MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân, cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác (sau đây gọi chung là người lao động) tự nguyện lập ra nhằm mục đích tập hợp, đoàn kết lực lượng, xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kể từ khi thành lập (ngày 28/7/1929) đến nay, Công đoàn Việt Nam luôn trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân và dân tộc, đã tổ chức vận động công nhân, viên chức, lao động đi đầu trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và vì lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Trong nền kinh tế thị trường với sự phát triển đa dạng các thành phần kinh tế như hiện nay, số lượng các doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước cũng ngày một tăng lên nhanh chóng. Tuy nhiên việc thành lập công đoàn cơ sở và tổ chức hoạt động phong trào công nhân viên chức lao động, công đoàn còn gặp rất nhiều khó khăn. Việc phát triển, nâng cao năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trong các thành phần kinh tế đang được đặt ra là một nhiệm vụ chiến lược, cấp bách cần được các cấp công đoàn thực hiện quyết liệt. Cùng với quá trình đổi mới phát triển của đất nước, lực lượng công nhân lao động cũng đã lớn mạnh không ngừng. Từ khi thành lập trên cơ sở tách từ Liên đoàn Lao động huyện Gia Lâm (tháng 12/2003) đến nay, có thể khẳng định rằng Liên đoàn Lao động quận Long Biên đã lớn mạnh hơn cả về số lượng và chất lượng hoạt động phong trào. Đặc biệt việc phát triển đoàn viên, xây dựng tổ chức công đoàn ngày càng vững mạnh nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, và lợi ích của doanh nghiệp góp phần phát triển kinh tế xã hội của quận Long Biên. Đây là vấn đề nhiều năm qua đã được lãnh đạo quận đặc biệt quan tâm, đầu tư tích cực và đã có những kết quả, thành tích, song thực tế hoạt động của tổ chức công đoàn vẫn còn bộc lộ những hạn chế, tồn tại, đặc biệt trong hoạt động của các công đoàn cơ sở như: các đơn vị khu vực ngoài nhà nước trên địa bàn hầu hết nhỏ về quy mô, thiếu tính ổn định và khó kiểm soát. Từ khi thành lập, chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở luôn được Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động quận quan tâm, chỉ đạo và tổ chức hướng dẫn, bồi dưỡng; Năng lực, nề nếp và tác phong làm việc của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở đã có chuyển biến tốt, trình độ chuyên môn được nâng lên đáng kể. Tuy nhiên, đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở 100% là kiêm nhiệm nên thời gian dành cho công tác công đoàn hạn chế, đội ngũ Ban chấp hành công đoàn thường xuyên biến động, thay đổi sau mỗi kỳ đại hội nên ít kinh nghiệm hoạt động công đoàn. 100% đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở hưởng lương của người sử dụng lao động nên quyền lợi của họ lại gắn chặt với doanh nghiệp, do chủ doanh nghiệp quyết định, tiếng nói không có sức nặng và không phát huy được vai trò đại diện bảo vệ cho người lao động. Tỷ lệ đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở được đào tạo bài bản qua Đại học công đoàn hoặc lý luận nghiệp vụ công đoàn đạt tỷ lệ thấp, khoảng 4%. Một bộ phận đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở, đặc biệt là khối doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước còn bộc lộ một số khuyết điểm, hạn chế như năng lực thực tiễn trong thực thi nhiệm vụ, kỹ năng nghiệp vụ còn hạn chế, thiếu tinh thần trách nhiệm với công việc, thiếu ý thức tự học tập nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ. Xuất phát từ những cơ sở nêu trên với trách nhiệm, tâm huyết của một cán bộ chuyên trách công đoàn và vận dụng những kiến thức đã được học, tôi chọn đề tài: “Nâng cao năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên, Thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh. 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Năng lực của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở là yếu tố quan trọng để quyết định chất lượng hoạt động của công đoàn cơ sở. Vấn đề nâng cao năng lực đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở rất được quan tâm và nghiên cứu. Tuy nhiên những công trình nghiên cứu chỉ tập trung đi sâu vào một phương diện hoặc một khía cạnh của hoạt động tạo công đoàn và chưa tiến hành nghiên cứu tại quận Long Biên. Cụ thể như: - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Tổng Liên đoàn: “Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Công đoàn trong hội nhập kinh tế quốc tế” do TS. Nguyễn Đức Tĩnh, trường Đại học Công đoàn chủ nhiệm. Đề tài đã phân tích những cơ sở lý luận về đội ngũ cán bộ công đoàn, chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn và bản chất của hội nhập quốc tế, thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn hiện nay. Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn, nhóm nghiên cứu đã đề xuất 7 nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn nâng trong hội nhập quốc tế. Đề tài có ý nghĩa quan trọng trong điều kiện hiện nay, từ đó tạo cơ sở lý luận để Tổng Liên đoàn xây dựng chế độ chính sách đối với đội ngũ cán bộ Công đoàn, đáp ứng nhu cầu hiện nay. - Đề tài về “Nâng cao vai trò công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Hà Nội” do Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động Thành phố Hà Nội làm chủ nhiệm. Đề tài đã đánh giá tình hình thực trạng hoạt động CĐCS khu vực ngoài quốc doanh và chất lượng thương lượng, ký kết và thỏa ước lao động tập thể tại các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố. Qua đó đưa ra các giải pháp thực hiện hiệu quả hơn, góp phần cải thiện tình hình hoạt động của Công đoàn các doanh nghiệp. Đề tài có tính lý luận thực tiễn cao, có tính cấp thiết trong bối cảnh hiện nay; phương pháp nghiên cứu hợp lý phù hợp mục tiêu, nhiệm vụ; công tác tổ chức hợp lý... giúp cho hoạt động CĐCS ngoài quốc doanh, hoạt động thương lượng, ký kết và thỏa ước lao động tập thể tại các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hà nội hiệu quả hơn. - Đề tài “Đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn” - Nguyễn Xuân Thái. Đề tài đã cung cấp những phương pháp hay, mới, khả thi nhằm đổi mới cách thức đào tạo, tập huấn. Phương pháp mới này giúp tiết kiệm chi phí và thời gian trong quá trình đào tạo cán bộ công đoàn. Hầu hết các đề tài nghiên cứu đều đi sâu nghiên cứu một khía cạnh của hoạt động nâng cao chất lượng cán bộ công đoàn nói chung. Chưa có công trình nghiên cứu năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên. Hơn thế nữa, cho đến thời điểm này, tại quận Long Biên chưa có một đề tài nghiên cứu nào đề cập đến nâng cao năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở. Với tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài như vậy, việc nghiên cứu toàn diện nâng cao năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội là một việc làm hết sức cần thiết. 3. Mục đích nghiên cứu Vận dụng lý luận năng lực cán bộ, đánh giá thực trạng năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên, Thành phố Hà Nội, đề xuất giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ này. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn Đối tượng nghiên cứu: Năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở. Phạm vi nghiên cứu: - Nội dụng: Luận văn tập trung nghiên cứu năng lực của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên, với các khảo sát chuyên sâu tại một số công đoàn cơ sở đại diện theo khối. - Về thời gian: từ năm 2013 đến năm 2019. - Không gian: địa bàn quận Long Biên, Thành phố Hà Nội. 5. Câu hỏi nghiên cứu Luận văn đặt trọng tâm trả lời câu hỏi nghiên cứu sau : - Cơ sở lý luận nghiên cứu các giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở là gì? - Thực trạng các hoạt động nâng cao năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở? Những giải pháp đó đã đạt được những kết quả gì? còn bất cập hạn chế gì ? - Cần có những giải pháp nào để tiếp tục hoàn thiện đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên? 6. Phương pháp nghiên cứu 6.1. Phương pháp luận Tiếp cận những lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các lý thuyết về tổ chức công đoàn; Tiếp cận các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về cán bộ công đoàn nói chung và đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở nói riêng. 6.2. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp thu thập dữ liệu: + Thu thập dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu thứ cấp được thu thập bằng phương pháp tổng hợp, các nguồn thu thập bao gồm: các báo cáo kết quả phong trào CNVCLĐ và hoạt động công đoàn các năm 2013 – 2019, Báo cáo tình hình CĐCS, đoàn viên các năm 2013 – 2018 của Liên đoàn Lao động quận Long Biên. Các chương trình kế hoạch hoạt động của Liên đoàn Lao động quận Long Biên các năm 2013 - 2019…để đánh giá, phân tích số lượng CĐCS, số lượng đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở theo độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn… + Thu thập dữ liệu sơ cấp: Tác giả tiến hành thu thập dữ liệu sơ cấp bằng phương pháp phỏng vấn bằng Phiếu hỏi. Đối tượng phỏng vấn là toàn bộ 104 ủy viên ban chấp hành công đoàn cơ sở của 21 CĐCS đại diện 3 khối: Hành chính sự nghiệp, Trường học và Doanh nghiệp và 1.000 phiếu hỏi đoàn viên công đoàn, người lao động. Bảng hỏi được thiết kế bao gồm có 2 phần: Phần 1: thông tin chung của đối tượng được phỏng vấn và phần 2: Đánh giá của đội ngũ ban chấp hành, đoàn viên công đoàn về trình độ học vấn, kiến thức, kỹ năng, điều hành họat động để có đánh giá khách quan về đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Phương pháp chuyên gia: Trong quá trình xây dựng bảng hỏi, các tiêu chí đánh giá về kiến thức, kỹ năng, phẩm chất đạo đức, chính trị được tham khảo dựa trên ý kiến của các chuyên gia. Đồng thời, tác giả tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong quá trình đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở treen địa bàn quận Long Biên. Phương pháp thống kê mô tả: Được sử dụng để xử lý các dữ liệu và thông tin thu thập được nhằm đảm bảo tính chính xác và từ đó, có thể đưa ra các kết luận có tính khoa học và độ tin cậy cao về vấn đề nghiên cứu. Cụ thể, trong luận văn tác giả sử dụng thống kê mô tả để mô tả số lượng đội ngũ ban chấp hành, cơ cấu đội ngũ ban chấp hành theo độ tuổi, giới tính...Đồng thời, thống kê mô tả các đánh giá của cán bộ công đoàn, đoàn viên, người lao động về kiến thức, kỹ năng và phẩm chất đạo đức, chính trị để có những đánh giá khách quan nhất về thực trạng năng lực đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên, Thành phố Hà Nội. Cùng với đó đề tài sử dụng một số phương pháp khác như: thống kê, so sánh, quy nạp... kết hợp nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn, nhằm làm rõ nội dung cơ bản của đề tài luận văn, bảo đảm tính khoa học và logic giữa các vấn đề được nêu ra. Ngoài ra luận văn cũng kế thừa, phát triển các kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan đến nội dung đề tài nhằm làm rõ những vấn đề chính của luận văn. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm các chương: Chương 1. Cơ sở lý luận về năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở. Chương 2. Thực trạng năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên, Thành phố Hà Nội. Chương 3. Giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên, Thành phố Hà Nội.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
NGUYỄN TRƯỜNG GIANG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 834.0101
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOC HỌC: PGS.TS TRẦN THỊ THU
HÀ NỘI - 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Trường Giang
i
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Trần Thị Thu người trực tiếp hướngdẫn khoa học đã có những gợi ý quý báu và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trìnhnghiên cứu và thực hiện Luận văn này
Xin trân thành cảm ơn các thầy, cô Khoa quản trị kinh doanh và Khoa Đào tạoSau Đại học viện Đại học mở Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ cho tôitrong học tập, nghiên cứu
Xin gửi lời cảm ơn đến Liên đoàn Lao động quận Long Biên và một số CĐCS đãhợp tác và giúp đỡ cung cấp các thông tin cần thiết, góp phần quan trọng vào sự thànhcông của luận văn
Qua đây, tôi cũng xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viênkhích lệ, giúp tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Trường Giang
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II MỤC LỤC III DANH MỤC BẢNG V
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ 7
1.1 CÁC KHÁI NIỆM 7
1.1.1 KHÁI NIỆM TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN, ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ 7
1.1.2 KHÁI NIỆM NĂNG LỰC 8
1.1.3 KHÁI NIỆM VỀ ĐỘI NGŨ 14
1.1.4 KHÁI NIỆM ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ 14
1.1.5 KHÁI NIỆM NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ 15
1.2 NỘI DUNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ 15
1.2.1 CÁC TIÊU CHÍ VỀ NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ 15
1.2.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ 21
1.2.3 CÁC HOẠT ĐỘNG NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ 24
TIỂU KẾT CHƯƠNG I 28
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 30
2.1 TỔNG QUAN QUẬN LONG BIÊN ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ 30
2.2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN 32
2.2.1 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN 32 2.2.2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ BAN CHẤP
iii
Trang 5HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN THEO SỐ
LIỆU KHẢO SÁT 37
2.2.3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ 41
2.3 THỰC TRANG CÁC HOẠT ĐỘNG NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN 45
2.4 ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT VỀ NĂNG LỰC CỦA ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN 48
2.4.1 NHỮNG ĐIỂM MẠNH SO VỚI YÊU CẦU CÔNG VIỆC 48
2.4.2 NHỮNG ĐIỂM YẾU SO VỚI YÊU CẦU CÔNG VIỆC 49
2.4.3 NGUYÊN NHÂN HẠN CHẾ 49
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 51
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN, TP HÀ NỘI 53
3.1 MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ 53
3.1.1 MỤC TIÊU NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ TRONG GIAI ĐOẠN MỚI 53
3.1.2 ĐỊNH HƯỚNG NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ TRONG GIAI ĐOẠN MỚI 53
3.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ 54
3.2.1 ĐỔI MỚI NHẬN THỨC VỀ CÁN BỘ VÀ CÔNG TÁC CÁN BỘ ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ CƠ SỞ 54
3.2.2 XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN CHO CÁC CHỨC DANH ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ 56
3.2.3 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC QUY HOẠCH, ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG VÀ RÈN LUYỆN ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ 58
3.2.4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ 59
3.2.5 ĐỔI MỚI, HOÀN THIỆN QUY CHẾ, QUY TRÌNH VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ 61
3.2.6 XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH BẢO VỆ, ĐÃI NGỘ ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN NGHIÊM TÚC CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH 65
Trang 63.2.7 ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC KIỂM TRA, QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ ĐỘI
NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ 65
3.2.8 GIẢI PHÁP KHEN THƯỞNG, KỈ LUẬT VÀ LUÂN CHUYỂN ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ: 67
3.3 Một số kiến nghị, đề xuất 67
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 68
KẾT LUẬN 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71 PHỤ LỤC
v
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: số lượng CĐCS, đoàn viên và Ủy viên BCH: 32
Bảng 2.2: Cơ cấu giới tính đội ngũ ban chấp hành công đoàn 33
Bảng 2.3: Cơ cấu đội ngũ Ban chấp hành CĐCS theo độ tuổi 33
Bảng 2.4: Cơ cấu đội ngũ Ban chấp hành CĐCS theo trình độ học vấn 34
Bảng 2.5: Cơ cấu đội ngũ Ban chấp hành CĐCS theo trình độ ngoại ngữ 34
Bảng 2.6: Cơ cấu đội ngũ Ban chấp hành CĐCS theo trình độ tin học 35
Bảng 2.7: Cơ cấu đội ngũ Ban chấp hành CĐCS về trình độ lý luận nghiệp vụ công tác công đoàn 36
Bảng 2.8: Cơ cấu đội ngũ Ban chấp hành CĐCS theo trình độ chuyên môn 36
Bảng 2.9: Cơ cấu đội ngũ Ban chấp hành CĐCS theo trình độ lý luận chính trị 37
Bảng 2.10: Đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn 37
Bảng 2.11: Mục đích tham gia công tác công đoàn cơ sở 38
Bảng 2.12: các phẩm chất khác 38
Bảng 2.13: Các phẩm chất về đạo đức, bản lĩnh chính trị, kiến thức pháp luật, công đoàn 39
Bảng 2.14: Các phẩm chất mối quan hệ với người sử dụng lao động, kỹ năng đàm phán, thương lượng tập thể, hòa đồng, thân thiện với người lao động, có khả năng tập hợp ý kiến người lao động: 40
Bảng 2.15: Đánh giá mức độ hài long và tin tưởng của người lao động đối với đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở: 40
Bảng 2.16: Vị trí làm việc của đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở: 41
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân,cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác (sau đây gọichung là người lao động) tự nguyện lập ra nhằm mục đích tập hợp, đoàn kết lực lượng,xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kể từ khi thành lập (ngày28/7/1929) đến nay, Công đoàn Việt Nam luôn trung thành với lợi ích của giai cấp côngnhân và dân tộc, đã tổ chức vận động công nhân, viên chức, lao động đi đầu trong sựnghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và vì lợi ích hợp phápchính đáng của người lao động trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nướcnhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
Trong nền kinh tế thị trường với sự phát triển đa dạng các thành phần kinh tế nhưhiện nay, số lượng các doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước cũng ngày một tăng lênnhanh chóng Tuy nhiên việc thành lập công đoàn cơ sở và tổ chức hoạt động phongtrào công nhân viên chức lao động, công đoàn còn gặp rất nhiều khó khăn Việc pháttriển, nâng cao năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trong các thành phầnkinh tế đang được đặt ra là một nhiệm vụ chiến lược, cấp bách cần được các cấp côngđoàn thực hiện quyết liệt
Cùng với quá trình đổi mới phát triển của đất nước, lực lượng công nhân laođộng cũng đã lớn mạnh không ngừng Từ khi thành lập trên cơ sở tách từ Liên đoànLao động huyện Gia Lâm (tháng 12/2003) đến nay, có thể khẳng định rằng Liên đoànLao động quận Long Biên đã lớn mạnh hơn cả về số lượng và chất lượng hoạt độngphong trào Đặc biệt việc phát triển đoàn viên, xây dựng tổ chức công đoàn ngày càngvững mạnh nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động,
và lợi ích của doanh nghiệp góp phần phát triển kinh tế xã hội của quận Long Biên.Đây là vấn đề nhiều năm qua đã được lãnh đạo quận đặc biệt quan tâm, đầu tư tích cực
và đã có những kết quả, thành tích, song thực tế hoạt động của tổ chức công đoàn vẫncòn bộc lộ những hạn chế, tồn tại, đặc biệt trong hoạt động của các công đoàn cơ sởnhư: các đơn vị khu vực ngoài nhà nước trên địa bàn hầu hết nhỏ về quy mô, thiếu tính
ổn định và khó kiểm soát Từ khi thành lập, chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn cơ
Trang 9sở luôn được Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động quận quan tâm, chỉ đạo và tổ chứchướng dẫn, bồi dưỡng; Năng lực, nề nếp và tác phong làm việc của đội ngũ Ban chấphành công đoàn cơ sở đã có chuyển biến tốt, trình độ chuyên môn được nâng lên đáng
kể Tuy nhiên, đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở 100% là kiêm nhiệm nên thờigian dành cho công tác công đoàn hạn chế, đội ngũ Ban chấp hành công đoàn thườngxuyên biến động, thay đổi sau mỗi kỳ đại hội nên ít kinh nghiệm hoạt động công đoàn.100% đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở hưởng lương của người sử dụng laođộng nên quyền lợi của họ lại gắn chặt với doanh nghiệp, do chủ doanh nghiệp quyếtđịnh, tiếng nói không có sức nặng và không phát huy được vai trò đại diện bảo vệ chongười lao động Tỷ lệ đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở được đào tạo bài bảnqua Đại học công đoàn hoặc lý luận nghiệp vụ công đoàn đạt tỷ lệ thấp, khoảng 4%.Một bộ phận đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở, đặc biệt là khối doanh nghiệpkhu vực ngoài nhà nước còn bộc lộ một số khuyết điểm, hạn chế như năng lực thựctiễn trong thực thi nhiệm vụ, kỹ năng nghiệp vụ còn hạn chế, thiếu tinh thần tráchnhiệm với công việc, thiếu ý thức tự học tập nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ
Xuất phát từ những cơ sở nêu trên với trách nhiệm, tâm huyết của một cán bộchuyên trách công đoàn và vận dụng những kiến thức đã được học, tôi chọn đề tài:
“Nâng cao năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên, Thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Năng lực của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở là yếu tố quan trọng đểquyết định chất lượng hoạt động của công đoàn cơ sở Vấn đề nâng cao năng lực độingũ ban chấp hành công đoàn cơ sở rất được quan tâm và nghiên cứu Tuy nhiênnhững công trình nghiên cứu chỉ tập trung đi sâu vào một phương diện hoặc một khíacạnh của hoạt động tạo công đoàn và chưa tiến hành nghiên cứu tại quận Long Biên
Cụ thể như:
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Tổng Liên đoàn: “Giải pháp nâng cao chấtlượng đội ngũ cán bộ Công đoàn trong hội nhập kinh tế quốc tế” do TS Nguyễn ĐứcTĩnh, trường Đại học Công đoàn chủ nhiệm Đề tài đã phân tích những cơ sở lý luận
về đội ngũ cán bộ công đoàn, chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn và bản chất của hộinhập quốc tế, thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn hiện nay Từ những cơ
Trang 10sở lý luận và thực tiễn, nhóm nghiên cứu đã đề xuất 7 nhóm giải pháp nhằm nâng caochất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn nâng trong hội nhập quốc tế Đề tài có ý nghĩaquan trọng trong điều kiện hiện nay, từ đó tạo cơ sở lý luận để Tổng Liên đoàn xâydựng chế độ chính sách đối với đội ngũ cán bộ Công đoàn, đáp ứng nhu cầu hiện nay.
- Đề tài về “Nâng cao vai trò công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp ngoài quốcdoanh trên địa bàn Hà Nội” do Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động Thành phố Hà Nộilàm chủ nhiệm Đề tài đã đánh giá tình hình thực trạng hoạt động CĐCS khu vựcngoài quốc doanh và chất lượng thương lượng, ký kết và thỏa ước lao động tập thể tạicác doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Qua đó đưa ra các giải pháp thực hiện hiệuquả hơn, góp phần cải thiện tình hình hoạt động của Công đoàn các doanh nghiệp Đềtài có tính lý luận thực tiễn cao, có tính cấp thiết trong bối cảnh hiện nay; phương phápnghiên cứu hợp lý phù hợp mục tiêu, nhiệm vụ; công tác tổ chức hợp lý giúp chohoạt động CĐCS ngoài quốc doanh, hoạt động thương lượng, ký kết và thỏa ước laođộng tập thể tại các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hà nội hiệu quả hơn
- Đề tài “Đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Côngđoàn” - Nguyễn Xuân Thái Đề tài đã cung cấp những phương pháp hay, mới, khả thinhằm đổi mới cách thức đào tạo, tập huấn Phương pháp mới này giúp tiết kiệm chiphí và thời gian trong quá trình đào tạo cán bộ công đoàn
Hầu hết các đề tài nghiên cứu đều đi sâu nghiên cứu một khía cạnh của hoạt độngnâng cao chất lượng cán bộ công đoàn nói chung Chưa có công trình nghiên cứu nănglực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên Hơn thế nữa,cho đến thời điểm này, tại quận Long Biên chưa có một đề tài nghiên cứu nào đề cập
đến nâng cao năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở Với tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài như vậy, việc nghiên cứu toàn diện nâng cao năng lực đội ngũ
Ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội là mộtviệc làm hết sức cần thiết
3 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng lý luận năng lực cán bộ, đánh giá thực trạng năng lực đội ngũ Banchấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên, Thành phố Hà Nội, đề xuấtgiải pháp nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Trang 11Đối tượng nghiên cứu:
Năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở
Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dụng: Luận văn tập trung nghiên cứu năng lực của đội ngũ Ban chấp hànhcông đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên, với các khảo sát chuyên sâu tại một sốcông đoàn cơ sở đại diện theo khối
- Về thời gian: từ năm 2013 đến năm 2019
- Không gian: địa bàn quận Long Biên, Thành phố Hà Nội
5 Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn đặt trọng tâm trả lời câu hỏi nghiên cứu sau :
- Cơ sở lý luận nghiên cứu các giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ Ban chấphành công đoàn cơ sở là gì?
- Thực trạng các hoạt động nâng cao năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn
cơ sở? Những giải pháp đó đã đạt được những kết quả gì? còn bất cập hạn chế gì ?
- Cần có những giải pháp nào để tiếp tục hoàn thiện đội ngũ Ban chấp hành côngđoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên?
6 Phương pháp nghiên cứu
6.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
Phương pháp thu thập dữ liệu:
+ Thu thập dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu thứ cấp được thu thập bằng phương pháp
Trang 12hoạt động công đoàn các năm 2013 – 2019, Báo cáo tình hình CĐCS, đoàn viên cácnăm 2013 – 2018 của Liên đoàn Lao động quận Long Biên Các chương trình kếhoạch hoạt động của Liên đoàn Lao động quận Long Biên các năm 2013 - 2019…đểđánh giá, phân tích số lượng CĐCS, số lượng đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sởtheo độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn…
+ Thu thập dữ liệu sơ cấp: Tác giả tiến hành thu thập dữ liệu sơ cấp bằng phươngpháp phỏng vấn bằng Phiếu hỏi Đối tượng phỏng vấn là toàn bộ 104 ủy viên ban chấphành công đoàn cơ sở của 21 CĐCS đại diện 3 khối: Hành chính sự nghiệp, Trường học
và Doanh nghiệp và 1.000 phiếu hỏi đoàn viên công đoàn, người lao động Bảng hỏi đượcthiết kế bao gồm có 2 phần: Phần 1: thông tin chung của đối tượng được phỏng vấn vàphần 2: Đánh giá của đội ngũ ban chấp hành, đoàn viên công đoàn về trình độ học vấn,kiến thức, kỹ năng, điều hành họat động để có đánh giá khách quan về đội ngũ ban chấphành công đoàn cơ sở trong quá trình thực thi nhiệm vụ
Phương pháp chuyên gia: Trong quá trình xây dựng bảng hỏi, các tiêu chí đánh
giá về kiến thức, kỹ năng, phẩm chất đạo đức, chính trị được tham khảo dựa trên ýkiến của các chuyên gia Đồng thời, tác giả tham khảo ý kiến của các chuyên gia trongquá trình đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực đội ngũ ban chấp hànhcông đoàn cơ sở treen địa bàn quận Long Biên
Phương pháp thống kê mô tả: Được sử dụng để xử lý các dữ liệu và thông tin
thu thập được nhằm đảm bảo tính chính xác và từ đó, có thể đưa ra các kết luận có tínhkhoa học và độ tin cậy cao về vấn đề nghiên cứu Cụ thể, trong luận văn tác giả sửdụng thống kê mô tả để mô tả số lượng đội ngũ ban chấp hành, cơ cấu đội ngũ banchấp hành theo độ tuổi, giới tính Đồng thời, thống kê mô tả các đánh giá của cán bộcông đoàn, đoàn viên, người lao động về kiến thức, kỹ năng và phẩm chất đạo đức,chính trị để có những đánh giá khách quan nhất về thực trạng năng lực đội ngũ banchấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên, Thành phố Hà Nội
Cùng với đó đề tài sử dụng một số phương pháp khác như: thống kê, so sánh, quynạp kết hợp nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn, nhằm làm rõ nội dung cơ bản của
đề tài luận văn, bảo đảm tính khoa học và logic giữa các vấn đề được nêu ra Ngoài ra luậnvăn cũng kế thừa, phát triển các kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan đến nộidung đề tài nhằm làm rõ những vấn đề chính của luận văn
Trang 137 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm cácchương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở.Chương 2 Thực trạng năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địabàn quận Long Biên, Thành phố Hà Nội
Chương 3 Giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sởtrên địa bàn quận Long Biên, Thành phố Hà Nội
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ BAN CHẤP
HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Khái niệm tổ chức công đoàn, đội ngũ ban chấp hành Công đoàn cơ sở
Công đoàn là tổ chức chính trị xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và ngườilao động, là thành viên của hệ thống chính trị xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo củaĐảng Cộng sản Việt Nam Cán bộ công đoàn là cán bộ đoàn thể chính trị - xã hội Độingũ Ban chấp hành công đoàn là một bộ phận của Đảng Đội ngũ Ban chấp hành côngđoàn cũng có đầy đủ ba đặc trưng của cán bộ nói chung như:
- Là người được bổ nhiệm, hoặc được lựa chọn để đảm nhận công việc nhất địnhtrong một tổ chức nào đó (đặc trưng này phân biệt cán bộ với người không có chức vụ,không có cương vị)
- Chức vụ, cương vị của người cán bộ liên quan đến việc lãnh đạo, quản lý, điềuhành hoạt động của một tổ chức nhất định (Đặc trưng này phân biệt giữa cán bộ vớinhững người cũng có chức vụ, cương vị nhưng không coi là cán bộ như trưởng tộcchẳng hạn)
- Cán bộ là người có tác động, có ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức, đồng thời
có vai trò điều chỉnh mối quan hệ liên quan đến lãnh đạo, quản lý điều hành hoạt động,
cũng như ảnh hưởng tới việc định hướng, duy trì, thúc đẩy sự phát triển của tổ chức
Đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở là cán bộ của tổ chức chính trị xã hộicủa giai cấp công nhân và người lao động nên có những đặc điểm riêng Có thể định
nghĩa về đội ngũ Ban chấp hành công đoàn như sau: Đội ngũ Ban chấp hành công
đoàn cơ sở là những người đứng trong tổ chức Công đoàn Việt Nam, được lựa chọn thông qua bầu cử tại công đoàn cơ sở, hoặc công đoàn cấp trên lựa chọn chỉ định giao một nhiệm vụ để thực hiện hiện chức năng, nhiệm vụ của công đoàn đã đề ra.
Hầu hết đội ngũ Ban chấp hành công đoàn đều trưởng thành từ phong trào công
nhân, công đoàn và được tín nhiệm, lựa chọn thông qua bầu cử Đội ngũ Ban chấp
Trang 15hành công đoàn là những cán bộ có nhiệt tình trong công tác công đoàn, có kinhnghiệm vận động và có uy tín đối với CNVCLĐ Đội ngũ Ban chấp hành công đoànđược bầu chọn trong các kỳ đại hội công đoàn các cấp nên tỷ lệ cán bộ thay đổi quacác kỳ đại hội là khá lớn, nhất là đối với đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở khuvực ngoài nhà nước Mặt khác, vì hoạt động công đoàn là hoạt động xã hội nên số độingũ Ban chấp hành công đoàn hoạt động kiêm nhiệm cũng chiếm tỷ lệ rất lớn trongtổng số cán bộ công đoàn, do vậy cũng gây ít nhiều khó khăn cho đội ngũ Ban chấphành công đoàn nhất là đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở.
Điều 4, Luật Công đoàn năm 2012 đã nêu rõ: “Công đoàn cơ sở là tổ chức cơ sở
của Công đoàn, tập hợp đoàn viên công đoàn trong một hoặc một số cơ quan, tổ chức,doanh nghiệp, được công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở công nhận theo quy định củapháp luật và Điều lệ Công đoàn Việt Nam”
1.1.2 Khái niệm năng lực
Trước khi bàn về năng lực của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn, chúng ta cầnlàm rõ hai vấn đề cơ bản có ý nghĩa phương pháp luận là : Năng lực nói chung của conngười là gì? Năng lực và phẩm chất có quan hệ với nhau như thế nào trong bản thânmỗi con người?
Vấn đề thứ nhất: để trả lời câu hỏi năng lực của con người là gì? Vấn đề này
trong lịch sử tư tưởng nhân loại, đã có nhiều phương thức tiếp cận nghiên cứu, giảithích khác nhau Có học thuyết nhìn nhận năng lực cá nhân một cách trừu tượng, táchrời mảnh đất hiện thực vốn có; chỉ gắn năng lực cho một bộ phận, một nhóm cá nhân(thường là tầng lớp tinh tú của xã hội), còn theo họ đại bộ phận quần chúng lao động
bị áp bức, những người không có năng lực, nên họ phải chấp nhận làm thuê Chủ nghĩaMác-Lênin, trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và lịch sử, đã đem lạimột cách nhìn nhận thật sự khoa học về năng lực và các điều kiện để hình thành nănglực của cá nhân mỗi con người trong xã hội
Theo quan niệm Mác-xít, năng lực hiểu theo nghĩa rộng là những đặc tính tâm lýcủa cá thể điều tiết hành vi của cá thể và là điều kiện cho hoạt động sống của cá thể.Năng lực chung nhất của cá thể là tính nhạy cảm được hoàn thiện trong suốt quá trìnhphát triển về mặt phát sinh loài và về mặt phát triển cá thể
Còn hiểu theo nghĩa hẹp thì năng lực cá nhân là toàn bộ những đặc tính tâm lý
Trang 16của con người khiến cho nó thích hợp với một hình thức hoạt động nghề nghiệp nhấtđịnh đã được hình thành trong quá trình phát triển lịch sử Trái ngược với động vậtnăng lực của con người là sự tổng hợp những kinh nghiệm loài được truyền lại, nhờ cơchế di truyền sinh vật và kinh nghiệm cá thể Nói một cách tổng quát năng lực của conngười chính là sản phẩm của sự phát triển xã hội Do vậy nếu tách rời môi trường hoạtđộng thực tiễn của lịch sử – xã hội, thì không thể có năng lực thật sự của cá nhân Sựhình thành năng lực con người chính là sự đòi hỏi của cá thể con người, phải nắmđược các hình thức hoạt động mà loài người đã tạo ra trong quá trình vận động, pháttriển lịch sử – xã hội Vì vậy, năng lực của mỗi con người không chỉ do hoạt động của
bộ não con người quyết định, mà trước hết là do trình độ phát triển của xã hội mà loàingười đã đạt được Theo ý nghĩa đó thì năng lực của mỗi con người nói chung của độingũ Ban chấp hành công đoàn nói riêng luôn gắn liền và không thể tách rời với tổ chứclao động xã hội, hệ thống giáo dục thích ứng với tổ chức đó Trong xã hội có bóc lột,
do bản chất của giai cấp thống trị, nên người lao động có ít những điều kiện hiện thựccần thiết để hình thành những năng lực sáng tạo Mặt khác giai cấp thống trị cũng luôntìm cách để chứng minh rằng, tình cảnh của các giai cấp bị bóc lột được quyết định bởiviệc họ không có những năng lực cần thiết cho phát triển; theo các giai cấp thống trị
sự phân chia giai cấp xã hội là do đặc tính sinh học chi phối, con người không thểcưỡng lại được và không thể thay đổi địa vị của các giai cấp trong xã hội Phủ nhậntính phi lý, phản khoa học và ngụy biện của các loại quan điểm này, lý luận Mác –Lênin khẳng định sự phát triển năng lực của con người gắn với các điều kiện và quan
hệ xã hội, trong điều kiện lịch sử cụ thể; sự hình thành và hiện thực hóa năng lực vốn
có của cá nhân con người phụ thuộc vào bản chất của chế độ xã hội Từ quan quanđiểm khoa học, biện chứng về năng lục con người, chủ nghĩa Mác Lênin khẳng địnhviệc phát triển năng lực con người một cách toàn diện, mở ra những điều kiện, conđường để mỗi người đi tới những nghề nghiệp và những hình thức hoạt động khácnhau, là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công cuộc xây dựng chế độ xã hộimới, chế độ xã hội, xã hội chủ nghĩa Trên cơ sở quan điểm tổng quan về năng lực cánhân của chủ nghĩa Mác Lênin, bàn về khái niệm năng lực cuả con người, từ điển tiếngViệt năm 1998 do Hoàng Phê chủ biên, đã đưa ra định nghĩa cụ thể về năng lực con
người là: danh từ chỉ khả năng (cái vốn có) về vật chất hoặc tinh thần có thể làm được
một việc nào đó, năng lực cá nhân là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người
Trang 17có khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao Còn khả năng là
cái vốn có của con người để có thể làm được một việc gì đó, trong một điều kiện nhấtđịnh, là tiềm năng của con người đã được bộc lộ hoặc chưa bộc lộ
Trên cơ sở quan điểm tổng quan và định nghĩa cụ thể về năng lực con người là cơ
sở phương pháp luận để chúng ta nghiên cứu đưa ra định nghĩa năng lực cán bộ nóichung, năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn nói riêng
Khi bàn về năng lực cán bộ, chủ nghĩa Mác - Lênin đánh giá cao năng lực hoạtđộng thực tiễn của các nhà cách mạng chuyên nghiệp, những người gắn bó mật thiếtvới quần chúng, trung thành với lợi ích của giai cấp, của dân tộc và chủ nghĩa quốc tế
vô sản Lênin cho rằng, ngoài lòng trung thành vô hạn đối với cách mạng, cán bộ lãnhđạo cần có tri thực lý luận rộng rãi, không bao giờ mềm yếu, do dự trong các vấn đề về
lý luận, có năng lực hoạt động thực tiễn, trên cơ sở hiểu biết sâu sắc về con người.Trong tác phẩm “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô Viết” (4/1918) Lêninchỉ rõ: “Chúng ta đi con đường chúng ta, tìm cho ra và thử thách một cách nhẫn nại,hết sức thận trọng những người thực sự có tài tổ chức, những người có bộ óc sáng suốt
và có bản lĩnh tháo vát trong thực tiễn, những người vừa trung thành với xã hội, vừa cónăng lực lặng lẽ (bất chấp sự hỗn loạn và ồn ào) tổ chức công tác chung vững chắc vànhịp nhàng của khối người to lớn trong phạm vi Xô Viết” Ông nhấn mạnh “Không có
sự chỉ đạo của các chuyên gia am hiểu các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và có kinhnghiệm, thì không thể nào chuyển lên chủ nghĩa xã hội được, vì chủ nghĩa xã hội đòihỏi bước tiến có ý thức và có tính chất quần chúng để đi tới một năng suất lao độngcao hơn năng suất của chủ nghĩa tư bản, dựa trên cơ sở những kết quả mà chủ nghĩa tưbản đã đạt được”1 Khẳng định vai trò to lớn, quyết định của năng lực cán bộ, Lênincũng nhắc nhở đảng của giai cấp Vô sản phải quan tâm đào tạo lại cán bộ “Phải họclại như thế nào để người cán bộ thực tiễn - cổ động có thể giữ cái địa vị tương xứngvới người đó”, do đó cần “Phải học tập ngay kinh nghiệm thực tiễn của bản thân Cũngphải học tập kinh nghiệm của giai cấp tư sản nữa, họ biết cách giữ vững nền thống trịcủa giai cấp họ, họ có những kinh nghiệm mà chúng ta không thể bỏ qua được; gạt bỏnhững kinh nghiệm đó tức là hết sức tự phụ và hết sức nguy hại cho cách mạng”2.Lênin còn đòi hỏi Cán bộ quản lý phải thành thạo chuyên môn trong lĩnh vực mình
