1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Đánh giá năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch tỉnh Đồng Nai: Ứng dụng mô hình của Ritchie và Crouch

6 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 511,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Du lịch là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống kinh tế - xã hội ở nhiều quốc gia trên thế giới. Theo Tổ chức UNWTO (2007). Bài viết trình bày việc đánh giá năng lực canh tranh điểm đến du lịch Đồng Nai, từ đó đưa ra một số gợi ý cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến tại đây.

Trang 1

1 Đặt vấn đề

Du lịch là một nhu cầu không thể thiếu trong

đời sống kinh tế - xã hội ở nhiều quốc gia trên thế

giới Theo Tổ chức UNWTO (2007): “Du lịch là

động lực để phát triển kinh tế - xã hội và là một

trong những hoạt động quan trọng nhất trên phạm

vi toàn cầu” Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội

Du lịch Việt Nam - ông Vũ Thế Bình khẳng định:

“Cùng với mục tiêu tăng trưởng nhanh về số

lượng, ngành Du lịch cần tìm giải pháp để tăng

cường trải nghiệm cho du khách, nâng cao chất

lượng dịch vụ điểm đến” [1] Vì vậy, nghiên cứu

năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch là chủ

đề đang nhận được nhiều sự quan tâm của các

nhà làm chính sách

Đồng Nai nằm trong vùng động lực phát triển

kinh tế phía Nam, là một trong những tỉnh có nền

công nghiệp phát triển với tốc độ tăng trưởng

kinh tế được xếp vào loại đứng đầu cả nước

Ngoài lợi thế về công nghiệp, Đồng Nai cũng có

những thế mạnh rất lớn về phát triển du lịch, nhất

là du lịch sinh thái Nét nổi bật của các điểm du

lịch sinh thái của Đồng Nai là vừa mang dáng dấp gần gũi với du lịch của miền Tây sông nước lại vừa đậm nét đặc trưng của miền Đông Nam Bộ Bên cạnh những lợi thế về tự nhiên, Đồng Nai còn là nơi hội nhập, dung hợp nhiều giá trị văn hóa, xã hội đã tạo nên một lợi thế cho tỉnh nhà trong việc thu hút khách du lịch, đồng thời mở rộng giao lưu kinh tế đến các vùng trong nước

và nước ngoài Tuy nhiên, ngành du lịch tỉnh nhà vẫn còn một số tồn tại nhưtình trạng cơ sở hạ tầng yếu kém, đường giao thông hư hỏng, rác thải tràn lan, nạn chặt chém du khách vẫn hoành hành, chương trình du lịch nghèo nàn, chưa có sự liên kết giữa các điểm du lịch,… làm ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các điểm đến du lịch tại đây Vì vậy, để góp phần cải thiện thực trạng trên, nghiên cứu vận dụng mô hình của Ritchie và Crouch (2000) để đánh giá năng lực canh tranh điểm đến du lịch Đồng Nai, từ đó đưa ra một số gợi ý cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến tại đây

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Một số khái niệm liên quan

Có rất nhiều khái niệm về du lịch tùy thuộc vào mỗi cách hiểu và cách tiếp cận dưới nhiều

* ThS Trường Đại học Công nghệ Đồng Nai

ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH

TỈNH ĐỒNG NAI: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH

CỦA RITCHIE VÀ CROUCH

Phạm Thị Mộng Hằng*

ABSTRACT

The main objective of this study was to propose a model to measure attributes of a tourism des-tination competitiveness in Dong Nai province Since then give suggestions to improve the quality

of tourism services here Preliminary research is done by available theoretical research methods and through in-depth interview techniques to explore, adjust, and develop major groups of factors and components of tourism destination competitiveness The analysis results show that there are 16 factors that strongly affect tourism destination competitiveness in Dong Nai province with different levels of influence.

Keywords : Assessment, destination, tourism, competitiveness, Dong Nai province.

Ngày nhận bài: 2/4/2021; Ngày phản biện: 20/4/2021; Ngày duyệt đăng: 10/5/2021.

