1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Yêu cầu và giải pháp phát triển năng lực sư phạm của đội ngũ giảng viên trẻ dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư

5 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 363,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày một số yêu cầu về năng lực sư phạm của GV trẻ ở các cơ sở giáo dục đại học trong điều kiện hiện nay; Giải pháp phát triển năng lực sư phạm của đội ngũ GV trẻ dưới tác động của cách mạng công nghiệp 4.0.

Trang 1

1 Đặt vấn đề

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang

tác động mạnh mẽ tới mọi lĩnh vực của đời sống

xã hội, trong đó có giáo dục đào tạo nói chung

và giáo dục đại học nói riêng Quá trình hội nhập

quốc tế và sự biến đổi của đời sống xã hội đã

tạo ra những thay đổi to lớn và môi trường giáo

dục, mục tiêu – yêu cầu đào tạo, phương pháp

giảng dạy cũng như vai trò của GV (GV) nhằm

đạt được hiệu quả giáo dục nhất định Điều này

đã được Đảng ta nhận thức và khẳng định trong

các văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI,

XII, XIII; đồng thời Đảng ta cũng ra Nghị quyết

số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn

bản toàn diện GD&ĐT Trong các nghị quyết đã

chỉ rõ nâng cao chất lượng giáo dục đòi hỏi sự

chuyển đổi trong vai trò của GV từ người truyền

thụ kiến thức truyền thống sang người hướng

dẫn và thiết kế môi trường học tập tiên tiến, giúp

người học tự định hướng việc học Vì vậy, GV

cần được nâng cao trình độ, năng lực chuyên

môn sư phạm bằng nhiều biện pháp đồng bộ như:

tăng cường công tác đào tạo, nâng cao trình độ tri thức, nâng cao trình độ ngoại ngữ, trình độ tin học; đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học; bồi dưỡng kỹ năng (KN), kỹ xảo nghề nghiệp sư phạm…

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Một số yêu cầu về năng lực sư phạm của

GV trẻ ở các cơ sở giáo dục đại học trong điều kiện hiện nay

GV trẻ tại các trường đại học có thể được hiểu

là những GV đang làm công tác giảng dạy tại các cơ sở giáo dục đại học có tuổi đời dưới 40

và thời gian tham gia công tác giảng dạy dưới 5 năm Nguồn lực GV trẻ tại các cơ sở giáo dục đại học là những SV đã được đào tạo chính quy tại các học viện, nhà trường trong và ngoài nước có trình độ tri thức và tiềm năng phát triển trở thành một GV đại học; được các cơ sở giáo dục đại học tuyển dụng đảm bảo đáp ứng tốt các tiêu chí cơ bản của một GV mà cơ sở đó đã đề ra Bên cạnh những điểm mạnh về trình độ tri thức, sự nhạy bén của sức trẻ, tinh thần nhiệt huyết, ham muốn học hỏi, thể hiện bản thân thì đội ngũ GV trẻ vẫn còn tồn tại một số mặt còn hạn chế Đó là những

* TS Học viện Kỹ thuật quân sự

YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SƯ PHẠM CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRẺ DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ

Vũ Đức Bộ*

ABSTRACT

The pedagogical capacity of lecturers is one of the important factors that govern the quality and effectiveness of the educational and training process at schools In the current situation, the situation

of the world and the country has changed rapidly, especially the impact width of the fourth industrial revolution (industrial revolution 4.0), the objectives and requirements of the training education has the power to transfer variable This thing set of the following request and the newformed for the team

of the school of great ads Therefore, developing the capacity of young lecturers at universities under the influence of the industrial revolution 4 0 is a required device nowadays.