1 V I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mat-Xơ-Va, 1979, t 36, tr.217.
Trang 18phụ trách, Ông nhấn mạnh: “Muốn quản lý thì phải là người thông thạo chuyên môn,phải biết một cách đầy đủ và chính xác tất cả những điều kiện sản xuất, phải hiểu được
kỹ thuật của nền sản xuất đó ở trình độ hiện đại của nó, phải có một trình độ khoa họcnhất định”3, quán triệt sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin Hồ Chí Minh cũngthường xuyên quan tâm đến năng lực cán bộ và vai trò quan trọng cũng như sự cầnthiết phải nâng cao năng lực cán bộ Người luôn đề cao năng lực của cán bộ chuyênmôn của cán bộ quản lý, Người nói “Những người lãnh đạo cần có một nhóm cán bộnhiều kinh nghiệm, giàu năng lực để giúp mình đi kiểm tra Ai đi kiểm tra việc gì, nơinào có sơ suất thì người ấy phải chịu trách nhiệm” (trang 251, tập 5) Người đặc biệtcoi trọng việc phát huy tối đa năng lực của quần chúng nhân dân Do vậy ngay sau khigiải phóng đất nước nói chuyện với bộ đội và công an vào tiếp quản Thủ đô), Bác Hồnói: “Việc thì rất nhiều, chỉ Bác cháu ta không làm hết việc đâu, chúng ta phải dùngnăng lực của nhiều người” (tr 374, tập 7) Trong phát biểu với Hội nghị cán bộ quản lý
xí nghiệp toàn quốc (11/1955) Bác căn dặn: “Phải khéo đoàn kết và lãnh đạo côngnhân, mọi việc đều dựa vào lòng nồng nàn yêu nước và năng lực sáng tạo dồi dào củacông nhân, dùng phương pháp dân chủ mới đẩy mạnh phong trào thi đua sản xuất vàtiết kiệm” (tr 85 tập 8) Theo Bác “Việc dùng nhân tài không nên căn cứ vào nhữngđiều kiện quá khắt khe Miễn là không phản lại quyền lợi của quần chúng, không làViệt gian, thân Pháp, thân Nhật, có lòng trung thành với Tổ quốc là có thể dùng được,tài to dùng việc to, tài nhỏ dùng việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì ta đặt ngay vào việcấy”(trang 39 tập 4) Tài mà Bác dùng đây chính là năng lực, sở trường, khả năng hoànthành nhiệm vụ của mỗi con người
Vậy năng lực cán bộ là gì? Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tưtưởng Hồ chí Minh về năng lực cán bộ, theo tôi có thể hiểu theo cách thông thườngNăng lực cán bộ là khả năng, hay là sự khéo léo, sự thông minh, trí thông minh củangười cán bộ đảm bảo để hoàn thành công việc được giao Như vậy theo cách hiểu nàychúng ta cần phân biệt rõ giữa “người có tài” hay “tài năng của cá nhân” với năng lục
cá nhân Bởi người có tài hay tài năng của cá nhân là yêu cầu ở mức cao hơn năng lực
cá nhân, vì tài là “khả năng đặc biệt để làm một việc nào đó”, người có tài năng làngười có “năng lực xuất sắc, khả năng làm giỏi và có sáng tạo một việc gì đó”4 Cònnăng lực chỉ là khả năng của người cán bộ để hoàn thành nhiệm vụ được giao Như
3 Sđ d tr 248
Trang 19vậy năng lực của người cán bộ, không chỉ đơn thuần là năng khiếu bẩm sinh, mà còn
là kết quả của sự khổ luyện trong quá trình học tập, nghiên cứu, rèn luyện để có được.Tuy nhiên đoi khi trong thực tế nhiều lúc chúng ta vẫn quan niệm năng lực đồng nghĩavới tài năng
Vấn đề thứ hai: Mối quan hệ giữa năng lực và phẩm chất trong một con người.
Khi nói về phẩm chất và năng lực; đạo đức và tài năng; “hồng” và “chuyên” là chúng
ta đã bước vào địa hạt phương thức tiếp cận cấu trúc nhân cách của một cá nhân Với
tư cách là một hệ thống Trong cấu trúc nhân cách cá nhân bao gồm hai bộ phận: bộphận phẩm chất và bộ phận năng lực; bản thân “phẩm chất” và “năng lực” lại bao gồmmột tiểu hệ thống các tiêu chuẩn, chuẩn mực cụ thể
Trong mỗi cá nhân mỗi con người, phẩm chất và năng lực có vị trí xác định, tácđộng biện chứng, chi phối và hỗ trợ lẫn nhau Hiện nay, trong công tác cán bộ Đảng takhẳng định phẩm chất, đạo đức là gốc của người cán bộ, nghĩa là làm cán bộ nhấtđịnh phải có đạo đức, phẩm chất; Bác Hồ chỉ rõ “ Sức có mạnh mới gánh được nặng
và đi được xa, người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoànthành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” Cũng như sông có nguồn thì mới có nước,không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo người cáchmạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo đượcnhân dân” Thực tế cho thấy, nếu cán bộ không có phẩm chất đạo đức thì cán bộchẳng những không thể thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chủ trương, chínhsách, pháp luật của Nhà nước; không thể đạt được hiệu quả cao trong công tác mà cán
bộ còn có thể bị vấp ngã, thất bại, suy vong Như vậy không xứng danh một cán bộcách mạng theo đúng nghĩa là “công bộc” tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân Nhưngnếu trong công tác cán bộ chỉ tuyệt đối hóa mặt phẩm chất, đạo đức thì lại là sai lầm.Bởi trong đời sống hiện thực, tài, năng lực cá nhân cũng rất quan trọng, vì không cónăng lục thì không thể hoàn thành nhiệm vụ được giao Do vậy trong công tác cán bộcần phải quán triệt sâu sắc quan điểm “phẩm chất đạo đức là gốc” – tức là trong nộihàm đó đã gắn liền giữa phẩm chất, đạo đức với năng lực cán bộ, nên khi nói đếnphẩm chất đạo đức cán bộ tức là đã chứa đựng cả năng lực và phẩm chất của cán bộ,hai mặt này lồng vào nhau; cái này có trong cái kia và ngược lại: Trong phẩm chất cónăng lực và trong năng lực cũng có phẩm chất Tuy nhiên trong đời sống thực tế cóngười có phẩm chất đạo đức nhưng không có năng lực, những người như vậy không
Trang 20làm hại ai, nhưng không thể thực hiện tốt được nhiệm vụ giao Ngược lại cũng cónhững người có năng lực nhưng không có phẩm chất đạo đức, những người như vậy
dễ dẫn đến chết người, hại của, gây hậu quả xấu lâu dài Vì vậy, trong công tác cán
bộ phải gắn liền giữa phẩm chất, đạo đức và năng lực với nhau Tách riêng năng lực
cán bộ ra thành một đối tượng độc lập trong nghiên cứu chỉ mang ý nghĩa tương đối;
nhằm khám phá các mặt hợp thành của tiểu hệ thống trong cấu trúc hệ thống của mộtnhân cách con người
Khi bàn đến quan hệ giữa phẩm chất đạo đức và năng lực, Lênin cho rằng, ngườicán bộ là sự hội tụ của hai yếu tố phẩm chất - đạo đức và tri thức - năng lực Hai yếu tốnày đòi hỏi phải thống nhất, tập trung bất di bất dịch, không thay đổi, không thể thiếuđối với mỗi người cán bộ Cán bộ phải có “phẩm chất cao quý”, hiểu theo nghĩa là cán
bộ phải có lòng trung thành vô hạn đối với cách mạng, có tri thức lý luận rộng rãi, cónăng lực hoạt động thực tiễn, trên cơ sở hiểu biết sâu sắc về con người, có mối quan hệgắn bó chặt chẽ với quần chúng, có uy tín lớn và được quần chúng nhân dân quý mến.Tất cả những phẩm chất đó là điều kiện quan trọng đầu tiên, đối với mỗi người cán bộ
“Lòng trung thành được kết hợp với năng lực hiểu biết của con người, với năng lựcgiải quyết những vấn đề tổ chức, thì chỉ có lòng trung thành đó mới có thể rèn luyện ranhững nhà tổ chức lớn”5 Đối với cán bộ lòng trung thành và năng lực được thể hiệnkhông chỉ bằng những lời tuyên bố, hứa hẹn, mà quan trọng hơn hết , là việc chấphành nghiêm chỉnh đường lối, chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và việc luôn phấn đấu thựchiện tốt nhiệm vụ được giao Do vậy trong bất kỳ công việc gì muốn tổ chức thực hiệntốt công việc, nhất thiết phải có người cán bộ có tài, có đức; bởi đức và tài là hai phạmtrù cơ bản hợp thành nhân cách của con người nói chung, người cán bộ nói riêng,không thể thiếu hoặc xem nhẹ một mặt nào Nếu xem nhẹ bất cứ mặt nào thì đều dẫnđến không xứng danh người cán bộ theo đúng nghĩa là “ công bộc của dân” Đức và tàicủa người cán bộ được thể hiện là người cán bộ phải có bản lĩnh chính trị, phẩm chất,đạo đức cách mạng trung thanh và kiên định mục tiêu lý tưởng của giai cấp của dân tộc,
có trình độ tổng kết thực tiễn, từ tổng kết thực tiễn để khái quát nâng lên thành lý luận, cónăng lực thực hiện tốt nhiệm vụ được giao Khi bàn về quan hệ giữa tài và đức Hồ ChíMinh nhấn mạnh: “Có tài mà không có đức thì vô dụng, có đức mà không có tài thì làmviệc gì cũng khó”, nhưng tài năng của người cán bộ phải trải qua quá trình học tập rèn
5 V I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mat-Xơ-Va, 1978, t.38, tr 94
Trang 21luyện mà tiến bộ “khổ luyện thành tài”, đồng thời tài phải luôn đi cùng với tu dưỡng đạođức cách mạng, có “tu thân tích đức” mới trưởng thành “Đạo đức cách mạng không phảitrên trời sa xuống Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố.Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”6.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất coi trọng tác phong làm việc gần gũi quần chúngnhân dân của cán bộ, trong một lần họp Chính phủ Người nói: “Tôi đề nghị các vị Bộtrưởng nên luyện cho mình có đôi chân hay đi, đôi mắt hay nhìn, cái óc hay nghĩ,không nên chỉ ngồi bàn giấy, theo kiểu “đạo nhân phòng thủ”; phải khắc phục tìnhtrạng là hội mà không nghị, nghị mà không quyết, quyết rồi mà không làm”7 Đối vớicán bộ dân vận (trong đó có đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở), Người dặn:
“Muốn thật sự gần gũi quần chúng, thì phải cùng ăn, cùng ở, cùng làm mới biết sinhhoạt của quần chúng thế nào, mới biết khó khăn, biết chí khí của quần chúng như thếnào, mới biết nguyện vọng của quần chúng như thế nào”8 “Những người phụ trách dânvận cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm Chứ không chỉnói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh Họ thật thà phải nhúng tay vào việc”
1.1.3 Khái niệm về đội ngũ
Đội ngũ là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong các tổ chức như đội ngũ cán bộcông nhân viên chức, đội ngũ cán bộ khoa học Khái niệm đội ngũ được xuất phát từthuật ngữ quân sự, đó là tổ chức gồm nhiều người tập hợp thành một lực lượng hoànchỉnh Như vậy, đội ngũ có thể được hiểu là tập hợp một số người có cùng chức năng,nhiệm vụ và nghề nghiệp
1.1.4 Khái niệm Đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở
Đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở là tập hợp những đồng chí trong Banchấp hành công đoàn cơ sở được ghi trong Điều lệ Công đoàn Việt Nam, bao gồm:Những người được Đại hội công đoàn, Hội nghị công đoàn các cấp bầu ra hoặc đượcBan chấp hành công đoàn cấp trên chỉ định vào Ban chấp hành công đoàn cơ sở vớicác chức danh cụ thể sau:
- Chủ tịch công đoàn cơ sở
- Phó chủ tịch công đoàn cơ sở
6 HCM tt, t9, tr293
7 Biên niên tiểu sử HCM tập 10, tr 139
Trang 22- Các Ủy viên Ban chấp hành công đoàn cơ sở.
1.1.5 Khái niệm năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở
Từ cách đặt và hiểu vấn đề năng lực, mối quan hệ giữa năng lực và phẩm chấttrong một con người; cho phép chúng ta có thể đưa ra kết luận, xét về thực chất, nănglực của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở là toàn bộ những đặc tính tâm lý vốn cócủa người cán bộ cách mạng đảm bảo đáp ứng được yêu cầu công tác vận động, tổ chức,giáo dục quần chúng công nhân, viên chức, lao động xứng đáng vai trò tiên phong cáchmạng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"
Như vậy năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở là cái vốn có trongbản thân đội ngũ ban chấp hành, được bồi dưỡng, tích lũy để có thể tổ chức thực hiệntốt nhiệm vụ của các cấp công đoàn trong từng giai đoạn Phạm trù “năng lực của độingũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở” mang tính lịch sử Ở mỗi giai đoạn phát triểnkhác nhau trong những điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau, do tiềm lực tích lũy củađội ngũ cán bộ, do mục tiêu, chức năng, yêu cầu hoàn thành các nhiệm vụ khác nhau,
mà đòi hỏi đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải có những năng lực tương ứng.Tuy vậy, trong tổ chức hoạt động công đoàn ở thời kỳ nào cũng đòi hỏi đội ngũ Ban chấphành công đoàn cơ sở phải có những năng lực chung, mang tính phổ biến sau:
+ Trình độ hiểu biết chung
+ Năng lực chuyên môn nghiệp vụ
+ Trình độ lý luận chính trị
+ Năng lực lãnh đạo, tổ chức thực tiễn
+ Năng lực vận dụng, áp dụng các phương pháp vận động quần chúng
1.2 Nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở
1.2.1 Các tiêu chí về năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở
Công tác cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, khiđánh giá cán bộ Đảng ta khẳng định dựa vào tiêu chí “Lấy hiệu quả công tác thực tế và
sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu” Đây là tiêu chí tổng hợp bao gồm
Trang 23cả phẩm chất và năng lực của cán bộ đã được hiện thực hóa thông qua việc làm thực tếcủa cán bộ Tuy nhiên về năng lực cán bộ cũng có các tiêu chí cụ thể để đánh giá từngloại năng lực, như: năng lực chuyên môn; năng lực lãnh đạo, quản lý; năng lực tổ chứcthực hiện các nhiệm vụ hàng ngày Vận dụng vào trong công tác cán bộ công đoàntheo tôi đánh giá năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở có thể sử dụng một
số các tiêu chí cơ bản sau:
+ Tiêu chí về trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ và trình độ nghiệp vụcông tác công đoàn được đào tạo Xuất phát từ vị trí, yêu cầu của mỗi cấp, mỗi loạicán bộ công đoàn mà đòi hỏi về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn và nghiệp vụcông tác công đoàn khác nhau Nghĩa là trên cơ sở yêu cầu nhiệm vụ của từng loại,từng cấp cán bộ và trên cơ sở điều kiện thực tế của từng giai đoạn lịch sử, vị trí, yêucầu của mỗi loại, mỗi cấp cán bộ đòi hỏi cán bộ công đoàn phải có tiêu chuẩn nhấtđịnh về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ công tác công đoàn Tiêu chítrình độ học vấn, tình độ chuyên môn, nghiệp vụ là tiêu chí rõ ràng cụ thể dễ lượnghóa để đánh giá, tuy nhiên trong chừng mực nào đó thì việc tiêu chuẩn hóa đội ngũBan chấp hành công đoàn cơ sở thông qua các lớp đào tạo, tập huấn thể hiện thông qua(bằng cấp) được ghi trong lý lịch cán bộ cũng chưa thể đánh giá hoàn toàn đúng nănglực cán bộ Bởi trong thực tế những năm vừa qua không ít trường hợp chạy theo bằngcấp, chất lượng đào tạo của một số cơ sở chưa cao, dẫn đến có trường hợp người đượcđào tạo có bằng cấp cao nhưng không có khả năng vận dụng kiến thức đã học vào thựctiễn Do vậy thực hiện tiêu chuẩn hoá đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phảikết hợp chặt chẽ giữa tiêu chuẩn bằng cấp với năng lực thực tế của cán bộ Trong giaiđoạn hiện nay phát triển nền kinh tế thị trường định hưỡng xã hội chủ nghĩa và hộinhập quốc tế, trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ của người lao động từng bướcđược nâng lên Do vậy đòi hỏi khách quan phải không ngừng nâng cao trình độ họcvấn đội ngũ đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở thì mới đáp ứng được yêu cầuphong trào công nhân, hoạt động công đoàn, Từ yêu cầu thực tế trong phong trào côngnhân, hoạt động công đoàn, từ yêu cầu của công tác vận động, tập hợp công nhân, laođộng trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước trong điều kiện khoa học
kỹ thuật, công nghệ phát triển với tốc độ ngày càng lớn, toàn cầu hoá diễn ra như một
xu thế khách quan Theo tôi hiện nay trình độ học vấn của đội ngũ Ban chấp hànhcông đoàn cơ sở chí ít cũng phải đạt mức trình độ trung bình khá của đội ngũ công
Trang 24nhân, lao động trong phạm vi đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoạt động Mặtkhác đã là đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở dù cán bộ chuyên trách hay cán bộcông đoàn kiêm nhiệm, dù cán bộ nghiệp vụ hay cán bộ phong trào, thì nhất thiết phải
có trình độ nghiệp vụ công tác công đoàn, nghĩa là tuỳ theo từng loại, từng cấp bậc cán
bộ công đoàn mà đòi hỏi cán bộ công đoàn phải am hiểu ở mức độ nhất định về lýluận, nghiệp vụ công tác công đoàn, về kỹ năng vận động, tổ chức hoạt động côngđoàn Đây là tiêu chuẩn hết sức quan trọng cần phải có, bởi nếu không hiểu về lý luận,nghiệp vụ và kỹ năng hoạt động công đoàn thì đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sởkhông thể hoàn thành nhiệm vụ, chắc chắn sẽ không được quần chúng tín nhiệm, nhưvậy sẽ không còn là cán bộ công đoàn nữa và nếu có còn là cán bộ công đoàn thì cũngkhông thể là cán bộ công đoàn thực thụ
Bên cạnh tiêu chí về trình độ học vấn, trình độ lý luận nghiệp vụ công tác côngđoàn, một đòi hỏi khách quan đối với đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở công tác
ở đơn vị nào thì phải có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực đó, có như vậy đội ngũ Banchấp hành công đoàn cơ sở mới có điều kiện am hiểu thực tế, mới nắm chắc được tínhchất công việc của từng loại công nhân, có điều kiện nắm được tâm tư nguyện vọng vàđiều kiện sống của công nhân, lao động để trong tổ chức hoạt động CNLĐ cảm thấytiếng nói của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở vừa thể hiện trình độ hiểu biếtchuyên môn nghề nghiệp, vừa thể hiện tiếng nói của người trong cuộc Còn đối vớichính quyền thì thấy nhưng ý kiến của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở đưa ra
là hợp lý nó xuất phát từ thực tế sản xuất của ngành cũng như của cơ quan đơn vị xuấtphát từ nhu cầu phát triển nghề nghiệp, phát triển cơ quan đơn vị Như vậy tổ chứchoạt động công đoàn mới thiết thực, hiệu quả Do vậy yêu cầu đặt ra là đội ngũ Banchấp hành công đoàn cơ sở hoạt động ở ngành nào, nhất thiết phải có chuyên môn vềngành đó Yêu cầu này cần phải được coi là nguyên tắc trong bố trí sử dụng đội ngũBan chấp hành công đoàn cơ sở (ngoài yêu cầu về trình độ lý luận nghiệp vụ liên quanđến tổ chức hoạt động công đoàn), bởi chỉ có thực hiện nguyên tác này thì đội ngũ Banchấp hành công đoàn cơ sở mới có thể gần gũi, hiểu biết công việc của người lao động,hiểu và nắm được kế hoạch hoạt động của cơ quan, đơn vị, mới có điều kiện để thamgia xây dựng, tham gia quản lý có hiệu quả cơ quan đơn vị Hơn nữa, trên thực tế ở cơ
sở đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở hầu hết là kiêm nhiệm (bán chuyên trách),nên thực hiện công việc đơn vị giao cho vẫn là nhiệm vụ chủ yếu vì vậy đòi hỏi đội
Trang 25ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trước hết phải là người am hiểu và giỏi về chuyênmôn để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình Tức là trước hết đội ngũ Ban chấp hànhcông đoàn cơ sở phải là người có đầy đủ tiêu chuẩn như một người lao động thực thụcủa đơn vị nơi mình công tác, sau đó mới tùy theo từng vị trí công tác mà đội ngũ Banchấp hành công đoàn cơ sở đảm nhiệm, cũng như tùy theo điều kiện hoàn cảnh củatừng khu vực, cơ quan, đơn vị để đặt ra tiêu chuẩn về trình độ lý luận, nghiệp vụ côngtác công đoàn của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở Yêu cầu về năng lựcchuyên môn, nghề nghiệp đối với đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở thuộc lĩnhvực công tác nó đặt ra cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cũng như sử dụng đội ngũ Banchấp hành công đoàn cơ sở phải là những người trưởng thành từ phong trào công nhân,được quần chúng công nhân, lao động tín nhiệm bầu ra , mặt khác nó cũng đặt ta yêucầu đối với công tác quy hoạch, đào tạo đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phảitheo địa chỉ chứ không thể đào tạo chung chung được …
+ Tiêu chí về năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ của côngđoàn Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của công đoàn và để công đoàn khẳngđịnh được vai trò vị trí của mình trong hệ thống chính trị và đối với công nhân, viênchức, lao động, thì tất yếu khách quan đòi hỏi đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sởphải có năng lực quán triệt đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật củaNhà nước vào việc đề ra chương trình kế hoach công tác của công đoàn và đồi hỏi độingũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải có năng lực vận động, tổ chức công nhân, laođộng thực hiện có hiệu quả nghị quyết, chương trình kế hoạch hoạt động của côngđoàn Như vậy đối với đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở, đặc biệt là đội ngũBan chấp hành công đoàn cơ sở chủ chốt đòi hỏi phải có năng lực đề ra chương trình
kế hoạch, nghị quyết và năng lực tổ chức thực hiện chương trình kế hoạch, nghị quyết.Yêu cầu năng lực tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của đội ngũ Banchấp hành công đoàn cơ sở nó được thể hiện ở ba khâu cơ bản sau:
Một là, Đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải quyết định mọi vấn đề mộtcách đúng đắn, có cơ sở khoa học, quyết định đưa ra phải sát thực tế phản ánh được ýchí, nguyện vọng của đông đảo CNVCLĐ trong phạm vị mình phụ trách và những vấn
đề quyết định phải có khả năng thực thi
Trang 26Hai là, Đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải biết tận dụng, phát huyđược mọi nguồn lực vốn có trong quần chúng CNVCLĐ để thực hiện có hiệu quả cácquyết định đưa ra
Ba là, đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải có khả năng tổ chức theo dõi,kiểm tra, kiểm soát, đánh giá tổng kết quá trình tổ chức thực hiện quyết định, nhằm rút
ra những bài học kinh nghiệm cho tổ chức thực hiện các nhiệm vụ tiếp theo
Như vậy năng lực tổ chức thực hiện của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sởhiện nay được quyết định bởi tác phong làm việc theo quan điểm quần chúng, dân chủ,thực tế của cán bộ công đoần, chứ không phải là tác phong làm việc theo cách quanliêu, hành chính, mệnh lệnh Nghĩa là đối với đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở,đòi hỏi phải biết biến ý chí của Đảng, Nhà nước, của tổ chức công đoàn thành ý chícủa đông đảo CNVCLĐ, phải biết biến sức mạnh, tiềm lực của từng người thành sứcmạnh, tiềm lực của đông đảo quần chúng CNVCLĐ Do vậy yêu cầu về năng lực củađội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở là rất cao và khá rõ ràng, Tuy nhiên trong thực
tế việc lượng hóa cụ thể các tiêu chí về năng lực để có thể đo đếm được năng lực củađội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở thì không hoàn toàn đơn giản Bởi trong thực
tế, tổ chức hoạt động công đoàn có nhiều việc làm có hiệu quả thấy được rõ ràng và
có thể thống kê được, như việc giải quyết các vấn đề nóng bỏng, bức xúc trong đơn vị,hoặc việc chỉ đạo các hoạt động cụ thể của công đoàn Nhưng cũng có không ítnhững hoạt động để đánh giá được hiệu quả là cả một quá trình không đơn giản chútnào Bởi vậy về cơ bản tiêu chuẩn chung về năng lực đối với đội ngũ Ban chấp hànhcông đoàn cơ sở đòi hỏi phải có Khả năng xây dựng chương trình, kế hoạch công tác,xây dựng Nghị quyết của công đoàn, có khả năng tổ chức triển khai thực hiện nghịquyết, chương trình công tác đạt kết quả, Cụ thể: khi người cán bộ đưa ra quyết địnhbất kỳ vấn đề nào đều phải đúng đắn, có cơ sở khoa học, có tính khả thi và thể hiệnđược ý chí nguyện vọng của động đảo công nhân, lao động; Đội ngũ Ban chấp hànhcông đoàn cơ sở phải biết phát huy nội lực và vận dụng sức mạnh tổng hợp ( củachính quyền, các tổ chức đoàn thể, cá nhân), tâm huyết với công việc và đầu tư côngsức để quyết tâm thực hiện cho được những quyết định đưa ra Đồng thời biết tổ chứctheo dõi, đốc thúc, kiểm tra, tổng kết và rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân vàcho tổ chức công đoàn mà mình phụ trách Đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sởphải biết lắng nghe và học tập kinh nghiệm của tập thể công nhân, lao động, biết đoàn
Trang 27kết gần gũi và thực sự quan tâm chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích của CNVCLĐ Biếtlựa chọn những nhiệm vụ trọng tâm trong từng thời điểm,biết tổ chức chỉ đạo điểm, đểrút kinh nghiệm nhân rộng các điển hình tiên tiến, nhằm tạo thành phong trào hànhđộng sôi nổi trong đơn vị.
+ Tiêu chí về trình độ lý luận chính trị Đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sởphải có kiến thức nhất định về lý luận chính trị , bởi chỉ có trình độ về lý luận chínhtrị mới có thế giới quan và phương pháp luận khoa học làm cơ sở cho nhận thức chínhtrị đúng đắn và phương pháp luận khoa học xem xét, giải quyết vấn đề đúng đắn,khách quan Đặc biệt do đặc điểm đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trưởngthành từ hoạt động thực tiễn, nên nếu hoạt động thực tiễn của đội ngũ Ban chấp hànhcông đoàn cơ sở được lý luận cách mạng soi sáng thì sẽ củng cố được quan điểm, lậptrường của GCCN, giúp cho đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở, kiên định đấutranh bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp chính đáng của CNVCLĐ, có phương pháp hoạtđộng Mặt khác nếu đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở có trình độ lý luận sẽ cónăng lực nhận thức, nắm bắt những vấn đề mà nhu cầu thực tiễn đề ra, đồng thời giúpcho đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở năm được các quy luật khách quan củacuộc sống trên cơ sở đó mà có phương pháp trong giải quyết thoả đáng các mâu thuẫnphát sinh hàng ngày, nhằm mạng lại hiệu quả tối ưu, phù hợp với nguyện vọng vàthỏa mãn lợi ích của công nhân, lao động Ngày nay đảng ta lấy chủ nghĩa MácLêni,
tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động Dovậy yêu cầu về trình độ lý luận chính trị đối với đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ
sở là cần phải được trang bị lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh và chủ trương, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam, trâng bị lý luận về giaicấp công nhân và tổ chức, hoạt động công đoàn Việt Nam Yêu cầu trình độ lý luậncủa đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở không chỉ đơn giản là có các chứng chỉ,bằng cấp, vấn đề cốt lõi là đòi hỏi đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải cókhả năng biến những vấn đề đã được học thành nhận thức, hành động, cụ thể, thiếtthực trong công tác của mình, nghĩa là đòi hỏi đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ
sở không chỉ học lý luận mà phải có khả năng vận dụng lý luận vào công việc hàngngày, phải có khả năng tổng hợp thực tiễn, vận dụng lý luận vào mổ xẻ, xem xét sosánh, đánh giá thật kỹ thực tế, để rút ra nhưng bài học kinh nghiệm cho tổ chức hoạtđộng thực tế của mình
Trang 28+ Năng lực của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở còn được đánh giá thôngqua tiêu chí, có khả năng lựa chọn, sử dụng phương pháp tổ chức hoạt động công đoànmột cách khoa học, khả năng đoàn kết, vận động tập hợp quần chúng Bởi nét đặc thùcủa hoạt động công đoàn là hoạt động quần chúng, do vậy không cho phép hành chínhhóa, luật pháp hóa phương pháp hoạt động công đoàn Hoạt động công đoàn phảimang tính giáo dục, thuyết phục cao, nên phương pháp hoạt động công đoàn phải đadạng, muôn màu muôn vẻ chư không phải chỉ sử dụng cứng nhắc một phương phápnào Do vậy đòi hỏi đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải biết vận dụng linhhoạt các phương pháp để tổ chức hoạt động cho phù hợp, cũng như xử lý các tìnhhuống tron tổ chức hoạt động công đoàn nhằm đem lại kết quả cao, đây chính là đòihỏi năng lực cần có của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở.
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở
Bác Hồ nói: “Năng lực của con người không phải hoàn toàn tự nhiên mà có, màmột phần do công tác, do tập luyện mà có.” (trang 280, tập 5) Như vậy tác động đếnquá trình hình thành, phát huy năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở có rấtnhiều các nhân tố, có thể phân ra thành nhân tố chủ quan, tức là những nhân tố thuộcbản thân đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở, nhân tố khách quan là các nhân tốliên quan đến gia đình, và xã hội Tuy nhiên bàn đến các nhân tố tác động đên sự hìnhthành và phát huy năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở, theo tôi có thểkhái quát một số nhân tố cơ bản sau:
Một là, các nhân tố thuộc về cấu trúc tâm lý, nhân cách và truyền thống giađình của người cán bộ Đây vừa là nhân tố nội lực mang tính chủ quan của conngười, vừa mang tính chất tự nhiên, bẩm sinh, đó là nhân tố mang tính di truyền, về
tư chất thông minh, năng khiếu, sở thích của gia đình, của dòng họ Đồng thời nhữngnhân tố đó lại vừa mang tính xã hội, đó là sự ảnh hưởng của truyền thống gia đình.Nếu một gia đình có nhiều đời làm cùng một công việc thì các thế hệ đi sau sẽ kếthừa được những truyền thống, những kinh nghiệm quý báu của các thế hệ trước Dovậy nếu phát huy tốt (đúng nghĩa đích thực) truyền thống gia đình sẽ là điều kiệnthuận lợi nhất cho việc đào tạo, bồi dưỡng nghề nghiệp, tạo ra những thế hệ cán bộ,công nhân kế tục sự nghiệp vẻ vang của những người đi trước Hiện nay nhiều quốcgia, nhiều ngành nghề, lĩnh vực đang cố gắng xây dựng phát huy vai trò của “giađình công nhân truyền thống”
Trang 29Hai là, ảnh hưởng của hệ thống giáo dục, đào tạo đội ngũ Ban chấp hành côngđoàn cơ sở Đây là nhân tố tác động quan trọng nhất, quyết định nhất đến năng lực củađội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở, hệ thống giáo dục tác động đến năng lực độingũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở bao gồm các giai đoạn giáo dục phổ thông, giáodục nghề nghiệp, giáo dục chuyên môn nghiệp vụ, giáo dục về lĩnh vực công đoàn.Thông qua hệ thống giáo dục trên đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở được trang
bị một số kiến thức có tính hệ thống, bảo đảm trình độ học vấn phổ thông (là nền tảng
để tiếp thu mọi khoa học khác); trình độ chuyên môn nghiệp vụ, khoa học kỹ thuật, đó
là cơ sở, nền tảng ban đầu để hình thành năng lực của đội ngũ Ban chấp hành côngđoàn cơ sở Bởi năng lực tư duy, năng lục chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ lý luậnchính trị và khả năng vận dụng linh hoạt các phương pháp hoạt động của đội ngũ Banchấp hành công đoàn cơ sở đều được hình thành trong quá trình giáo dục đào tạo vàbằng con đường giáo dục đào tạo Tuy nhiên trình độ học vấn, trình độ chuyên mônnghề nghiệp của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở mới chỉ là cơ sở nền tảng choviệc hình thành năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở chứ không phải là yếu
tố quyết định năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở Để đội ngũ Ban chấphành công đoàn cơ sở có năng lực thực sự thì vấn đề quan trọng hiện nay là phải quanniệm đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở là một nghề, mang tính khoa học, Quanniệm công đoàn là một nghề cần phải có sự chỉ đạo thống nhất trong đào tạo và đầu tưcũng như trong tâm trí của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở để họ được đào tạo
cơ bản và yên tâm với nghề nghiệp mình đã chọn, đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ
sở chuyên trách phải được đào tạo nghề nghiệp, bình đẳng như bất cứ nghề nghiệp nàokhác trong xã hội Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc tuyển chọn, đào tạo, bồidưỡng xử dụng và đãi ngộ một bộ phận đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở chuyênnghiệp, nhất là đội ngũ đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở chuyên trách
Thứ ba, môi trường công tác và rèn luyện của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn
cơ sở có tác động quan trọng đến hình thành năng lực đội ngũ Ban chấp hành côngđoàn cơ sở, nếu công tác tuyển chọn, bố trí, sử dụng đội ngũ Ban chấp hành công đoàn
cơ sở khách quan, hợp lý, môi trường hoạt động của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn
cơ sở thật sự dân chủ, tập thể đoàn kết, thương yêu giúp đỡ nhau và tạo điều kiện chonhau học tập, công tác và công hiến thì sẽ là động lực mạnh mẽ khuyến khích, độngviên mọi đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở gắn bó với tập thể, không ngừng
Trang 30khắc phục mọi khó khăn, phấn đấu học tập, rèn luyện nâng cao năng lực công tác.Ngược lại nếu môi trường công tác của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở khôngdân chủ, đoàn kết tôn trọng lẫn nhau thì không những không khuyến khích đội ngũBan chấp hành công đoàn cơ sở nâng cao năng lực mà thậm trí còn kìm hãm , làm thuichột năng lục của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở Do vậy để nâng cao nănglực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở đòi hỏi công tác đội ngũ Ban chấp hànhcông đoàn cơ sở phải thực hiện đúng quy trình, quy hoạch, tuyển chọn đào tạo bồidưỡng, đề bạt cất nhắc bố trí, sử dụng và thực hiện chính sách cán bộ, phải thực sự dânchủ trong công tác cán bộ để căn cứ vào phẩm chất và năng lực cụ thể của từng người,yêu cầu của từng công việc mà cất nhắc, đề bạt, sử dụng cán bộ cho phù hợp Bởi việcđặt đúng người, đúng chỗ, sử dụng đúng yêu cầu, không chỉ có tác dụng khai thác triệt
để năng lực cán bộ mà còn là có tác dụng khuyến khích và tạo điều kiện để cán bộkhông ngừng bồi đắp và hoàn thiện năng lực cá nhân đáp ứng nhu cầu công việc Thực
tế trong phong trào công nhân, hoạt động công đoàn nước ta cho thấy những đơn vị, cơquan nào xây dựng được hệ thống quy chế hoạt động tốt, quan hệ tập thể trong sánglành mạnh, có chính sách cán bộ phù hợp, người lao động sống với nhau có nghĩa, cótình thì nơi đó có môi trường tốt cho năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sởđược phát huy.Ngược lậi ở cơ quan đơn vị nào công tác cán bộ không khách quan, tậpthể không đoàn kết thì kết quả hoạt động công đoàn cũng hạn chế, năng lực cán bộcũng không được phát huy
Thứ tư, Năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở còn phụ thuộc vào cơchế chính sách sử dụng, đãi ngộ, chính sách bảo vệ cán bộ và việc tổ chức thực hiệntốt cơ chế chính sách đối với cán bộ sẽ tạo động lực khuyến khích cán bộ lỗ lực vươnlên trong công tác, học tập tạo cho năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sởkhông ngừng nâng cao Ngược lại nếu cơ chế, chính sách sử dụng, đãi ngộ và bảo vệcán bộ không tốt thì không những không khuyến khích nâng cao năng lực đội ngũ Banchấp hành công đoàn cơ sở mà còn có thể làm cho cán bộ công đoàn không thiết thagắn bó với tổ chức công đoàn, dẫn đến hạn chế trượt tiêu năng lực đội ngũ Ban chấphành công đoàn cơ sở
Thứ năm: Năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở còn phụ thuộc vàolòng ham học hỏi, ham hiểu biết của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở Bởitrước hết để có năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải thực sự là người
Trang 31“yêu nghề” có sở thích và hăng say hoạt động công đoàn, có ý chí nỗ lực vươn lên nhằmchinh phục những đỉnh cao của khoa học, trong đó có khoa học về tổ chức hoạt độngcông đoàn Thực tế kiến thức về chuyên môn, về công đoàn là rất lớn, việc nâng cao nănglực cán bộ thông qua trường học, hoặc các đợt tập huấn thì không thể đáp ứng được côngviệc hàng ngày Xã hội, cuộc sống luôn luôn biến đổi không ngừng, cho nên tự học, tự rènluyện (trong đó có cả rèn luyện về thể chất) là phương pháp tốt nhất để nâng cao năng lựccho mỗi người Do vậy trong điều kiện nền kinh tế thị trường, thời gia và cường độ làmviệc luôn luôn cao , Chỉ có những người đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở say mêvới công việc của mình, mới có nghị lực vượt qua mọi khó khăn, mới quyết tâm sắp xếpcông việc bề bộn trong cuộc sống hàng ngày, để học tập, rèn luyện không ngừng nâng caotrình độ, năng lực hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác của mình
Như vậy có rất nhiều nhân tố tác động đến năng lực đội ngũ Ban chấp hành côngđoàn cơ sở Nên để nâng cao năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở cầnphải thực hiện đồng bộ các biện pháp, phải là kết quả của tổng hợp của việc thực hiệntất cả các khâu từ quy hoạch, tuyển chọn, đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng, đánh giá, sửdụng, đến đề bạt, cất nhắc, kiểm tra, giám sát, phê bình cán bộ và phụ thuộc vào sự nỗlực phấn đấu của từng cán bộ Chỉ cần một trong những khâu nào đó xem nhẹ, làmkhông đến nơi đến chốn sẽ khiến cho năng lực của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ
sở kém không được phát huy thậm chí còn bị hạn chế Về sử dụng, cất nhắc cán bộ Chủtịch Hồ Chí Minh đã dạy Không phát huy và nâng cao “hiểu biết cán bộ, khéo dùng cán
bộ, cất nhắc cán bộ, thương yêu cán bộ, phê bình cán bộ” Do vây quán triệt tư tưởng HồChí Minh, để có được đội ngũ đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở có đầy đủ nănglực đáp ứng yêu cầu phong trào công nhân, hoạt động công đoàn trong giai đoàn mớicông đoàn các cấp cần quan tâm đến tất cả các khâu trong công tác cán bộ
1.2.3 Các hoạt động nâng cao năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở
Trong quá trình chỉ đạo hoạt động, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam và các cấpcông đoàn đã có rất nhiều hoạt động nhằm nâng cao năng lực đội ngũ ban chấp hành côngđoàn, trong đó điển hình là 3 hoạt động sau:
Hoạt động 1: Tăng cường chỉ đạo thực hiện công tác cán bộ
Trong những năm qua để chỉ đạo nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ côngđoàn nói chung và đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở nói riêng, Tổng Liên đoàn
Trang 32Lao động Việt Nam đã ban hành nhiều Chỉ thị, Nghị quyết: Nghị quyết 05/NQ-TLĐngày 05/11/2000 của Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Khoá VIII
về “xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn trong tình hình mới"; Nghị quyết 03/NQ-TLĐngày 22/10/2004 của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Khoá IX về
“Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn’’; Nghị quyết số TLĐ của Ban chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Khoá X về “Tiếp tụcđẩy mạnh và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn giai đoạn2010-2020”; Quyết định 1375/QĐ-TLĐ, ngày 01/9/2006 của Đoàn Chủ tịch TổngLiên đoàn Lao động Việt Nam về “Quy định tuyển sinh, đào tạo cán bộ công đoàn hệchính quy tập trung”, Quyết định 482/QĐ- TLĐ, ngày 16/4/2009 của Đoàn Chủ tịchTổng Liên đoàn về “Ban hành Quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn”, “Xâydựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn 5 năm 2008 - 2013’’ Đây lànhững văn bản quan trọng để thống nhất trong hệ thống công đoàn trong việc nâng caochất lượng đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở
04a/NQ-Hoạt động 2: Quan tâm đến nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ ban châp hành công đoàn cơ sở
Công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức nghề
nghiệp của đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị,
nhận thức sâu sắc quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng, tích cực vận dụng đườnglối đổi mới của Đảng vào hoạt động công đoàn Các cấp công đoàn đã tăng cườngtuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quanđiểm của Đảng nhằm nâng cao tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, hoài bão, lýtưởng say mê khoa học, bản lĩnh chính trị, vững vàng trước những luận điệu xuyên tạccủa các thế lực thù địch hòng lôi kéo người lao động đi ngược lợi ích của đất nước,dân tộc Các cấp công đoàn đã gắn tuyên truyền, giáo dục đội ngũ công đoàn, ngườilao động với việc phát động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nhờ
đó đã làm chuyển biến tích cực về nhận thức, đồng thời gắn với hành động làm theolời Bác, nhất là việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị của công đoàn
Đã chỉ đạo các cấp công đoàn thực hiện nghiêm túc nội dung các bước của cuộcvận động; tiến hành kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện; thông qua cuộc vận động đểquản lý và rèn luyện, giám sát đạo đức, lối sống của cán bộ công đoàn Đã tiến hànhtriển khai học tập các chuyên đề như: Chuyên đề “Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm
Trang 33gương đạo đức Hồ Chí Minh”, tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủnghĩa cá nhân”; Chuyên đề “Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về thực hànhtiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu” và tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc” củaBác; Chuyên đề: "Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thứctrách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân", gắn với 40 năm
thực hiện Di chúc của Bác Hồ Đã tổ chức hội thi “Kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh” trong cán bộ công đoàn
Hoạt động 3: Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ ban châp hành công đoàn
Để thống nhất trong thực hiện các qui định của Quy chế đào tạo bồi dưỡng cán
bộ công đoàn ban hành kèm theo Quyết định số 482/QĐ-TLĐ ngày 16/4/2009, TổngLiên đoàn Lao động Việt Nam hướng dẫn số 1114/HD-TLĐ ngày 09/07/2009 hướngdẫn thực hiện một số Điều của Quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn
Phát huy tiềm năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn của các trường trong
hệ thống công đoàn
Hiện nay đã xây dựng được hệ thống các trường đào tạo cán bộ công đoàn trong
hệ thống Công đoàn Trong đó có 02 trường đại học (Đại học Công đoàn, Đại học TônĐức Thắng) và 4 trường công đoàn thuộc các Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố vàCông đoàn ngành (Trường Trung cấp Công đoàn Hà Nội, Trường Trung cấp côngđoàn Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Trung cấp Công đoàn Nam Định, Trường trungcấp nghiệp vụ Công đoàn Giao thông vận tải)
Muốn nâng cao hiệu quả đào tạo cán bộ công đoàn cần tập trung nâng cao chấtlượng đội ngũ giảng viên (giảng viên cơ hữu và giảng viên kiêm chức) Chỉ đạo cáctrường thuộc hệ thống công đoàn, đặc biệt là trường Đại học Công đoàn và Đại họcTôn Đức Thắng trong việc đào tạo đa ngành, đa cấp, thực hiện đào tạo các trình độnhư: Thạc sỹ; cử nhân; cao đẳng; trung cấp; liên thông từ trung cấp lên đại học, từ caođẳng lên đại học; đại học phần; đào tạo ngắn hạn, nhất là đào tạo sau đại học, đại họcphần về công đoàn
Thực hiện đổi mới nội dung, chương trình của các ngành đào tạo dành cho cán bộcông đoàn nói chung và đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở nói riêng Nội dung,chương trình của các ngành đào tạo dành cho cán bộ công đoàn luôn được các trường
Trang 34quan tâm, chú trọng theo hướng bám sát với yêu cầu đào tạo cán bộ công đoàn, với mụctiêu sau khi tốt nghiệp người học không chỉ nắm vững những kiến thức về chuyên ngànhđược đào tạo, mà còn có khả năng vận dụng thành thạo những kiến thức đó vào hoạt độngcông đoàn ở địa phương Đối với đào tạo đại học phần về công đoàn với nội dung chủyếu tập trung trang bị những kiến thức thiết thực, cần thiết, tối thiểu cho người cán bộcông đoàn Trong mỗi chương trình các môn học được thiết kế với hai phần kiến thức
lý thuyết và kiến thức thực hành, với mục tiêu học lý thuyết kết hợp với giải quyết cáctình huống giả định trong thực tế, giúp cho người cán bộ công đoàn làm quen và có thểtập áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn
Đối với cán bộ công đoàn chuyên trách, tập trung đào tạo, bồi dưỡng về: Lýluận và nghiệp vụ công tác công đoàn ở các trình độ đại học công đoàn, trung cấp lýluận và nghiệp vụ công tác công đoàn, đại học phần công đoàn Về lý luận chính trịnhư: Cử nhân và cao cấp, Trung cấp, ngoài ra còn đào tạo về tin học, ngoại ngữ ở trình
độ trung cấp, cao đẳng, cử nhân và trình độ A,B,C
Đối với cán bộ công đoàn không chuyên trách tập trung đào tạo, bồi dưỡngchuyên môn nghiệp vụ, lý luận về công đoàn và để đảm bảo tiêu chuẩn để giới thiệuứng cử, để cử để bầu cử vào Ban Chấp hành, Uỷ Ban kiểm tra công đoàn các cấp.Thực hiện đào tạo lại đội ngũ cán bộ công đoàn, thực hiện thường xuyên cập nhật,nâng cao kiến thức, nghiệp vụ, đặc biệt là kiến thức pháp luật, quản lý kinh tế, quản lý
xã hội, các kỹ năng mới để theo kịp với yêu cầu của phong trào công nhân và hoạtđộng công đoàn trong tình hình mới
Trang 35TIỂU KẾT CHƯƠNG I
Trong chương 1, Luận văn tập trung làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản vềcông đoàn; năng lực đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở; nội dung và các nhân tốảnh hưởng đến năng lực đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở; các hoạt động nângcao năng lực đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở Trong đó, rút ra một số nộidung chủ yếu sau đây:
Một là, Công đoàn là tổ chức chính trị xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân
và người lao động, là thành viên của hệ thống chính trị xã hội Việt Nam, dưới sự lãnhđạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở là nhữngngười đứng trong tổ chức Công đoàn Việt Nam, được lựa chọn thông qua bầu cử tạicông đoàn cơ sở, hoặc công đoàn cấp trên lựa chọn chỉ định giao một nhiệm vụ đểthực hiện hiện chức năng, nhiệm vụ của công đoàn đã đề ra
Hai là, năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở là cái vốn có trong bản
thân đội ngũ ban chấp hành, được bồi dưỡng, tích lũy để có thể tổ chức thực hiện tốtnhiệm vụ của các cấp công đoàn trong từng giai đoạn Phạm trù “năng lực của đội ngũBan chấp hành công đoàn cơ sở” mang tính lịch sử Ở mỗi giai đoạn phát triển khácnhau trong những điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau, do tiềm lực tích lũy của đội ngũcán bộ, do mục tiêu, chức năng, yêu cầu hoàn thành các nhiệm vụ khác nhau, mà đòihỏi đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải có những năng lực tương ứng Tuyvậy, trong tổ chức hoạt động công đoàn ở thời kỳ nào cũng đòi hỏi đội ngũ Ban chấphành công đoàn cơ sở phải có những năng lực chung, mang tính phổ biến sau:
+ Trình độ hiểu biết chung
+ Năng lực chuyên môn nghiệp vụ
+ Trình độ lý luận chính trị
+ Năng lực lãnh đạo, tổ chức thực tiễn
+ Năng lực vận dụng, áp dụng các phương pháp vận động quần chúng
Ba là, có rất nhiều nhân tố tác động đến năng lực đội ngũ Ban chấp hành công
đoàn cơ sở Nên để nâng cao năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở cần
Trang 36phải thực hiện đồng bộ các biện pháp, phải là kết quả của tổng hợp của việc thực hiệntất cả các khâu từ quy hoạch, tuyển chọn, đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng, đánh giá, sửdụng, đến đề bạt, cất nhắc, kiểm tra, giám sát, phê bình cán bộ và phụ thuộc vào sự
nỗ lực phấn đấu của từng cán bộ Chỉ cần một trong những khâu nào đó xem nhẹ, làmkhông đến nơi đến chốn sẽ khiến cho năng lực của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn
cơ sở kém không được phát huy thậm chí còn bị hạn chế
Những vấn đề lý luận về nâng cao năng lực đội ngũ ban chấp hành công đoàn
cơ sở được trình bày và phân tích trong Chương 1 là cơ sở lý luận quan trọng để xemxét, đối chiếu với thực trạng năng lực đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địabàn quận Long Biên, từ đó đưa ra giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ ban chấp hànhcông đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên, Thành phố Hà Nội
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH
ta phát triển kinh tế, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế Tuy nhiên cũng đặt
ra cho chúng ta không ít khó khăn, thách thức cần giải quyết Song song với đó lànhững tác động tích cực - tiêu cực đối với tổ chức Công đoàn Việt Nam nói chungcông đoàn Thủ đô Hà Nội và quận Long Biên nói riêng
Quận Long Biên nằm ở cửa ngõ phía Đông của Thủ đô Hà Nội Quận Long Biên
có 1 vị trí chiến lược rất quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội của Hà Nội vàđất nước Nơi đây có các tuyến đường giao thông quan trọng như đường sắt, đường bộ,đường thuỷ, đường không nối liền với các tỉnh phía bắc, đông bắc; có sân bay GiaLâm, khu vực quân sự, nhiều công trình kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, cơ quannhà máy, đơn vị sản xuất kinh doanh của Trung ương, Thành phố và địa phương Đặcbiệt với lợi thế vị trí cửa ngõ của Hà Nội, nối liền với trục tam giác kinh tế Hà Nội-Hải Phòng- Quảng Ninh, đồng thời cũng là trục kinh tế sôi động hội nhập nền kinh tếtrong khu vực và thế giới Đó là những yếu tố cơ bản thuận lợi cho quận Long Biênphát triển nhanh, mạnh và bền vững về kinh tế- xã hội Trong những năm qua, Banthường vụ Quận ủy, UBND Quận đã lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành và nhân dântoàn Quận chủ động khắc phục khó khăn, thách thức, đạt được nhiều kết quả quạntrọng, toàn diện trên các lĩnh vưc Kinh tế phát triển đúng hướng và có mức tăngtrưởng khá; thương mại, dịch vụ phát triển nhanh, chất lượng được nâng lên, tốc độtăng trưởng bình quân đạt 19,8%; sản xuất công nghiệp – xây dựng đạt mức tăngtrưởng 17%; sản xuất nông nghiệp được quan tâm đầu tư, chất lượng, hiệu quả đượcnâng lên, giá trị sản xuất tăng bình quân 6,43%; thu ngân sách hàng năm tăng cao, đáp
Trang 38ứng nhu cầu đầu tư, phát triển Công tác quy hoạch, xây dựng, quản lý đô thị, quản lýđất đai đạt được kết quả tích cực, hạ tầng đô thị phát triển, tạo cảnh quan môi trường
đô thi khang trang, sạch, đẹp, góp phần thu hút đầu tư Giáo dục – Đào tạo phát triểnmạnh theo hướng chuẩn hóa, xã hội hóa, từng bước hiện đại Chất lượng các hoạt độngvăn hóa, thể dục thể thao được nâng lên rõ rệt; công tác bảo tồn và phát huy các giá trịvăn hóa được chú trọng Đảm bảo an sinh xã hội, thực hiện tốt các chính sách Côngtác dân số, y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân được triển khai hiệu quả An ninh chínhtrị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; công tác quốc phòng và quân sự địa phươngđược tăng cường
Hiện nay, trên địa bàn Quận có trên 6.000 doanh nghiệp với trên 60.000CNVCLĐ; nhiều khu công nghiệp liên doanh với nước ngoài như: khu công nghiệp kỹthuật cao Sài Đồng B, khu công nghiệp Sài Đồng A, khu công nghiệp Đài Tư đã thuhút hàng 100 doanh nghiệp Trên địa bàn quận có một số doanh nghiệp có số lượngđông CNLĐ như: Tổng công ty May 10 – Cty cổ phần, Tổng công ty Đức Giang – Cty
cổ phần, công ty TNHH MTV xăng dầu khu vực I, Cty cổ phần cầu 12, Cty cổ phầncầu 14, Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam, Tông công ty hàng không Việt Nam, Cty
cổ phần xây lắp I…; còn lại CNLĐ tập trung ở các công ty cổ phần, công ty TNHH,công ty có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã Với sự đô thị hóanhanh, trên địa bàn quận cũng đã hình thành các trung tâm thương mại lớn như: trungtâm thương mại Aoen Mall, trung tâm thương mại Savico, Trung tâm thương mạiVinCom… Số lượng doanh nghiệp tăng nhanh thu hút nhiều lao động trên địa bànquận và các tỉnh lân cận
Vì vậy, để góp phần hoàn thành các nhiệm vụ chính trị, trật tự an toàn xã hội tạiđịa phương, thì công tác chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng chongười lao động trên địa bàn quận cần được đảm bảo, hoạt động Công đoàn các cấp,đặc biệt là hoạt động Công đoàn cơ sở cần phải được quan tâm chú trọng, nâng caonăng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở
Trang 392.2 Thực trạng năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên
2.2.1 Phân tích thực trạng năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên
Theo báo cáo số liệu của Liên đoàn Lao động quận Long Biên (tính đến ngày30/10/2019):
2.2.1.1 Số lượng CĐCS, đoàn viên và Ủy viên BCH
Liên đoàn Lao động quận Long Biên đang quản lý 309 CĐCS với 12.715 đoànviên công đoàn, 1.164 ủy viên ban chấp hành, cụ thể như sau:
Bảng 2.1: số lượng CĐCS, đoàn viên và Ủy viên BCH:
n v tính: C CS, ng iĐơn vị tính: CĐCS, người ị tính: CĐCS, người Đ ười
Loại hình CĐCS
Số lượng CĐCS
Số lượng đoàn viên
Trang 40Bảng 2.2: Cơ cấu giới tính đội ngũ ban chấp hành công đoàn
n v tính: ng i, %Đơn vị tính: CĐCS, người ị tính: CĐCS, người ười
51 tuổi trở lên là 80 đồng chí (chiếm 6,9%)
Bảng 2.3: Cơ cấu đội ngũ Ban chấp hành CĐCS theo độ tuổi
Từ 18 đến
30 tuổi
Từ 31 đến 40 tuổi
Từ 41 đến
50 tuổi
Từ 51 tuổi trở lên
Sốlượng