Trang 2

góc độ khác nhau [2, tr 4] Dưới góc độ của một

du khách: “Du lịch là các hoạt động có liên quan

đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú

thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm

liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ

dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du

lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”

[3, tr 1]

Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch được

đầu tư, khai thác phục vụ khách du lịch [3, tr 2]

Hiện nay, du lịch là một ngành cạnh tranh rất

gay gắt, vì vậy điểm đến du lịch phải cung cấp

các dịch vụ và hàng hóa với chất lượng cao cho

khách du lịch Giá trị điểm du lịch là những trải

nghiệm, cảm nhận, sự tương tác và lòng hiếu

khách của cộng đồng mang lại cho du khách tại

các điểm du lịch [2, tr 102]

Năng lực cạnh tranh điểm đến là khả năng

tạo ra và tích hợp giá trị gia tăng vào nguồn lực

vốn có, đồng thời duy trì được lợi thế cạnh tranh

của mình Trong đó lợi thế cạnh tranh của một

điểm đến là khả năng duy trì và nâng cao thị phần

trên thị trường

du lịch của một

điểm đến [4, tr

241]

Tiếp cận

theo hướng

du lịch bền

vững, Ritchie

và Crouch cho

rằng: “Năng lực

cạnh tranh điểm

đến du lịch là

khả năng tăng

mức chi tiêu du

lịch, ngày càng

thu hút du khách

đồng thời mang

lại cho họ sự

thỏa mãn, những

trải nghiệm đáng

nhớ theo hướng

mang lại lợi

nhuận, gia tăng

phúc lợi cho dân cư và bảo tồn nguồn vốn tự nhiên của điểm đến cho các thế hệ tương lai” [5,

tr 3]

2.2 Mô hình năng lực cạnh tranh bền vững điểm đến của Ritchie và Crouch (2000)

Kể từ những năm 90 của thế kỷ 20, số lượng các nghiên cứu về khả năng cạnh tranh của điểm đến có sự gia tăng đáng kể Crouch và Ritchie

là một trong những nhóm tiên phong tiến hành nghiên cứu để đưa ra mô hình và học thuyết về khả năng cạnh tranh của điểm đến du lịch Kết quả nghiên cứu được công bố vào năm 1994,

1995, 1999, 2000 Mô hình của Crouch và Ritchie được coi là nghiên cứu nền tảng, là cơ sở lý luận cho những nghiên cứu trong lĩnh vực về khả năng cạnh tranh của điểm đến Cụ thể, mô hình đã chỉ

ra 36 tiêu chí sử dụng để đánh giá tính cạnh tranh, được chia làm 5 nhóm, bao gồm: Nguồn lực và các yếu tố hỗ trợ, nguồn lực và nhân tố hấp dẫn căn bản, các hoạt động quản lý điểm đến, các yếu