Keywords: Pedagogical capacity; young lecturers; industrial revolution

Received: 6/11/2021; Accepted: 21/11/2021; Published: 12/12/2021

Trang 2

hạn chế về KN, kỹ xảo nghề nghiệp sư phạm;

kinh nghiệm thực tiễn trong giảng dạy đại học;

kinh nghiệm hoạt động thực tiễn chuyên môn về

chuyện ngành của bản thân; KN xử lý các tình

huống sư phạm trong quá trình giảng dạy cũng

như sự phong phú về tri thức tổng hợp… Dưới

sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0,

để hoàn thành tốt nhiệm vụ giảng dạy đại học thì

đội ngũ GV trẻ tại các cơ sở giáo dục đại học cần

phải trau dồi, phát triển năng lực sư phạm bản

thân đáp ứng một số yêu cầu sau đây:

GV trẻ cần nâng cao năng lực giảng dạy của

bản thân: Năng lực giảng dạy bao gồm nền tảng

kiến thức chuyên môn đáp ứng yêu cầu giảng

dạy, hệ thống tri thức rộng, khả năng phát triển

giáo trình giảng dạy phong phú, khả năng tổ chức

lớp học đa dạng, cập nhật các thông tin tri thức

mới, ứng dụng công cụ công nghệ cho lớp học

sinh động và tương tác đa chiều Kết hợp nhuần

nhuyễn, linh hoạt các phương pháp dạy học là

một trong những yêu cầu căn bản trong đổi mới

GD&ĐT hiện nay GV trẻ phải nắm chắc các

phương pháp dạy học, nắm chắc đối tượng người

học, sử dụng thành thạo các phương tiện kỹ thuật

phục vụ cho quá trình dạy học Quá trình dạy

học GV thường xuyên cập nhật những tri thức

khoa học mới, tự học tập, tự nghiên cứu nâng cao

kho tàng tri thức của bản thân Bên cạnh đó, xu

hướng hội nhập và toàn cầu hóa về giáo dục đòi

hỏi GV trẻ không ngừng nâng cao trình độ ngoại

ngữ theo chuẩn quốc tế, tạo tiền đề thuận lợi để

tiếp cận nguồn tri thức mới trên thế giới, nâng cao

trình độ năng lực sư phạm đáp ứng yêu cầu nhiệm

vụ GD&ĐT

Khả năng truyền đạt, truyền cảm hứng, kết nối

và ứng biến linh hoạt: KN này đòi hỏi một quá

trình rèn luyện liên tục cũng như sự đam mê và

nhiệt huyết của GV GV không chỉ là người trang

bị tri thức mà còn phải trở thành người hướng

dẫn, định hướng cho SV phương pháp tiếp cận tri

thức, hình thành phẩm chất nhân cách người học

Người học chỉ tích cực, hăng say, hứng thú với

nội dung bài giảng khi GV có khả năng truyền đạt

tốt, trình bày bài giảng một cách rõ ràng, mạch

lạc, sinh động, sát thực tiễn Đồng thời, quá trình giảng dạy ở bậc đại học thường xuyên gặp phải những tình huống sư phạm có tính đột ngột, diễn biến phức tạp khó lường do đặc điểm lứa tuổi của

SV GV phải thực sự bình tĩnh và linh hoạt trong ứng xử, giải quyết các tình huống sư phạm nảy sinh để không làm ảnh hưởng tới hoạt động giảng dạy và tinh thần của SV Do vậy, GV cần rèn luyện và vận dụng một cách linh hoạt các phương pháp giảng dạy, kết hợp với các trang bị, phương tiện kỹ thuật hiện đại để làm phong phú bài giảng, đặc biệt trong điều kiện hoạt động giảng dạy trực tuyến ngày càng phát triển hiện nay KN này có thể được lượng hóa bằng đánh giá cuối kỳ của học viên, SV về hoạt động giảng dạy của từng

GV hoặc quá trình dự giảng, thông qua bài giảng của đồng nghiệp, bộ môn, khoa chuyên ngành

