1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận bảo đảm quyền con người của phạm nhân nữ trong pháp luật thi hành án hình sự

32 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 605,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm và bảo đảm quyền con người của phạm nhân nữ...6 4.Cơ sở pháp lý bảo đảm quyền của phạm nhân nữ của Việt Nam...6 5.Quyền con người của phạm nhân nữ trong pháp luật quốc tế...7 C

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

2022 -MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA PHẠM

NHÂN NỮ 5

1.Khái niệm quyền con người 5

2 Khái niệm và đặc điểm của phạm nhân nữ 5

3 Khái niệm và bảo đảm quyền con người của phạm nhân nữ 6

4.Cơ sở pháp lý bảo đảm quyền của phạm nhân nữ của Việt Nam 6

5.Quyền con người của phạm nhân nữ trong pháp luật quốc tế 7

CHƯƠNG 2: BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA PHẠM NHÂN NỮ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 9

1.Quyền được bảo hộ tính mạng, sức khỏe, tôn trọng danh dự nhân phẩm 9

2.Quyền được bảo đảm về nơi chấp hành án phù hợp, được bảo đảm các tiêu chuẩn sống phù hợp của nữ phạm nhân; được chăm sóc sức khỏe và đảm bảo vệ sinh cá nhân. 10 3.Quyền được tham gia hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ 12 4.Quyền được lao động, học tập, học nghề; 12

5.Quyền của phạm nhân nữ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi13 CHƯƠNG 3: PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC THI QUYỀN CỦA PHẠM NHÂN NỮ TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA 16

1.Quy định của một số quốc gia về bảo vệ quyền của người yếu thế là phạm nhân nữ 16 1.1 Nhật Bản 17

1.2 Trung Quốc 17

2.Thực tiễn vấn đề bảo đảm quyền phạm nhân nữ tại một số quốc gia 19

CHƯƠNG 4: NHỮNG HẠN CHẾ VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NỮ PHẠM NHÂN 22

1.Những hạn chế của pháp luật thi hành án hình sự 22

Trang 3

2.Kiến nghị hoàn thiện pháp luật thi hành án hình sự 23

Tài liệu tham khảo : 26

Trang 4

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA PHẠM NHÂN NỮ

1 Khái niệm quyền con người

Quyền con người là những nhu cầu lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con ngườiđược được công nhân, tôn trọng và bảo vệ trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội vàđược cụ thể hóa trong văn bản pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế

2 Khái niệm và đặc điểm của phạm nhân nữ

Phạm nhân là người bị kết án phạt tù, bị cách ly khỏi xã hội trong một thời gian nhất định

theo bản án

Phạm nhân nữ là đối tượng mang đầy đủ các đặc điểm của phạm nhân nói chung tức là

người phạm tội đang chấp hành án phạt tù có thời giạn hoặc tù chung thân nhưng được dựavào tiêu chí giới tính để phân biệt họ với nhóm phạm nhân nam

Thứ nhất, là người có giới tính nữ được thể hiện trong những tài liệu về nhân thân có giá trị

pháp lý như giấy khai sinh, số hộ khẩu, căn cước công dân Điều này làm cho phạm nhân nữphải đối mặt với nhiều nguy cơ mất an toàn trong môi trường giam giữ so với phạm nhân namnhư bị tấn công, bạo lực và lạm dụng tình dục Như vậy việc bảo đảm những quyền con ngườinhư bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm được ưu tiên hơn so vớinhững đối tượng là phạm nhân nam

Thứ hai, về đặc điểm tâm lý – xã hội, phạm nhân nữ thường gặp nhiều khủng hoảng tâm lý

hơn so với phạm nhân nam do bị cách ly khỏi gia đình, cộng đồng, mức độ có thể nghiêmtrọng hơn nhiều so với phạm nhân nam Trong cùng một hoàn cảnh thì phạm nhân nữ thường

tỏ ra yếu đuối hơn, do dự và chậm chạp hơn, đặc biệt là đối với phụ nữ có con thì họ rất mongmỏi tin tức gia đình, lo lắng và quan tâm tới con cái Đây đều là những mong muốn rất tựnhiên và nhân văn của người làm mẹ, làm vợ, làm con Chính vì vậy, cơ sở thi hành án cần lưutâm và tạo điều kiện tốt cho nữ phạm nhân có thể giải quyết mong muốn đó

Thứ ba, về đặc thù sinh học của phạm nhân nữ, họ có những vấn đề sức khỏe về sinh sản,

sinh lý, bệnh lý chỉ có ở phụ nữ Phạm nhân nữ có những ngày chu kỳ phụ nữ nên tâm lý, cảmxúc, sức khỏe của họ cũng thay đổi theo những chu kỳ đó Vì vậy, họ có sức khỏe yếu hơnphạm nhân nam đưa đến việc các trại giam phải đảm bảo được chế độ lao động nhẹ nhàng, chế

độ sinh hoạt phù hợp, đảm bảo sức khỏe, vệ sinh của phạm nhân nữ

3 Khái niệm và bảo đảm quyền con người của phạm nhân nữ

Trang 5

Quyền con người của phạm nhân nữ là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên vốn có của phạmnhân mang giới tính nữ, gồm các nhóm quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội dựatrên những đặc điểm tâm sinh lý riêng biệt của họ mà không bị tước bỏ bởi bản án, quyết định

có hiệu lực pháp luật của Tòa án và được cơ quan, người có thẩm quyền trong quá trình thihành án tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ khi có bất cứ xâm phạm nào

Bảo đảm quyền con người của phạm nhân nữ là làm cho những nhu cầu và lợi ích tự nhiêmvốn có của một phạm nhân nói chung và những nhu cầu, lợi ích tự nhiên dựa trên đặc thù giớitính nói riêng của họ mà không bị tước bỏ bởi bản án hình sự có hiệu lực pháp luật hay bởi cácquy định của pháp luật khác liên quan phải chắc chắn được thực thi một cách đầy đủ, chính xáctrên thực tế và được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, hỗ trợ các cá nhân, cơ quan có thẩm quyềntrong thi hành án hình sự

4 Cơ sở pháp lý bảo đảm quyền của phạm nhân nữ của Việt Nam

- Hiến pháp năm 2013: Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận một cách trang trọng, rõ ràng,khẳng định của Nhà nước Việt Nam trong việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người, quyềncông dân Điều này đã góp phần bảo vệ công lý và đảm bảo quyền con người, phần nào đã đápứng được những yêu cầu cấp bách nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơquan tư pháp, góp phần ngăn ngừa và hạn chế vi phạm các quyền con người, quyền công dânnói chung và quyền của phạm nhân nữ nói riêng

- Bộ luật Hình sự 2015 và Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: BLHS đặt ra cơ chế bảo vệquyền của phạm nhân nữ thông qua việc quy định các tội phạm và trình tự thủ tục để truy cứuTNHS đối với các cá xâm phạm những quyền của phạm nhân được pháp luật bảo vệ như Tộilàm chết người khi thi hành công vụ, Cố ý gây thương tích, Cưỡng dâm,… đối với phạm nhân

- Luật Thi hành án hình sự 2019 và các văn bản hướng dẫn: Luật này quy định nguyêntắc, trình tự, thủ tục, tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, người có thẩm quyền trong thihành bản án,… Các quy định trong Luật thi hành án hình sự vừa thể hiện mục đích cải tạo, răn

đe đối với các chủ thể vi phạm, đồng thời cũng quy định những tiêu chuẩn tối thiểu cho phạmnhân, người chấp hành án để đảm bảo các quyền lợi hợp pháp của họ, trong đó có những quyđịnh trực tiếp bảo vệ và đảm bảo quyền lợi của phạm nhân nữ

- Bộ luật dân sự 2015 và các văn bản hướng dẫn: Quy định về việc công nhận, tôn trọng,bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự Đặc biệt, BLDS đưa ra cơ chế khởi kiện yêu cầu bồi thườngtổn thất thể chất, tinh thần khi bị xâm hại Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các

Trang 6

quyền dân sự được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.Quyền dân sự chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý doquốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.

5 Quyền con người của phạm nhân nữ trong pháp luật quốc tế

5.1 Quá trình hình thành và phát triển của các điều ước quốc tế bảo vệ quyền của phạm nhân nữ:

Với việc chiếm hơn một nửa trong xã hội nhưng phụ nữ lại là đối tượng dễ bị tổn thương vàchịu nhiều thiệt thòi nhất là về sức khoẻ, giáo dục, đào tạo, cơ hội việc làm và những nhu cầukhác Quyền được sống tự do, an ninh cá nhân, kể cả quyền sống khoẻ mạnh của người phụ nữcũng đã bị vi phạm dưới nhiều hình thức khác nhau Vì vậy mà vấn đề đấu tranh cho quyềncủa phụ nữ đã có từ rất lâu (khoảng thế kỷ XVIII) nhưng quyền của phụ nữ chỉ được chínhthức đề cập trong Luật quốc tế từ khi Liên Hợp Quốc ra đời Tại Hiến chương Liên Hợp Quốc

năm 1945 đã khẳng định ngay trong lời nói đầu về “…bình đẳng về quyền giữa phụ nữ và đàn ông…”

Kể từ đây, quyền của người phụ nữ đã được ghi nhận trong rất nhiều những tuyên ngôn,công ước quốc tế Trong đó có thể kể đến “Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người” năm 1948

đã xác lập đã được xác lập trên nguyên tắc nền tảng là tất cả mọi người đều được hưởng cácquyền và tự do một cách bình đẳng, không có bất cứ sự phân biệt nào về chủng tộc, dân tộc,giới tính, tôn giáo, ngôn ngữ, quan điểm chính trị và các yếu tố khác

Tiếp đó, nhiều điều ước quốc tế riêng đã được Liên Hợp Quốc thông qua nhằm bảo vệ cácquyền của phụ nữ và trẻ em gái như: Công ước về các quyền chính trị của phụ nữ năm 1952;Công ước về quốc tịch của phụ nữ khi kết hôn năm 1957; Công ước về đăng ký kết hôn, tuổitối thiểu khi kết hôn và việc kết hôn tự nguyện năm 1962… Bên cạnh đó, nguyên tắc bìnhđẳng nam nữ cũng được khẳng định trong cả hai điều ước quốc tế quan trọng nhất về quyềncon người năm 1966 là Công ước về các quyền chính trị, dân sự (ICCPR) và Công ước về cácquyền kinh tế, văn hoá, xã hội (ICESCR)…

Các văn bản nêu trên đã bước đầu xác lập vị thế bình đẳng của phụ nữ với nam giới trên vịtrí chủ thể của các quyền con người, tuy nhiên lại chưa đưa ra giải pháp để đảm bảo cho phụ

nữ được hưởng đầy đủ các quyền đó trên thực tế Do đó, năm 1967, Liên Hợp Quốc thông quaTuyên bố về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ Văn bản này là tiền đề

Trang 7

cho sự ra đời của Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ(CEDAW) vào ngày 18/12/1979

Bên cạnh các công ước bảo vệ quyền của phụ nữ nói chung, quyền con người của phạmnhân còn được đảm bảo thông qua một số công ước quốc tế cụ thể như:

- Nghị quyết ECOSOC 13/ 2002 của Liên hợp quốc “Hướng dẫn phòng chống tội phạm”trình bày các cách tiếp cận khác nhau để ngăn ngừa tội phạm và khuyến nghị rằng các chiếnlược phòng chống tội phạm phải quan tâm đúng mức đến các nhu cầu khác nhau của nam giới

và phụ nữ

- Nghị quyết 65/228 của Đại hội đồng Liên hợp quốc, “Các chiến lược mô hình cập nhật

và Các biện pháp thực tế về xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ trong lĩnh vực Phòng chống tộiphạm và Tư pháp hình sự” cung cấp hướng dẫn về phòng chống tội phạm trong bối cảnh củabạo lực đối với phụ nữ và về các phản ứng của tư pháp hình sự đối với bạo lực đó

- Nghị quyết 65/229 của Đại hội đồng Liên hợp quốc, “Quy tắc của Liên hợp quốc về Đối

xử với nữ tù nhân và các biện pháp không giam giữ đối với nữ phạm nhân”(Quy tắc Bangkok)

áp dụng cho các tù nhân nữ đang bị kết án; phụ nữ bị nghi ngờ người phạm tội đang chờ xét xửkhi bị tạm giam; nữ phạm nhân bị phạt cải tạo không giam giữ các biện pháp và biện phápkhắc phục; và những phụ nữ đang bị giam giữ bảo vệ những người tiếp xúc với pháp luật ở tất

cả các giai đoạn của quá trình tư pháp hình sự

- Nghị quyết 70/175 của Đại hội đồng Liên hợp quốc, “Tiêu chuẩn của Liên hợp quốcQuy tắc tối thiểu đối xử với tù nhân” (Quy tắc Nelson Mandela) cung cấp các hướng dẫn toàndiện nhất về đối xử với tù nhân và ban đầu là được thông qua vào năm 1955 và được Đại hộiđồng cập nhật vào năm 2015

CHƯƠNG 2: BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA PHẠM NHÂN NỮ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Tù nhân nữ được đảm bảo các tiêu chuẩn tối thiểu của tù nhân, được đảm bảo những quyền

con người cơ bản theo quy định tại Khoản 1 điều 27 Luật thi hành án hình sự 2019 Dưới đây

là một số quyền đáng chú ý:

Trang 8

1 Quyền được bảo hộ tính mạng, sức khỏe, tôn trọng danh dự nhân phẩm

Mọi công dân đều được pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm, tính mạng, sức khỏe trong đó

Tinh thần các quy định trên của Hiến Pháp đối với quyền của phạm nhân nữ được cụ thể hoátrong các quy định của Luật thi hành án Hình sự 2019 Luật thi hành án hình sự xác định, việc

áp dụng hình phạt tù, cách ly người phạm tội khỏi xã hội nhằm mục đích cải tạo, giáo dụcphạm nhân trở thành người có ích cho xã hội và tạo mọi điều kiện tái hoà nhập cộng đồng,không nhằm mục đích trừng phạt, đánh đập, xúc phạm hay khinh bỉ họ

Cơ chế pháp luật cũng đặt ra các chế tài để xử lí bất cứ hành vi đối xử tàn ác, tra tấn hay xúcphạm, chà đạp đến thân thể, danh dự, nhân phẩm của nữ phạm nhân Hành vi tra tấn và cáchình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo và vô nhân đạo hoặc hạ nhục người chấp hành ánđược xác định là những hành vi bị cấm trong thi hành án hình sự trong thi hành án hình sựđược quy định tại khoản 9 điều 10 Luật Thi hành án Hình sự 2019

Mỗi phạm nhân sẽ được khám sức khỏe trong thời gian thi hành án để đảm bảo rằng đủ khảnăng tiếp tục chấp hành án Nếu phát hiện có bệnh cần chữa trị sẽ được chuyển đến cơ sở chữabệnh gần nhất

Bên cạnh những đảm bảo nhưng những phạm nhân khác, trong thời gian bị giam tại buồng

kỷ luật, phạm nhân không được gặp thân nhân và có thể bị cùm chân, không áp dụng cùm chânđối với phạm nhân nữ (khoản 2 điều 43 Luật THAHS) Như vậy, cơ chế pháp luật đã có sự ưutiên để đảm bảo quyền bất khả xâm phạm về thân thể của phụ nữ

Trang 9

2 Quyền được bảo đảm về ăn, mặc, ở; được chăm sóc sức khỏe và đảm bảo vệ sinh cá nhân.

 Điều kiện giam giữ và chế độ ở của phạm nhân nữ

Phạm nhân được ở theo buồng giam tập thể, trừ phạm nhân đang bị giam riêng theo quyđịnh Chỗ nằm tối thiểu của mỗi phạm nhân là 02 mét vuông (m2) Đối với phạm nhân có connhỏ ở cùng thì được bố trí chỗ nằm tối thiểu là 03 mét vuông (m2) Mỗi chỗ nằm đều được xâydựng có bệ gạch men, ván sàn hoặc giường như quy định chung đối với phạm nhân khác Phạm nhân nữ sẽ được bố trí khu giam giữ riêng tách biệt với phạm nhân nam Đối vớinhững trại giam tiếp nhận cả phạm nhân nam và phạm nhân nữ thì khu vực giam giữ của phạmnhân nữ phải được bố trí tại một khu vực riêng biệt và cách càng xa càng tốt khu vực giam giữcủa phạm nhân nam

Cán bộ, chiến sĩ, nhân viên trại giam và người không có nhiệm vụ là nam không được vàokhu vực giam giữ, không được tiếp xúc với phạm nhân nữ khi chưa được phép của Giám thịtrại giam Nếu việc tuần tra giám sát của trại giam phạm nhân nữ được thực hiện bởi nam giớithì cứ 2 cán bộ nam có 1 cán bộ nữ đi cùng Việc này hạn chế tối đa việc phạm nhân nữ bị bạohành hay xâm phạm tình dục

Đối khu vực giam giữ phạm nhân nữ mang thai thì phải có khu vực đặc biệt để phục vụ choviệc chăm sóc và điều trị cần thiết trước và sau khi sinh Đối với những trường hợp phạm nhân

nữ có con theo mẹ vào trại giam thì phải có nhà trẻ với nhân viên đủ trình độ để chăm sóc chotrẻ khi vắng mẹ; việc quản lý giáo dục cải tạo đối với phạm nhân nữ phải do cán bộ nữ đảmnhiệm trừ trường hợp bác sỹ, giáo viên thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn trong khu vựcgiam giữ của phạm nhân nữ

 Chế độ mặc, tư trang:

Phạm nhân nữ được đảm bảo những tiêu chuẩn chung về tư trang dành cho phạm nhân như:được cấp quần áo theo mẫu thống nhất, khăn mặt, chăn, chiếu, màn, dép, mũ hoặc nón, xàphòng, kem và bàn chải đánh răng; ngoài ra được cấp thêm đồ dùng cần thiết cho vệ sinh củaphụ nữ (điều 49 Luật THAHS) và được quy định cụ thể tại điều 8 Nghị định 133/2020

Bên cạnh đó, phạm nhân nữ còn được đáp ứng những tiêu chuẩn riêng phục vụ nhu cầu vệsinh của phụ nữ như: Phạm nhân nữ được cấp đồ dùng cần thiết cho vệ sinh cá nhân tươngđương 02 kg gạo tẻ/người/tháng

Trang 10

 Chế độ ăn:

Phạm nhân nữ được đảm bảo các tiêu chuẩn về chế độ ăn, khẩu phần ăn tại điều 48 LuậtTHAHS: “Chế độ ăn ở đối với phạm nhân, được bảo đảm ăn, uống vệ sinh, an toàn thựcphẩm.” Định lượng cụ thể được quy định chi tiết tại khoản 1 điều 7 Nghị định 133/2020, theođó:

“1 Phạm nhân được Nhà nước đảm bảo, tiêu chuẩn định lượng mỗi tháng gồm:a) 17 kg gạotẻ;

k) Gia vị khác: tương đương 0,5 kg gạo tẻ;

l) Chất đốt: tương đương 17 kg củi hoặc 15 kg than.”

 Chế độ chăm sóc y tế

Chế độ chăm sóc y tế đối với phạm nhân được thực hiện theo quy định tại Điều 48 Luật Thihành án hình sự và quy định tại điều 9 Nghị định 133/2020/NĐ-CP hướng dẫn luật thi hành ánhình sự Phạm nhân được khám bệnh theo định kỳ, chữa bệnh và điều trị tại cơ sở y tế của trạigiam, trại tạm giam hoặc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước nơi gần nhất Trườnghợp phạm nhân bị bệnh nặng hoặc thương tích vượt quá khả năng điều trị của cơ sở khám

bệnh, chữa bệnh đó thì được chuyển đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến trên để điều trị;

trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải thông báo chothân nhân hoặc đại diện của người đó biết để phối hợp chăm sóc, điều trị Toàn bộ chi phíkhám, chữa bệnh đều do Nhà nước cấp

Trang 11

Tiền thuốc chữa bệnh thông thường cho phạm nhân được cấp tương đương 03 kg gạotẻ/phạm nhân/tháng.

Phạm nhân có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, có tiền sử nghiện ma túy và các chất kích thích;phạm nhân bị nhiễm HIV/AIDS, Lao, các bệnh truyền nhiễm và bệnh mạn tính khác sẽ nhậnđược các điều kiện chăm sóc y tế phù hợp

Đối với phạm nhân có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm giảm khả năng nhận thứchoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, trong khi chờ Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa ánquân sự cấp quân khu nơi phạm nhân chấp hành án phạt tù ra quyết định trưng cầu giám địnhpháp y tâm thần, Thủ trưởng cơ sở giam giữ phạm nhân phối hợp với bệnh viện tâm thần tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương, khoa tâm thần bệnh viện đa khoa cấp tỉnh hoặc bệnh viện cấpquân khu nơi đơn vị đóng quân tổ chức khám và điều trị theo quy định của pháp luật

Đối với phạm nhân có tiền sử nghiện ma túy và các chất kích thích, căn cứ điều kiện, khảnăng trại giam tổ chức khám bệnh, chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng; trường hợp phạmnhân xét nghiệm có kết quả dương tính với ma túy và các chất kích thích thì phối hợp với các

cơ quan chức năng liên quan tổ chức cai nghiện theo quy định

Phạm nhân bị nhiễm HIV/AIDS, Lao, các bệnh truyền nhiễm và bệnh mạn tính khác đượcchăm sóc, điều trị theo quy định của pháp luật hiện hành

3 Quyền được phổ biến pháp luật, giáo dục công dân; phổ biến thời sự, chính sách, pháp luật tham gia hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ;

Phạm nhân được phổ biến, học tập: Các quy định về chính sách, pháp luật Việt Nam và một

số nội dung, giá trị đạo đức, kỹ năng sống Phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù được phổbiến, học tập: Các chính sách, quy định của pháp luật về tái hòa nhập cộng đồng, vay vốn sảnxuất, kinh doanh, định hướng nghề nghiệp, hỗ trợ tìm kiếm việc làm

Ngoài thời gian lao động, học tập, phạm nhân được tham gia các hoạt động thể dục, thểthao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, đọc sách, báo, nghe đài, xem truyền hình phù hợp với điềukiện thực tế quản lý, giam giữ và lứa tuổi của phạm nhân Phạm nhân là người dưới 18 tuổiđược tham gia các hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, đọc sách, báo,nghe đài, xem truyền hình phù hợp với lứa tuổi

Trang 12

Nữ phạm nhân được tham gia vào tất cả các hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóavăn nghệ theo định kỳ do cơ sở giam giữ tổ chức theo quy định tại điểm c, khoản 1, điều 27Luật THAHS.

Mỗi phân trại trong trại giam, khu giam giữ phạm nhân trong trại giam được trang bị 01 hệthống loa truyền thanh, 01 hệ thống truyền hình cáp nội bộ; mỗi buồng giam tập thể dưới 30phạm nhân được trang bị 01 máy vô tuyến truyền hình màu có kích thước 21 inch trở lên;buồng giam từ trên 30 phạm nhân được trang bị 01 máy vô tuyến truyền hình màu có kíchthước màn hình từ 29 inch trở lên; 30 phạm nhân được phát 01 tờ báo Nhân Dân phục vụ choviệc sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao,…

Thời gian hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, đọc sách, báo, nghe đài,xem truyền hình của phạm nhân được thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộtrưởng Bộ Quốc phòng

4 Quyền được lao động, học tập, học nghề;

Phạm nhân nữ được đảm bảo về chế độ lao động, học nghề theo quy định tại điểm d khoản 1điều 27 luật THAHS, cụ thể:

Phạm nhân được tổ chức lao động phù hợp với độ tuổi, sức khỏe và đáp ứng yêu cầu quản

lý, giáo dục, hòa nhập cộng đồng Phạm nhân lao động phải dưới sự giám sát, quản lý của trạigiam, trại tạm giam Đặc biệt, do yếu tố về mặt sức khỏe, phạm nhân nữ được bố trí làm côngviệc phù hợp với giới tính; không được bố trí làm công việc không sử dụng lao động nữ theoquy định của pháp luật về lao động (Điều 32 Luật TTAHS: chế độ lao động của phạm nhân)Quyền được học tập của người chấp hành hình phạt được ghi nhận tại tại Điều 31 – Luật thihành án hình sự 2019 và Thông tư liên tịch số 02/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BGDĐT hướngdẫn việc tổ chức dạy văn hóa, giáo dục pháp luật, giáo dục công dân, phổ biến thông tin thời

sự, chính sách và thực hiện chế độ sinh hoạt, giải trí cho phạm nhân Bên cạnh đó pháp luậtcũng quy định nghĩa vụ của các cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức thi hành án trong việc đảmbảo quyền của phạm nhân

Phạm nhân nói chung và phạm nhân nữ nói riêng được phổ biến pháp luật, giáo dục côngdân và được học văn hóa, học nghề Phạm nhân chưa biết chữ phải học văn hóa để xóa mùchữ Phạm nhân là người nước ngoài được khuyến khích học tiếng Việt Phạm nhân được bốtrí 01 ngày trong tuần để học tập, học nghề, trừ ngày chủ nhật, lễ, tết theo quy định của pháp

Trang 13

luật Căn cứ yêu cầu quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân và thời hạn chấp hành án, trại giam,trại tạm giam tổ chức dạy học cho phạm nhân; căn cứ điều kiện thực tế, cơ quan thi hành ánhình sự Công an cấp huyện tổ chức dạy học cho phạm nhân.

Việc đảm bảo chế độ được giáo dục, học tập của phạm nhân nữ để phục hồi nhân cách cho

họ, bên cạnh đó, chế độ giáo dục, học tập cho phạm nhân còn thể hiện sự nhân đạo của Nhànước trong việc giúp đỡ, hỗ trợ phạm nhân được học văn hoá, xoá mù chữ, học nghề, tạo điềukiện tốt hơn cho hộ để tái hoà nhập cộng đồng sau khi chấp hành án xong

5 Quyền của phạm nhân nữ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi

Chế độ chung dành cho phạm nhân nữ mang thai và nuôi con dưới 36 tháng tuổi

Xuất phát từ những nhân tố tác động, ảnh hưởng đến sức khỏe và tâm sinh lý của nhữngngười phụ nữ khi đang mang thai và sau khi sinh; cũng như sức khỏe, sự phát triển tốt củanhững đứa trẻ thế hệ sau này của đất nước Với sự nhân đạo của Nhà nước và Pháp luật ViệtNam đã dành cho phạm nhân nữ đang mang thai và nuôi con dưới 36 tháng tuổi bên cạnhnhững quyền và chế độ ăn, mặc, ở, sinh hoạt, chăm sóc ý tế dành cho phạm nhân thông thườngphạm nhân nữ đang mang thai và nuôi con dưới 36 tháng tuổi còn được hưởng những ưu đãi,chế độ đặc biệt như :

Theo quy định tại điều 10 Nghị định 133/2020/NĐ – CP thì Phạm nhân nữ trong thời gianmang thai, nghỉ sinh con hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi trong cơ sở giam giữ phạmnhân thì tổng định lượng ăn bằng 02 lần tiêu chuẩn ăn ngày thường so với định lượng quy địnhtại khoản 1 Điều 7 Nghị định này và được hoán đổi theo chỉ định của y sĩ hoặc bác sĩ; phạmnhân nữ sinh con trong trại giam được cấp các đồ dùng cần thiết cho việc chăm sóc trẻ sơ sinhtương đương 01 tháng định lượng ăn của trẻ em là con phạm nhân theo quy định tại khoản 2Điều này Trường hợp phạm nhân nữ có thai không được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù thìđược bố trí chỗ nằm tối thiểu 03 m2/phạm nhân

Phạm nhân nữ sinh con trong trại giam được cấp 07 mét vải thường để làm tã lót Trẻ emdưới 36 tháng tuổi ở cùng mẹ thì mỗi năm được cấp một số vật phẩm cần thiết như: 04 khănmặt/năm; 02 kg xà phòng/năm; 03 bộ quần áo bằng vải thường/năm; 01 màn phù hợp với lứatuổi/03 năm; 02 đôi dép/năm; 01 chăn phù hợp với lứa tuổi/03 năm (từ tỉnh Thừa Thiên Huếtrở ra phía Bắc và 05 tỉnh Tây Nguyên); 01 bộ quần áo ấm/01 năm (cấp từ tỉnh Thừa Thiên

Trang 14

Huế trở ra phía Bắc và 05 tỉnh Tây Nguyên, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương còn lạikhông cấp).

Phạm nhân nữ mang thai

Phạm nhân nữ có thai nếu không được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù thì được hưởngnhững chế độ theo quy định tại Điều 51 Luật thi hành án hình sự 2019 như sau:

Phạm nhân nữ có thai được bố trí nơi giam hợp lý, được khám thai định kỳ hoặc đột xuất,được chăm sóc y tế trong trường hợp cần thiết, được giảm thời gian lao động, được hưởng chế

độ ăn, uống bảo đảm sức khỏe

Phạm nhân nữ có thai được nghỉ lao động trước và sau khi sinh con theo quy định của phápluật về lao động Trong thời gian nghỉ sinh con, phạm nhân được bảo đảm tiêu chuẩn, địnhlượng ăn theo chỉ dẫn của y sỹ hoặc bác sỹ, được cấp phát thực phẩm, đồ dùng cần thiết choviệc chăm sóc trẻ sơ sinh

Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệmlàm thủ tục đăng ký khai sinh cho con của phạm nhân, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phạm nhânchấp hành án có trách nhiệm đăng ký và cấp giấy khai sinh

Phạm nhân nữ có con dưới 36 tháng tuổi trở lên phải gửi con về cho nhân thân nuôi dưỡng.Trường hợp con của phạm nhân không có nhân thân nhận nuôi dưỡng thì trại giam, trại tạmgiam thuộc Bộ Công an, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sựCông an cấp tỉnh phải đề nghị Sở Lao động – Thương binh và Xã hội nơi phạm nhân chấphành án chỉ định cơ sở bảo trợ xã hội tiếp nhận, nuôi dưỡng

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị, Sở Lao động – Thương binh và Xãhội phải chỉ định cơ sở bảo trợ xã hội có trách nhiệm tiếp nhận, nuôi dưỡng Người chấp hànhxong án phạt tù được nhận lại con đang được cơ sở bảo trở xã hội nuôi dưỡng

Chế độ đối với phạm nhân nữ có thai, nuôi con dưới 36 tháng tuổi và chế độ đối với trẻ em

ở cùng mẹ trong trại giam

Căn cứ theo quy định tại Điều 51 Luật thi hành án hình sự năm 2019, phạm nhân nữ nuôicon dưới 36 tháng tuổi thì được hưởng các chế độ sau:

Phạm nhân nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi được bố trí thời gian phù hợp để chăm sóc, nuôidưỡng con

Trang 15

Trẻ em dưới 36 tháng tuổi là con phạm nhân ở cùng mẹ trong cơ sở giam giữ cũng cấp thẻbảo hiểm y tế, chăm sóc y tế, khám chữa bệnh theo quy định của Luật Trẻ em và Luật Bảohiểm y tế ”Trường hợp bị bệnh nặng vượt quá khả năng điều trị của bệnh xá, cơ sở giam giữphạm nhân làm thủ tục chuyển đến cơ sở y tế của Nhà nước để điều trị, Thủ trưởng cơ sở giamgiữ phạm nhân quyết định việc trích xuất và áp giải phạm nhân là mẹ của trẻ đi cùng để chămsóc Tiền thuốc chữa bệnh thông thường được cấp không quá 03 kg gạo tẻ/trẻ em/tháng Cơ sởgiam giữ phạm nhân có trách nhiệm thanh toán chi phí thực tế trong việc khám bệnh, chữabệnh cho trẻ em dưới 36 tháng tuổi ở cùng mẹ trong trại giam, kinh phí khám bệnh, chữa bệnh

do ngân sách nhà nước cấp.”

Trẻ em dưới 36 tháng tuổi, trẻ em từ 36 tháng tuổi trở lên trong thời gian chờ đưa vào cơ sởbảo trợ xã hội là con của phạm nhân ở cùng mẹ trong trại giam được hưởng chế độ ăn, mặc, ở,cấp phát nhu yếu phẩm và được chăm sóc y tế, khám chữa bệnh để bảo đảm thực hiện quyềncủa trẻ em theo quy định của Luật Trẻ em

Trại giam phải tổ chức nhà trẻ ngoài khu giam giữ để chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em là concủa phạm nhân dưới 36 tháng tuổi và con của phạm nhân từ 36 tháng tuổi trở lên trong thờigian chờ làm thủ tục đưa vào cơ sở bảo trợ xã hội

Phạm nhân nữ có con từ 36 tháng tuổi trở lên phải gửi con về cho thân nhân nuôi dưỡng.Trường hợp con của phạm nhân không có thân nhân nhận nuôi dưỡng thì trại giam, trại tạmgiam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ

quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải đề nghị cơ quan chuyên môn về lao động, thương

binh và xã hội thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi phạm nhân chấp hành án chỉ định cơ sở bảotrợ xã hội tiếp nhận, nuôi dưỡng

CHƯƠNG 3: PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC THI QUYỀN CỦA PHẠM NHÂN NỮ TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA

1 Quy định của một số quốc gia về bảo vệ quyền của người yếu thế là phạm nhân nữ.

Về cơ bản, các quốc gia đều cố gắng xây dựng pháp luật quốc gia (như Luật Hình Sự, Tốtụng Hình Sự hay Thi hành án Hình Sự…) có sự thích nghi và phù hợp với các chuẩn mựcquốc tế về quyền phụ nữ Các quốc gia có thể xét đến bao gồm như: Trung Quốc, Nhật Bản,…Trong đó, Trung Quốc là nước đồng điệu nhất với Việt Nam về hệ thống pháp luật Xã Hội Chủ

Trang 16

Nghĩa, còn Nhật Bản là quốc gia có sự đặc trưng về pháp luật khi nền pháp luật của nước này

có sự giao thoa giữa hệ thống pháp luật Common Law và Civil Law

- Cung cấp hỗ trợ và các biện pháp khắc phục cho những phụ nữ bị lạm dụng tình dụchoặc các hình thức khác của bạo lực khi bị giam giữ: Phụ nữ cần được bảo vệ, hỗ trợ và tư vấn

và khiếu nại về lạm dụng tình dục hoặc các hình thức bạo lực khác trước hoặc trong khi bịgiam giữ cần được điều tra bởi những người có thẩm quyền và độc lập các cơ quan chức năng,với sự tôn trọng đầy đủ đối với nguyên tắc bảo mật và tuân theo tính đến rủi ro bị trả thù Cáctrường hợp nữ phạm nhân bị lạm dụng tình dục, kể cả khi điều này dẫn đến mang thai sẽ nhậnđược tư vấn y tế, tư vấn, sức khỏe thể chất và tinh thần thích hợp chăm sóc và trợ giúp pháp lý

- Quản lý nhà tù: Lý lịch cá nhân của phụ nữ và nhu cầu của họ nên được xem xét tínhđến việc đảm bảo quản lý hiệu quả Các tù nhân được phân biệt giới tính và để phòng ngừa bạolực tình dục của cán bộ trại giam, tù nhân nữ không nên ở một mình với các cán bộ trại giamnam

1.2.Trung Quốc

Tư pháp hình sự Trung Quốc được xây dựng theo mô hình tố tụng thẩm vấn, đồng thờimang đặc trưng của pháp luật phương đông và chịu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật xã hộichủ nghĩa Tuy nhiên, không vì vậy mà pháp luật hình sự Trung Quốc thiếu đi tính cẩn trọngtrong việc đảm bảo quyền của phụ nữ

Quyền của phụ nữ trong hệ thống tư pháp hình sự Trung Quốc được quy định rất nhiều vàrất chi tiết trong các văn bản quy phạm pháp luật như: Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự,

… cụ thể:

Ngày đăng: 15/03/2022, 05:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w