1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề chung về kinh tế tri thức và đặc trưng trong giai đoạn hiện nay

5 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 328,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bước vào thế kỷ XXI, dưới tác động bởi sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ mà nổi bật là công nghệ thông tin, môi trường kinh tế và xã hội đã có những biến đổi căn bản, đưa nhân loại từ thời đại kinh tế tài nguyên sang thời đại kinh tế tri thức (KTTT). KTTT xuất hiện với tính cách một thời đại kinh tế mới, với một nguyên lý sáng tạo của cải hoàn toàn khác với các thời đại kinh tế nông nghiệp hoặc công nghiệp trước đó.

Trang 1

1 Đặt vấn đề

Bước vào thế kỷ XXI, dưới tác động bởi sự

phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ

mà nổi bật là công nghệ thông tin, môi trường kinh

tế và xã hội đã có những biến đổi căn bản, đưa

nhân loại từ thời đại kinh tế tài nguyên sang thời

đại kinh tế tri thức (KTTT) KTTT xuất hiện với

tính cách một thời đại kinh tế mới, với một nguyên

lý sáng tạo của cải hoàn toàn khác với các thời đại

kinh tế nông nghiệp hoặc công nghiệp trước đó

Trong nền KTTT, tri thức trở thành yếu tố năng

động nhất, “hạt nhân” quan trọng nhất trong các

yếu tố sản xuất, tạo mối liên kết, tổ chức và thúc

đẩy các yếu tố khác của quá trình sản xuất Do

đó, ai nắm được tri thức, sẽ chi phối nền kinh tế -

xã hội; quốc gia nào làm chủ tri thức sẽ trở thành

quốc gia thống trị kinh tế - chính trị toàn cầu

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Một số vấn đề chung về KTTT

Trong lịch sử sản xuất xã hội, kinh tế không

bao giờ tách khỏi tri thức, sự phát triển kinh tế

luôn gắn bó mật thiết với tri thức khoa học và kỹ

thuật Khoảng 2000 năm tr.CN, người Babylon đã phát minh ra kỹ thuật luyện thép và ngành chế tạo công cụ nông nghiệp phục vụ cho ngành trồng trọt

và chăn nuôi Trước đó, khoảng 3100 năm tr.CN người Ai Cập đã biết sáng chế ra hệ thống tưới tiêu nước phục vụ cho trồng trọt cây lương thực

và cây công nghiệp; từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI tr.CN, hầu hết các quốc gia cổ đại đã biết chế tạo các công cụ lao động bằng kim loại để mở rộng sản xuất Tuy vậy, suốt nhiều nghìn năm của nền kinh tế nông nghiệp, khoa học - kỹ thuật của loài người chỉ ở dạng sơ khai, khá lạc hậu; vốn tri thức của con người rất ít; giáo dục chủ yếu hướng đến việc thiết lập uy quyền, kỷ cương, trật tự xã hội và chỉ được giới hạn trong số ít người có địa vị Chỉ

từ thế kỷ XVII, bắt đầu của thời kỳ các cuộc cách mạng trong lĩnh vực tư liệu sản xuất, tri thức mới được phổ biến và được vật hóa vào công cụ sản xuất, vào phương pháp sản xuất và sản phẩm, giáo dục được phổ cập rộng rãi hơn trong dân chúng

Bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần

thứ ba (từ 1969), con người phát minh ra bóng

bán dẫn, điện tử, kết nối thế giới, liên lạc được với nhau, báo hiệu một thời đại kinh tế mới - thời đại KTTT Hiện tại, loài người đang ở giai đoạn

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH TẾ TRI THỨC

VÀ ĐẶC TRƯNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Nguyễn Thị Thu Trang*

ABSTRACT

The emergence of knowledge economy has opened a new economic era - the age of knowledge economy, under the impact of the stormy advances of science and technology, but notably information technology, the environment of economic and social , constituting an age of wealth creation completely different from the previous economic eras It requires that each country, the nation that wants to survive must actively and take the initiativeto integrateinto the global economy, otherwise it will be marginalized in the general development process Implying thatin inevitable development withthe volatile and complex of environment, require each person to change themselves to have a new vision, new thinking and intelligence to adapt to the demands of the new era

Keywords : Characteristic, economic, knowledge, today.

