1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tài liệu Nuôi bò sữa ở nông hộ - Chương 7 doc

28 1,1K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý thể trạng và dinh dưỡng ở bò sữa
Chuyên ngành Chăn nuôi bò sữa
Thể loại Tài liệu giảng dạy
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 515,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thu nhận thức ăn Năng suất sữa Điểm thể trạng Thời gian của chu kỳ sữa Hình 2: Hình ảnh bò sữa có điểm thể trạng khác nhau Đồ thị 7-1: Quy luật thay đổi thể trạng của bò sữa trong ch

Trang 1

Ch−¬ng 7 Qu¶n lý thÓ tr¹ng vµ BÖNH DINH

2 Phương pháp đánh giá thể trạng

Đánh giá thể trạng bò được thực hiện thông qua việc đánh giá mức độ tích mỡ dưới da ở một số vùng nhất định của cơ thể Mức độ tích mỡ ở những vùng này có tương quan chặt chẽ với tổng lượng mỡ

dự trữ trong cơ thể

Có các phương pháp sau để đánh giá thể trạng của bò:

Trang 2

- Đánh giá bằng thị giác: nhìn vào các phần lõm

(gốc đuôi, lõm hông, khe sống lưng) và đầu nhô của xương ngồi, xương chậu, xương sườn

- Đánh giá bằng sờ nắn: Sờ các vùng gốc đuôi,

cột sống lưng, đầu các xương ngồi, xương chậu, xương sườn cụt và mông

Nhằm đưa ra chỉ số dự trữ chất béo của cơ thể

bò người ta đánh giá thể trạng của bò theo thang 5 điểm như sau:

Điểm 1: Bò quá gầy

• Lõm gốc đuôi sâu, không sờ thấy mô mỡ

mà dễ sờ thấy xương chậu, da mỏng

• Xương sườn nhô rõ

• Khe sống lưng sâu

Điểm 2: Bò gầy

• Lõm gốc đuôi nông, có mô mỡ ở gốc đuôi

• Có một ít mỡ dưới đầu xương ngồi

• Dễ sờ thấy xương chậu

• Đầu cuối của các xương sườn cụt tròn

Điểm 3: Bò trong tình trạng tốt

• Không nhìn thấy lõm ở gốc đuôi

• Dễ sờ thấy mô mỡ trên mông

Trang 3

• Da trơn

• Tỳ nhẹ tay sẽ sờ được xương chậu

• Tỳ nhẹ tay có thể sờ thấy đầu các xương sườn cụt và có một lớp mô mỡ dày ở phía trên

Điểm 4: Bò trong tình trạng cơ thể “nặng nề”

• Không thấy rõ hõm hông

Điểm 5: Bò quá béo

• Gốc đuôi nằm sâu trong mô mỡ

• Da căng

• Không thể sờ thấy xương chậu cả khi ấn mạnh tay

• Có các lớp mỡ trên các xương sườn cụt

• Không sờ thấy các cấu trúc xương

3 Quy luật thay đổi thể trạng của bò sữa

Người chăn nuôi cần nắm được quy luật thay đổi thể trạng của bò qua các giai đoạn của chu kỳ vắt sữa/sinh sản (đồ thị 1) để quản lý việc nuôi dưỡng cho

Trang 4

hợp lý nhằm có được sự thay đổi thể trạng thực tế ở

bò theo ý muốn

Thu nhận thức ăn Năng suất sữa

Điểm thể trạng

Thời gian của chu kỳ sữa

Hình 2: Hình ảnh bò sữa có điểm thể trạng khác nhau

Đồ thị 7-1: Quy luật thay đổi thể trạng của bò sữa trong chu kỳ vắt sữa

Ở bò bình thường thể trạng có thể giảm mất 1 điểm kể từ sau khi đẻ Đó là do sau khi đẻ bò tiết sữa

và năng suất sữa tăng dần lên trong khi lượng thu nhận thức ăn không tăng kịp để thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng cho duy trì và sản xuất Lúc này bò phải huy động năng lượng dự trữ trong cơ thể để sản xuất sữa Tuy nhiên, càng về cuối của chu kỳ sữa, do năng suất sữa giảm dần và lượng thu nhận thức ăn tăng và giảm chậm hơn nên bò béo dần lên (điểm thể trạng tăng)

