1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tài liệu Nuôi bò sữa ở nông hộ - Chương 4 pdf

43 498 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nuôi Dưỡng Và Chăm Sóc
Thể loại Tài liệu
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 448,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vi sinh vật trong dạ cỏ không những phân giải được chất xơ mà còn có khả năng chuyển hoá các chất chứa nitơ kể cả nitơ phi protein như urê thành protein cho cơ thể chúng.. Đó là ưu thế s

Trang 1

Chương 4 nuôi dưỡng và chăm sóc

I Đặc điểm tiêu hoá của bê và bò

1 Đặc trưng của đường tiêu hoá

Hệ tiêu hoá của bò cũng như các gia súc nhai

lại khác được đặc trưng bởi hệ dạ dày kép có 4 túi

gồm dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách và dạ múi khế (hình

4-1) Ba túi đầu được gọi chung là dạ trước Trong dạ

cỏ có hệ vi sinh vật cộng sinh dày đặc Dạ múi khế là dạ dày thực, tương tự như dạ dày của gia súc không nhai lại

Trang 2

gia súc dạ dày đơn vì các dạ trước chưa phát triển Do

đó bê cần phải ăn sữa và sữa được đưa thẳng xuống dạ

khế thông qua rãnh thực quản mà không đi qua các dạ

Trang 3

khế Các dạ trước cũng dần dần hoàn thiện và khi bò trưởng thành dung tích (sức chứa thức ăn) của dạ trước gấp 13-14 lần dạ khế (hình 4-3)

2 Tiêu hoá thức ăn ở bò

Khi bò ăn cỏ các miếng thức ăn sau khi được thấm ướt nước bọt sẽ được nuốt qua thực quản xuống dạ cỏ Vi sinh vật dạ cỏ lên men và làm giảm kích thước của thức ăn Phần thức ăn có kích thước lớn trong dạ cỏ được ợ lên miệng để được thấm nước bọt

và nhai lại kỹ hơn trước khi được nuốt trở lại dạ cỏ (hình 4-4)

Hình 4-4: Sự nhai lại thức ăn thô ở bò

Sản phẩm lên men thức ăn của vi sinh vật trong dạ cỏ là các axít béo bay hơi, những vi sinh vật mới, các chất khí và cả các vitamin nhóm B, K Các axít béo bay hơi được hấp thu qua vách dạ cỏ trở thành

Trang 4

nguồn dinh dưỡng cho bò, còn các chất khí được thải

ra ngoài qua ợ hơi Những tiểu phần thức ăn nhỏ cùng với các vi sinh vật bám trên đó đi ra khỏi dạ cỏ, qua dạ

tổ ong và dạ lá sách để đến dạ múi khế và ruột Dịch tiêu hoá của dạ múi khế và ruột phân giải phần thức ăn còn lại và xác vi sinh vật Các sản phẩm tiêu hoá được hấp thu ở ruột và một phần không tiêu hoá được thải

ra ngoài qua phân

Vi sinh vật trong dạ cỏ không những phân giải

được chất xơ mà còn có khả năng chuyển hoá các chất chứa nitơ (kể cả nitơ phi protein như urê) thành protein cho cơ thể chúng Sau đó những vi sinh vật này

được chuyển xuống dạ múi khế, được tiêu hoá và trở thành nguồn đạm có giá trị sinh vật học cao cung cấp cho cơ thể bò Đó là ưu thế sinh học của gia súc nhai lại cho phép con người khai thác các thức ăn xơ thô (cỏ, rơm) và các nguồn đạm vô cơ (như urê) để cho bò

ăn, tiết kiệm được các loại thức ăn chất lượng cao (đắt tiền)

Trang 5

- Chất đạm (protein và các chất chứa nitơ không phải là protein) để xây dựng cơ bắp khoẻ mạnh

và cấu tạo sản phẩm (bào thai, sữa)

- Gluxit (xơ, mỡ, bột, đường) và mỡ để cung cấp năng lượng cho cơ thể hoạt động và tạo sản phẩm

- Chất khoáng để xương khớp (cả bò mẹ và thai)