Ngày nhận bài: 2/04/2021; Ngày phản biện: 15/05/2021; Ngày duyệt đăng: 25/05/2021.

* ThS Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm TP Hồ

Chí Minh

Trang 2

đầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Cuộc cách mạng 4.0 bắt đầu vào thời điểm chuyển

giao sang thế kỷ XXI, máy tính và mạng internet

kết nối vạn vật tạo ra một cuộc cách mạng trong

việc lưu giữ, trao đổi, chuyển giao, chia sẻ, tiếp

cận thông tin và nguồn tri thức không giới hạn

Công nghệ gen cho phép con người can thiệp trực

tiếp vào các quá trình di truyền sinh học, tạo ra

một nguyên lý khác để tổ chức các hoạt động trồng

trọt, chăn nuôi, phòng chữa bệnh Công nghệ

nano làm cho việc chế tạo các sản phẩm vật chất

đa dạng, đỡ tốn kém, sử dụng ít tài nguyên, thân

thiện với môi trường, đồng thời có nhiều tính năng

ưu việt hơn hẳn so với các sản phẩm sản xuất ra

theo lối thông thường Công nghệ AI cho phép ghi

nhớ và học hỏi không giới hạn, trong khi khả năng

này ở con người càng già, càng yếu đi; khả năng

làm việc 24 giờ một ngày, đem lại hiệu quả kinh

tế và năng suất lao động cực lớn trong khi chi phí

lại rất thấp…

Vào năm 1996, Tổ chức Hợp tác và Phát triển

kinh tế OECD đã công bố báo cáo về một nền kinh

tế lấy tri thức làm cơ sở, làm nổi bật lên xu thế

phát triển mới của nền kinh tế Kể từ đây, thuật

ngữ: “kinh tế tri thức” đã nhanh chóng lan rộng

khắp thế giới Vào những năm đầu của thế kỷ XXI,

nhiều quốc gia đã đưa ra chiến lược xây dựng và

phát triển đất nước theo tiêu thức của nền KTTT,

điều này chứng tỏ KTTT là xu thế phát triển tất

yếu của thời đại, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu

hóa hiện nay

Ngày nay, khái niệm “KTTT” hay “nền KTTT”

được đề cập đến khá nhiều dưới những cách diễn

đạt khác nhau Trong tác phẩm “Làn sóng thứ ba”,

viết vào đầu năm 1980, Alvin Toffler, nhà Tương

lai học Hoa Kỳ, gọi đó là kinh tế hậu công nghiệp

Năm 1982, nhà kinh tế học J.Naisbitt, đưa ra khái

niệm “kinh tế thông tin” Cũng vào những năm

này, các nhà kinh tế Anh đã gọi là nền “kinh tế

kỹ thuật cao” Thuật ngữ “KTTT” xuất hiện muộn

hơn, vào những năm đầu của thế kỷ XXI Theo Tổ

chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, OECD, KTTT

“Là nền kinh tế dựa trực tiếp vào việc tạo ra, phân

phối và sử dụng tri thức và thông tin” [1] Còn Tổ

chức Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương,

APEC, định nghĩa KTTT “Là nền kinh tế trong đó

việc tạo ra, truyền bá và sử dụng tri thức là động lực chủ yếu của sự tăng trưởng, của quá trình tạo ra của cải và việc làm trong tất cả các ngành kinh tế” [2] Học giả Trung Quốc Ngô Quý Tùng thì khẳng định: “KTTT là nền kinh tế mà trong đó nhân tố quan trọng nhất là việc chiếm hữu, phân phối trí lực và việc sáng tạo, phân phối, sử dụng tri thức trong các ngành sản xuất có hàm lượng khoa học

kỹ thuật cao” [3, tr 34] Tuy chưa chính thức đưa

ra định nghĩa nhưng mới đây, trong Văn kiện Đại hội XI, Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh đến

xu hướng của nền kinh tế tương lai, đó là: kinh tế

mà sự phát triển của nó dựa chủ yếu vào tri thức, trên nền tảng tri thức; tri thức chiếm tỉ trọng lớn trong giá trị sản phẩm xã hội [4, tr.153],…

Sức mạnh của nền KTTT dựa vào ba loại hình

công nghệ mang ý nghĩa trụ cột, điển hình:- Công

nghệ sinh học, bao gồm cả công nghệ gen: Bằng công nghệ sinh học, con người có thể cải tạo được những yếu tố cơ bản của thế giới hữu cơ nhằm tạo

ra những giống cây trồng và vất nuôi đem lại năng

suất và chất lượng cao; - Công nghệ nano: Dựa

trên những thành quả của việc sắp sếp lại cấu trúc nguyên tử, thông qua đó con người có thể tác động

cả vào bản chất của thế giới vô cơ: - Công nghệ tin

học, thông tin (ICT) với các siêu máy tính: Công nghệ tin học chính là công nghệ trí tuệ điển hình Con người nhờ vào đó tổ chức quản lý, điều hành

và thực hiện các quy trình sản xuất hết sức tinh

vi, phức tạp mà con người không thể nào thực hiện nổi, thậm chí không nghĩ tới quá khứ tồn tại của mình Cũng nhờ có công nghệ tin học mà con người có thể làm phong phú lên gấp nhiều lần các mối quan hệ trong đời sống xã hội, giữa con người với con người

Như vậy, KTTT thể hiện ở trình độ cao của nền kinh tế thế giới Đó là một giai đoạn mà tri thức, thông tin trở thành yếu tố quyết định nhất đối với

sự phát triển của sản xuất; khoa học và công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và đóng vai trò quyết định hàng đầu Đây là thời kỳ mà tri thức

và khả năng sáng tạo của con người trở thành yếu

tố quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất cũng như của xã hội loài người nói chung

Trang 3

2.2 Đặc trưng cơ bản của KTTT

2.2.1 Nền kinh tế mà sự phát triển chủ yếu dựa

vào tri thức, lấy tri thức làm cơ sở

Đây có thể được coi là đặc trưng tiêu biểu nhất,

khu biệt với các nền kinh tế khác Nền KTTT, lấy

tri thức, trí tuệ làm yếu tố then chốt cho mục tiêu

phát triển Trong nền KTTT, tri thức, trí tuệ con

người và kỹ năng lao động trở thành lợi thế phát

triển lớn nhất, quyết định nhất Khoa học - công

nghệ được thừa nhận là lực lượng sản xuất trực

tiếp và quyết định tiến trình phát triển kinh tế Việc

tạo ra của cải và nâng cao năng lực cạnh tranh của

nền kinh tế chủ yếu dựa vào sử dụng tri thức mới,

công nghệ mới Hoạt động quan trọng nhất trong

nền KTTT là việc tiếp nhận, sáng tạo, quảng bá và

sử dụng tri thức mới trong tất cả các ngành, lĩnh

vực kinh tế - xã hội

Quyền sở hữu đối với tri thức trở thành quan

trọng nhất, hơn cả vốn, tài nguyên, đất đai Ai

chiếm hữu được nhiều tài sản trí tuệ hơn, người ấy

sẽ chiến thắng trong cuộc đua giành lợi thế, quốc

gia nào sở hữu nguồn trí tuệ lớn, quốc gia đó nắm

quyền chi phối nền kinh tế toàn cầu Pháp luật về

sở hữu trí tuệ do đó, trở thành nội dung chủ yếu

trong quan hệ dân sự cũng như trong thương mại

toàn cầu

2.2.2 Kinh tế tri thức mang tính toàn cầu hóa

Nền kinh tế mở, ở đó, tri thức và tài năng là

những “hàng hóa” không thể giam hãm hay đóng

kín mà có sự trao đổi, mua - bán; sự di chuyển chất

xám và các công trình nghiên cứu quốc tế cũng

có tính chất xuyên biên giới thông qua sự hợp tác

giữa các nhà nghiên cứu của nhiều quốc gia khác

nhau Khác với các thời đại kinh tế trước đó, nền

KTTT lấy vốn nhân lực của quốc gia là phần chủ

yếu nhất tạo nên sự phồn vinh của các quốc gia

Con đường đi tới thành công cho quốc gia và cá

nhân cuối cùng chính là sự đầu tư vào vốn nhân

lực Do đó, nếu như giới hạn thương mại gây thiệt

hại cho người tiêu dùng cũng như cản trở tính sáng

tạo kinh tế thì đóng cửa đối với dòng chảy tự do

của con người và ý tưởng là cản trở sự tạo ra tri

thức vốn là huyết mạch của những thành công

kinh tế

Toàn cầu hóa trong bối cảnh cách mạng đại

nhảy vọt của khoa học và công nghệ đã làm bùng

nổ thương mại quốc tế với những dòng vốn khổng

lồ Đồng thời, những luồng thông tin cực kỳ phong phú với giá khá rẻ từng giờ, từng phút đang xuyên thủng biên giới các quốc gia; mặt khác nữa là một thị trường cao cấp để mua bán chất xám mà hình thức trực quan nhất là các hợp đồng chuyển giao công nghệ ngày càng nhộn nhịp tạo thuận lợi cho

sự phát triển nhanh KTTT ở các nước, nhất là các quốc gia còn lạc hậu theo mô hình công nghiệp dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ, đồng thời cũng đặt nhiều thách thức, rủi ro

Sự chênh lệch giàu - nghèo hiện nay chủ yếu đến

từ khoảng cách tri thức Những quốc gia vốn đã giàu có lại càng thịnh vượng hơn trong cuộc cạnh tranh này Tất nhiên, các quốc gia đang trên đường phát triển nếu biết cách khai thác những lợi thế do toàn cầu hóa, đặc biệt là toàn cầu hóa tri thức mang lại sẽ rút ngắn được khoảng cách tụt hậu, bứt phá

để vươn lên

2.2.3 Công nghệ thông tin, truyền thông được ứng dụng rộng rãi và đóng vai trò đặc biệt quan trọng

Trong KTTT, công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, trở thành nhân

tố quan trọng, là cầu nối trao đổi giữa các thành phần của xã hội toàn cầu, của mọi vấn đề Hầu hết các hoạt động kinh tế - xã hội đều dựa trên cơ

sở của công nghệ thông tin và truyền thông thông qua mạng thông tin điện tử, đều được tin học hóa, hay số hóa Công nghệ thông tin và truyền thông không chỉ là một lĩnh vực khoa học - công nghệ, một ngành kinh tế - kỹ thuật mà trở thành phương tiện chủ yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, động lực quan trọng cho

sự phát triển của tất cả các ngành, lĩnh vực Xã hội thông tin là tiền đề cho nền KTTT Thương mại điện tử, chính phủ điện tử, làm việc từ xa, các văn phòng ảo, tổ chức ảo, chữa bệnh trên mạng (chữa bệnh từ xa), giáo dục từ xa, đang làm thay đổi hết sức sâu sắc cách thức sản xuất kinh doanh, tổ chức quản lý theo hướng tăng tốc độ, năng suất, chất lượng và hiệu quả Mạng Internet làm cho thế giới xích lại, ngày càng trở lên nhỏ bé Tri thức

và thông tin không biên giới làm cho hoạt động

Trang 4

kinh tế vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và trở thành

hoạt động liên kết mang tính toàn cầu Trong một

“xã hội mạng”, các hoạt động sản xuất kinh doanh

ngày càng sôi động, nhanh nhạy, quan hệ giữa sản

xuất và tiêu dùng trực tiếp hơn, có thể dễ dàng

thực hiện sản xuất theo đơn đặt hàng; hình thức

tổ chức sản xuất trở lên linh hoạt, cơ động hơn; sự

liên kết giữa các doanh nghiệp, giữa sản xuất với

cung ứng nguyên liệu, với thị trường tiêu thụ trở

lên chặt chẽ, gắn bó hơn Chi phí giao dịch sẽ giảm

đi rất nhiều do thương mại điện tử có khả năng

kết nối trực tiếp giữa người sản xuất và người tiêu

dùng, dẫn đến giảm thiểu nhiều khâu trung gian

giữa các bên mua và bán Kết quả quan trọng nhất

của việc phát triển thương mại điện tử là sự hạ thấp

những rào chắn và chi phí đi vào thị trường Trong

thời đại tri thức, thông tin trở thành tài nguyên

quan trọng nhất của nền kinh tế.Như vậy, công

nghệ thông tin có vai trò quan trọng đối với sự phát

triển của xã hội hiện đại, là một trong những động

lực quan trọng bậc nhất của sự phát triển, cùng với

một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến

đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, thúc

đẩy tăng trưởng kinh tế và kích thích tăng lực đổi

mới đối với nền kinh tế toàn cầu nói chung và của

từng quốc gia nói riêng

2.2.4 Sản xuất công nghệ trở thành loại hình

sản xuất quan trọng bậc nhất của nền kinh tế

Sản xuất công nghệ cao trở thành ngành sản

xuất tối quan trọng Công nghệ cao xuất phát từ tri

thức khoa học, là thành tựu của cuộc cách mạng

khoa học - công nghệ hiện đại Công nghệ cao

cho phép sản xuất các sản phẩm có tính năng hoàn

toàn mới, chưa có trước đây và không thể thay thế

được Khoa học, công nghệ được coi là lực lượng

sản xuất trực tiếp, là yếu tố quan trọng và có ý

nghĩa quyết định sự phát triển của kinh tế - xã hội,

không giản đơn chỉ với nghĩa là khoa học tham gia

vào quá trình sản xuất bằng việc tạo ra công nghệ,

đề ra và xây dựng phương pháp tổ chức và quản

lý để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng

suất lao động, chất lượng và hiệu quả của sản xuất,

trong nền KTTT, khoa học trở thành lực lượng

sản xuất trực tiếp còn với nghĩa là khoa học có

thể trực tiếp làm ra sản phẩm khoa học và là một

trong những thành tố cấu thành không thể thiếu của lực lượng sản xuất hiện đại Ở nhiều nước, nhất là các nước công nghiệp phát triển,do nhu cầu khách quan đã xuất hiện các “công viên khoa học”, “thành phố khoa học”, các “khu công nghệ cao” nhằm tạo ra môi trường, điều kiện thuận lợi để khoa học, công nghệ và cơ sở sản xuất gắn kết chặt chẽ với nhau, tạo nên một “cơ thể” thống nhất Đặc biệt, công nghệ cao đòi hỏi tư duy và nhận thức ở trình độ cao của người sáng tạo và

sử dụng nó Khu công nghệ cao là nơi biến các tri thức mới, phát triển khoa học mới thành công nghệ và sản phẩm Đó là hạt nhân của KTTT

2.2.5 Sáng tạo là động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội

Trong nền KTTT, chính sách và ý tưởng đổi mới, phát triển công nghệ mới trở thành chìa khóa cho việc tạo ra việc làm mới và nâng cao chất lượng cuộc sống Sáng tạo là một phẩm chất của con người, trong đó, con người thông qua hoạt động sống để tạo nên những giá trị tinh thần, giá trị vật chất có tính mới về chất đối với nhu cầu và lợi ích của sự phát triển xã hội Bản chất con người vốn có khả năng sáng tạo và trong thời đại tri thức, sáng tạo tri thức là động lực tối ưu nhất cho sự phát triển bền vững

Tuy nhiên, phẩm chất sáng tạo của con người lại được bắt nguồn từ chính nhu cầu sinh tồn của

họ, do đó, để cái mới luôn được nảy nở và phát huy, cần một chính sách kích thích mạnh vào tính tích cực, sáng tạo của con người Khác biệt giữa tri thức với các nguồn vốn khác là nó chịu sự khống chế hoàn toàn của người có nó, người khác không thể dịch chuyển nó một cách tùy tiện Chính ở đây, một chế độ sở hữu tài sản tri thức phù hợp, đảm bảo nguyên tắc lợi ích cùng hưởng, cùng chịu giữa bên cung ứng và người thụ hưởng sản phẩm trí tuệ cần được tôn trọng

2.2.6 Kinh tế tri thức thúc đẩy dân chủ hóa

Trong nền KTTT, mọi người đều dễ dàng truy cập đến các thông tin cần thiết, mở ra khả năng thực tế cho quá trình dân chủ hóa trên mọi lĩnh vực, nhất là trong việc tiếp cận và tiếp nhận các công nghệ mới, thậm chí là cả công nghệ hiện đại nhất