Trang 5

4 Liên quan giữa thể trạng với sức khoẻ và sức sản xuất của bò

Thể trạng của của bò phản ánh tình trạng dinh dưỡng và có liên quan nhiều đến sức khoẻ, khả năng sinh sản và sản xuất sữa của bò Chẳng hạn, lúc đẻ bò

ở trong tình trạng quá béo (ĐTT>4) thì sau khi đẻ tính thèm ăn sẽ giảm và cơ thể phải huy động dinh dưỡng

dự trữ để tạo sữa làm cho thể trọng bò giảm sút nhanh chóng Việc huy động mỡ dự trữ quá mức sẽ gây ra hiện tượng xê-tôn huyết làm rối loạn trao đổi chất, giảm năng suất sữa, giảm khả năng thụ thai và tăng các bệnh về chân móng Bò quá béo lúc đẻ thường kèm theo hiện tượng đẻ khó, dễ sót nhau và viêm tử cung nên càng khó chửa lại sau khi đẻ Mặt khác, bò quá béo do nuôi dưỡng quá mức trong thời gian cạn sữa trước đó thì sau khi đẻ sẽ dễ bị bệnh sốt sữa và thường kèm theo bại liệt

Ngược lại, nếu lúc đẻ bò quá gầy (ĐTT<3), cơ thể sẽ chóng kiệt quệ nên năng suất sữa giảm nhanh chóng Mặt khác, bò quá gầy lúc đẻ sẽ phục hồi chức năng buồng trứng và tử cung chậm, nên khó động dục

và chửa lại

5 Chiến lược quản lý thể trạng của bò sữa

Việc nuôi dưỡng bò sữa phải được điều chỉnh hợp lý và kịp thời sao cho sự thay đổi thể trạng diễn ra đúng như trong bảng 7-1 hay đồ thị 7-2

Trang 6

Bảng 7-1: Thể trạng mong muốn của bò sữa ở các thời điểm

Thời điểm Thể trạng mong nuốn

Đẻ 3.25 - 3.75

Đỉnh chu kỳ sữa Giảm 0,5-1 điểm so với lúc đẻ (nhưng không xuống dưới 2) Ngày 200 của chu kỳ 3

Lúc cạn sữa 3.25 - 3.75

Lúc bò đẻ điểm thể trạng lý tưởng nhất là 3,5 Sau đó điểm thể trạng vào đỉnh của chu kỳ sữa có thể giảm 0,5-1 so với lúc đẻ, nhưng không được để bò tụt điểm thể trạng xuống dưới 2 Qua điểm cực tiểu này thể trạng của bò phải được tăng lên và đạt khoảng 3 vào ngày thứ 200 của chu kỳ và đạt 3,5 vào lúc cạn sữa Mức thể trạng này phải được duy trì cho đến khi

bò đẻ Trong vòng 2 tháng cạn sữa bò có thể tăng

0,5-1 điểm thể trạng Vì thế nếu nuôi dưỡng ở mức quá cao vào giai đoạn cạn sữa thì bò có thể bị quá béo trước khi đẻ với những hậu quả không tốt về sức khoẻ

và sức sản xuất như nói ở phần trên

Trang 7

Đồ thị 7-2: Thay đổi thể trạng “lý tưởng” ở bò sữa

kì vắt sữa

Giai đoạn 2 của chu kì vắt sữa

Giai đoạn 3 của chu kì vắt sữa

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng làm cho bò hoặc béo quá (điểm thể trạng quá cao) hoặc gầy quá (điểm thể trạng quá thấp) Bảng 7-2 đưa ra các nguyên nhân chính và giải pháp khắc phục cho một số trường hợp thường xảy ra

Trang 8

Bảng 7-2: Nguyên nhân làm thay đổi thể trạng mong muốn và

cạn sữa hay béo

lên trong thời

gian cạn sữa

- Thời gian cạn

sữa quá dài?