tố chính sách, quy hoạch phát triển điểm đến, nhân tố hạn định và mở rộng

Trang 3

2.3 Một số nghiên cứu liên quan

Một số quốc gia đã tiến hành nghiên cứu đánh

giá khả năng cạnh tranh của điểm đến du lịch dựa

trên cơ sở mô hình của Crouch và Ritchie, tuy

nhiên có sự điều chỉnh về hệ thống các tiêu chí

đánh giá cho phù hợp với nét đặc thù riêng Mỗi

nghiên cứu lại đánh giá một đặc điểm của điểm

đến và sử dụng những bộ tiêu chí khác nhau

Bộ Du lịch của Brazil đã tiến hành “Nghiên

cứu về khả năng cạnh tranh của 65 điểm đến quan

trọng cho sự phát triển của du lịch vùng” Nghiên

cứu đã sử dụng 13 tiêu chí để đánh giá khả năng

cạnh tranh của điểm đến, bao gồm: Cơ sở hạ tầng,

dịch vụ và trang thiết vị du lịch, khả năng tiếp cận

điểm đến, điểm tham quan vui chơi, marketing,

chính sách công, liên kết vùng, mức độ kiểm tra,

giám sát, nền kinh tế vùng, năng lực kinh doanh,

các khía cạnh xã hội, các khía cạnh môi trường,

các khía cạnh văn hóa

Theo Vengesayi (2003), các yếu tố nguồn lực

của điểm đến và hỗn hợp các hoạt động là tiêu

chí cơ bản tạo nên sự hấp dẫn của điểm đến Đây

cũng chính là lí do tại sao du khách đánh giá, lựa

chọn điểm đến này hơn điểm đến khác Cụ thể

đó là 5 nhóm yếu tố: văn hóa, tự nhiên, các sự

kiện, hoạt động du lịch, hoạt động vui chơi giải

trí tại điểm đến Các yếu tố nguồn lực của điểm

đến và hỗn hợp các hoạt động sẽ cung cấp cho

du khách có thêm nhiều lựa chọn, giữ họ lưu lại

điểm đến lâu hơn, đó chính là yếu tố “kéo” đối

với du khách

Yoon (2002) đã nghiên cứu cấu trúc mô

hình cạnh tranh điểm đến du lịch từ các yếu tố

nhằm kiểm tra thực nghiệm sự tương tác của các

mốiquan hệ: 1/ Nhận thức tác động phát triển du

lịch; 2/ Thái độ đối với vấn đề môi trường; 3/ Gắn

kết địa điểm tham quan; 4/ Ưu tiên phát triển các

yếu tố phát triểndu lịch; 5/ Hỗ trợ cho chiến lược

cạnh tranh điểm đến.Phạm vi của nghiên cứu này

là các điểm đến du lịchvà cộng đồng ở Virginia,

nơi có nhiều sản phẩm, địa điểm du lịch nhân

tạo cũng như văn hóa tự nhiên Các nguyên tắc

định hướng của nghiên cứu này là năng lực cạnh

tranh điểm đến có thể được cải thiện bằng sự kết

hợp phù hợp giữa các địa điểm, nguồn lực du lịch

vàcác chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến

Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các hòn đảo du lịch nhỏ đang phát triển tại Mỹ của Craigwell and More (2008) đã xác định yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của điểm đến này Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 45 hòn đảo nhỏ và đưa ra mô hình nghiên cứu dựa trên các chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của tổ chức

du lịch thế giới Kết quả nghiên cứu cho thấy, năng lực cạnh tranh của các hòn đảo du lịch nhỏ đang phát triển tại Mỹ bị ảnh hưởng bởi: 1/ Cạnh tranh về giá cả; 2/ Nhân lực du lịch; 3/ Cơ sở hạ tầng; 4/ Môi trường; 5/ Công nghệ; 6/ Sự cởi mở; 7/ Các khía cạnh xã hội

Tác giả Bùi Thị Tám, Mai Lệ Quyên (2012)

đã đánh giá khả năng thu hút du khách của điểm đến Huế Nghiên cứu này đã phân tích khả năng thu hút du khách của điểm đến Huế trên cơ sở ý kiến đánh giá của cả phía cung và cầu Kết quả nghiên cứu chỉ ra, mặc dù các yếu tố tài nguyên

du lịch của Huế được đánh giá tương đối nổi trội, yếu tố sản phẩm và dịch vụ cơ bản vẫn chưa tạo cơ hội lựa chọn tốt nhất cho du khách và

do vậy hạn chế đến khả năng thu hút du khách của điểm đến Từ đó, các hàm ý quản lý và phát triển điểm đến Huế phải nhằm vào chiến lược phát triển sản phẩm, cải thiện và nâng cấp cơ sở

hạ tầng du lịch đáp ứng tốt hơn nhu cầu của du khách đến Huế

2.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Dựa trên mô hình năng lực cạnh tranh điểm đến của Ritchie và Crouch [5, tr 4] và các mô hình nghiên cứu liên quan, tác giả đề xuất mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh của điểm đến tại tỉnh Đồng Nai như sau hính 2:

Phương trình mô hình nghiên cứu đề xuất có dạng:

COMP = β0 + β1MAG+ β2RES + β3SER +

β4SAF+ β5PRI Trong đó: COMP: Năng lực cạnh tranh điểm đến; MAG: Hoạt động quản lý điểm đến; RES: Tài nguyên du lịch ; SER: Dịch vụ cung cấp; SAF: An ninh, an toàn điểm đến; PRI: Giá cả dịch vụ du lịch

Trang 4

2.3 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Dữ liệu nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là khách du lịch đã

từng trải nghiệm du lịch tại tỉnh Đồng Nai ít nhất

01 lần Thời gian khảo sát từ 10/06/2020 đến

15/08/2020 Bảng câu hỏi được xây dựng dựa

trên mô hình nghiên cứu đề nghị gồm 5 nhân tố

với 37 biến quan sát, sử dụng thang đo Likert 5

điểm Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được

sử dụng Số phiếu thu thập được là 400 phiếu,

sau khi nhập dữ liệu và làm sạch (loại bỏ phiếu

không có phương án trả lời hoặc trả lời thiếu) thì

số lượng phiếu phù hợp cho nghiên cứu là 350

phiếu

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử

dụng phương

pháp nghiên

cứu định tính và

định lượng để

giải quyết mục

tiêu nghiên cứu

đề ra

Nghiên cứu

định tính: Đây là

bước nghiên cứu

sơ bộ được thực

hiện với kỹ thuật

thảo luận nhóm

và phỏng vấn

thử, mục đích

nhằm điều chỉnh và bổ sung thang đo

Nghiên cứu định lượng: Đây là bước nghiên

cứu chính thức được thực hiện với kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp thông qua phiếu khảo sát để thu thập thông tin từ du khách Số liệu thu thập được sẽ

xử lý bằng phần mềm SPSS Thang đo sau khi đánh giá bằng phương pháp hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi qui tuyến tính, thống kê

mô tả được sử dụng để kiểm định mô hình nghiên cứu

2.4 Kết quả và thảo luận

2.4.1 Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha

Các thang đo được đánh giá độ tin cậy thông qua hệ số Cronbach’s Alpha để loại những biến rác Sau khi loại trừ biến MAG4, MAG5, RES6, RES7, SER1, SER5, SER6, SAF3, SAF4, PRI1, PRI3, PRI7 vì hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0,3, tất cả các thang đo đều có sự tin cậy tương đối cao, đạt yêu cầu về độ tin cậy (≥0,7) và hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3

(Nguồn: Tính toán của tác giả năm 2020) 2.4.2 Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA)

Thang đo lường

Số biến quan sát

Cronbach’s Alpha

Trước khi kiểm định

Sau khi kiểm định

Biến quan sát loại trừ khỏi thang đo lường

1 Hoạt động quản lý

2 Tài nguyên du lịch 7 4 RES3, RES6, RES7 0,813

3 Dịch vụ cung cấp 9 6 SER1, SER5, SER6 0,789

4 An ninh, an toàn

5 Giá cả dịch vụ du

Bảng 1: Kết quả kiểm định tổng hợp độ tin cậy của thang đo

Trang 5

Bảng 2: Kết quả KMO và kiểm định Bartlett’s

Kaiser-Meyer-Olkin Measure of

Bartlett’s Test of

Sphericity Approx Chi-Square 3060,703

(Nguồn: Tính toán của tác giả năm 2020)

Sau khi loại bỏ lần lượt các biến SAF6, MAG7,

MAG8, RES4, PRI6,RES2 và MAG6ta có kết quả

như sau: EFA trích được 6 nhân tố tại Eigenvalue

là 1,135 và phương sai trích được 53,877% với

chỉ số KMO là 0,894 Ý nghĩa kiểm định Bartlett:

Sig = 0,000, thỏa mãn điều kiện Sig < 0,05 Như

vậy, việc phân tích nhân

tố là thích hợp Ngoài ra,

các biến quan sát đều có

hệ số tải nhân tố (Factor

loading) từ 0,5 trở lên

Việc phân tích EFA hoàn

tất vì đã đạt độ tin cậy về

mặt thống kê

Số nhân tố sau khi phân

tích EFA là 6 nhân tố Căn

cứ vào bản chất của các

biến cụ thể mà nhân tố

bao gồm sẽ tìm ra tên mới

cho nhân tố, tính chất này

được gọi là tính chất khám

phá, đó là một đặc trưng

nổi trội của EFA Tác giả

đặt tên cho các nhân tố

như sau:

