bảo đảm, thời
gian hoàn thành
Xây dựng, rèn luyện ý chí quyết tâm phấn đấu
cao trong việc tự đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện
Vấn đề tự đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện là công
việc khó khăn, phức tạp, lâu dài suốt cả đời người,
do đó ngoài việc xác định mục tiêu, xây dựng
chương trình, kế hoạch, mỗi GV trẻ cần có nghị
lực và quyết tâm cao vượt mọi khó khăn trở ngại
để thực hiện kế hoạch đã xác định, có kết quả trên
thực tế; quán triệt và thực hiện tốt phương hướng,
nhiệm vụ của nhà trường đặt ra
Tăng cường công tác kiểm tra giám sát của
các chủ thể trong phát triển năng lực sư phạm của
GV trẻ Phát huy tính tích cực tự giác của mỗi cá
nhân là vấn đề hết sức quan trọng nhưng cũng
không thể tách khỏi sự quản lý của tổ chức Thực
tiễn cho thấy, việc tự đào tạo, tự bồi dưỡng, rèn
luyện của GV chỉ đạt được chất lượng và hiệu
quả cao khi có sự kết hợp chặt chẽ sự quản lý của
tổ chức và tinh thần tự giác của từng người
3 Kết luận
Phát triển năng lực sư phạm của đội ngũ GV
trẻ đáp ứng yêu cầu giáo dục đại học trong thời
đại cách mạng công nghiệp 4.0 là một nhiệm
vụ, yêu cầu bức thiết trong giai đoạn hiện nay
Nhiệm vụ đó đòi hỏi cần phải vận dụng linh hoạt,
đồng bộ nhiều giải pháp; bao gồm các yếu tố chủ quan và khách quan, kết hợp cá nhân với tổ chức Trong đó, vai trò của nhân tố chủ quan cá nhân mỗi GV trẻ là rất quan trọng Sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đặt ra những thách thức không nhỏ đối với sự nghiệp GD&ĐT nói chung
và giáo dục đại học nói riêng Vì vậy, từng cơ sở giáo dục, từng cá nhân GV, đặc biệt là GV trẻ cần không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, ng-hiệp vụ; phát triển năng lực sư phạm của GV góp phần tích cực vào công cuộc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển bền vững của đất nước./
Tài liệu tham khảo
1 Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định
số 711/QĐ-TTg, ngày 13/6/2012 về Phê duyệt
“Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020”, Hà Nội
2 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, lần thứ XII, lần thứ XIII, NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật,
Hà Nội
3 Nguyễn Đình Đức (2020), Đổi mới giáo dục
đại học trong thời đại CMCN 4.0, Tạp chí Khoa
học và Công nghệ Việt Nam, số 6/2020, Hà Nội
4 Chính phủ (2019), Nghị định
99/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học, Hà
Nội
5 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản
Việt Nam (2013), Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày
4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT,Văn phòng TW Đảng, Hà Nội
6 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư - thời cơ và thách thức đối với Việt Nam, NXB Lý luận Chính
trị, H.2017, tr.12
7 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia - ST, H.2011, tr.106