- Giảm mức ăn trong 1/3 cuối của chu kỳ sữa và/hay trong thời gian cạn sữa

- Giới hạn thời gian cạn sữa

Trang 9

- Cân bằng năng lượng và protein trong khẩu phần

QUÁ

CAO Có chửa lại muộn sau khi đẻ Quan tâm đến vấn đề bệnh sản khoa QUÁ

THẤP Bò không tăng điểm thể trạng

vào cuối chu kỳ

như mong đợi

Nuôi riêng bò gầy (tăng mức ăn) vào 1/3 cuối kỳ sữa

II BỆNH DINH DƯỠNG Ở BÒ SỮA

Nuôi dưỡng không hợp lý có thể dẫn đến hàng loạt các vấn đề về sức khỏe và bệnh tật của bò sữa Nếu như những rối loạn về trao đổi chất không được ngăn chặn thì hậu quả sẽ là các rối loạn về sinh sản và giảm khả năng sản xuất sữa của bò Dưới đây là một

số bệnh liên quan đến dinh dưỡng và trao đổi chất thường gặp ở bò sữa

Trang 10

1 Hội chứng béo phì

Hội chứng béo phì hay gan tích mỡ là hội chứng liên quan đến việc tích tụ quá nhiều mỡ trong gan xảy ra trước và sau khi khi đẻ Nguyên nhân chủ yếu là do thuỷ phân mỡ quá mức để cung cấp năng lượng cho quá trình tạo sữa Khi gan tích trên 20% mỡ thì chức năng gan sẽ bị hỏng Cho ăn quá thừa thãi về năng lượng trong thời gian cạn sữa có thể gây nên hội chứng này ở bò

Những bò mắc hội chứng này thường có các triệu chứng sau:

- Mắc các chứng bệnh về trao đổi chất như: sốt sữa, bệnh xeton, nghẽn dạ lá sách, sót nhau, viêm tử cung

- Năng suất sữa thấp

- Giảm thu nhận thức ăn

- Yếu và suy nhược dẫn đến suy sụp

- Giảm nhu động đường tiêu hoá

- Phân không bình thường

- Có các dấu hiệu thần kinh

- Khả năng thụ thai kém

Để phòng ngừa hội chứng này, cần phải ngăn chặn được sự tăng trọng quá cao trong giai đoạn cuối của chu kỳ sữa Cần phải có chế độ nuôi dưỡng để

bò có thể trạng đẹp với điểm thể trạng khoảng 3,5/5

Trang 11

vào lúc cạn sữa và duy trì được thể trạng này trong suốt thời gian cạn sữa Cho bò vận động tích cực trong thời kỳ cạn sữa Đồng thời phải phòng giảm trọng quá nhanh vào đầu chu kỳ sữa

Khi bò bị hội chứng này có thể điều trị như sau:

• Tiêm tĩnh mạch glucoza

• Gluco-cotricosteroid

• Propylene glycol

• Vitamin B complex

• Cho ăn thức ăn xơ chất lượng cao

• Điều trị các bệnh liên quan khác

2 Bệnh xeton

Bệnh xeton thường xảy ra ở bò cao sản vào giai đoạn sau khi đẻ Nguyên nhân cơ bản là do vào đầu chu kỳ sữa năng suất sữa của bò cao làm tăng nhu cầu năng lượng, trong khi đó thu nhận thức ăn không đáp ứng được nên cơ thể phải huy động nhiều mỡ dự trữ, dẫn đến làm tăng thể xeton trong máu

Triệu chứng chính của bệnh là: bỏ ăn, giảm

cân, trũng mắt, giảm sữa và có các dấu hiệu không bình thường khác như thở ra mùi axeton, đần độn, suy nhược, loạng choạng, hoảng loạn

Trang 12

Phòng bệnh tốt nhất là khống chế để bò có thể trạng tốt nhưng không béo quá trong thời gian cạn sữa Nên duy trì tốt việc theo dõi thể trạng bò Bò vắt sữa vào lúc có năng suất sữa cao nhất cũng không nên

để điểm thể trạng giảm xuống dưới 2,5 Nên cạn sữa bò với 3,5 điểm thể trạng và duy trì thể trạng

ở mức độ này cho đến khi đẻ Trước khi bò đẻ nên tăng khẩu phần một cách từ từ và sau khi đẻ trong vòng 6 tuần tăng khẩu phần cũng như vậy Trong thời gian vắt sữa nên cho bò ăn với khẩu phần tốt, giàu năng lượng và có tính ngon miệng cao

Điều trị bò bị bệnh xeton như sau:

• Tiêm tĩnh mạch: glucoza, dextroza 20%, 50%

• Tiêm bắp: corticosteroid, flumethason, dexamethasone, prednisolone

• Cho uống: propylene glycol, natri

Trang 13

nhõn chớnh gõy sút nhau bởi vỡ cú nhiều yếu tố giỏn tiếp và trực tiếp cú thể kết hợp Hiện tượng sót nhau thường xảy ra đặc biệt trong những điều kiện sau:

- Trong thời gian mang thai bò không được nuôi dưỡng với khẩu phần hợp lý, như cho ăn quá nhiều thức ăn tinh hay thiếu các loại vitamin A, D và Selen trong khẩu phần

- Bò ít được vận động tự do trong thời gian chửa cuối

- Bò đẻ khó

- Lôi kéo thai quá sớm khi bò đẻ

Đối với bệnh sút nhau thỡ phũng bệnh là chớnh Tốt nhất là duy trỡ được thể trạng thớch hợp trước khi

đẻ (3,5/5) bằng việc điều chỉnh khẩu phần hợp lý trong thời gian cạn sữa và cho bũ vận động tớch cực hàng ngày Nơi chờ đẻ phải sạch, khụ rỏo và thoải mỏi Khi bũ đẻ phải được hộ lý chu đỏo và an toàn Trước khi bũ đẻ 8 tuần cú thể tiờm cỏc loại vitamin A,

D và E

Hiện tượng sót nhau không phải là trường hợp khẩn cấp cần phải cấp cứu Không nên kéo cưỡng bức nhau thai ra ngoài vì nếu kéo nhau thai thì thường gây

ra những hậu quả sau:

- Các núm nhau thai sẽ bị đứt sót lại bên trong và

Trang 14

dễ bị nhiễm trùng gây viêm tử cung, làm giảm khả năng bò có chửa lại sau khi đẻ

- Các núm nhau mẹ (phía tử cung) bị đứt làm cho

số lượng điểm bám của nhau thai lần chửa sau bị giảm xuống Nếu hiện tượng này xảy ra lặp lại thì bò sẽ không có chửa được nữa Đồng thời, có thể xảy ra viêm nhiễm chỗ bị đứt

- Nhau thai bị rách để lại những mẫu nhau sót trong tử cung

Có khoảng 50% trường hợp sót nhau được đẩy ra ngoài sau 5-10 ngày không cần hỗ trợ và không gây hại cho bò

Khi bò bị sót sát nhau có thể xử lý như sau:

1 Tất cả những bò khi để phải kéo thai hay nhau thai không ra trong vòng 3-4 tiếng đồng hồ thì nên tiêm bắp một liều oxytoxin

2 Ngay sau khi tiêm oxytoxin không nên can thiệp gì thêm Để cho nhau tự ra Khi nhau đã ra thì cần kiểm tra kỹ để xem nhau có ra được toàn bộ hay không

3 Nếu như nhau vẫn không ra sau khi đẻ 12 tiếng

đồng hồ thì cần dùng dao hay kìm bấm cắt bỏ đoạn đã

ra ngoài đến sát âm hộ Việc cắt này phải đảm bảo vệ sinh và nhẹ nhàng để bò không nhận biết được Sau

Trang 15

khi đã cắt đẩy phần nhau thai còn lại vào trong để tránh gây nhiễm khuẩn Không nên treo vật nặng vào

đầu cuống nhau vì nh− vậy dễ gây căng núm nhau và làm cho bò khó chịu

4 Nếu nhau không ra sau khi đẻ 48 giờ thì cần quan sát để xem bò có dấu hiệu bị ốm không Nên đo thân nhiệt 2 lần/ngày Xem bò có hiện t−ợng mắt trũng và tai rũ không Đặc biệt cần theo dõi xem có mùi hôi thối do nhau thai đang phân rữa không

5 Nếu nghi là bò ốm thì cần tiêm thuốc kháng sinh Thời gian tiêm nên trong vòng 5-10 ngày Những kháng sinh tốt nhất có thể là:

a Oxytetracycline tiêm 1 lần/ngày

b Ampicillin/Kanamycine tiêm 1 lần/ngày

c Penicilin/Streptomicine tiêm 1 lần/ngày

6 Đối với những con mà nhau thai không ra sau khi đẻ 24 giờ thì nên tiêm thuốc PGF2α vào ngày 14

và ngày 24 sau khi đẻ

Chú ý :

- Không kéo bê quá sớm khi bò đẻ, vì nh− thế sẽ tăng nguy cơ sót nhau

- Không dùng tay kéo nhau thai ra

- Không nên bơm kháng sinh vào tử cung, vì:

Trang 16

o Sự hiện diện của một số vi khuẩn trong tử cung là cần thiết cho quá trình làm sạch dịch tử cung sau khi đẻ

o Tử cung có thể không co bóp bình thường sau khi cho kháng sinh vào trong đó

o Chỉ nên dùng dịch rửa tử cung trong trường hợp nguy ngập khi bò quá ốm

- Không dùng PGF2α trong vòng 14 ngày ngay sau khi bò đẻ vì trong thời gian này thuốc không có hiệu lực

4 Bệnh sốt sữa

Nhỡn chung bệnh sốt sữa thường xảy ra vào lỳc

bũ sắp đẻ hay sau khi đẻ do nhu cầu về canxi tăng khi bắt đầu sản xuất sữa Lỳc đú bũ khụng thể đỏp ứng đủ được lượng canxi cần thiết từ khẩu phần ăn hay do bũ thiếu vitamin D liờn quan đến hoạt tớnh thấp của húcmon parathyroid (vỡ cơ thể khụng cần nhiều

Trang 17

hócmon này trong thời gian cạn sữa khi được nuôi với khẩu phần giàu Ca)

Bò bị sốt sữa thường có các triệu chứng như: không đứng được, cơ yếu, nằm bệt sàn, nhiệt độ không bình thường Sau đây là những vấn đề khác thường xảy ra khi bò bị sốt sữa:

1) Khó đẻ do trương lực cơ quá yếu làm cản trở quá trình đẻ bình thường

2) Tỷ lệ lộn tử cung cao

3) Có khuynh hướng sót nhau

4) Tỷ lệ viêm tử cung cao

5) Giảm khả năng sinh sản

6) Dễ bị chướng bụng đầy hơi do nhu động của

dạ cỏ yếu

7) Dễ bị rối loạn chức năng dạ múi khế

8) Tỷ lệ bị bệnh xeton cao

9) Dễ bị viêm vú

10) Dễ bị nhiễm và lây lan các bệnh khác

11) Giảm sản lượng sữa

Sốt sữa làm ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ, sinh sản và sức sản xuất của bò sữa, vì vậy cần phòng bệnh sốt sữa một cách tích cực Thời gian quan trọng

để điều chỉnh sự mất cân bằng về canxi và photpho là

Trang 18

trước khi đẻ 1 thỏng Cần hạn chế lượng canxi ăn vào trước khi đẻ Cho ăn thừa canxi thỡ sẽ hạn chế việc huy động can xi bỡnh thường từ xương Tổng số canxi yờu cầu cho 1 bũ cạn sữa nặng 600kg vào khoảng 40 gam/ngày Nhỡn chung, cố gắng khụng cho bũ cạn sữa

ăn quỏ 0,4 % canxi so với VCK của khẩu phần Đồng thời, trỏnh cho bũ ăn khẩu phần cú hàm lượng phốt pho cao Yờu cầu phốt pho là khoảng 28-30gam/ngày Tớnh toỏn để cho ăn khoảng 20-25% phốt pho so với VCK của khẩu phần là vừa Cú thể tiờm liều cao vitamin D vào thời điểm 7 ngày trước khi đẻ để phũng bệnh sốt sữa