Năng lực nghiên cứu khoa học: Năng lực này

chưa thật sự được chú trọng, do đặc thù đào tạo định hướng ứng dụng hơn là nghiên cứu của hầu hết các trường đại học ở Việt Nam Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng dưới tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đặt ra yêu cầu về sự tham gia thị trường đào tạo quốc

tế, nâng cao vị thế của giáo dục đại học Việt Nam trên trường quốc tế Vì vậy, cần đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ giữa các cơ sở giáo dục đào tạo Trong đó, đội ngũ GV trẻ là lực lượng rất quan trọng trong mọi hoạt động nghiên cứu khoa học hiện đại – lực lượng nhanh nhạy nắm bắt được sự biến đổi của thế giới nói chung và sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại nói riêng

Kinh nghiệm thực tế hoạt động khoa học theo chuyên môn Lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin đã

chỉ ra, lý luận phải gắn liền với thực tiễn, trong nhận thức và hoạt động phải quán triệt và thực hiện nghiêm nguyên tắc này Do đó, GV chỉ có thể thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học khi tích lũy được vốn kinh nghiệm thực tiễn phong phú Vốn kinh nghiệm giúp cho

GV có thể triển khai nội dung bài giảng một cách phong phú, sát thực tiễn hơn; đồng thời có thể

Trang 3

phát hiện và giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt

ra thông qua các công trình nghiên cứu khoa học

Từ đó, nâng cao hiệu quả, chất lượng đào tạo của

cơ sở giáo dục, góp phần đào tạo nguồn nhân lực

chất lượng cao cho sự phát triển bền vững của

đất nước

Giữ vững và rèn luyện đạo đức nghề nghiệp:

Đó là sự trung thực, đáng tin cậy là điểm tựa cho

SV, có đam mê và gắn bó lâu dài với sự nghiệp

giảng dạy, tận tâm, tận tụy với công việc định

hướng SV; trong giao tiếp luôn ứng dụng các quy

tắc ứng xử chuẩn mực theo hệ giá trị đạo đức Việt

Nam nói chung và chuẩn mực đạo đức của nhà

giáo nói riêng GV phải là người có trình độ cao,

có thói quen học tập và nghiên cứu không ngừng,

trở thành một tấm gương sáng cho SV học tập,

noi theo

Những năng lực then chốt này sẽ giúp GV có

cái nhìn toàn diện, đủ độ sâu và độ rộng để hoàn

thiện bản thân và đồng hành cùng sự phát triển

của thế hệ trẻ trong thời đại giáo dục 4.0

2.2 Giải pháp phát triển năng lực sư phạm

của đội ngũ GV trẻ dưới tác động của cách

mạng công nghiệp 4.0

Phát triển năng lực sư phạm của đội ngũ GV

trẻ tại các cơ sở giáo dục đại học là quá trình nhận

thức và hoạt động của các chủ thể trên cơ sở nắm

vững tính quy luật, làm chuyển hóa, hoàn thiện

các yếu tố cấu thành năng lực sư phạm của GV

trẻ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ GD&ĐT Điều này

thực hiện đồng bộ, thống nhất nhiều giải pháp

khác nhau Theo tác giả, trước hết cần tập trung

thực hiện tốt một số giải pháp sau đây:

2.2.1 Đẩy mạnh tăng cường hoạt động bồi

dưỡng tri thức, đào tạo đội ngũ GV trẻ

Nâng cao trình độ tri thức cho GV trẻ là một

hoạt động cơ bản để phát triển năng lực sư phạm

Bởi vì, tri thức là điều kiện tiên quyết giúp cho

GV chuẩn bị và tổ chức thực hành bài giảng đạt

hiệu quả cao Các cơ sở giáo dục cần phải nâng

cao tỷ lệ GV trẻ đạt học vị thạc sĩ, tiến sĩ trong

đội ngũ GV trẻ Đây có thể coi là một tiêu chí bắt

buộc để trở thành GV tại cơ sở giáo dục

Các cơ sở giáo dục cần đặt ra chỉ tiêu giới hạn

độ tuổi tối đa mà GV trẻ cần đạt được học vị thạc

sĩ, tiến sĩ trong quá trình công tác dựa trên điều kiện thực tiễn của từng đơn vị Xây dựng cơ chế chính sách thuận lợi cho GV trẻ có điều kiện bồi dưỡng nâng cao trình độ tri thức, ví dụ cơ chế chính sách về tài chính, điều kiện vật chất, thủ tục hành chính… Đề ra các chế tài khen thưởng GV đạt tiêu chí trước thời hạn quy định, xử phạt đối với GV chậm đạt tiêu chí so với kế hoạch Đội ngũ GV cần phải được bồi dưỡng, nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn bằng những biện pháp như tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, sử dụng công nghệ thông tin phục vụ dạy học, ứng dụng các hình thức tiên tiến vào công tác bồi dưỡng GV, đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng theo hướng nghiên cứu và nâng cao trình độ ngoại ngữ Cụ thể: bồi dưỡng cho GV chủ động tham gia các hình thức đào tạo tiên tiến, đào tạo trực tuyến, để vừa nâng cao trình

độ, vừa tiếp cận các mô hình dạy học mới, qua đó giúp họ bổ sung kiến thức, đa dạng hóa các hình thức giảng dạy Trong thời gian tới, các mô hình giảng dạy trực tuyến sẽ được ứng dụng trong đào tạo đại học, như E-learning; B-learning; hội thảo truyền hình Ngoại ngữ cũng là một phương tiện quan trọng trong quá trình phát triển của cá nhân mỗi GV cũng như sự phát triển chung của mỗi nhà trường Do đó, cần tổ chức các lớp ngoại ngữ hoặc cử GV trẻ tham gia các lớp đào tạo ngoại ngữ theo những phương thức khác nhau (chuyên

tu, bồi dưỡng chứng chỉ, bằng hai cử nhân ) cho

GV trẻ phù hợp với các nhu cầu khác nhau Các khoa/bộ môn/tổ chuyên môn cần xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ GV trẻ của đơn

vị mình phù hợp với tình hình thực tiễn Tránh hiện tượng gây áp lực, cản trở, trù dập GV trẻ trong quá trình bồi dưỡng Căn cứ vào tình hình thực tiễn có thể phân công GV có kinh nghiệm,

có học hàm, học vị cao trong đơn vị giúp đỡ, kèm cặp GV trẻ trong quá trình phát triển Phải coi việc phát triển năng lực của đội ngũ GV trẻ là nhiệm vụ chung của toàn đơn vị, là chiến lược phát triển chung của nhà trường, cơ sở giáo dục

2.2.2 Tăng cường các hoạt động bồi dưỡng

Trang 4

KN, kỹ xảo nghề nghiệp cho đội ngũ GV trẻ

GV trẻ có ưu điểm về tinh thần nhiệt huyết,

sự nhạy bén trong quá trình nhận thức các vấn đề

mới Tuy nhiên, GV trẻ còn thiếu kinh nghiệm

thực tiễn nghề nghiệp cũng như các KN, kỹ xảo

cần thiết trong hoạt động giảng dạy và nghiên cứu

khoa học Một số KN, kỹ xảo cần thiết mà GV trẻ

cần trau dồi đó là: KN thuyết trình, KN vận dụng

tri thức tổng hợp, KN dẫn dắt đặt vấn đề gợi mở

cho người học, KN xây dựng kịch bản bài giảng,

KN đọc tài liệu, KN giao tiếp với người học, KN

phân tích đánh giá người học…

Các KN, kỹ xảo trên có thể được bồi dưỡng,

tăng cường thông qua các khóa học, các lớp bồi

dưỡng KN chuyên môn Các cơ sở giáo dục đào

tạo cần cử GV trẻ tham gia các lớp tập huấn do

cấp trên hoặc các cơ sở bạn tổ chức, đặc biệt nếu

có điều kiện có thể cử GV trẻ tham gia các lớp tập

huấn do các trường đại học có uy tín trên thế giới

tổ chức để học hỏi kinh nghiệm dạy học tiên tiến

Thường xuyên kiểm tra, đánh giá phương pháp,

tác phong, KN, kỹ xảo nghề nghiệp của GV nói

chung và GV trẻ nói riêng

Cung cấp cho GV trẻ các KN về xây dựng đề

cương chi tiết môn học và soạn thảo các bài giảng

cụ thể; các KN sư phạm cơ bản về phương pháp

đánh giá kết quả học tập của SV; phương pháp

dạy học, phát triển chương trình giáo dục đại học,

cách sử dụng các phương tiện kỹ thuật tiên tiến

vào dạy học; các KN phân tích, tổng hợp và đánh

giá quá trình dạy học; KN đọc, viết, trình diễn

và giao tiếp trong quá trình dạy học Từ đó, hình

thành ý thức nghề nghiệp, đạo đức và tác phong

sư phạm mẫu mực của nhà giáo trong các trường

đại học, lòng say mê và hứng thú trong hoạt động

giảng dạy, thái độ khách quan, khoa học trong tổ

chức và quản lí quá trình dạy học

Tăng cường hoạt động dự giảng, thông qua bài

giảng của các bộ môn, khoa chuyên môn là một

hoạt động học thuật thiết thực để GV trẻ trau dồi

tri thức chuyên ngành và KN sư phạm thông qua

sự đóng góp của các GV có kinh nghiệm Phân

công các GV có kinh nghiệm, có KN sư phạm tốt

giúp đỡ GV trẻ trong quá trình phát triển, thực

hiện nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học Duy trì và nâng cao chất lượng hoạt động đánh giá GV của SV nhà trường, lấy đó làm cơ sở để đánh giá chất lượng giảng dạy của GV Mạnh dạn giao nhiệm vụ cho GV trẻ tham gia hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học để tích lũy kinh nghiệm

2.2.3 Chú trọng phát triển năng lực hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ GV trẻ

Đây là một yếu tố cần quan tâm đặc biệt trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay Bởi, nghiên cứu khoa học là một hoạt động chuyên môn quan trọng giúp GV nâng cao trình độ tri thức và tích lũy kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu, là cơ sở để GV nâng cao chất lượng hoạt động giảng dạy tại các trường đại học

Cần tạo cơ chế thúc đẩy, bắt buộc GV trẻ tham gia nghiên cứu khoa học (ví dụ, đặt ra yêu cầu

số lượng bài báo khoa học được đăng trên tạp chí khoa học uy tín hoặc đề tài nghiên cứu khoa học được nghiệm thu, đánh giá trong khoảng thời gian nhất định) Kịp thời có các hình thức khen thưởng, khuyến khích đối với các GV trẻ có kết quả hoạt động nghiên cứu khoa học vượt bậc Tổ chức các hoạt động định hướng nghiên cứu khoa học phù hợp với năng lực, thế mạnh của mỗi GV trẻ giúp cho họ lựa chọn hướng nghiên cứu phát triển phù hợp nhất

Tổ chức các hội nghị khoa học trẻ thường niên

để GV trẻ có điều kiện trao đổi, học hỏi; tạo điều kiện cho GV trẻ tham gia các hội nghị khoa học

do các tổ chức, đơn vị trong và ngoài nước tổ chức; mạnh dạn giao việc cho GV trẻ trong các

đề án, dự án nghiên cứu khoa học lớn; hỗ trợ kinh phí cho các công trình nghiên cứu đòi hỏi nguồn kinh phí nghiên cứu lớn

2.2.4 Thường xuyên phát huy vai trò chủ thể của GV trẻ trong quá trình phát triển năng lực

sư phạm của họ Quá trình bồi dưỡng, đào tạo

chỉ thực sự đạt hiệu quả tối ưu khi nó trở thành quá trình tự đào tạo Đây là cơ sở để GV trẻ tự bồi dưỡng phát triển năng lực chuyên môn nghề nghiệp sư phạm của bản thân

Trang 5

Phát huy vai trò tích cực của GV trẻ tự phát

triển năng lực sư phạm có ý nghĩa đặc biệt quan

trọng nhằm huy động sức mạnh nội lực của bản

thân mỗi người GV trẻ phải nhận thức đúng đắn

về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc tự đào tạo,

bồi dưỡng, rèn luyện Từ đó, hình thành nhu cầu,

động cơ tự đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện của mỗi

GV để hoạt động đó trở thành ý thức và hành

động tự giác của mỗi người

GV trẻ cần xây dựng chương trình, kế hoạch

tự đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện thực sự khoa

học Kế hoạch tự đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện là

một việc làm thể hiện tính khoa học của GV, là cơ

sở để GV phấn đấu đạt mục tiêu đề ra Cần đưa

việc xây dựng kế hoạch tự đào tạo, bồi dưỡng,

rèn luyện thành nề nếp, chế độ; phải thiết thực,

cụ thể bao gồm: mục tiêu cần đạt được, nội dung,

phương pháp, tài liệu điều kiện bảo đảm, thời

gian hoàn thành

Xây dựng, rèn luyện ý chí quyết tâm phấn đấu

cao trong việc tự đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện

Vấn đề tự đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện là công

việc khó khăn, phức tạp, lâu dài suốt cả đời người,

do đó ngoài việc xác định mục tiêu, xây dựng

chương trình, kế hoạch, mỗi GV trẻ cần có nghị

lực và quyết tâm cao vượt mọi khó khăn trở ngại

để thực hiện kế hoạch đã xác định, có kết quả trên

thực tế; quán triệt và thực hiện tốt phương hướng,

nhiệm vụ của nhà trường đặt ra

Tăng cường công tác kiểm tra giám sát của

các chủ thể trong phát triển năng lực sư phạm của

GV trẻ Phát huy tính tích cực tự giác của mỗi cá

nhân là vấn đề hết sức quan trọng nhưng cũng

không thể tách khỏi sự quản lý của tổ chức Thực

tiễn cho thấy, việc tự đào tạo, tự bồi dưỡng, rèn

luyện của GV chỉ đạt được chất lượng và hiệu

quả cao khi có sự kết hợp chặt chẽ sự quản lý của

tổ chức và tinh thần tự giác của từng người

3 Kết luận

Phát triển năng lực sư phạm của đội ngũ GV

trẻ đáp ứng yêu cầu giáo dục đại học trong thời

đại cách mạng công nghiệp 4.0 là một nhiệm

vụ, yêu cầu bức thiết trong giai đoạn hiện nay

Nhiệm vụ đó đòi hỏi cần phải vận dụng linh hoạt,

đồng bộ nhiều giải pháp; bao gồm các yếu tố chủ quan và khách quan, kết hợp cá nhân với tổ chức Trong đó, vai trò của nhân tố chủ quan cá nhân mỗi GV trẻ là rất quan trọng Sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đặt ra những thách thức không nhỏ đối với sự nghiệp GD&ĐT nói chung

và giáo dục đại học nói riêng Vì vậy, từng cơ sở giáo dục, từng cá nhân GV, đặc biệt là GV trẻ cần không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, ng-hiệp vụ; phát triển năng lực sư phạm của GV góp phần tích cực vào công cuộc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển bền vững của đất nước./

Tài liệu tham khảo

1 Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định

số 711/QĐ-TTg, ngày 13/6/2012 về Phê duyệt

“Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020”, Hà Nội

2 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, lần thứ XII, lần thứ XIII, NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật,

Hà Nội

3 Nguyễn Đình Đức (2020), Đổi mới giáo dục

đại học trong thời đại CMCN 4.0, Tạp chí Khoa

học và Công nghệ Việt Nam, số 6/2020, Hà Nội

4 Chính phủ (2019), Nghị định

99/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học, Hà

Nội

5 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản

Việt Nam (2013), Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày

4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT,Văn phòng TW Đảng, Hà Nội

6 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư - thời cơ và thách thức đối với Việt Nam, NXB Lý luận Chính

trị, H.2017, tr.12

7 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia - ST, H.2011, tr.106

Ngày đăng: 15/03/2022, 10:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w