Quyền con người là những nhu cầu lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được được công nhân, tôn trọng và bảo vệ trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và được cụ t
Trang 1BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA PHẠM NHÂN NỮ TRONG PHÁP LUẬT
VIỆT NAM
2
THỰC TIỄN THỰC THI QUYỀN CON NGƯỜI CỦA PHẠM
NỘI DUNG CHÍNH
Trang 2Pháp luật về bảo vệ quyền của phạm nhân nữ trong Luật thi hành án Hình sự Việt Nam
9 Nguyễn Thị Huyền Dịu
10 Lê Văn Long
11 Trần Thu Huyền
Trang 3Quyền con người là những nhu cầu lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được được công nhân, tôn
trọng và bảo vệ trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và được cụ thể hóa trong văn bản pháp luật quốc gia
và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.
Khái niệm Quyền con người?
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON
NGƯỜI CỦA PHẠM NHÂN NỮ
Trang 4Phạm nhân nữ là đối tượng mang
đầy đủ các đặc điểm của phạm
nhân nói chung thức là người
phạm tội đang chấp hành án phạt
tù có thời giạn hoặc tù chung thân
nhưng được dựa vào tiêu chí giới
tính để phân biệt họ với nhóm
phạm nhân nam.
Thứ nhất, là người có giới tính nữ được thể hiện trong những tài liệu về nhân thân có giá trị pháp lý như giấy khai sinh, số hộ khẩu, căn cước công dân
Thứ hai, về đặc điểm tâm lý – xã hội, phạm nhân nữ thường gặp nhiều khủng hoảng tâm lý hơn so với phạm nhân nam do bị cách ly khỏi gia đình, cộng đồng
Thứ ba, về đặc thù sinh học của phạm nhân nữ, họ có những vấn đề sức khỏe về sinh sản, sinh lý, bệnh lý chỉ có ở phụ nữ
Trang 5Chủ thể của quy định Phụ nữ mang thai và
nuôi con dưới 36 tháng tuổi
2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật thi hành án hình sự
Hoàn thiện quy định về quyền bất khả xâm
phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm
• Cần sửa đổi, bổ sung lại: “phụ nữ có thai hoặc người
trực tiếp nuôi trẻ em dưới 36 tháng tuổi”
• Trường hợp thai nhi chết trước khi sinh ra, thì hoãn đến
đủ (06 tháng) kể từ ngày biết thai nhi chết; trường hợp
đứa trẻ chết trước khi đủ 36 tháng tuổi thì hoãn đến đủ
(ba tháng) kể từ khi đứa trẻ chết.
Đảm bảo quyền được liên lạc tiếp cận
thông tin của người bị kết án phạt tù
Hoàn thiện quy định pháp luật đảm bảo quyền
tự do, tín ngưỡng, tôn giáo của người bị kết án
Hoàn thiện quy định đảm bảo quyền khiếu nại của phạm nhân
Cải thiện năng lực và trách nhiệm cán bộ
trại giam Cải thiện điều kiện y tế và sức khoẻ sinh
sản
Trang 6Cơ sở pháp lý bảo đảm quyền
của phạm nhân nữ của Việt Nam
Hiến Pháp 2013
Hiến pháp năm 2013 đã
ghi nhận một cách trang
trọng, rõ ràng, khẳng
định của Nhà nước Việt
Nam trong việc bảo vệ và
thúc đẩy các quyền con
người, quyền công dân.
Bộ luật Hình sự 2015
và Bộ luật Tố tụng hình
sự 2015:
BLHS đặt ra cơ chế bảo vệ quyền của phạm nhân nữ thông qua việc quy định các tội phạm
và trình tự thủ tục để truy cứu TNHS đối với các cá xâm phạm những quyền của phạm nhân
Bộ luật dân sự 2015
và các văn bản hướng dẫn
Quy định về việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự Đặc biệt, BLDS đưa ra cơ chế khởi kiện yêu cầu bồi thường tổn thất thể chất, tinh thần khi bị
lợi hợp pháp của họ
Trang 7Khái niệm quyền con người của phạm
nhân nữ
Quyền con người của phạm nhân nữ là những nhu cầu, lợi ích
tự nhiên vốn có của phạm nhân mang giới tính nữ, gồm các
nhóm quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội dựa trên
những đặc điểm tâm sinh lý riêng bietj của họ mà không bị
trước bỏ bởi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa
án và được cơ quan, người có thẩm quyền trong quá trình thi
hành án tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ khi có bất cứ xâm phạm
nào.
Trang 8CHƯƠNG 2: BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA
PHẠM NHÂN NỮ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
SỐNG PHÙ HỢP CỦA NỮ PHẠM NHÂN; ĐƯỢC CHĂM SÓC SỨC KHỎE VÀ ĐẢM BẢO VỆ SINH CÁ NHÂN
Trang 9Quyền được bảo hộ tính
mạng, sức khỏe, tôn trọng
danh dự nhân phẩm
Luật THAHS khẳng định việc áp dụng hình phạt tù, cách ly người phạm tội khỏi xã hội nhằm mục đích cải tạo, giáo dục phạm nhân trở thành người có ích cho xã hội và tạo mọi điều kiện tái hoà nhập cộng đồng, không nhằm mục đích trừng phạt, đánh đập, xúc phạm hay khinh
bỉ họ
Cơ chế pháp luật cũng đặt ra các chế tài để xử lí bất cứ hành vi đối xử tàn
ác, tra tấn hay xúc phạm, chà đạp đến thân thể, danh dự, nhân phẩm của
nữ phạm nhân.
Trong thời gian bị giam tại buồng kỷ luật, không áp dụng cùm chân đối với phạm nhân nữ (khoản 2 điều 43 Luật THAHS)
Trang 10Quyền được bảo đảm về ăn, mặc, ở; được chăm sóc sức
khỏe và đảm bảo vệ sinh cá nhân.
Trang 11Điều kiện giam giữ và chế độ ở của phạm nhân nữ
• Phạm nhân được ở theo buồng giam tập thể
• Chỗ nằm tối thiểu của mỗi phạm nhân là 02 mét vuông (m2) Mỗi
chỗ nằm đều được xây dựng có bệ gạch men, ván sàn hoặc giường
như quy định chung đối với phạm nhân khác
• Phạm nhân nữ sẽ được bố trí khu giam giữ riêng tách biệt với
phạm nhân nam
• Cán bộ, chiến sĩ, nhân viên trại giam và người không có nhiệm vụ
là nam không được vào khu vực giam giữ, không được tiếp xúc với
phạm nhân nữ khi chưa được phép của Giám thị trại giam Nếu
việc tuần tra giám sát của trại giam phạm nhân nữ được thực hiện
bởi nam giới thì cứ 2 cán bộ nam có 1 cán bộ nữ đi cùng
• Viêc quản lý giáo dục cải tạo đối với phạm nhân nữ phải do cán bộ
• Đối với những trường hợp phạm nhân nữ có con theo mẹ vào trại giam thì phải có nhà trẻ riêng
Trang 12Chế độ
ăn của phạm nhân
Phạm nhân nữ còn được đáp
ứng những tiêu chuẩn riêng phục
vụ nhu cầu vệ sinh của phụ nữ
như: Phạm nhân nữ được cấp đồ
dùng cần thiết cho vệ sinh cá
nhân tương đương 02 kg gạo tẻ/
tại cơ sở y tế của trại giam, trại tạm giam hoặc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước nơi gần nhất.
• Tiền thuốc chữa bệnh thông thường cho phạm nhân được cấp tương đương 03 kg gạo tẻ/phạm nhân/tháng.
• Phạm nhân có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, có tiền sử nghiện ma túy và các chất kích thích; phạm nhân bị nhiễm HIV/AIDS, Lao, các bệnh truyền nhiễm và bệnh mạn tính khác sẽ nhận được các điều kiện chăm sóc y tế phù hợp.
Trang 13Quyền được phổ biến pháp
luật, giáo dục công dân;
phổ biến thời sự, chính
sách, pháp luật tham gia
hoạt động thể dục, thể thao,
sinh hoạt văn hóa, văn nghệ
Phạm nhân được phổ biến, học tập: Các quy định về chính sách, pháp luật Việt Nam và một số nội dung, giá trị đạo đức, kỹ năng sống Phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù được phổ biến, học tập: Các chính sách, quy định của pháp luật về tái hòa nhập cộng đồng, vay vốn sản xuất,
kinh doanh, định hướng nghề nghiệp, hỗ trợ tìm kiếm việc làm.
Ngoài thời gian lao động, học tập, phạm nhân được tham gia các hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, đọc sách, báo, nghe đài, xem truyền hình phù hợp với điều kiện thực
tế quản lý, giam giữ và lứa tuổi của phạm nhân Phạm nhân là người dưới 18 tuổi được tham gia các hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, đọc sách, báo, nghe đài, xem truyền hình phù hợp với lứa tuổi.
Trang 14Quyền được lao động, học tập, học nghề
• Phạm nhân được tổ chức lao động phù hợp với độ tuổi,
sức khỏe và đáp ứng yêu cầu quản lý, giáo dục, hòa nhập
cộng đồng Đặc biệt, do yếu tố về mặt sức khỏe, phạm
nhân nữ được bố trí làm công việc phù hợp với giới tính;
không được bố trí làm công việc không sử dụng lao động
nữ theo quy định của pháp luật về lao động
• Phạm nhân nói chung và phạm nhân nữ nói riêng được phổ biến pháp luật, giáo dục công dân và được học văn hóa, học nghề Phạm nhân chưa biết chữ phải học văn hóa
để xóa mù chữ
Trang 15Quyền của phạm nhân
nữ đang mang thai hoặc
nuôi con dưới 36 tháng
• Trường hợp phạm nhân nữ có thai không được tạm đình chỉ chấp hành án phạt
tù thì được bố trí chỗ nằm tối thiểu 03 m2/phạm nhân.
• Phạm nhân nữ sinh con trong trại giam được cấp 07 mét vải thường để làm tã lót
• Phạm nhân nữ có thai được bố trí nơi giam hợp lý, được khám thai định kỳ hoặc đột xuất, được chăm sóc y tế trong trường hợp cần thiết, được giảm thời gian lao động, được hưởng chế độ ăn, uống bảo đảm sức khỏe.
• Phạm nhân nữ có thai được nghỉ lao động trước và sau khi sinh con theo quy định của pháp luật về lao động Trong thời gian nghỉ sinh con, phạm nhân được bảo đảm tiêu chuẩn, định lượng ăn theo chỉ dẫn của y sỹ hoặc bác sỹ, được cấp phát thực phẩm, đồ dùng cần thiết cho việc chăm sóc trẻ sơ sinh.
Trang 16Chế độ đối với
phạm nhân nữ có thai, nuôi con dưới
Trang 17NHẬT BẢN
Đối xử trong nhà tù
• Việc khám xét cơ thể; cùm trong
khi sinh con; kỷ luật và hình phạt
đối với phụ nữ có con; biện pháp
trừng phạt đối với hành vi liên quan
đến sức khỏe tâm thần; từ chối tiếp
cận các dịch vụ sức khỏe tâm thần;
và việc từ chối chăm sóc y tế như
cấu thành hành vi tra tấn hoặc đối
xử tệ bạc với phụ nữ đối nơi giam
giữ và nhà tù phải được giải trình
• Khiếu nại được điều tra bởi những người có thẩm quyền và độc lập các cơ quan chức năng, với sự tôn trọng đầy
đủ đối với nguyên tắc bảo mật và tuân theo tính đến rủi ro bị trả thù
• Nhận được tư vấn y tế, tư vấn, sức khỏe thể chất và tinh thần thích hợp chăm sóc và trợ giúp pháp Lý
Các biện pháp khắc phục lạm
• Các tù nhân được phân biệt giới tính và
để phòng ngừa bạo lực tình dục của cán
bộ trại giam, tù nhân nữ không nên ở một mình với các cán bộ trại giam nam.
Trang 18• Điều 114 quy định về trường hợp ngoại lệ của phương pháp giam giữ: “bị cáo bị giam giữ mà
là phụ nữ mang thai hơn năm tháng tuổi hoặc đã sinh con chưa được hai tháng tuổi thì không
• Việc thi hành án tạm giam của phụ nữ có thai hoặc cho con bú được phép tạm thời thi hành án bên ngoài trại giam Nội dung này được quy đinh tại Điều 214 Bộ luật tố tụng hình sự Trung Quốc: “Phạm nhân bị kết án tù có thời hạn hoặc tạm gian, nếu có một trong những điều kiện sau, có thể được phép tạm thời thi hành án bên ngoài trại giam: (1) có bệnh nặng và cần được trả tự do có điều kiện để điều trị y tế; (2) Phụ nữ có thai hoặc đang cho con đẻ bú.”
Quy định của một số quốc gia
về bảo vệ quyền của người yếu
thế là phạm nhân nữ
Trung quốc
Trang 1901 Hiến chương Liên Hợp Quốc năm 1945 đã khẳng định ngay trong lời nói đầu về “…bình đẳng về quyền giữa phụ nữ và đàn ông…”
02
Công ước về các quyền chính trị của phụ nữ năm 1952; Công ước về quốc
tịch của phụ nữ khi kết hôn năm 1957; Công ước về đăng ký kết hôn, tuổi tối
thiểu khi kết hôn và việc kết hôn tự nguyện năm 1962, CCPR, ICESCR, 03
Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW) vào ngày 18/12/1979
04
Những quy tắc của Liên Hiệp Quốc trong việc đối xử đối với tù nhân nữ và
các biện pháp không giam giữ đối với nữ tội phạm (Nguyên Tắc Bangkok/
06
, “Quy tắc của Liên hợp quốc về Đối xử với nữ tù nhân và các biện pháp
không giam giữ đối với nữ phạm nhân”(Quy tắc Bangkok)
07
- Nghị quyết 70/175 của Đại hội đồng Liên hợp quốc, “Tiêu chuẩn của Liên hợp quốc Quy tắc tối thiểu đối xử với tù nhân” (Quy tắc Nelson Mandela) cung cấp các hướng dẫn toàn diện nhất về đối xử với tù nhân và ban đầu là được
thông qua vào năm 1955 và được Đại hội đồng cập nhật vào năm 2015.
Trang 20chính trước khi họ được phép nộp
đơn kiện lên tòa án liên bang để
phản đối việc lạm dụng tù nhân
• Các nạn nhân phải đáp ứng nghĩa
vụ chứng minh cực kỳ cao để chứng
minh cho một yêu cầu hợp hiến
• Khoảng 4% tù nhân tiểu bang và 3% liên bang đang mang thai tại thời
điểm nhập tù
• Trong số phụ nữ mang thai vào các nhà tù của bang, 94% được khám sản, tuy nhiên, chỉ 54% cho biết họ
đã được chăm sóc trước khi sinh
• Rất nhiều câu chuyện về cách đối xử không phù hợp với phụ nữ trong quá trình chuyển dạ và sinh nở, bao gồm
cả việc phụ nữ bị buộc phải sinh con trong khi bị cùm
• Khi những người phụ nữ bị giam giữ sinh con, họ gần như ngay lập tức bị tách khỏi đứa con mới sinh của họ
5 Mang thai và Sinh
Trang 21MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỰC
TIỄN THỰC THI QUYỀN
CỦA PHẠM NHÂN TẠI
HOA KÌ
2 Lạm dụng chất gây nghiện
3 Điều kiện chăm sóc sức khoẻ:
• Sức khỏe tâm thần của phạm nhân
Một số phụ nữ mang các vấn đề sức khỏe tâm thần của họ vào nhà tù trong khi những phụ nữ khác phát triển các vấn đề sức khỏe tâm thần do bị giam giữ
là một vấn đề nghiêm trọng đối với phụ nữ trong các nhà tù và nhà tù ở Hoa Kỳ
• Các dịch vụ sức khỏe và tâm thần trong nhà tù cũng
có thể được định hướng xoay quanh các loại thuốc được kê đơn mà không có cơ hội cho liệu pháp cá nhân và / hoặc nhóm
• Một phụ nữ bị giam giữ phải đối mặt với việc không được tiếp cận với các sản phẩm kinh nguyệt thích hợp
Ba mươi tám bang của Mĩ không có luật yêu cầu phân phối các sản phẩm thời kỳ cho những người bị giam giữ
Trang 22CHƯƠNG 4: NHỮNG HẠN CHẾ VÀ
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NỮ
PHẠM NHÂN
Những hạn chế của pháp luật thi hành án hình sự
Kiến nghị hoàn thiện pháp luật thi hành án hình sự
1
2
.
Trang 23Chủ thể của quy định Phụ nữ mang thai và nôi con dưới 36 tháng tuổi
• Trường hợp nhận trẻ dưới 36 tháng tuổi làm con nuôi; hoặc ông bà, chú bác, cô dì… nuôi cháu dưới 36 tháng tuổi khi không may cha mẹ qua đời…
• “Phụ nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi”, quy định này không thể hiện rõ là con đẻ hay con nuôi
1 Những hạn chế của pháp luật thi hành án
hình sự
Chế độ mặc, các điều kiện về vệ sinh, giáo dục
giới tính sinh sản,… còn nhiều hạn chế
Kiểm soát tình hình thực thi quyền của phạm nhân nữ trong trại giam thông qua khiếu nại,
tố cáo
Chế độ liên lạc giữa phạm nhân và gia
đình
Trang 241 Quy định của một số quốc gia về bảo vệ quyền của
người yếu thế là phạm nhân nữ.
2 Thực tiễn vấn đề bảo đảm quyền phạm nhân nữ tại
một số quốc gia
CHƯƠNG 3: PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC THI QUYỀN CỦA PHẠM NHÂN NỮ TẠI MỘT SỐ
QUỐC GIA
Trang 25you!