Trang 6

- Giá trị năng lượng: Giá trị năng lượng của

thức ăn do các chất hữu cơ trong đó tạo nên Người ta thường dùng giá trị năng lượng trao đổi (ME), năng lượng thuần (NE) hay quy các giá trị năng lượng này

ra thành đơn vị thức ăn

- Protein: Trước đây thường dùng giá trị

protein thô hay protein tiêu hoá, hiện nay người ta bắt

Trang 7

đầu chuyển sang dùng các giá trị protein hiện đại hơn; ví dụ, protein hấp thu ở ruột (PDI)

- Các loại khoáng: Hiện nay ở nước ta mới

tính đến can-xi (Ca) và phốt-pho (P) trong thức ăn của

2 Tiêu chuẩn ăn của bò

Tiêu chuẩn ăn là nhu cầu các chất dinh dưỡng

cho con vật trong một ngày đêm Nhu cầu được thể hiện theo các đơn vị giống như các đơn vị đánh giá giá trị dinh dưỡng của thức ăn Nhu cầu dinh dưỡng của bò sữa bao gồm:

- Nhu cầu duy trì, tức là số lượng các chất dinh

dưỡng mà con vật cần khi nó không tăng trọng và không sản xuất Nhu cầu này chủ yếu phụ thuộc vào

thể trọng của bò

- Nhu cầu sản xuất, tức là nhu cầu các chất dinh dưỡng vượt trên nhu cầu duy trì để cho sản xuất sữa, mang thai và tăng trọng (nếu có)

Nhu cầu dinh dưỡng của bò sữa thường được các nhà khoa học lập ra các công tính thức hay tính

sẵn thành Bảng nhu cầu dinh dưỡng đi kèm với Bảng thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn Cán bộ kỹ

thuật chăn nuôi có thể giúp các nông hộ tính toán cụ thể cho mỗi con bò

Trang 8

3 Phối hợp khẩu phần ăn

a Khái niệm

Khẩu phần ăn là tổ hợp các loại thức ăn để cung cấp đầy đủ nhu cầu dinh d−ỡng cho con vật trong một ngày đêm

b Những yêu cầu cơ bản của phẩu phần:

- Cung cấp đầy đủ và là cân đối các chất dinh d−ỡng cho bò theo tiêu chuẩn ăn

- Có khối l−ợng và dung tích phù hợp với khả năng thu nhận của bò

- Gồm nhiều loại thức ăn, phù hợp với khẩu vị

để gia súc ăn hết

- Đảm bảo hiệu quả kinh tế (gồm chủ yếu những loại thức ăn dễ kiếm và rẻ)

- Khi thay đổi khẩu phần mới phải thay đổi từ từ

để vi sinh vật dạ cỏ và gia súc quen dần

c Những thông tin cần biết khi lập khẩu phần

Muốn xây dựng khẩu phần cho bò đáp ứng đ−ợc các yêu cầu trên cần có đ−ợc những thông tin sau:

1) Giá trị dinh d−ỡng của các loại thức ăn dự kiến

đ−a vào sử dụng

Trang 9

Người chăn nuôi có thể xem các Bảng thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn gia súc để biết

được giá trị dinh dưỡng của các loại thức ăn dự kiến

sử dụng

2) Tiêu chuẩn ăn (nhu cầu dinh dưỡng) của bò

Người chăn nuôi phải căn cứ vào khối lượng, năng suất sữa, tháng mang thai, tuổi của bò và đối

chiếu với Bảng nhu cầu dinh dưỡng của bò (lập sẵn)

để tính xem con bò đó cần bao nhiêu năng lượng (đơn

vị thức ăn), protein và khoáng mỗi ngày

3) Khả năng thu nhận và giới hạn sử dụng các loại thức ăn khác nhau trong khẩu phần

Để xây dựng được các khẩu phần cơ sở là thức

ăn thô mà gia súc có khả năng ăn hết, cần biết được lượng thức ăn thô bò có thể ăn được Lượng thu nhận

tự do này chịu ảnh hưởng của chất lượng của thức ăn:

Chất lượng cỏ Lượng thu nhận VCK

(% thể trọng)

Rất tốt 3,0 Tốt 2,5 Trung bình 2,0

Xấu 1,5 Rất xấu 1,0

Trang 10

Căn cứa vào hàm lượng vật chất khô (VCK) trong thức ăn cho ăn ta có thể ước tính ra được khối lượng một con bò có thể ăn Ví dụ, với cỏ xanh trung bình (20% VCK) bò 500kg có thể ăn 500 x 2/100 x 100/20 = 50 kg

4) Giá cả của các loại thức ăn có thể dùng Khi

phối hợp khẩu phần cho bò không những phải đảm bảo đủ nhu cầu dinh dưỡng mà phải chọn các loại thức ăn hợp lý để giá thành rẻ nhất

2 Xây dựng khẩu phần cơ sở dựa vào những thức

ăn thô hiện có và khả năng thu nhận của bò Tính giá trị năng lượng và protein của nó

3 Tính phần năng lượng và protein còn lại của khẩu phần cơ sở sau khi đã trừ đi nhu cầu duy trì, sinh trưởng và mang thai

4 Bổ sung khẩu phần cơ sở bằng một hoặc vài loại thức ăn giàu năng lượng hoặc protein (tuỳ trường hợp) để cân bằng năng lượng và protein nhằm đáp ứng

Trang 11

thêm đ−ợc nhu cầu sản xuất một l−ợng sữa nào đó (ví

dụ 5 lít sữa/ngày)

5 Dùng thức ăn hỗn hợp bổ sung để đáp ứng mức sản xuất sữa v−ợt trên mức mà khẩu phần thức ăn cơ sở (đã điều chỉnh) cho phép

Có một cách đơn giản để −ớc tính l−ợng thức ăn cần cho bò sữa khi không tính toán đ−ợc khẩu phần chính xác nh− sau:

- Bò có thể ăn đ−ợc một l−ợng thức ăn thô xanh hàng ngày bằng khoảng 10% khối l−ợng cơ thể (bò 500kg ăn đ−ợc 50kg cỏ xanh/ngày) L−ợng thức ăn này có thể đủ cho nhu cầu duy trì cơ thể và sản xuất 4-

5 lít sữa/ngày

- Mỗi kg thức ăn tinh hỗn hợp có thể đáp ứng

đ−ợc nhu cầu cho sản xuất 2 – 2,5 kg sữa Nh− vậy, một con bò sản xuất 15 kg sữa/ngày và đ−ợc cho ăn thức ăn xanh tự do thì cần cho ăn thêm khoảng 5 kg thức ăn tinh (để sản xuất 10 kg sữa mà thức ăn xanh không đáp ứng đ−ợc)

Trang 12

- Đảm bảo cung cấp đủ nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày cho bê

- Chuyển đường tiêu hoá của bê từ chỗ tiêu hoá giống như một gia súc dạ dày đơn (tiêu hoá sữa) sang tiêu hoá của một gia súc nhai lại thực sự (tiêu hoá cỏ)

Để đạt được 3 mục tiêu trên việc nuôi dưỡng chăm sóc bê được phân ra các giai đoạn như sau

1 Bê sơ sinh (7 ngày đầu)

đầu đáp ứng được yêu cầu của bê trong giai đoạn này vì nó có thành phần hoá học và bản chất sinh học đặc thù mà không thể thay thế bằng thức ăn nào khác

Trang 13

Bảng 4-1: Thành phần của sữa bò

Sữa đầu Thành phần

(250-Trong sữa đầu có hàm l−ợng gama-globulin cao

có tác dụng làm tăng sức đề kháng của bê Bê sơ sinh

có khả năng hấp thu nguyên vẹn gama-globulin từ sữa

đầu vào máu Tuy nhiên, khả năng này càng lâu sau khi sinh càng giảm xuống

Trong sữa đầu còn có hàm l−ợng chất sun-phát manhê (MgSO4) cao tạo thành chất tẩy nhẹ để đẩy cứt

su ra ngoài

Trang 14

Do có các yếu tố trên mà bê cần được bú sữa

đầu càng sớm càng tốt và tỷ lệ mắc bệnh càng thấp Thí nghiệm cho thấy sau 1 giờ cho bú tỷ lệ mắc bệnh

là 7,9%, còn nếu sau khi đẻ 7 giờ mới cho bú thì tỷ lệ này lên tới 42%

Như vậy sữa đầu đã nâng cao sức sống của bê sơ sinh nhờ 2 nhân tố:

- Dinh dưỡng cao và dễ đồng hoá

- Tăng khả năng đề kháng của cơ thể đối với bệnh tật

Trong trường hợp thiếu sữa đầu người ta có thể làm sữa đầu nhân tạo cho bê bú với thành phần như sau: 1 lít sữa nguyên, 10ml dầu cá, 5-10g muối, 2-3 quả trứng, nếu táo bón cho thêm 5-10g MgSO4 Sữa nguyên sau khi thanh trùng hạ nhiệt độ xuống 38-

39oC, đập trứng và cho dầu cá, muối vào, đánh thật

đều

- Sữa thường:

Sau thời gian bú sữa đầu bê được cho uống sữa thường, tốt nhất của chính mẹ nó, nếu không cũng phải của những con khoẻ mạnh, không viêm vú

Trang 15

- Các thức ăn khác:

Thời gian cuối bê phải được tập ăn thức ăn thô:

cỏ khô, rơm Từ ngày thứ 5 trở đi có thể cho ăn thêm khoáng bổ sung

b Cách cho bê bú sữa

Yêu cầu bê phải được bú sữa đầu sau khi đẻ chậm nhất là 1 giờ Sữa đầu dùng cho bê đến đâu thì vắt đến đó (vắt thừa làm mất sữa đầu của bê và dễ gây sốt sữa cho bò mẹ) Sữa phải đảm bảo vệ sinh, nhưng tuyệt đối không dùng nhiệt để xử lý vì dễ gây đông vón Không được cho bê bú sữa vú viêm Sữa phải có nhiệt độ thích hợp, tốt nhất là 35-37oC

Lượng sữa mỗi lần cho bú không được quá 8%

so với khối lượng bê vì nó phụ thuộc vào dung tích dạ múi khế Nếu sữa bú quá nhiều sẽ tràn xuống dạ cỏ trong khi nhu động dạ cỏ còn yếu nên vi sinh vật gây thối sẽ phát triển Lượng sữa cho bú mỗi ngày bằng 1/5-1/6 khối lượng sơ sinh Số lần cho bê bú bằng số lần vắt sữa mẹ Thường lúc đầu cho bú 3-4 lần/ngày, về sau giảm xuống Cho bê bú phải từ từ không để bê bị sặc sữa

Trong thời kỳ này có thể cho bê bú trực tiếp hay gián tiếp:

Trang 16

- Cho bú trực tiếp:

Sau khi đẻ bê được trực tiếp bú mẹ hàng ngày Thường cách này áp dụng trong chăn nuôi bò kiêm dụng sữa-thịt và và đối với một số loại bò sữa có tập tính làm mẹ cao chỉ tiết sữa lúc có con bú Lượng sữa

bê bú không hết sẽ được vắt

Trước khi cho bê nghé bú cần phải làm vệ sinh chuồng trại, vú bò mẹ phải được lau sạch Nếu vú bị viêm phải chữa trị để tránh bê nghé viêm ruột Thời kỳ này không cho bê đi theo mẹ mà phải nuôi ở chuồng

Cách cho bú này có ưu điểm là: tỷ lệ sống của

bê cao, đề phòng viêm vú ở bò mới đẻ

- Cho bú gián tiếp:

Khi đẻ tách con ra ngay, sau đó vắt sữa đầu cho vào bình có núm vú cao su có đường kính lỗ tiết < 2mm nhằm đảm bảo một lần mút không quá 30 mm sữa để cho rãnh thực quản hoạt động tốt Khi cho bú

đặt bình nghiêng góc 30o Sau một vài ngày cho bú bình bắt đầu chuyển sang tập cho bê uống sữa trong xô

Phương pháp tập cho bê uống sữa trong xô như sau: rửa sạch tay và ngâm vào trong sữa, thò 2 ngón tay lên làm vú giả Tay kia ấn mõm bê xuống cho ngậm mút 2 đầu ngón tay Sữa sẽ theo kẽ ngón tay lên Làm vài lần như vậy bê sẽ quen và tự uống sữa

Trang 17

c Chăm sóc và quản lý bê sơ sinh

Sau khi sinh, trước lúc cho bê bú sữa đầu cần tiến hành cân khối lượng của bê Những thao tác này phải làm rất nhanh chóng để bê được bú sữa đầu sớm Cần quan sát đặc điểm lông, da, phản xạ mút

bú, răng, niêm mạc miệng, tình hình sức khoẻ, ăn uống, đi đứng để có chế độ nuôi dưỡng cho thích

đáng và xác định hướng sử dụng về sau

Hình 4-5: Cũi nuôi bê sơ sinh

Bê sơ sinh rất yếu, khả năng chống đỡ bệnh tật kém nên cần được nuôi ở chuồng cách ly, trong đó mỗi con được nuôi trong một cũi cá thể (hình 4-5) có kích thước: dài 1,2- 1,4m, cao 1m, rộng 0,7m, sàn cách mặt đất 0,15m Cũi này có thể làm bằng gỗ, tre

Trang 18

hay bằng thép Sàn nên làm bằng gỗ như rát giường Cũi phải được đặt nơi thoáng nhưng không có gió lùa, hàng tuần được tiêu độc, hàng ngày được lau sàn và làm vệ sinh Thời gian nuôi bê trong cũi này chỉ cho phép không quá 30 ngày Trên cũi này phải đặt xô chứa nước cho bê uống và xô để cỏ khô cho bê tập ăn

Mỗi ngày sát trùng rốn cho bê một lần bằng các dung dịch sát trùng đến khi rốn khô mới thôi

Hàng ngày cho bê xuống cũi để được vận động

tự do trong 3-4 giờ, thường mùa hè sáng vào lúc 8-10 giờ, chiều từ 3-5 giờ, mùa đông chậm hơn 30 phút

Hàng ngày phải kiểm tra tình hình sức khoẻ bệnh tật của bê, vệ sinh tiêu độc chuồng nuôi và cũi

bê Mùa đông treo rèm che chuồng nuôi để bê được

ấm, mùa hè phải thoáng mát

Trong chuồng nên mắc bóng điện và cho sáng gián đoạn: sáng 3-4 giờ/tắt 1-2 giờ

2 Bê từ sau sơ sinh đến cai sữa

a Các loại thức ăn và cách sử dụng

- Sữa nguyên

Đây là loại thức ăn quan trọng nhất đối với bê trong giai đoạn này Các chất dinh dưỡng ở trong sữa tương đối hoàn chỉnh và phù hợp với yêu cầu sinh lý của bê Cho nên trong bất kỳ phương thức nuôi dưỡng

Trang 19

nào cũng cần phải có sữa nguyên Tuy nhiên số lượng sữa nguyên cho ăn tuỳ thuộc vào giống, tầm quan trọng của bê, khả năng sản xuất sữa thay thế

Trong tháng đầu tiên chủ yếu cho bê ăn sữa nguyên còn các thức ăn khác chỉ là tập ăn Từ tháng thứ 2 về sau tuỳ theo mức độ sử dụng thức ăn thực vật của bê mà có thể giảm dần lượng sữa nguyên xuống Cũng có thể thay thế dần bằng sữa khử bơ

Phải cho bê bú sữa từ từ để cho rãnh thực quản khép kín đưa được hết sữa xuống dạ múi khế Cho bú

từ từ còn đảm bảo thời gian phân tiết nước bọt và các dịch tiêu hoá khác

Sữa cho bê ăn phải đảm bảo vệ sinh và có nhiệt

độ thích hợp: tháng đầu 35-37oC, tháng thứ hai

3-35oC, những tháng sau 20-25oC Nếu có điều kiện nên tiến hành lọc sữa, sau đó đun lên nhiệt độ 80oC để thanh trùng rồi hạ xuống nhiệt độ cần thiết

Số lần cho bú/ngày = lượng sữa cho bú trong ngày/lượng sữa 1 lần Trong đó lượng sữa cho bú/ngày

= 1/5-1/6 khối lượng sơ sinh Lượng sữa cho bú/lần bằng 8% khối lượng sơ sinh

Khoảng cách giữa các lần cho bú phải gần đều nhau bởi vì dịch vị tiết tương đối ổn định nên cường

độ tiêu hoá gần đều nhau theo thời gian Tuy nhiên lần

Trang 20

bú cuối cùng trong ngày không nên muộn quá 8-9 giờ

đêm

Cách cho bú: Cho bú bằng bình có núm vú cao

su hay bằng xô như đã giới thiệu ở phần trước

- Sữa khử mỡ

Có thể dùng loại sữa này thay thế cho một phần sữa nguyên Về mặt giá trị năng lượng sữa khử mỡ chỉ bằng 50% so với sữa nguyên, nhưng giá trị sinh vật học của nó cao Sữa khử mỡ có thể dùng từ tuần tuổi thứ 3-4 trở đi Cách dùng tương tự sữa nguyên, nhưng không được hỗn hợp với sữa nguyên, mà phải cho ăn xen kẻ nhau trong ngày trong một thời gian, sau đó dùng sữa khử mỡ thay hẳn cho sữa nguyên Thường dùng sữa khử mỡ thay hẳn sữa nguyên từ 40-45 ngày tuổi trở đi

- Sữa thay thế

Đây là loại thức ăn chế biến có thành phần tương tự sữa nguyên nhằm thay thế một phần sữa nguyên Tuỳ theo chất lượng của sữa thay thế mà quyết định thời gian bắt đầu cho ăn Sữa tốt càng gần giống sữa nguyên càng cho ăn sớm, có thể bắt đầu từ 15-20 ngày tuổi Các nước tiên tiến dùng sữa khử mỡ làm nền để sản xuất sữa thay thế

Ví dụ, một loại sữa thay thế có thể gồm: sữa khử mỡ 80%, dầu thực vật hydro hoá 15%, photphatit

Trang 21

5%, chế phẩm vitamin (A+D), kháng sinh Về giá trị dinh dưỡng 1,2kg sữa này tương đương 10kg sữa nguyên Nó có thể bắt đầu sử dụng từ 11 ngày tuổi

Có thể dùng sữa đậu tương làm sữa thay thế Cách làm như sau: chọn loại đậu tương tốt ngâm trong nước 8-10 giờ, sau dùng cối xay bột xay thành bột nước Cứ 1 kg đậu hạt xay thành 8-10 kg đậu nước, rồi

đem lọc lấy nước, đun cách thuỷ cho kỹ, để nguội đến 37-39oC thì cho bú Vì trong đậu tương có hàm lượng tinh bột cao nên không cho ăn quá sớm dễ gây ỉa chảy Thường chỉ bắt đầu cho ăn từ cuối tháng thứ 2

- Thức ăn tinh hỗn hợp

Có thể cho bê tập ăn từ 15-20 ngày tuổi Vì dạ

cỏ phát triển chưa hoàn thiện nên loại thức ăn tinh hỗn hợp tập ăn phải có chất lượng tốt, hàm lượng protein cao (160-170 g protein thô/kgVCK) Lúc đầu tập ăn

có thể rang lên cho có mùi thơm để kích thích bê ăn Lượng thức ăn tinh cho ăn được tăng lên theo độ tuổi

- Cỏ khô

Trong quá trình nuôi bê cỏ khô là loại thức ăn cần thiết vì nó kích thích sự phát triển của dạ cỏ và chóng hoàn thiện hệ vi sinh vật dạ cỏ, tăng thêm dinh dưỡng và hạn chế ỉa chảy

Ngày đăng: 26/01/2014, 10:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4-1: Dạ dày kép ở bò tr−ởng thành - Tài liệu Nuôi bò sữa ở nông hộ - Chương 4 pdf
Hình 4 1: Dạ dày kép ở bò tr−ởng thành (Trang 1)
Hình 4-2: Khi bê bú sữa đi qua rãnh thực quản xuống thẳng dạ  múi khế - Tài liệu Nuôi bò sữa ở nông hộ - Chương 4 pdf
Hình 4 2: Khi bê bú sữa đi qua rãnh thực quản xuống thẳng dạ múi khế (Trang 2)
Hình 4-3: Quá trình phát triển dạ cỏ ở bò - Tài liệu Nuôi bò sữa ở nông hộ - Chương 4 pdf
Hình 4 3: Quá trình phát triển dạ cỏ ở bò (Trang 2)
Hình 4-4: Sự nhai lại thức ăn thô ở bò - Tài liệu Nuôi bò sữa ở nông hộ - Chương 4 pdf
Hình 4 4: Sự nhai lại thức ăn thô ở bò (Trang 3)
Bảng 4-1: Thành phần của sữa bò - Tài liệu Nuôi bò sữa ở nông hộ - Chương 4 pdf
Bảng 4 1: Thành phần của sữa bò (Trang 13)
Hình 4-5: Cũi nuôi bê sơ sinh - Tài liệu Nuôi bò sữa ở nông hộ - Chương 4 pdf
Hình 4 5: Cũi nuôi bê sơ sinh (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm