Trong quá trình áp dụng quy chuẩn này của các đơn vị cấp nước và Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Quảng Nam kể từ khi ban hành tới nay còn một số tồn tại cần phải khắc phục, cụ thể như sau:
Trang 1SỞ Y TẾ QUẢNG NAM TRUNG TÂM KIỂM SOÁT BỆNH TẬT
BÁO CÁO THUYẾT MINH QUY CHUẨN KỸ THUẬT ĐỊA PHƯƠNG
VỀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC SẠCH SỬ DỤNG
CHO MỤC ĐÍCH SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM
(Báo cáo phục vụ công tác xây dựng Quy chuẩn kỹ thuật địa phương
về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt)
Quảng Nam, năm 2021
Trang 2SỞ Y TẾ QUẢNG NAM TRUNG TÂM KIỂM SOÁT BỆNH TẬT
BÁO CÁO THUYẾT MINH QUY CHUẨN KỸ THUẬT ĐỊA PHƯƠNG
Trang 3là yếu tố gây nên các bệnh lây nhiễm và các bệnh không lây nhiễm nếu việc cấp nước không tuân thủ đảm bảo an toàn - nước bị nhiễm bẩn Hiện nay, an ninh nguồn nước sinh hoạt của cả nước nói chung và Quảng Nam nói riêng đã, đang
và sẽ còn là vấn đề hết sức nóng, cần sự quan tâm của các cấp chính quyền, của cộng đồng và của mọi người dân Vấn đề này rất cần quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự nỗ lực của các cơ quan chức năng và ý thức trách nhiệm của người dân
Để kiểm soát chất lượng nước ăn uống và nước sinh hoạt, Bộ Y tế đã lần lượt ban hành QCVN 01:2009/BYT-Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước ăn uống và QCVN 02:2009/BYT-Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt
Đối với QCVN 01:2009/BYT, quy chuẩn này quy định về chất lượng nước ăn uống được Bộ Y tế ban hành năm 2009 với 109 chỉ tiêu, trong đó có 15 chỉ tiêu chất lượng nhóm A (tần suất giám sát 1 tháng/lần); 16 chỉ tiêu chất lượng nhóm B (tần suất giám sát 6 tháng/lần) và 78 chỉ tiêu chất lượng nhóm C (tần suất giám sát 2 năm/lần)
Đối với QCVN 02:2009/BYT, quy chuẩn này quy định mức giới hạn các chỉ tiêu chất lượng đối với nước sử dụng cho mục đích sinh hoạt thông thường với quy mô nhỏ (< 1.000m3/ngày đêm) và các hình thức cấp nước hộ gia đình
So với QCVN 01:2009/BYT, QCVN 02:2009/BYT quy định ít chỉ tiêu chất lượng nước hơn (14 chỉ tiêu) được chia thành hai mức I và II áp dụng cho các đối tượng khác nhau Trong quá trình áp dụng các quy chuẩn này kể từ khi ban
Trang 4hành tới nay đã gặp phải một số tồn tại cần phải khắc phục Từ đó Bộ Y tế đã ban hành Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy định kiểm tra, giám sát chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt QCVN 01-1:2018/BYT (theo Thông tư số 41/2018/TT-BYT ngày 14/12/2018), trong đó qui định 99 chỉ tiêu/thông số phải giám sát đối với chất lượng nước thành phẩm
Theo quy định trong khoản 3, điều 3 Thông tư 41/2018/TT-BYT, các quy chuẩn QCVN 01:2009/BYT, QCVN 02:2009/BYT có hiệu lực áp dụng đến hết ngày 30/6/2021 và theo quy định trong khoản 2b, điều 5 thông tư 41/2018/TT-BYT, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm ban hành Quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt
Trong quá trình áp dụng quy chuẩn này của các đơn vị cấp nước và Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Quảng Nam kể từ khi ban hành tới nay còn một số tồn tại cần phải khắc phục, cụ thể như sau:
Có nhiều chỉ tiêu chất lượng nước quy định trong QCVN 01-1:2018/BYT không có trong nước thành phẩm cấp tại Quảng Nam do không có nguồn phát sinh
và theo kết quả đánh giá trong nhiều năm, không phát hiện thấy hoặc có hàm lượng thấp hơn giới hạn cho phép Nên việc đánh giá toàn bộ 99 chỉ tiêu chất lượng nước
là không thực sự cần thiết đối tại Quảng Nam và gây lãng phí nguồn lực
Bên cạnh đó, nếu quy định 99 chỉ tiêu bắt buộc phải giám sát định kỳ theo QCVN 01-1: 2018/BYT cũng sẽ tạo ra gánh nặng chi phí cho người sử dụng nước; hơn nữa, chi phí này nhiều khi được xem là sự lãng phí khi rất nhiều chỉ tiêu phát hiện trong nước thành phẩm với hàm lượng rất thấp mà vẫn phải phân tích xác định nồng độ hằng năm
Để kiểm soát tốt chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt nhằm đảm bảo an toàn về vệ sinh và sức khỏe của người dân; mục tiêu xác định các thông số thử nghiệm, tần suất thử nghiệm và giới hạn tối đa cho phép các thông số thử nghiệm đặc trưng cho tỉnh Quảng Nam được quy định trong QCKTĐP về chất lượng nước sạch là hết sức cần thiết ở giai đoạn hiện nay
Trang 51.2 Cơ sở pháp lý thực hiện Quy chuẩn kỹ thuật địa phương
Xây dựng quy chuẩn kỹ thuật địa phương trên cơ sở Quy chuẩn Quốc gia
là QCVN 01:2018/BYT được ban hành kèm theo Thông tư 41/2018/TT-BYT của Bộ Y tế và một số tiêu chuẩn, văn bản sau:
- Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật năm 2016;
- Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 01/8/2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật
- Nghị định số 167/2009/NĐ-CP ngày 03/8/2009 của Chính phủ sửa đổi một số điều của Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 01/8/2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn và Nghị định số 132/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa
- Nghị định số 78/2018/NĐ-CP ngày 16/5/2018 của Chính phủ về sửa đổi,
bổ sung một số điều Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 01/8/2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật và một
số tài liệu tham khảo liên quan
- Thông tư 26/2019/TT-BKHCN ngày 25/12/2019 của Bộ Khoa học công nghệ quy định chi tiết xây dựng, thẩm định và ban hành quy chuẩn kỹ thuật [23]
- Thông tư 41/2018/TT-BYT ngày 14/12/2018 của Bộ Y tế ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy định kiểm tra, giám sát chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt
- Sổ tay Hướng dẫn xây dựng Quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt năm 2020 của Viện Sức khỏe nghề nghiệp và Môi trường, Bộ Y tế
1.3 Cách thức tiếp cận
Trên cơ sở yêu cầu thực tiễn, việc ban hành QCKTĐP về chất lượng nước sạch dành cho ăn uống và sinh hoạt sẽ được phát triển dựa trên các hướng tiếp cận mới, cụ thể:
Trang 6- Không thực hiện phân chia nước cấp thành nước ăn uống và sinh hoạt, theo đó sẽ chỉ có một đối tượng điều chỉnh là nước sạch dùng cho mục đích ăn uống và sinh hoạt thông thường
- Đề cao vai trò tự chịu trách nhiệm đối với “hàng hóa” là nước sạch dùng cho mục đích sinh hoạt của các cơ sở cung cấp nước
- Giảm chi phí thực hiện phân tích đối với chất lượng nước thành phẩm của các cơ sở cung cấp nước
- QCKTĐP quy định những chỉ tiêu có ảnh hưởng đến sức khỏe, có hàm lượng vượt giới hạn cho phép và thường xuyên xuất hiện trong nước là phải bắt buộc xét nghiệm định kỳ và thường xuyên thể hiện đặc trưng chất lượng nước của tỉnh Quảng Nam
- Không phân biệt chất lượng nước sạch dành cho ăn uống và sinh hoạt giữa nông thôn và thành thị nhằm tạo sự bình đằng trong tiếp cận nguồn nước
1.4 Phương pháp thực hiện
1.4.1 Phương pháp kế thừa
Trong báo cáo thuyết minh này, chúng tôi đã kế thừa các quy định của QCVN 01:2009/BYT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống, QCVN 02:2009/BYT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt, QCVN 01-1:2018/BYT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt
1.4.2 Phương pháp hồi cứu
Căn cứ kết quả giám sát, xét nghiệm chất lượng nước sạch tại đơn vị cấp nước trên địa bàn tỉnh Quảng Nam; báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2016-2020 và kết quả quan trắc chất lượng chất lượng nước mặt, nước ngầm của Sở Tài Nguyên Môi trường trong gian đoạn 2015-2020; báo cáo tình hình cấp nước an toàn của Sở Xây dựng để xem xét và lựa chọn các thông
số có tầm quan trọng, đặc trưng liên quan đến chất lượng nước, căn cứ vào quy hoạch, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, biến đổi khí hậu và phong tục tập quán sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn để đánh giá các nguy cơ
ô nhiễm nguồn nước
Trang 71.3.3 Phương pháp điều tra cắt ngang
Phương pháp này bao gồm điều tra, khảo sát thực địa 70 đơn vị cấp nước, lựa chọn 36 đơn vị đại diện lấy 36 mẫu nước thành phẩm tại nhà máy, xét nghiệm theo các chỉ tiêu của QCVN 01-1:2018/BYT (theo Kế hoạch 724a/KH-KSBT ngày 14/10/2021 của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Quảng Nam) cho các hoạt động đánh giá chất lượng nước và tổng hợp công nghệ
sử dụng trong sản xuất nước sạch và công tác quản lý, giám sát chất lượng nước hiện nay
1.3.4 Phương pháp thảo luận nhóm
Trong nhiệm vụ này, phương pháp thảo luận nhóm là việc các thành viên Ban soạn bao gồm Sở Y tế, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tư pháp, Sở Xây Dựng, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên Môi trường, Trung tâm kiểm soát bệnh tật, các cơ sở cấp nước trên địa bàn … đã thảo luận về cách tiếp cận trong xây dựng QCĐP về chất lượng nước dành cho sinh hoạt, các thông số và tần suất giám sát được lựa chọn
Trang 8CHƯƠNG II ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN- XÃ HỘI
& SỨC ÉP CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI 2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
- Phía Bắc giáp : tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng
- Phía Nam giáp : tỉnh Quảng Ngãi
- Phía Tây giáp : nước CHDCND Lào và tỉnh Kon Tum
- Phía Đông giáp : biển Đông (có đường bờ biển chạy dài trên 125 km
và vùng đặc quyền kinh tế rộng hơn 40.000 km2
Trang 9Quảng Nam nằm ở vị trí chiến lược của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, đang là điểm đến của nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước Phía Bắc là thành phố Đà Nẵng (trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa lớn nhất của miền Trung), phía Nam là khu kinh tế Dung Quất (khu kinh tế tổng hợp lớn nhất của
cả nước); đồng thời là cửa ngõ ra biển đối với các tỉnh vùng Tây Nguyên, Trung
và Nam Lào nên rất thuận lợi cho việc giao lưu phát triển KT-XH và có tầm quan trọng trong an ninh, quốc phòng
2.1.2 Địa hình, địa mạo
Địa hình Quảng Nam tương đối đa dạng, thấp dần từ Tây sang Đông Dựa vào đặc điểm địa hình, địa thế của tỉnh có thể phân ra 3 vùng địa hình chính: vùng đồng bằng ven biển, vùng trung du và vùng núi
- Địa hình vùng núi: Tập trung ở các huyện miền núi phía Tây của tỉnh:
Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Nam Trà My, Bắc Trà My, Tiên Phước và Hiệp Đức Vùng đồi núi kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Địa hình phức tạp, mức độ chia cắt mạnh, có hình dạng lượn sóng Độ cao trung bình từ 700-800 m, độ dốc lớn 25-300, có nơi trên 450
- Địa hình vùng gò đồi trung du: Là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi phía
Tây và vùng đồng bằng ven biển, độ cao trung bình từ 100-200 m, độ dốc trung bình 15-200, địa hình đặc trưng có dạng bát úp xen kẽ các dải đồng bằng nhỏ hẹp chạy dọc theo các lưu vực sông, thuộc phía Tây các huyện Thăng Bình, Duy Xuyên, Đại Lộc, Quế Sơn, Phú Ninh
- Địa hình vùng đồng bằng ven biển: Phân bố ở phía Đông, là vùng thuộc
lưu vực các sông Vu Gia, Thu Bồn, Tam Kỳ Địa hình tương đối bằng phẳng, nhiều nơi xen lẫn các vùng gò đồi thấp Thổ nhưỡng chủ yếu ở đây là đất phù sa được bồi hàng năm Nối tiếp về phía Đông của dải đồng bằng hẹp là những cồn cát chạy dọc bờ biển, có nơi lấn sâu vào 7-8 km, có nhiều cồn cát cao trên 10 m
Nhìn chung địa hình Quảng Nam khá phức tạp, mức độ chia cắt mạnh, độ dốc lớn, rất khó khăn cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, khai thác tiềm năng đất đai với việc bảo vệ tài nguyên môi trường, thường gây ra các thiên tai như lũ quét, sạt lở đất, Tuy nhiên, với đặc điểm đa dạng về địa hình và ảnh hưởng của
Trang 10giao thoa giữa hai vùng khí hậu đã tạo cho môi trường sinh thái tự nhiên tỉnh Quảng Nam có những nét đặc thù riêng với các hệ sinh thái đồi núi, đồng bằng, ven biển
2.1.3 Thủy văn
Sông suối của tỉnh Quảng Nam đều bắt nguồn từ vùng núi phía Tây, Tây Bắc hoặc Nam, Tây Nam của tỉnh với độ cao từ 1.000-2.000 m Các sông hầu hết đều ngắn và có độ dốc lớn Sông chảy quanh co uốn khúc, lòng sông tương đối hẹp, thường xuyên thay đổi, ở vùng núi có đoạn thu hẹp lại hai bờ dốc đứng,
có đoạn mở rộng ra hai bên tạo thành những bãi tràn lớn
Ở thượng lưu, sông có nhiều ghềnh thác hiểm trở Ở hạ lưu, lòng sông tương đối rộng nhưng độ sâu không lớn, có nhiều bãi bồi, cù lao và cồn cát giữa dòng gây cản trở cho các phương tiện giao thông thủy
Quảng Nam có hai hệ thống sông chính: hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn
và hệ thống sông Tam Kỳ, phần hạ lưu hai hệ thống sông này được nối với nhau bởi sông Trường Giang
2.1.3.1 Hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn
Hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn là hệ thống sông lớn nhất tỉnh Quảng Nam, có diện tích lưu vực khoảng 9.000 km2, chiếm trên 80% diện tích toàn tỉnh, là một trong chín hệ thống sông lớn của cả nước và là hệ thống sông lớn thứ hai trong các hệ thống sông nằm ở phía Đông dãy Trường Sơn Dòng chính dài hơn 200 km, do sông Vu Gia và sông Thu Bồn hợp thành
Trang 11Phần hạ lưu sông Vu Gia khi chảy đến Ái Nghĩa có phân lưu là sông Quảng Huế mang nước từ sông Vu Gia đổ vào sông Thu Bồn Dòng chính sông
Vu Gia trước khi chảy qua địa phận thành phố Đà Nẵng chia ra hai phân lưu: Sông Yên và sông Chu Bái Sông Yên chảy về phía An Trạch sau đó nhập lưu với sông Túy Loan chảy vào sông Hàn và đổ ra biển ở cửa Đà Nẵng Sông Chu Bái chảy về phía huyện Hòa Vang nhập lưu với sông Vĩnh Điện tại cầu Hòa Cầm và chảy vào sông Hàn (Đà Nẵng)
b) Sông Thu Bồn:
Sông Thu Bồn là dòng chính của hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn và cũng là sông lớn nhất tỉnh Quảng Nam Diện tích lưu vực tính đến Nông Sơn là 3.130 km2 Sông chảy theo hướng Nam Bắc qua địa bàn các huyện: Nam Trà
My, Bắc Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đức, Nông Sơn và hợp lưu với sông Vu Gia tại Giao Thủy
Thượng lưu sông được hình thành bởi ba nhánh sông chính, gồm: sông Tranh (diện tích lưu vực 2.140 km2, dài 130 km), sông Khang (diện tích lưu vực
588 km2, dài 57 km) và sông Trường (diện tích lưu vực 424 km2
, dài 35 km)
Hạ lưu sông Thu Bồn có mạng lưới phân lưu, nhập lưu khá phức tạp Tại Giao Thủy, sông nhận nước từ sông Vu Gia qua nhánh sông Quảng Huế, về đến thị trấn Vĩnh Điện thì chi lưu Vĩnh Điện lại dẫn một phần nước từ sông Thu Bồn chảy vào sông Hàn, phần còn lại chảy ra biển qua cửa Đại (Hội An)
Hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn có trữ năng thủy điện lớn Có nhiều dự
án thủy điện đã và đang xây dựng ở thượng nguồn hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn, trên các dòng sông Tranh, sông Bung, sông Cái, sông Côn… Các hồ thủy điện này nếu được quy hoạch một cách hợp lý, vận hành và điều tiết liên hồ tốt thì sẽ góp phần cắt lũ, chống hạn, mở rộng giao thông, phát triển nuôi trồng thủy sản và du lịch sinh thái
Trang 12đó chuyển hướng Tây Bắc - Đông Nam và chảy vào sông Trường Giang, sau đó
đổ ra biển qua cửa Lở và cửa An Hòa
Hệ thống sông Tam Kỳ nằm ở vùng ven biển, địa hình chủ yếu là đồng bằng và gò đồi dạng bát úp với độ cao trên dưới 300 m nên mật độ sông suối khá dày 0,5 km/km2, tổng diện tích lưu vực là 994 km2 Trên hệ thống sông Tam
Kỳ có một số sông nhánh tương đối lớn như: sông Ba Kỳ, sông Trầu và sông An Tân (còn gọi Bến Ván)
2.1.3.3 Sông Trường Giang
Sông Trường Giang có chiều dài khoảng 60 km, chạy dọc bờ biển nối liền
2 hệ thống sông Thu Bồn và Tam Kỳ Đầu phía Bắc sông Trường Giang hợp lưu với sông Thu Bồn đổ ra biển tại cửa Đại (Hội An), đầu phía Nam nhập lưu với sông Tam Kỳ đổ ra biển qua cửa Lở và cửa An Hòa (Núi Thành)
Chế độ dòng chảy của sông Trường Giang tương đối phức tạp Vào mùa cạn, dòng chảy sông Trường Giang phụ thuộc chủ yếu vào dòng triều tại cửa Đại
ở đầu phía Bắc và cửa Lở, cửa An Hòa ở đầu phía Nam truyền vào Vào mùa lũ, dòng chảy của sông Trường Giang phụ thuộc vào mức độ lũ của hai hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn và sông Tam Kỳ
2.1.4 Khí hậu
Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, gồm có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Nhiệt độ trung bình 25,40C, mùa đông nhiệt độ vùng đồng bằng có thể xuống dưới 200C Độ ẩm trung bình trong không khí đạt 84% Lượng mưa trung bình 2.000-2.500 mm, nhưng phân bố không đều theo thời gian và không gian, mưa tập trung từ tháng 9 đến tháng 12 (chiếm 80% lượng mưa cả năm); mùa mưa trùng với mùa bão nên các cơn bão đổ bộ vào miền Trung thường gây ra lở đất, lũ quét ở các huyện trung du miền núi và gây ngập lụt ở các vùng ven sông của tỉnh
2.1.4.1 Chế độ nhiệt
Chế độ nhiệt tại Quảng Nam có tính chất nhiệt đới gió mùa với nền nhiệt
độ cao và phân bố khá đồng đều quanh năm Nhiệt độ không khí bình quân năm
là 25,3 - 26,10C Nhiệt độ cao nhất vào tháng 6 với bình quân tháng là 27,8 -
Trang 1329,40C Nhiệt độ thấp nhất vào các tháng 12 và tháng 1 với bình quân tháng 22 - 22,50C Nhiệt độ không khí tăng dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông và
từ vùng cao xuống vùng thấp Nhiệt độ bình quân hằng năm vùng núi 25,30
C, vùng đồng bằng ven biển 26,10
C
Tháng
TB năm Giai đoạn 2011-2015
Tam Kỳ 20,8 22,6 24,1 26,6 28,9 29,7 29,1 28,9 27,1 25,6 25,0 21,7 25,8 Trà My 20,1 22,4 23,7 25,7 27,2 27,6 27,3 27,2 26,4 24,5 24 20,8 24,7
Giai đoạn 2016-2019
Tam Kỳ 22,0 21,7 24,4 26,7 28,9 29,4 28,7 28,9 28,1 26,3 25,2 23,0 26,1 Trà My 21,6 21,3 24,3 26,3 27,7 27,8 27,5 27,6 27,1 25,3 24,3 22,3 25,3
Bảng 2.1 Nhiệt độ trung bình tháng, trung bình năm ( 0
C)
So sánh nhiệt độ trung bình giai đoạn 2016-2019 với giai đoạn 2011-2015 cho thấy: Nhiệt độ trung bình năm ở cả 02 vùng đồng bằng ven biển và miền núi đều tăng với mức chênh lệch nhiệt độ từ 0,3 - 0,60
C
2.1.4.2 Độ ẩm không khí
Mùa khô tại Quảng Nam trùng với thời kỳ hoạt động của gió mùa Tây Nam trong mùa hè, mùa mưa ẩm trùng với thời kỳ hoạt động của gió mùa Đông Bắc trong mùa đông Độ ẩm trung bình năm từ 86-88% Có hai mùa khô và ẩm khá rõ rệt, mùa có độ ẩm cao từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, với độ ẩm trung bình từ 86-93% ở vùng đồng bằng và 87-93% ở vùng núi, mùa có độ ẩm thấp từ tháng 4 đến tháng 8 với độ ẩm trung bình từ 80-85% ở vùng đồng bằng và 84-86% ở vùng núi
Tháng
TB năm Giai đoạn 2011-2015
Tam Kỳ 92 90 89 87 81 77 80 80 87 90 92 92 86 Trà My 93 90 88 88 87 84 85 83 88 92 92 93 89
Giai đoạn 2016-2019
Tam Kỳ 92 90 88 85 80 80 83 82 86 89 92 93 86 Trà My 91 89 86 85 84 84 86 85 87 91 91 93 88
Bảng 2.2 Độ ẩm tương đối trung bình tháng, trung bình năm (%)
Trang 14So sánh độ ẩm trung bình giai đoạn 2016-2019 với giai đoạn 2011-2015 cho thấy: độ ẩm trung bình tháng và trung bình năm dao động không đáng kể ở cả vùng đồng bằng ven biển và vùng núi
2.1.4.3 Chế độ bốc hơi
Lượng bốc hơi trung bình hàng năm ở vùng đồng bằng ven biển từ 1.020 mm, vùng núi thấp hơn từ 600-700 mm Như vậy bốc hơi có xu hướng giảm dần theo hướng từ Đông sang Tây, tương tự với xu hướng nhiệt độ
1.000-Tổng lượng bốc hơi trong các tháng mùa hè lớn hơn mùa đông Mùa hè từ 300-700 mm (chiếm khoảng 55-65% lượng bốc hơi năm), mùa đông có tổng lượng bốc hơi từ 300-400 mm (chiếm khoảng 35-45% tổng lượng bốc hơi năm) Bốc hơi trong một ngày đêm lớn nhất ở đồng bằng là 17,6 mm, miền núi là 14,2
mm, các giá trị này đều xuất hiện trong mùa hè Ngược lại trong mùa đông có những ngày không khí đạt giá trị bão hoà, bốc hơi trong ngày bằng không
Tháng
TB năm
Tam Kỳ 50,3 55,9 74,3 92,9 113,3 129,6 136,1 121,4 80,9 58,1 53,1 46,2 84,3 Trà My 38,3 45,5 63,8 75,9 72,2 71,0 71,2 67,1 47,3 36,0 28,2 26,2 53,6
Bảng 2.3 Lượng bốc hơi trung bình nhiều năm (mm)
2.1.4.4 Gió, bão và áp thấp nhiệt đới
a) Chế độ gió
Quảng Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, thường xuyên có nhiều
hệ thống không khí khác nhau tranh chấp hoặc đan xen ảnh hưởng Trong từng mùa vẫn tồn tại hướng gió chiếm ưu thế rõ rệt so với các hướng gió khác Chế độ gió trong năm được phân thành hai mùa gió chính là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam Gió mùa Đông Bắc xuất hiện từ tháng 9 năm trước đến tháng 5 năm sau, với khoảng 14-15 đợt trong năm Gió Tây Nam khô nóng xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 8, nhiệt độ không khí cao nhất vào khoảng hơn 35-370C và độ
ẩm không khí thấp nhất vào khoảng 45-55%
Trang 15Tháng
TB năm
Tam Kỳ 1,5 1,5 1,6 1,7 1,8 1,8 1,8 1,8 1,8 1,9 2,2 1,7 1,8 Trà My 1,2 1,5 1,5 1,4 1,3 1,3 1,2 1,3 1,1 1,2 1,1 1,0 1,3
Bảng 2.4 Tốc độ gió trung bình nhiều năm (m/s)
b) Bão và áp thấp nhiệt đới
Mùa bão khu vực miền Trung từ tháng 8 đến tháng 12 Tháng 5 và 6 đã có bão và ATNĐ ảnh hưởng đến ven biển Quảng Nam, nhiều nhất trong các tháng 9
và 10 Khi bão hay ATNĐ đi vào vùng biển hoặc đổ bộ vào đất liền Quảng Nam,
Đà Nẵng, điều đáng quan tâm nhất trong bão là hiện tượng gió mạnh, mưa lớn, sạt
lở, lũ lụt
Quảng Nam nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của bão nhiều thứ 2 sau Bắc Bộ, chiếm 22% số cơn bão của cả nước Trong 30 năm gần đây đã có 25 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến Quảng Nam, trung bình một năm có 0,8 cơn, cao hơn khu vực Thừa Thiên Huế (0,7 cơn) nhưng thấp hơn Đà Nẵng (1,3 cơn)
2.1.5 Chế độ mưa
Quảng Nam là địa phương có lượng mưa trung bình năm thuộc loại cao so với các tỉnh khác trong cả nước với tổng lượng mưa trung bình năm ở đồng bằng ven biển từ 2.200-2.500 mm, ở trung du và vùng núi từ 3.000-4.000 mm và vùng núi cao phía Tây Nam trên 4.000 mm Tuy vậy, lượng mưa phân bố giữa các mùa cũng như giữa các tháng trong năm lại không đồng đều Mùa mưa ít (mùa khô) bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 8 (chỉ chiếm 27-35% lượng mưa năm), mùa mưa nhiều xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 12 (chiếm 65-73% lượng mưa năm)
Tháng
Trạm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Cả năm Giai đoạn 2011 – 2015
Tam Kỳ 160,3 81,1 78,4 49,2 32,5 83,2 105,1 108,1 385,7 664,1 565,5 349,8 2.663
Trà My 189,4 51,4 172,6 113,3 205,7 150,4 166,1 173,7 443,4 960,9 954,3 312,5 3.894
Giai đoạn 2016 – 2019
Tam Kỳ 126,4 45,6 82,2 68,5 37,8 85,1 199,7 107,3 174,4 560,2 591,6 692,6 2.771 Trà My 261,9 159,9 185,0 103,7 272,9 223,9 216,3 244,1 384,9 526,9 1.236,2 901,7 4.717
Bảng 2.5 Lượng mưa trung bình tháng, tổng lượng mưa cả năm (mm)
Trang 16So sánh lượng mưa trung bình giai đoạn 2016-2019 với giai đoạn 2011-2015 cho thấy: lượng mưa trung bình năm đều tăng cao ở cả 02 vùng đồng bằng ven biển
và khu vực miền núi với mức tăng đáng kể từ 108-823 mm Lượng mưa trung bình vào mùa khô đều tăng ở cả 02 khu vực, trong đó vùng đồng bằng tăng ít 6,8 mm; vùng núi tăng cao 55,6 mm Lượng mưa trung bình vào mùa mưa cũng tăng ở cả 02 khu vực, trong đó vùng đồng bằng tăng 13,4 mm; vùng núi tăng 94,7 mm
2.2 Tình hình phát triển kinh tế- xã hội
2.2.1 Tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Nền kinh tế tỉnh Quảng Nam tiếp tục phát triển vượt bậc trong những năm qua, trở thành điểm sáng của Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, với quy mô nền kinh tế gần 100.000 tỷ đồng, đứng vị thứ hai trong vùng
Giai đoạn 2016-2019, nền kinh tế tỉnh Quảng Nam phát triển khá Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân 4 năm (2016-2019) là 7,4%/năm, không đạt kế hoạch đề ra do sự sụt giảm GRDP vào năm 2019 Tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh (gồm thu nội địa và thu xuất nhập khẩu) tăng bình quân 17%/năm, trong đó thu nội địa tăng khoảng 25%/năm, cao hơn chỉ tiêu đề ra Đặc biệt năm
2017, sau 20 năm tái lập tỉnh, Quảng Nam trở thành tỉnh tự cân đối ngân sách, có điều tiết về ngân sách Trung ương Hệ thống kết cấu hạ tầng từng bước được cải thiện, đồng bộ, phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng, nhiều công trình đầu tư
có quy mô lớn góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) giai đoạn 2016-2019 đều nằm trong top 10 tỉnh, thành phố có chỉ số tốt Cộng đồng doanh nghiệp tiếp tục lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng Hằng năm có hơn 1.000 doanh nghiệp thành lập mới, nâng số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh đến cuối năm 2019 là hơn 7.400 doanh nghiệp; 188 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký hơn 5,9 tỷ USD; nhiều dự án lớn đang triển khai, chủ yếu thuộc lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Tỷ trọng ngành nông – lâm – thủy sản trong GRDP giảm từ 14,6% (2015) xuống còn 12,6% (2019), các ngành phi nông nghiệp tăng từ 85,4% (2015) lên 87,4% (2019) GRDP bình quân đầu người đạt 66 triệu đồng vào năm 2019 (tăng 25 triệu đồng so với năm 2015)
Trang 17Trong các khu vực kinh tế, thương mại – dịch vụ có mức tăng trưởng cao nhất (bình quân 10,6%/năm), khu vực công nghiệp – xây dựng luôn là khu vực có mức đóng góp vào GRDP của tỉnh cao nhất (chiếm gần 40%), trong đó chủ yếu từ lĩnh vực công nghiệp (trên 30%)
Hình 2.2 Quy mô và cơ cấu GRDP
2.2.1.2 Phát triển các ngành
a) Phát triển công nghiệp
Trong những năm qua, công nghiệp luôn là lĩnh vực đóng góp chính vào nguồn thu ngân sách tỉnh, với tỷ lệ đóng góp của ngành vào GRDP của tỉnh luôn
ở mức cao qua các năm (bình quân 32,7%/năm) Giai đoạn 2016-2020, ngành công nghiệp vẫn duy trì tăng trưởng qua các năm, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng
có dấu hiệu không ổn định chủ yếu do bị chi phối bởi sự biến động của thị trường ô tô Tốc độ tăng trưởng bình quân 4 năm 2016-2019 chỉ đạt 11,5%/năm, thấp hơn giai đoạn 2011-2015 (19,78%/năm)
Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2019 đạt 24.783 tỷ đồng (theo giá so sánh với 2010), tăng 52% so với năm 2015 Trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo luôn là ngành chủ lực chiếm 95,47%; khai khoáng chiếm 0,93%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải chiếm 0,27%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước chiếm 3,34% Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu hiện nay là ô tô lắp ráp, quần áo may sẵn, giày dép các loại, bia các loại, thủy sản chế biến và điện sản xuất
Trang 18Hình 2.3 Giá trị sản xuất và số lao động ngành công nghiệp
* Khu công nghiệp, cụm công nghiệp
Toàn tỉnh đã quy hoạch phát triển 11 KCN tập trung với diện tích là 6.135,72 ha, trong đó có 7 KCN nằm trong Khu KTM Chu Lai với tổng diện tích 4.950 ha và 4 KCN nằm ngoài Khu KTM với tổng diện tích 1.185,72 ha, trong đó có 7 KCN đã được đầu tư và đi vào hoạt động Đến nay có 233 dự án đang hoạt động (gồm: 78 dự án có vốn đầu tư nước ngoài và 155 dự án có vốn đầu tư trong nước), tổng vốn đầu tư là 61.208 tỷ đồng và 612,48 triệu USD, tổng diện tích đất cho thuê 880 ha, tổng số lao động làm việc trong các KCN là 61.701 người
Theo Quy hoạch phát triển CCN trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (tại Quyết định số 3924/QĐ-UBND ngày 28/12/2018), trên địa bàn tỉnh có 92 CCN với tổng diện tích 2.280,47 ha đến năm 2025 và 2.613,14 ha đến năm 2035 Tính lũy
kế đến năm 2019, UBND tỉnh đã có quyết định thành lập 53 CCN với tổng diện
tích 1.489,65 ha, diện tích đất công nghiệp 1.085,21 ha
* Khai khoáng
Quảng Nam có nguồn tài nguyên khá đa dạng và phong phú, đã phát hiện hàng trăm mỏ và điểm khoáng sản của khoảng 45 loại khoáng sản, trong đó khoáng sản có tiềm năng và giá trị đáng kể là: vàng, than đá, urani, elspat, cát trắng, đá vôi, đá ốp lát, khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường (VLXDTT) Chỉ số sản xuất đối với nhóm ngành khai khoáng luôn đạt mức tăng trưởng cao, năm 2019 đạt 31,62%
Trang 19Loại khoáng sản ĐVT Năm
ở nhiều nơi trong tỉnh, trong đó tập trung chủ yếu ở các huyện: Núi Thành, Phú Ninh, Quế Sơn, Đại Lộc với tổng trữ lượng có thể trên 100 triệu m3 Cát, cuội, sỏi phân bố chủ yếu ở hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn với trữ lượng khá lớn (trên 60 triệu m3, được quy hoạch 184 mỏ với diện tích 1.777 ha) Nhìn chung,
Trang 20tỉnh Quảng Nam có khá nhiều loại khoáng sản, tuy nhiên, ngoài một số mỏ có trữ lượng từ trung bình đến lớn, đã hoặc đang đầu tư thăm dò, khai thác quy mô công nghiệp như: than Nông Sơn, cát trắng Hương An, vàng Bồng Miêu, vàng Đăk Sa, đá vôi Thạnh Mỹ, urani Pà Lừa - Pà Rồng, đá làm VLXDTT Tam Nghĩa, phần lớn khoáng sản còn lại phân bố phân tán trên diện rộng, hơn nữa một số loại khoáng sản như vàng, thiếc, than đá thường phân bố chủ yếu ở khu vực trung du, miền núi, nơi có địa hình hiểm trở, đi lại không thuận lợi
Trong thời gian qua, tình hình khai thác khoáng sản trái phép trên địa bàn tỉnh vẫn còn diễn biến phức tạp Một số loại khoáng sản như vàng, thiếc thường phân bố chủ yếu ở khu vực trung du, miền núi, nơi có địa hình hiểm trở,
đi lại khó khăn, phân tán trên diện rộng; khoáng sản cát, sỏi phân bố ở vùng sông nước, dễ khai thác và tiêu thụ, không cần đầu tư nhiều nhưng mang lại lợi nhuận khá lớn đã tạo điều kiện cho các đối tượng thực hiện hành vi khai thác trái phép Trước tình hình trên, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các Sở, ngành, địa phương triển khai các giải pháp, nhiệm vụ nhằm tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh, đồng thời triển khai các biện pháp, giải pháp nhằm chấn chỉnh, ngăn chặn kịp thời hành vi KTKS trái phép
* Làng nghề
Trên địa bàn tỉnh Quảng Nam hiện có 46 làng nghề, làng nghề truyền thống, trong đó có 30 làng nghề, làng nghề truyền thống được UBND tỉnh công nhận Tổng số cơ sở sản xuất tham gia hoạt động ngành nghề tại các làng nghề
là 3.005 cơ sở; trong đó: 05 doanh nghiệp (chiếm 0,17%); 04 hợp tác xã (chiếm 0,13%); 07 tổ hợp tác (chiếm 0,23%) và 2.989 hộ làng nghề (chiếm 99,47%) Tổng số lao động trong các làng nghề là 5.981 lao động, chủ yếu là lao động nữ
ở độ tuổi trung niên, lớn tuổi Thu nhập bình quân/lao động/tháng dao động từ 2 triệu đồng đến 3,5 triệu đồng
Các làng nghề, làng nghề truyền thống phân bố không đều giữa các địa phương, phần lớn tập trung ở các huyện đồng bằng (Đại Lộc, Điện Bàn, Hội An, Duy Xuyên, Thăng Bình), các huyện miền núi rất ít làng nghề Các làng nghề
Trang 21chủ yếu tập trung vào một số ngành nghề như: trồng, chế biến, bảo quản nông lâm thủy sản (trồng rau, chế biến nước mắm, hải sản, làm bánh tráng, phở sắn); sản xuất thủ công mỹ nghệ (dệt vải, dệt thổ cẩm, dệt chiếu cói; gốm sứ; gỗ gia dụng; mây, tre đan), nhóm khác (làm hương, chổi đót, rèn, đóng tàu )
Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các đối tượng tham gia ngành nghề tại nhiều làng nghề gặp nhiều khó khăn, sản xuất chỉ ở mức độ duy trì nghề, không ổn định, hoạt động cầm chừng, thu hẹp quy mô, nhiều làng nghề đang đứng trước nguy cơ mai một Hiện nay, chỉ có một số ít làng nghề duy trì ổn định như: Làng nghề mộc Kim Bồng, Làng nghề gốm Thanh Hà, Làng nghề trồng rau Trà Quế, Làng nghề vấn chổi Chiêm Sơn, Làng nghề hương Quán Hương, Làng nghề nước mắm Cửa Khe, Làng nghề trồng rau Hưng Mỹ, Làng nghề bún Phương Hòa (nhờ gắn với phát triển du lịch)
Ngày 07/4/2015, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1222/QĐ-UBND phê duyệt Đề án Phát triển làng nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2015-2020 Theo đó, tổng nhu cầu vốn đầu tư
để triển khai Đề án giai đoạn 2016-2020 là 85.300 triệu đồng, trong đó, vốn đầu
tư phát triển: 65.490 triệu đồng; vốn sự nghiệp: 18.610 triệu đồng Tuy nhiên, việc triển khai đề án đến nay không thực hiện được do UBND tỉnh không bố trí vốn
b) Phát triển xây dựng
Giai đoạn 2016-2019, ngành xây dựng vẫn duy trì mức tăng trưởng đều qua từng năm với tốc độ tăng trưởng bình quân 22%/năm Giá trị sản xuất của ngành năm 2019 ước đạt 4.211 tỷ đồng (theo giá so sánh với năm 2010)
Cùng với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, hoạt động xây dựng công nghiệp, nhà dân dụng, hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đô thị, nông thôn diễn ra mạnh mẽ thời gian qua Trong đó lĩnh vực xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng (với các dự án xây dựng hạ tầng giao thông, khu đô thị, khu dân cư, khu du lịch, các nhà máy điện…) và xây dựng công nghiệp có mức độ tăng trưởng cao
Trang 22Chương trình phát triển đô thị được tiếp tục thực hiện nhằm tạo động lực cho sự phát triển KT-XH của tỉnh Đến nay trên toàn tỉnh đã có 19 đô thị (gồm: 01
đô thị loại II, 01 đô thị loại III, 01 đô thị loại IV và 16 đô thị loại V) với các chỉ tiêu liên quan đến hạ tầng kỹ thuật khung từng đô thị đạt được khoảng 60-80% theo loại đô thị hiện hữu
Tính đến năm 2020, tổng diện tích nhà ở ước đạt 38,79 triệu m2
sàn, diện tích bình quân đầu người ước đạt 25,0 m2
sàn/người (trong đó tại đô thị ước đạt 32,5 m2 sàn và tại nông thôn đạt 22,64 m2 sàn), tỷ lệ nhà ở kiên cố và bán kiên
cố đạt khoảng 95% Nhiều dự án trọng điểm đã được đầu tư xây dựng như: xây dựng đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi, các tuyến đường ĐT, ĐH, các tuyến đường nối từ đường ven biển đến QL1A và đường cao tốc; mở rộng, nâng cấp QL1A, QL40B, QL14E, đường cứu hộ cứu nạn ven biển (129), đường vào trung tâm phố cổ Hội An; đầu tư cơ sở hạ tầng 5 CCN (Đồi 30, Phú Mỹ – Phú Ninh, thôn Bốn xã Ba – Đông Giang, Ấp 5 - Đại Lộc, Đông Phú 1 – Quế Sơn); xây dựng các trường trung học phổ thông, các bệnh viên tuyến tỉnh, tuyến huyện
Việc thực hiện Chương trình quốc gia về nông thôn mới cũng đạt được nhiều kết quả khích lệ Đến cuối năm 2019, toàn tỉnh có thêm 13 xã đạt chuẩn nông thôn mới, nâng tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới lên 98 xã, trong đó có 1 xã nông thôn mới nâng cao (xã Đại Hiệp) và 01 xã nông thôn mới kiểu mẫu (xã Điện Quang) Công tác xây dựng khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu đã triển khai đạt kết quả bước đầu, đã có 57 thôn được công nhận đạt chuẩn khu dân cư nông thôn kiểu mẫu, góp phần đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện các tiêu chí nông thôn mới, tạo ra diện mạo mới ở nhiều địa phương
c) Phát triển năng lượng
Tỉnh Quảng Nam được phê duyệt quy hoạch thủy điện vừa và nhỏ với 46 dự
án, tổng công suất thiết kế là 1.793,66 MW, điện lượng trung bình năm theo thiết
kế là 6.466,18 triệu kWh Đến nay đã có 22 dự án vận hành phát điện, với tổng công suất thiết kế là 1.273,96 MW, điện lượng trung bình năm theo thiết kế là 4.709,97 triệu kWh Ngoài ra còn có 03 dự án thủy điện đã vận hành phát điện nhưng không thuộc quy hoạch là An Điềm (5,4 MW), Phú Ninh (0,2 MW), Duy
Trang 23Sơn II (1,25 MW) và 01 nhà máy nhiệt điện là Nhà máy nhiệt điện Nông Sơn (30 MW)
Hằng năm, các dự án năng lượng trên địa bàn tỉnh đã cung ứng khoảng 3.000-5.000 triệu kWh điện cho hệ thống điện quốc gia, đảm bảo đáp ứng nhu cầu
sử dụng năng lượng toàn tỉnh (1.000-2.000 triệu kWh) Trong đó thủy điện chiếm chủ yếu (94-97% tổng sản lượng điện)
Hiện tại có 5 dự án thủy điện đang thi công xây dựng và 20 dự án điện đang làm thủ tục đầu tư (19 dự án thủy điện và 01 dự án điện sinh khối) Như vậy, so với giai đoạn trước, số lượng dự án thủy điện tăng lên đáng kể (thêm 18
dự án được phê duyệt quy hoạch với tổng công suất tăng 200 MW) Ngoài ra, có
01 dự án điện sinh khối đã được phê duyệt quy hoạch (là Nhà máy điện sinh khối Quế Sơn, với công suất dự kiến là 6,0 MW, điện lượng trung bình năm theo thiết kế là 39 triệu kWh) và các dự án điện khí (với tổng công sất dự kiến là 1.500 MW, thời gian vận hành vào khoảng quý IV năm 2023 với 750 MW, quý
II năm 2024 thêm 750 MW) Trên địa bàn tỉnh hiện chưa có quy hoạch và chưa
có dự án năng lượng mặt trời, năng lượng gió
Đối với 25 dự án thủy điện đã vận hành phát điện (gồm 22 dự án trong quy hoạch, 03 dự án ngoài quy hoạch) và 5 dự án đang thi công thì có 28 đập, hồ chứa phải xây dựng và trình phê duyệt quy trình vận hành hồ chứa, 4 dự án còn lại không thực hiện do không có hồ chứa (Sông Cùng, Đại Đồng, Phú Ninh, Duy Sơn II) Đến nay, đã phê duyệt 26 quy trình vận hành hồ chứa, trong đó có 19
hồ, đập thủy điện thực hiện vận hành theo Quy trình vận hành liên hồ chứa lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn (cả mùa lũ và mùa cạn)
Hình 2.4 Sản lượng điện qua các năm [Nguồn: Sở Công thương tỉnh Quảng Nam]
Trang 24d) Phát triển giao thông vận tải
d1 Hạ tầng giao thông
* Đường bộ:
Giai đoạn 2015-2019, hạ tầng giao thông đường bộ phát triển mạnh, kịp thời đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH và kết nối vùng Tổng chiều dài các tuyến đường được đầu tư, nâng cấp, sửa chữa từ năm 2016-2019 là 1.277,46 km, trong đó đã hoàn thành một số công trình giao thông lớn quan trọng (như tuyến đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi, đường Trường Sơn Đông, mở rộng, nâng cấp QL1A, mở rộng QL40B, xây dựng tuyến QL14E) cùng một số tuyến đường tỉnh lộ Hạ tầng giao thông các đô thị cũng phát triển mạnh, ngoài Hội An và Tam Kỳ, các đô thị trung tâm huyện, thị xã cũng có bước phát triển mạnh về kết cấu hạ tầng giao thông như Vĩnh Điện, Nam Phước, Hà Lam, Đông Phú, Núi Thành… Đến năm 2020 đã hoàn thành mục tiêu đạt 100% xã có đường ô tô đến trung tâm xã được kiên cố hóa, đường xã (ĐX) đi lại thuận lợi quanh năm
Phương tiện cơ giới tăng cao theo từng năm (bình quân giai đoạn 2015-2019 tăng 12,4%/năm) Tính đến cuối năm 2019, tổng số phương tiện giao thông đường
bộ các loại đã đăng ký khoảng 79.500 chiếc, trong đó xe máy chiếm chủ yếu (90%), ô tô con chiếm 7%, xe tải và xe khách chiếm 3% Ô tô con là phương tiện
có tốc độ tăng cao nhất (bình quân 54%/năm), xe máy tăng bình quân 11%/năm Trong 2 năm trở lại đây, số phương tiện ô tô con tăng nhanh, trong khi số xe máy
có dấu hiệu tăng chậm lại
Số lượng phương tiện thủy nội địa sau năm 2015 tăng không nhiều, bình quân hằng năm khoảng trên 60 phương tiện, chủ yếu trên địa bàn thành phố Hội
An là chính
* Đường sắt: có tổng chiều dài chạy qua địa bàn tỉnh là 85 km với 7 ga
tàu cùng với 43 cầu đường sắt Chất lượng tuyến nhìn chung đảm bảo cho công tác chạy tàu
* Cảng hàng không Chu Lai: được quy hoạch là Cảng hàng không trung
chuyển hàng hóa khu vực và quốc tế, vận chuyển hành khách và công nghiệp hàng không, với quy mô 1 đường cất hạ cánh kích thước (3048x45)m và đường
Trang 25lăn song song kích thước (3048x22,86)m, sân đỗ tàu bay đáp ứng 08 vị trí đỗ máy bay A321 và tương đương, nhà ga hàng hóa công suất 5 triệu tấn/năm, nhà ga hành khách công suất 1 triệu hành khách/năm Quá trình phát triển vừa qua cho thấy mục tiêu trung chuyển hàng hóa và công nghiệp hàng không đều không đạt, vận chuyển hàng hóa chủ yếu cho nhu cầu nội địa; ngược lại lượng vận chuyển hành khách lại tăng trưởng mạnh (dự báo đạt 1,5 triệu hành khách trong năm
2020, tăng gần 10 lần so với năm 2015)
* Cảng biển: Trên địa bàn tỉnh hiện có 01 cảng biển là Cảng biển Kỳ Hà,
đây là cảng biển loại II, có 03 bến cảng với 04 cầu cảng với tổng chiều dài cầu cảng là 905m, có khả năng tiếp nhận tàu có trọng tải đến 20.000 DWT với đa dạng các mặt hàng (hàng khô, hàng lỏng, hàng container) Giai đoạn 2016-2019, tàu thuyền ra vào Cảng biển Kỳ Hà không tăng trưởng lớn về số lượng mà tăng trưởng về kích thước, trọng tải của đội tàu, đây cũng là xu thế chung đối với việc phát triển vận tải hàng hải trên thế giới Năm 2019, số lượt tàu ra vào cảng đạt 2.682 lượt, sản lượng hàng hóa qua cảng đạt 2,9 triệu tấn
d2 Hoạt động vận tải
Hoạt động vận tải hàng hóa và hành khách nội địa giai đoạn này tăng trưởng đều ở tất cả các loại hình vận tải (đường bộ, đường sông, đường biển), tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 9%/năm đối với vận tải hàng hóa và 8%/năm đối với vận chuyển hành khách Sản lượng vận chuyển hàng hóa năm 2019 đạt 19,6 triệu tấn/năm (tăng 48% so với năm 2015), số lượt vận chuyển hành khách đạt khoảng 21,5 triệu lượt/năm (tăng 42% so với năm 2015), trong đó chủ yếu là vận chuyển bằng đường bộ (chiếm 80-90%)
Hình 2.5 Số lượng phương tiện đăng ký mới [Nguồn: Sở GTVT Quảng Nam]
Trang 26e) Phát triển nông- lâm- thủy sản
Trong những năm qua, ngành nông nghiệp vẫn duy trì mức tăng trưởng đều qua từng năm với tốc độ tăng trưởng từ 4,2-5,2%, chỉ riêng năm 2019 tốc độ tăng trưởng chậm hơn so với các năm trước (chỉ tăng 0,75%) do lĩnh vực nông nghiệp sụt giảm so với năm trước Tốc độ tăng bình quân năm toàn ngành giai đoạn 2016-2019
là 3,62%/năm (cao hơn giai đoạn 2011-2015 là 3,4%/năm) Năm 2019, giá trị sản xuất nông nghiệp ước đạt 13.688 tỷ đồng (tăng 15,72% so với năm 2015), trong đó: nông nghiệp đạt 8.194 tỷ đồng, lâm nghiệp đạt 1.433 tỷ đồng, thủy sản đạt 4.057 tỷ đồng
Từ khi thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp, cơ cấu kinh tế ngành đã có
sự chuyển dịch theo hướng tích cực trong các năm qua, giảm tương đối tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng lâm nghiệp, thủy sản Năm 2019, tỷ trọng nông - lâm
- thủy sản lần lượt là 59,89% - 10,47% - 29,67% (so với năm 2015 tỷ trọng tương ứng là 63,76% - 7,88% - 28,36%) Tốc độ gia tăng GTSX bình quân giai đoạn 2016-2019 của các ngành nông - lâm - thủy sản tương ứng là 1,69% - 11,48% - 5,48%
Hình 2.6 Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp [Nguồn: NN&PTNT Quảng Nam]
E1 Sản xuất nông nghiệp
* Trồng trọt
Lĩnh vực trồng trọt đang dịch chuyển dần sang hướng thâm canh cao, sản xuất tập trung, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để nâng cao giá trị sản phẩm trên 1ha canh tác Việc mở rộng diện tích cây dược liệu, chuyển đổi cơ cấu cây
Trang 27trồng (từ đất lúa kém hiệu quả sang rau màu các loại) đã mang lại những hiệu quả tích cực vào việc nâng cao giá trị sản phẩm Giai đoạn 2016-2019, có 3.560
ha đất lúa đã được chuyển đổi, giúp nâng cao giá trị sản phẩm từ 75,3 triệu đồng/ha năm 2015 lên 88 triệu đồng/ha năm 2019, tăng trưởng bình quân 4,0%/năm
Hình 2.7 Diện tích đất trồng cây hằng năm [Nguồn: Sở NN&PTNT Quảng Nam]
* Chăn nuôi
Tỷ trọng chăn nuôi trong cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp tăng dần qua các năm (từ 25,9% năm 2015 lên 27,3% năm 2018), đến năm 2019 do ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu Phi nên chăn nuôi bị ảnh hưởng nghiêm trọng, giá trị giảm sút Phương thức chăn nuôi có sự chuyển biến theo hướng giảm dần chăn nuôi nhỏ lẻ, tăng dần chăn nuôi theo hình thức tập trung, theo đó tỷ lệ chăn nuôi quy
mô tập trung so với tổng đàn cũng tăng dần qua các năm, đồng thời có sự chuyển dịch chăn nuôi tập trung từ vùng có mật độ dân số cao đến vùng có mật độ dân số thấp (từ đồng bằng đến trung du, miền núi) Tuy nhiên, số lượng gia súc, gia cầm được chăn nuôi tập trung so với tổng đàn vẫn còn khiêm tốn (đàn lợn đạt 16%, đàn gia cầm đạt 11%), chưa đầu tư cơ sở chăn nuôi tập trung với quy mô lớn Hiện nay, Điện Bàn là địa phương có nhiều trang trại chăn nuôi tập trung nhất toàn tỉnh (gần 60 trang trại), tiếp đến là Đại Lộc, Phú Ninh, Quế Sơn, Duy Xuyên (trên dưới 10 trang trại), các huyện khác như Hiệp Đức, Thăng Bình, Tiên Phước và Núi Thành (1-3 trang trại)
Trang 28Hình 2.8 Tổng đàn gia súc, gia cầm qua các năm
[Nguồn: Sở NN&PTNT Quảng Nam]
* Lâm nghiệp
Ngành lâm nghiệp là lĩnh vực có tốc độ phát triển cao nhất trong ngành nông nghiệp, so với năm 2015 giá trị sản xuất lâm nghiệp hiện nay đã tăng 64% Giai đoạn 2016-2019, bằng sự nổ lực rất lớn của ngành lâm nghiệp trong công tác trồng, quản lý và bảo vệ rừng, diện tích đất có rừng và diện tích rừng trồng mới tập trung đã tăng đều qua các năm Tỷ lệ che phủ rừng đạt được hằng năm cũng đều vượt so với kế hoạch đề ra
TT Nội dung Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019
Trang 29* Thủy sản
Giai đoạn 2015-2019, sản lượng thủy sản vẫn duy trì tăng liên tục qua các năm với mức tăng bình quân 4,1%/năm (thấp hơn so với giai đoạn 2011-2015 là 5,8%/năm) Tổng sản lượng thủy sản năm 2019 là 115.000 tấn (tăng 17,4% so với năm 2015), trong đó sản lượng NTTS đạt 23.500 tấn (tăng 19% so với năm 2015), sản lượng KTTS đạt 91.500 tấn (tăng 17,1% so với năm 2015) KTTS vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng sản lượng (trên 79%)
Hình 2.9 Tăng trưởng sản lượng và giá trị ngành thủy sản
[Nguồn: Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Nam] f) Hoạt động y tế
Giai đoạn 2015-2019, hạ tầng y tế toàn tỉnh tiếp tục được mở rộng cả về số lượng cơ sở y tế lẫn quy mô giường bệnh Hiện nay, toàn tỉnh có 546 cơ sở y tế công và tư với 6.500 giường bệnh Trong đó có: 32 cơ sở y tế công lập/5.210 giường bệnh (gồm: 01 bệnh viện tuyến Trung ương; 9 bệnh viện và 2 trung tâm
dự phòng tuyến tỉnh; 20 TTYT tuyến huyện); 6 bệnh viện tư nhân/1.290 giường bệnh, 18 phòng khám đa khoa và 490 phòng khám chuyên khoa ngoài công lập
Ở tuyến xã có 241 trạm y tế (trong đó có 8 phòng khám đa khoa khu vực lồng ghép trong trạm y tế) và 01 phòng khám đa khoa khu vực Điện Nam - Điện Ngọc Số nhân lực y tế do Nhà nước quản lý ước tính trên 7.000 người, trong đó
số người làm việc trong ngành y chiếm trên 85%, còn lại làm trong ngành dược
Số bác sỹ/vạn dân đạt khoảng 9 người, số giường bệnh/vạn dân đạt 37 giường
Trang 30So với giai đoạn trước, tổng số cơ sở y tế tăng lên 10 cơ sở (chưa kể phòng khám đa khoa và chuyên khoa tư nhân), trong đó khối công lập tăng 7 bệnh viện và khối tư nhân tăng 3 bệnh viện; tổng số giường bệnh tăng hơn 3.000 giường, tỷ lệ giường bệnh/vạn dân tăng 13 giường Tuy mạng lưới y tế phát triển mạnh mẽ trong những năm trở lại đây, song tình trạng quá tải vẫn còn diễn ra thường xuyên theo mùa ở các bệnh viện trong tỉnh (số giường bệnh sử dụng thực tế vượt 20,7% đối với các cơ sở y tế công lập và vượt 21,3% đối với các cơ sở y tế ngoài công lập)
g) Phát triển du lịch, dịch vụ, kinh doanh, thương mại và xuất nhập khẩu
Ngành thương mại, dịch vụ, du lịch phát triển nhanh trong những năm gần đây và luôn chiếm trên 30% trong cán cân kinh tế của tỉnh Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2019 là 55,6 nghìn tỷ đồng (tăng 22,4 nghìn tỷ so với năm 2015), tốc độ tăng trưởng bình quân 14%/năm Trong đó: bán
lẻ hàng hóa chiếm hơn 68%; dịch vụ lưu trú, ăn uống chiếm hơn 22%; du lịch lữ hành chiếm gần 2% và dịch vụ khác chiếm hơn 8%
Hoạt động thương mại tăng trưởng khá ổn định thời gian qua Hạ tầng thương mại được đầu tư phát triển; hàng hóa phong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trên địa bàn tỉnh; lưu thông hàng hóa được tổ chức ổn định xuyên suốt; giá cả tương đối ổn định Trên địa bàn tỉnh hiện có 159 chợ đang hoạt động; 02 siêu thị (Co.op Mart, GO) và 01 Trung tâm thương mại phường Phước Hòa tại thành phố Tam Kỳ; tại Hội An hệ thống siêu thị chưa phát triển, thay vào đó chuỗi các cửa hàng tiện ích phục vụ khách du lịch hoạt động khá hiệu quả; có 4 doanh nghiệp tham gia phân phối cung cấp xăng dầu trên địa bàn tỉnh
Du lịch có sự phát triển vượt bậc trong giai đoạn 2016-2019 và ngày càng
có nhiều dự án du lịch quy mô lớn đi vào hoạt động Năm 2016, Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết chuyên đề đẩy mạnh phát triển du lịch từng bước trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, tập trung phát triển các loại hình du lịch phù hợp với lợi thế của tỉnh, đưa vào khai thác các sản phẩm mới, mở rộng mạng lưới kết nối du lịch về phía Nam và phía Tây Lượng khách tham quan, lưu trú tăng nhanh (từ 3,85 triệu lượt vào năm 2015 tăng lên 7,8 triệu lượt vào năm 2019), trong đó
số lượt khách quốc tế có xu hướng tăng cao hơn số lượt khách nội địa (năm 2015
Trang 31số lượt khách quốc tế chiếm 49% tổng lượt khách, đến 2019 tăng lên 60%), tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành là 19,32%/năm Doanh thu từ tham quan, lưu trú năm 2019 đạt 6,2 nghìn tỷ (tăng 2,4 lần so với năm 2015), thu nhập xã hội từ tham quan, lưu trú đạt 14,57 nghìn tỷ (tăng 2,4 lần so với năm 2015), mở ra nhiều
cơ hội để gia tăng thu nhập cho người dân địa phương Sự phát triển nhanh chóng của ngành du lịch đã thúc đẩy phát triển mạng lưới cơ sở hạ tầng dịch vụ du lịch
Số cơ sở lưu trú đã tăng mạnh mẽ, nhất là trong 3 năm trở lại đây Hiện có 731 cơ
sở lưu trú với 13.860 phòng hoạt động (tăng hơn 2 lần so với năm 2015), trong đó
số lượng khách sạn đạt tiêu chuẩn đón khách quốc tế ngày càng tăng với khoảng
128 khách sạn/7.750 phòng lưu trú Dự kiến các dự án lớn được đầu tư trong lĩnh vực du lịch nghỉ dưỡng cao cấp đi vào hoạt động từ năm 2020 sẽ có đóng góp đáng kể vào tăng trưởng của khu vực này
Hình 2.10 Số lượt khách tham quan, lưu trú [Nguồn: Sở VH-TT&DL]
Hình 2.11 Doanh thu từ tham quan, lưu trú [Nguồn: Sở VH-TT&DL]
Trang 322.2.2 Tình hình xã hội
2.2.2.1 Tác động của tình hình xã hội trong nước đến tỉnh nhà
Sau hơn 30 năm mở cửa và hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới từ năm 1986, Việt Nam đã có sự phát triển rất đáng ghi nhận Tổng kết 10 năm qua (2009-2019), mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng Việt Nam đã đạt được những thành quả quan trọng trên các lĩnh vực: y tế, giáo dục, việc làm và điều kiện sống của người dân Quy mô dân số nước ta tăng với tốc độ chậm hơn so với giai đoạn 10 năm trước Trình độ dân trí đã được cải thiện, tỷ lệ dân số có trình
độ chuyên môn kỹ thuật tăng mạnh Vấn đề giải quyết việc làm và nâng cao năng lực cạnh tranh cho người lao động được chú trọng Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh
tế đang diễn ra mạnh mẽ ở Việt Nam theo hướng tăng tỷ trọng lao động trong khu vực Công nghiệp, Xây dựng và Dịch vụ, giảm tỷ trọng lao động trong khu vực Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản Nhà ở và điều kiện sống của các hộ dân cư đã được cải thiện rõ rệt, đặc biệt ở khu vực thành thị Hầu hết các hộ dân cư đều có nhà ở và chủ yếu sống trong các loại nhà kiên cố và bán kiên cố; tỷ lệ hộ không có nhà ở giảm mạnh; tỷ lệ hộ được sử dụng điện lưới và nguồn nước hợp vệ sinh tăng mạnh
Đến nay, GDP đầu người đã đạt trên 2.700 USD, với hơn 45 triệu người thoát nghèo, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ hơn 70% xuống còn dưới 6% Dân số tăng lên gần 97 triệu người vào năm 2019 (đứng thứ ba trong khu vực Đông Nam
Á và thứ 15 trên thế giới), mật độ dân số là 290 người/km2
(tăng 31 người/km2 so với năm 2009) Tuổi thọ trung bình là 73,6 tuổi (cao hơn những nước có thu nhập tương đương trong khu vực) Gần 88% dân số trong độ tuổi từ 25-59 tham gia lực lượng lao động, tỷ lệ lao động được đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ chiếm 23,1%,
tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp (2,05%)
Việc cung cấp các dịch vụ cơ bản cũng có nhiều thay đổi tích cực, khả năng người dân tiếp cận hạ tầng cơ sở được cải thiện đáng kể Tính đến năm 2019, 99,4% hộ sử dụng điện chiếu sáng, tỷ lệ hộ dân sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh là 97,4% (ở khu vực thành thị là 99,6%, ở khu vực nông thôn là 96,3%), tỷ lệ hộ sử dụng hố xí hợp vệ sinh là 88,9%
Trang 33Trước bối cảnh trong nước như vậy, tỉnh Quảng Nam đã chủ động thực hiện nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển xã hội như: thực hiện tốt các chính sách giảm nghèo bền vững trên cơ sở các chương trình, chính sách giảm nghèo của Trung ương; công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm được quan tâm thường xuyên; hạ tầng xã hội được quan tâm đầu tư nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Đến nay, nhiều chỉ tiêu xã hội đạt được cao hơn bình quân cả nước
Dân số toàn tỉnh hiện nay đạt gần 1,5 triệu người, mật độ dân số trung bình
142 người/km2, tuổi thọ trung bình 74,6 tuổi Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động (từ 15 tuổi trở lên) chiếm 61% (khoảng 920.000 người), trong đó số lao động được tuyển sinh, đào tạo năm 2019 hơn 35.500 người, số lao động có việc làm mới tăng thêm hơn 14.500 lao động, đưa ra nước ngoài làm việc 5.000 lao động Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 28% (cao hơn bình quân cả nước), tỷ
lệ thất nghiệp khoảng 3% Tỷ lệ hộ nghèo chung trên địa bàn tỉnh đã giảm từ 12,9% (2015) xuống còn 6,06% (2019), bình quân mỗi năm giảm 1,71% (xấp xỉ mức bình quân cả nước), trong đó tỷ lệ hộ nghèo miền núi giảm đáng kể (từ 40,85% năm 2015 xuống còn 20,85% năm 2019, bình quân mỗi năm giảm 5%)
Tỷ lệ người dân đô thị được cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung đạt khoảng 78% (thấp hơn bình quân chung cả nước là 88%) Tỷ lệ hộ được sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh là 95,63% (thấp hơn so với bình quân cả nước là 97,4%) Tỷ lệ hộ sử dụng hố xí hợp vệ sinh là 96,17% (cao hơn bình quân
cả nước là 88,9%) Tỷ lệ thu gom và xử lý rác thải tại đô thị đạt khoảng 90% (cao hơn bình quân cả nước là 86-86,5%)
2.2.2.2 Dân số và vấn đề di cư
Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Quảng Nam, tổng dân số toàn tỉnh tính đến cuối năm 2019 là 1.497.479 người (trong đó: nữ giới có 760.932 người chiếm 50,8%; nam giới có 736.547 người chiếm 49,2%), xếp thứ 18/63 tỉnh thành trong
cả nước, đứng thứ 3 trong khu vực Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung Như vậy, sau 4 năm từ 2015 đến 2019, dân số toàn tỉnh đã tăng thêm 29.329 người, tốc
độ tăng bình quân 0,51%/năm (thấp hơn giai đoạn 2011-2015 là 0,752%/năm)
Trang 34Với gần 75% dân số sống ở vùng nông thôn, Quảng Nam có tỷ lệ dân số sinh sống ở nông thôn cao hơn tỷ lệ trung bình của cả nước Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa của tỉnh đang diễn ra mạnh mẽ trong những năm qua sẽ tiếp tục tác động lớn đến sự phân bố dân cư nông thôn - thành thị trong thời gian tới Hiện tại, số người sống ở khu vực thành thị là 379.635 người (tăng 7,32% so với năm 2015), trung bình mỗi năm dân số toàn tỉnh tăng 7.332 người, trong đó dân số thành thị tăng đến 6.478 người, tuy nhiên vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra trong Chương trình phát triển đô thị tỉnh Quảng Nam giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030 Điều đó cho thấy, mặc dù quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ, song tốc độ di dân từ khu vực nông thôn ra thành thị ở giai đoạn hiện tại chưa cao, dự báo sẽ tăng cao trong giai đoạn tiếp theo Dân số thành thị hiện nay tăng chủ yếu vẫn là do sự thay đổi địa danh hành chính từ xã lên phường, thị trấn trong quá trình đô thị hóa nông thôn
Sự phân bố dân số thành thị cũng không đồng đều giữa các địa phương Theo thống kê, hiện nay dân số thành thị phân bố chủ yếu tại 3 đô thị lớn là Tam
Kỳ (tỷ lệ dân số thành thị chiếm 77%), Hội An (chiếm 79%) và Điện Bàn (chiếm 38%), các huyện còn lại dân số thành thị chỉ chiếm dưới 20%, riêng 3 huyện miền núi là Nông Sơn, Tây Giang và Nam Trà My có 100% dân số nông thôn
Hình 2.12 Dân số tỉnh Quảng Nam qua các năm [Nguồn: Cục Thống kê tỉnh]
Trang 352.2.2.3 Phát triển đô thị
Mạng lưới đô thị tỉnh Quảng Nam đang từng bước được hình thành rõ nét, bước đầu đã hình thành được các chuỗi đô thị gắn với lợi thế riêng của từng vùng, tạo động lực phát triển KT-XH Khu vực phía Bắc có chuỗi các đô thị ven biển gắn với phát triển du lịch như: thành phố Hội An, đô thị mới Điện Nam – Điện Ngọc, vệt du lịch cao cấp ven biển Hội An – Điện Ngọc, đô thị Nam Hội An (Duy Xuyên, Thăng Bình) Khu vực phía Nam có cụm đô thị Tam Kỳ – Núi Thành – Phú Ninh làm đối trọng với khu vực phía Bắc, là cụm đô thị chức năng tổng hợp: Hành chính chính trị - Công nghiệp - Dịch vụ và du lịch trên cơ sở gắn kết với các trung tâm công nghiệp
Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa hiện nay diễn ra không đồng đều, chủ yếu tập trung ở vùng Đông của tỉnh Ở khu vực miền núi và trung du phía Tây, quá trình
đô thị hóa vẫn còn hạn chế do điều kiện địa hình, giao thông không thuận lợi, thế mạnh đô thị chưa rõ nét Phần lớn các đô thị này chủ yếu đóng vai trò đơn thuần
là trung tâm hành chính - chính trị - văn hóa của huyện, có quy mô nhỏ, động lực phát triển hạn chế, các chức năng hỗ trợ, thu hút lao động không cao
Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã có 19 đô thị, gồm: 01 đô thị loại II (Tam Kỳ), 01
đô thị loại III (Hội An), 01 đô thị loại IV (Điện Bàn) và 16 đô thị loại V So với giai
đoạn trước, giai đoạn này đã nâng cấp được 01 đô thị từ loại III lên loại II (Tam Kỳ) và công nhận thêm 4 đô thị loại V Dự kiến đến năm 2020-2021 sẽ nâng cấp
đô thị Núi Thành lên loại IV; công nhận đô thị Bình Minh (Thăng Bình), Duy Hải, Duy Nghĩa (Duy Xuyên) đạt tiêu chuẩn đô thị loại V và hình thành cấp hành chính tương đương cho đô thị Trung Phước, Hương An (đô thị loại V) là thị trấn
Dân số đô thị năm 2019 là 379.635 người (tăng 25.910 người so với năm 2015) Tỷ lệ đô thị hóa đạt khoảng 25,4%, không đạt kế hoạch phát triển KT-XH
đề ra (trên 32%), thấp hơn mức bình quân chung cả nước (khoảng 40%)
Về các chỉ tiêu xây dựng đô thị tăng trưởng xanh (gồm kinh tế, môi trường,
xã hội và thể chế), đánh giá sơ bộ các chỉ tiêu liên quan đến hạ tầng kỹ thuật khung từng đô thị mới đạt được khoảng 60-80% theo loại đô thị hiện hữu, cụ thể:
Trang 36- Hệ thống cấp nước: có 10 khu vực đô thị đã được cấp nước tập trung Các thị trấn miền núi chủ yếu sử dụng hệ thống cấp nước tự chảy
- Hệ thống cấp điện: đã được xây dựng tương đối đầy đủ tại các khu đô thị
- Hệ thống giao thông: giao thông của các đô thị chưa được đầu tư hoàn chỉnh, còn hạn chế
- Hệ thống thoát nước mặt: chưa được đầu tư hoàn chỉnh và đồng bộ, dẫn đến hiện tượng xảy ra ngập úng cục bộ khi có mưa lớn
- Hệ thống thu gom, xử lý nước thải: hiện chỉ có 2 đô thị có trạm xử lý NTSH đô thị, gồm: Tam Kỳ (công suất 8.000 m3/NĐ) và Hội An (6750 m3/NĐ)
- Xử lý CTR: tỷ lệ CTR khu vực nội thị được thu gom, xử lý tại các khu đô thị không đồng đều
- Cây xanh đô thị: việc quy hoạch tỷ lệ cây xanh cơ bản tuân thủ đúng với các quy định hiện hành, song thực tế vấn đề đầu tư hệ thống cây xanh, công viên
đô thị, hồ cảnh quan chưa được quan tâm đúng mức Hầu hết tại các khu dân cư,
đô thị chỉ dừng lại ở việc trồng cây xanh trên vỉa hè, chưa tạo được mảng xanh giúp cải thiện điều kiện vi khí hậu
2.2.3 Vấn đề hội nhập quốc tế
2.2.3.1 Xu thế hội nhập quốc tế
Trong 2015 -2019, tỉnh Quảng Nam đã thu hút nhiều Dự án đầu tư nước ngoài, phát triển mạnh mẽ, trở thành khu vực kinh tế năng động, đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng và phát triển KT-XH của tỉnh nhà Tổng số dự án FDI hơn 120 dự án với tổng vốn đầu tư hơn 900 triệu USD (số dự án và tổng vốn đăng ký đầu tư đều tăng gấp đôi so với giai đoạn 2011-2015) Các dự án tập trung phần lớn tại Khu kinh tế mở Chu Lai, khu du lịch ven biển, các khu công nghiệp và cụm công nghiệp tại các huyện Duy Xuyên, Thăng Bình, Điện Bàn, Các dự án đầu tư FDI đến từ 20 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó Hàn Quốc là quốc gia có số dự án đầu tư nhiều nhất tại Quảng Nam Trên 90% các dự án FDI trên địa bàn tỉnh đầu tư theo hình thức 100% vốn nước ngoài, các dự án còn lại đầu tư theo hình thức liên doanh giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà đầu tư trong nước
Trang 37Một số dự án quy mô lớn đã cấp trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn 2020: Dự án Sản xuất vải mành của Công ty TNHH Hyosung Việt Nam tại KCN Tam Thăng với tổng vốn đầu tư 210 triệu USD; dự án Nhà máy sản xuất kính Ức Thịnh tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư 47 triệu USD; dự án Sản xuất
2016-vỏ lon và lon hoàn thiện đối với các lon giải khát bằng nhôm có tổng vốn đầu tư
45 triệu USD Đáng chú ý là Công ty Cổ phần Ô tô Trường Hải đã ký thỏa thuận đầu tư và cùng hợp tác với Tập đoàn ô tô Mazda - Nhật Bản để đầu tư Nhà máy sản xuất ô tô Mazda Chu lai (công suất 100.000 xe/năm với vốn đầu tư 12.000
tỷ đồng)
Trong vấn đề thúc đẩy hội nhập và hợp tác quốc tế, tỉnh Quảng Nam tham gia xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch tại: Lào, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Nga, A-déc-bai-gian, Israel, Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Úc; ký kết Biên bản ghi nhớ về Chương trình thung lũng đô thị thông minh miền Trung Việt Nam với tổ chức KOICA và các tỉnh: Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng; ký kết Biên bản Hội nghị cấp cao Quảng Nam - Sê Koong năm 2019 Hoàn thành tốt nhiệm vụ tại sự kiện Kỷ niệm 20 năm Ngày Đô thị cổ Hội An, Khu Đền tháp
Mỹ Sơn được UNESCO công nhận Di sản văn hóa thế giới
Tính đến cuối năm 2019, tỉnh nhà triển khai công tác phi chính phủ nước ngoài (PCPNN) cho 106 chương trình, dự án và phi dự án với tổng giá trị viện trợ hơn 8,1 triệu USD (tương ứng 197 tỷ đồng, tăng 35,8% so với cùng kỳ năm 2018) Quản lý chặt chẽ các đoàn chuyên gia nước ngoài đến thăm và làm việc
về các dự án Tham mưu việc tổ chức thành công Hội nghị tăng cường quan hệ đối tác giữa tỉnh Quảng Nam với các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ tại
Hà Nội Chủ trì tổ chức thành công Hội nghị chia sẻ thông tin, tăng cường hiểu biết giữa tổ chức WVI với các cơ quan, địa phương liên quan của tỉnh, Tọa đàm chia sẻ thông tin với các tổ chức PCPNN Xây dựng cơ chế phối hợp giữa BQL
Dự án của tỉnh và tổ chức DDG về việc triển khai hoạt động dự án "Dò tìm, xử
lý mìn và VLCN" Xây dựng hơn 30 dự án cơ hội phục vụ công tác vận động tài trợ phi chính phủ
2.2.3.2 Vấn đề toàn cầu hóa tác động đến môi trường
Trang 38Vấn đề toàn cầu hóa đặt ra không ít các thách thức đến sự phát triển kinh
tế xã hội, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường do tác động từ bên ngoài:
- Tình hình kinh tế - xã hội các địa phương và vùng biên giới ở nước bạn còn rất khó khăn, cơ sở hạ tầng chưa đầu tư Nhu cầu hỗ trợ lương thực, thực phẩm và số bệnh nhân Lào sang khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế trong tỉnh ngày càng tăng, các huyện biên giới của tỉnh không có kinh phí để hỗ trợ Vấn
đề này đã gây nên áp lực đến lĩnh vực y tế, ngành môi trường của tỉnh nhà
- Cơ sở hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông tuy đã được đầu tư nhưng chưa đồng bộ, chưa tạo được sự liên kết giữa các khu kinh tế, khu công nghiệp, giữa các địa phương trong tỉnh cũng như với các tỉnh lân cận Hầu hết doanh nghiệp của tỉnh có quy mô đầu tư nhỏ, công nghệ sản xuất chưa đạt yêu cầu hội nhập, chưa đặt song hành giữa vấn đề sản xuất đầu tư với công tác bảo vệ môi trường Khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu là không lớn với nguyên nhân yêu cầu ngày càng cao các chỉ tiêu phát triển kinh tế bền vững
- Mở rộng thương mại quốc tế làm tăng nguy cơ suy thoái môi trường, cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên do hàng hóa xuất khẩu của nước ta có nguồn gốc chủ yếu từ khai thác tài nguyên thiên nhiên không tái tạo như than, quặng,…Tự do hóa thương mại thúc đẩy nhiều loại hình sản xuất, dịch vụ trong
đó bao gồm cả các loại hình có nguy cơ gây ô nhiễm và sự cố môi trường cao
2.3 Sức ép của phát triển kinh tế- xã hội đối với môi trường
2.3.1 Sức ép do hoạt động công nghiệp
2.3.1.1 Từ hoạt động sản xuất công nghiệp
Lượng nước thải phát sinh từ các KCN, CCN gia tăng không ngừng theo tốc độ phát triển của ngành công nghiệp Hiện tại tổng lượng nước thải từ các KCN, CCN là 15.321 m3/ngđ (tăng 27% so với năm 2015) Trong đó có đến 92,7% lượng nước thải đổ ra sông suối, ao hồ (chủ yếu là ra lưu vực sông Thu Bồn với 7.176 m3/ngđ và sông Tam Kỳ với 6.392 m3/ngđ), 7,3% lượng nước thải còn lại tự thấm vào đất
Số liệu thống kê cho thấy mức độ phát sinh nước thải trên đơn vị diện tích của KCN thấp hơn CCN (KCN: 2,9 m3
/ha, CCN: 4,9 m3/ha), riêng tổng lượng
Trang 39nước thải từ các CCN tại huyện Đại Lộc đã xấp xỉ lượng nước thải từ KCN Điện Nam – Điện Ngọc Tuy nhiên do mạng lưới CCN được quy hoạch dàn trải, quy
mô nhỏ, phân bố rải rác gây khó khăn cho việc đầu tư công trình XLNT tập trung, do vậy đến nay việc đầu trạm XLNT tập trung chủ yếu tập trung vào các KCN Hiện tại, toàn tỉnh đã đầu tư đưa vào vận hành 6 trạm XLNT tập trung cho
5 khu và 1 cụm, xử lý 9.659 m3/ngđ lượng nước thải phát sinh Bên cạnh đó có 1 khu và 3 cụm hiện đang đầu tư xây dựng trạm XLNT tập trung, khi đi vào vận hành sẽ xử lý thêm 814 m3/ngđ, nâng tỷ lệ nước thải được thu gom xử lý tập trung lên 68% Như vậy, sau khi đưa vào vận hành tất cả các trạm XLNT tập trung đang đầu tư thì vẫn còn 32% tổng lượng nước thải phát sinh chưa được thu gom xử lý tập trung mà do doanh nghiệp tự xử lý trước khi đổ ra môi trường, điều đó gây áp lực không nhỏ lên chất lượng môi trường mà chủ yếu là chất lượng nước mặt trên mạng lưới sông suối toàn tỉnh
2.3.1.2 Lĩnh vực khai khoáng
Hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản còn gây ra những tác động làm suy thoái chất lượng môi trường Phía đầu nguồn hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn, nước thải từ chế biến vàng sa khoáng (chủ yếu tại Phước Sơn, Tiên Phước), thiếc (tại Trà My) kéo theo bùn đất và hóa chất độc hại (như thủy ngân, xianua ) đổ ra sông suối không được xử lý hoặc xử lý không triệt để, nhất
là từ các mỏ khai thác trái phép làm vẩn đục nước sông, gây độc cho hệ sinh thái thủy sinh CTR sau quá trình ngâm chiết vàng còn tồn dư muối xyanua với độc tính cao Nếu không xử lý triệt để trước khi đưa ra bãi thải tập trung cũng gây ô nhiễm môi trường đất và mạch nước ngầm đổ ra sông suối gần khu vực khai thác chế biến Phía trung và hạ du, hoạt động khai thác cát lòng sông, đặc biệt là khai thác trái phép cũng tiềm ẩn nhiều tác động môi trường bất lợi, không những làm gia tăng thêm độ đục của nước sông mà còn gây biến đổi chế độ dòng chảy, mất
đi trạng thái cân bằng động của sông, dẫn đến mất độ ổn định của bờ sông, tăng nguy cơ sạt lở, xâm thực vào mùa lũ Ngoài ra, hoạt động khai thác, chế biến đá làm VLXDTT, đá vôi, đá ốp lát, cát trắng làm gia tăng các chất ô nhiễm MTKK, đặc biệt là ô nhiễm bụi cục bộ tại các mỏ đá Hoạt động vận chuyển đất,
Trang 40đá từ các mỏ đi phân phối cũng đã gây ra nhiều dư luận do phát sinh lượng bụi lớn ảnh hưởng đến đời sống của người dân
2.3.1.3 Lĩnh vực lành nghề
So với khu vực làng nghề tại các tỉnh phía Bắc (có quy mô lớn, tập trung
và phát sinh chất ô nhiễm tương đối lớn) thì làng nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Nam hầu hết đều có quy mô sản xuất nhỏ lẻ, không tập trung, đặc trưng loại hình làng nghề tại Quảng Nam chủ yếu thuộc nhóm ít gây ô nhiễm môi trường
(tre đan, chổi đót, dệt thuộc nhóm A; đúc đồng, gốm, mộc, hương, phở sắn thuộc nhóm B theo quy định tại phụ lục 01 Thông tư số 46/2011/TT-BTNMT ngày 26/12/2011) nên lượng chất thải đổ ra môi trường không nhiều, không gây tác
động lớn đến chất lượng môi trường trong khu vực mà chủ yếu ảnh hưởng cục
bộ đến các hộ dân trực tiếp sản xuất và khu vực làng nghề
Giai đoạn 2016-2020 quy mô hoạt động của các làng nghề trên địa bàn tỉnh không có sự thay đổi đáng kể so với giai đoạn 2011-2015 Đến nay hầu hết các làng nghề cũng chỉ dừng lại ở mức sản xuất thủ công với công nghệ lạc hậu, thêm vào đó nhận thức của người dân về BVMT chưa cao, kèm theo nguồn lực kinh tế không đảm bảo nên công tác BVMT gần như chưa được quan tâm đúng mức Do vậy, hiện vẫn còn một số điểm làng nghề phát sinh ô nhiễm chưa được khắc phục
so với giai đoạn trước như: ô nhiễm bụi từ làng mộc, làng hương, làng dệt vải; ô nhiễm do nước thải từ làng phở sắn, bún, bánh tráng; ô nhiễm tiếng ồn từ làng nghề dệt, mộc…
2.3.2 Sức ép do hoạt động phát triển năng lượng
Tỉnh Quảng Nam là một trong những địa phương có số lượng nhà máy thủy điện nhiều nhất cả nước (chủ yếu là thủy điện vừa và nhỏ) nhờ có hệ thống sông ngòi dày đặc, độ dốc cao Sản lượng điện năng do hệ thống thủy điện tạo ra hiện nay chiếm đến 94-97% tổng sản lượng điện toàn tỉnh Quá trình xây dựng và vận hành hệ thống thủy điện bậc thang trên sông đã, đang và sẽ gây ra nhiều tác động đến môi trường tự nhiên, KT-XH
Tác động trước tiên chính là chiếm dụng một diện tích rừng khá lớn (từ năm 2016-2019 đã chuyển đổi mục đích sử dụng 1.441,15 ha rừng để xây dựng