Trang 5

Dân chủ hóa trong lĩnh vực công nghệ là nét

nổi bật của kinh tế thông tin Chính những thành

tựu của khoa học và công nghệ đã tạo điều kiện

cho quá trình dân chủ hóa trong lĩnh vực này, nhờ

đó các nước chưa đủ khả năng phát minh có cơ

hội đón nhận được lực công nghệ tân tiến Sự xuất

hiện của công nghệ thông tin hiện đại như vệ tinh,

truyền hình cáp, truyền hình qua vệ tinh cùng với

các thiết bị thu hiện đại cực nhạy nhưng lại hết sức

gọn nhẹ, Internet, đặc biệt là Internet băng rộng,

đã làm cho quá trình dân chủ hóa mang tính chất

của một bước ngoặt thực sự trong đời sống xã hội

Với các phương tiện truyền thông cực kỳ chính

xác, nhanh chóng và hữu hiệu này, mọi người, dù

sống ở nơi thị thành, chốn thôn quê hay ở những

vùng núi rừng heo hút, về nguyên tắc, đều có thể

cùng một lúc biết được những sự kiện nóng hổi

vừa xảy ra hoặc đang tiếp diễn, tại một địa điểm xa

xôi bất kỳ nào đó trên hành tinh

Dân chủ hóa thông tin thông qua các phương

tiện truyền thông hiện đại trên không chỉ đem lại

cho con người những kiến thức và tin tức mới nhất

có thể chưa kịp cập nhật trong các sách báo viết,

cho phép người ta trao đổi, thảo luận, tranh luận,

trình bày chính kiến của mỗi người về tất cả các

vấn đề, kể cả những vấn đề nhạy cảm nhất, đang

được quan tâm mà còn không cho phép các hành

vi bưng bít thông tin, không minh bạch, che giấu

những hành động sai trái, những tội ác chống lại

con người và loài người Dân chủ hóa thông tin, vì

vậy cũng góp phần không nhỏ vào quá trình dân

chủ hóa kinh tế, dân chủ hóa quyền lực, dân chủ

hóa việc hoạch định chính sách và góp phần làm

trong sạch nền hành chính quốc gia Quyền lực và

sức mạnh thông tin thậm chí có thể trở thành sức

mạnh chính trị, làm khuynh đảo cả một chế độ hay

một tập đoàn cầm quyền

3 Kết luận

Nền KTTT là nền kinh tế chủ yếu dựa trên cơ sở

tri thức, khoa học; dựa trên việc tạo ra và sử dụng tri

thức, phản ánh sự phát triển của lực lượng sản xuất

ở trình độ cao Trong môi trường đó, tri thức tất yếu

trở thành yếu tố sản xuất quan trọng nhất, đóng góp

vào phát triển kinh tế - xã hội KTTT là nền kinh tế

trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức

giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống Ngày nay, loài người đang bước vào một thời đại kinh tế mới lấy việc chi phối, chiếm hữu nguồn tài nguyên trí lực và sử dụng, phân phối, sản xuất tri thức làm nhân tố chủ yếu Tri thức trở thành một nhân tố sản xuất quan trọng nhất, thức đẩy vai trò của đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động giá rẻ xuống hàng thứ hai

Tài liệu tham khảo

1 Organization for Economy Cooperation and

Development (OECD), (2001) “The new economy:

Beyond the hype” (Nền kinh tế mới: Vượt lên trên

sự cường điệu), Final report on the OECD Growth

2 Asia-Pacific Economic Cooperation (APEC),

(2000) “Towards knowledge-based economies in

APEC” (Hướng tới các nền kinh tế dựa trên tri

thức trong APEC), APEC Economic Committee

Report, 11.2000.

3 Ngô Quý Tùng (2000), Kinh tế tri thức - xu

thế mới của xã hội thế kỷ XXI, NXB Chính trị

Quốc gia, Hà Nội

4 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính

trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội

5 Bùi Thị Kim Hậu (2012), Trí thức hóa công

nhân Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

6 Phan Thị Hiên (2016), Tư tưởng chính trị

Montesquieu và những vấn đề đặt ra đối với thực tiễn chính trị ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia

- Sự thật, Hà Nội

7 Nguyễn Đắc Hưng (2005), Trí thức Việt Nam

trước yêu cầu phát triển đất nước, NXB Chính trị

Quốc gia, Hà Nội

8 Bùi Thị Ngọc Lan (2002), Nguồn lực trí tuệ

trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, NXB Chính

trị Quốc gia, Hà Nội

9 Đặng Mộng Lân (2002), Kinh tế tri thức và

những vấn đề cơ bản, NXB Thanh niên, Hà Nội.

10 Ban Chấp hành Trung ương (2008), Nghị

quyết số 27-NQ/TW, ngày 6/8/2008 về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Hà Nội.

Ngày đăng: 15/03/2022, 10:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w