Bảng 3: Kết quả đặt tên

nhân tố

Nhân

F1 Hoạt động quản lý điểm đến 16,567

F3 Tài nguyên du lịch 10,354

F5 An ninh, an toàn điểm đến 5,629

F6 Giá cả dịch vụ du lịch 5,320

(Nguồn: Tính toán của tác giả năm 2020) 2.4.3 Kết quả phân tích hồi quy

Kết quả sau khi kiểm định mô hình bằng hồi quy đa biến: Sau khi loại bỏ nhân tố “Hoạt động quản lý điểm đến” vì giá trị Sig = 0,237 lớn hơn mức ý nghĩa 0,05, hệ số xác định là 0,653, nghĩa

là, mô hình có mức độ giải thích khá tốt, 5 nhân

tố còn lại trong mô hình giải thích 65,3% năng lực cạnh tranh điểm đến Đại lượng thống kê F

có giá trị 18,437 với Sig.=,000(a), các đại lượng thống kê t đều có giá trị P-value <0,05 Các kiểm định khác về mức độ phù hợp của mô hình như phương sai sai số không đổi, đa cộng tuyến, tự tương quan và phân phối chuẩn của phần dư đều đạt yêu cầu

Phương trình hồi quy như sau:

Năng lực cạnh tranh điểm đến=3,672 + 0,142F2 + 0,095F3 + 0,075F4 + 0,094F5 + 0,139F6 Kết quả phân tích hồi quy đa biến đã xác định năng lực cạnh tranh điểm đến tại tỉnh Đồng Nai chịu sự ảnh hưởng bởi 5 nhân tố theo thứ tự mức

độ ảnh hưởng từ cao đến thấp: 1/ “Cơ sở hạ tầng”; 2/ “Giá cả dịch vụ du lịch”; 3/ “Tài nguyên du lịch”; 4/ “An ninh, an toàn điểm đến”; 5/ “Dịch

vụ du lịch”

Hệ số chưa chuẩn hóa

Hệ số chuẩn hóa Giá trị t Mức ý nghĩa

Thống kê cộng tuyến

Hệ số phóng đại phương sai

(Hằng số) 3,672 0,026 145,9 0,000

F2 Cơ sở hạ tầng 0,142 0,026 0,266 5,594 0,000 1,000 1,000

F3 Tài nguyên du lịch 0,095 0,026 0,179 3,769 0,000 1,000 1,000

F4 Dịch vụ du lịch 0,075 0,026 0,143 3,011 0,003 1,000 1,000

F5 An ninh, an toàn điểm đến

0,094 0,026 0,177 3,730 0,000 1,000 1,000

F6 Giá cả dịch vụ du lịch 0,139 0,026 0,260 5,463 0,000 1,000 1,000

Ghi chú: a Biến phụ thuộc: Sự lựa chọn

(Nguồn: Tính toán của tác giả năm 2020)

Bảng 4: Các thông số của từng nhân tố trong phương trình hồi quy a

Trang 6

2.4.4 Kết quả thống kê mô tả

Qua phân tích cho thấy số liệu thể hiện như

sau (xem biểu đồ 1)

Biểu đồ 1: Kết quả phân tích thống kê mô tả

(Nguồn: Tính toán của tác giả năm 2020)

Kết quả đánh giá của du khách về từng nội

dung trong từng nhân tố cho thấy, hầu như du

khách đều hài lòng từ mức trung bình trở lên (biểu

đồ 1) Đánh giá thấp nhất của du khách là những

điểm yếu, những điều mà ngành du lịch tỉnh Đồng

Nai chưa đáp ứng được mong đợi của du khách

Cụ thể như sau: - Cơ sở hạ tầng chưa được nâng

cấp đồng bộ; - Nhiều rác thải nơi công cộng; - Các

khu mua sắm đặc thù dành cho du khách rất ít; -

Các loại hình vui chơi, giải trí còn hạn chế; - Nạn

chặt chém du khách vẫn còn hoành hành; - Tình

hình an ninh trật tự chưa quản lý tốt, đặc biệt ở các

ngày cao điểm

2.4.5 Một số hàm ý chính sách về nâng cao

năng lực cạnh tranh điểm đến tại tỉnh Đồng Nai

Để nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến tại

tỉnh Đồng Nai, căn cứ vào kết quả phân tích hồi

quy và thống kê mô tả, tác giả đưa ra một số hàm

ý chính sách như sau: - Các đơn vị kinh doanh du

lịch cần có sự liên kết hợp tác chặt chẽ với nhau

để xây dựng sản phẩm du lịch mới, sự kiện du lịch

hoặc các tuyến du lịch liên hoàn, chuỗi sản phẩm

du lịch để cùng khai thác, chia sẻ thị trường du

lịch; - Xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng,

có chất lượng cao với mức giá phù hợp đặc biệt là

du lịch núi - sông hồ Theo đó, triển khai phát triển

du lịch đường sông để phát huy lợi thế về tự nhiên

và thu hút du khách; - Sử dụng các ứng dụng công

nghệ và thương mại điện tử để tiếp cận khách hàng,

quảng bá tích hợp toàn ngành và bám sát phản hồi

của thị trường; tích hợp và minh bạch thông tin về

điểm đến, lưu trú, lữ hành, giá cả và nguồn nhân lực, chất lượng phục vụ du lịch bằng dữ liệu giám sát thường xuyên; - Xây dựng môi trường du lịch văn minh, thân thiện và an toàn Thực hiện chiến dịch truyền thông trong cộng đồng, nâng cao nhận thức của cộng đồng xã hội về môi trường và phát triển du lịch; - Đẩy mạnh hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch và đào tạo đội ngũ nhân lực ngành du lịch; - Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch

có chất lượng nhằm bảo đảm tính chuyên nghiệp trong việc phục vụ khách du lịch

3 Kết luận

Kết quả nghiên cứu giúp Sở Văn hóa, Thể thao

và Du lịch Tỉnh có cái nhìn khách quan về yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh điểm đến tại đây Mặc dù tác giả đã nỗ lực để thực hiện nghiên cứu, tuy nhiên trong quá trình thực hiện nghiên cứu không tránh khỏi những hạn chế xuất phát từ các nguyên nhân khách quan và chủ quan Thứ nhất, cỡ mẫu nghiên cứu còn hạn chế; Thứ hai, phương pháp chọn mẫu có tính đại diện chưa cao

và số du khách đánh giá bảng câu hỏi khảo sát ở khu vực miền Trung và miền Bắc rất ít Những hạn chế của nghiên cứu chính là định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo trong tương lai

Tài liệu tham khảo

1 Diễn đàn cấp cao Du lịch Việt Nam lần 2, Để

du lịch Việt Nam thực sự cất cánh, Tạp chí Thông

tin đối ngoại, ngày 9 tháng 12 năm 2019 Link: http://tapchithongtindoingoai.vn/kinh-te-dau-tu/ ban-giai-phap-de-nang-cao-nang-luc-canh-tranh-cua-du-lich-viet-nam-29797

2 Ngô Thị Diệu An, Nguyễn Thị Oanh Kiều,

Giáo trình Tổng quan du lịch, Tài liệu của Trường

Cao đẳng Thương mại Đà Nẵng, 2014

3 Quốc hội, Luật Du lịch, Luật số : 09/2017/

QH14 ngày 19/6/2017

4 Salah S Hassan Determinants of Market Competitiveness in an Environmentally Sustainable Tourism Industry Journal of Travel

Research 38(3), 2000, pp 239-245

5 Ritchie, JRB and Crouch & G.I., The competitive destination, a sustainable perspective

Tourism Management, No 21(1), 2000, pp 1-7

Ngày đăng: 15/03/2022, 10:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w