5 Bệnh phự bầu vỳ

Hiện tượng phù bầu vú thường thấy ở bò sữa, đặc biệt là bò tơ, trước và sau khi đẻ, và thường tự mất đi sau 2-3 ngày mà không cần điều trị Trong những trường hợp nặng bò có thể bị sưng cả ở vùng dưới bụng và vùng ức giữa hai chân trước

Thức ăn quỏ giầu năng lượng, protein, muối và thiếu magne là nguyờn nhõn chớnh gõy phự bầu vỳ Nếu bò bị nặng thì phải can thiệp, nếu không có thể có những hậu quả sau:

- Bò bị đau nên việc việc vắt sữa sẽ trở nên khó khăn

- Đầu vú bị nứt nẻ

Trang 19

- Vắt sữa không kiệt nên làm tăng nguy cơ bị bệnh bầu vú và làm giảm năng suất sữa

- Lỗ đầu vú bị mở rộng nên vi khuẩn gây viêm

vú có thể xâm nhập từ bên ngoài vào trong bầu vú và gây bệnh

Việc điều trị bao gồm 3 biện pháp kết hợp như sau:

- Vắt sữa thường xuyên: Vắt ít nhất 2

lần/ngày, tốt nhất là vắt được 3-4 lần/ngày Nếu không để cho sữa tích lại nhiều thì bầu

vú sẽ không bị căng Vắt sữa thường xuyên còn có tác dụng như là xoa bóp bên trong bầu vú

- Xoa bóp bầu vú: Nên xoa bóp sau mỗi lần

vắt sữa Xoa bóp mạnh trong vòng 3-5 phút

Có thể dùng kem xoa bóp nếu như da bầu vú

bị nứt nẻ

- Dùng thuốc lợi tiểu (giảm tích dịch): Có thể

dùng một trong những thuốc sau đây:

Chlorothiazide 2mg cho uống 2 lần/ngày

Chlorothiazide 0,5g tiêm bắp 2 lần/ngày

Acetazolamide 2g cho uống hay tiêm

Trang 20

bắp 2 lần/ngày

Frusemide 500 mg tiêm bắp 2 lần/ngày

o Trong trường hợp nghiêm trọng có thể phải vắt sữa cho bò trước khi đẻ Trong trường hợp này phải vắt cho bo bò 3-4 lần/ngày Sữa vắt được không được đem bán hay nhập chung với các sữa bình thường Sữa đầu của những bò này cũng không được dùng cho bê bú mà phải dùng sữa đầu của bò khác mới đẻ gần đó cho

6 Bệnh axit dạ cỏ

Khi cho ăn khẩu phần ớt thụ nhiều tinh bũ rất dễ

bị bệnh axit dạ cỏ Nguyờn nhõn chớnh là do thức ăn tinh bị lờn men quỏ nhanh làm giảm pH trong dạ cỏ Việc này làm rối loạn khu hệ vi sinh vật dạ cỏ, đặc biệt là vi sinh vật phõn giải xơ bị tiờu diệt (do khụng

Ngày đăng: 26/01/2014, 10:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2: Hình ảnh bò sữa có điểm thể trạng khác nhau - Tài liệu Nuôi bò sữa ở nông hộ - Chương 7 doc
Hình 2 Hình ảnh bò sữa có điểm thể trạng khác nhau (Trang 4)
Đồ thị 7-2: Thay đổi thể trạng “lý tưởng” ở bò sữa - Tài liệu Nuôi bò sữa ở nông hộ - Chương 7 doc
th ị 7-2: Thay đổi thể trạng “lý tưởng” ở bò sữa (Trang 7)
Bảng 7-2: Nguyên nhân làm thay đổi thể trạng mong muốn và - Tài liệu Nuôi bò sữa ở nông hộ - Chương 7 doc
Bảng 7 2: Nguyên nhân làm thay đổi thể trạng mong muốn và (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm