1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá di truyền sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.)bằng chỉ thị phân tử RAPD

12 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 2,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, đối với sâm Ngọc Linh, việc chọn giống bằng phương pháp lai tạo hầu như rất khó xảy ra do sự suy giảm diện tích vùng sâm tự nhiên cùng với việc sử dụng không kiểm soát đã dẫn

Trang 1

Đ ánh giá di truyền cây sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) bằng chỉ thị phân tử RAPD

Article · September 2015

CITATIONS

0

READS 770

3 authors:

Some of the authors of this publication are also working on these related projects:

The role of silver, cobalt and iron nanoparticles overcoming some abnormal phenomena and improving the plant quality of Gerbera jamesonii cultured in vitro View project

A participant of Nafosted project: Research on new techniques in micropropagation and Paphiopedilum spp - Code 106-NN.01-2015.02 View project

Tung Thanh Hoang

Tay Nguyen Institute for Scientific Research VAST

107PUBLICATIONS    146CITATIONS    

SEE PROFILE

Bui Van The Vinh

Ho Chi Minh City University of Technology (HUTECH)

24PUBLICATIONS    126CITATIONS    

SEE PROFILE

Nhut Duong Tan

Tay nguyen Institute for Scientific Research

178PUBLICATIONS    2,139CITATIONS    

SEE PROFILE

All content following this page was uploaded by Tung Thanh Hoang on 17 September 2018.

Trang 2

ĐÁNH GIÁ SỰ ỔN ĐỊNH DI TRUYỀN CÂY SÂM NGỌC LINH (PANAX VIETNAMENSIS

HA ET GRUSHV.) BẰNG CHỈ THỊ RAPD

Bùi Văn Thế Vinh 1 , Vũ Thị Thủy 2 , Hoàng Thanh Tùng 2 , Vũ Thị Hiền 2 , Trần Xuân Tình 2 , Đỗ Khắc Thịnh 3 , Dương Tấn Nhựt 2

Ngày nhận bài: 15.01.2015

Ngày nhận đăng: 30.3.2015

TÓM TẮT

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng chỉ thị phân tử RAPD để phân tích di truyền của cây sâm Ngọc

Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) được di thực từ núi Ngọc Linh (thuộc địa phận 2 tỉnh Quảng Nam và

Kontum) đến khu vực Cổng trời thuộc vườn Quốc gia Bidoup Núi Bà (tỉnh Lâm Đồng) so với cây bản địa Trong số 15 chỉ thị phân tử RAPD được sử dụng, có 1 chỉ thị (OPB-13) không cho sản phẩm khuếch đại, 14 chỉ thị còn lại tạo ra được 93 băng đồng hình và 5 băng đa hình (chiếm tỉ lệ 5,1%) Kết quả phân loại dựa theo

hệ số tương đồng di truyền đã chia 10 mẫu nghiên cứu thành 2 nhóm chính, trong đó nhóm 1 gồm 4 cây thu nhận từ Lâm Đồng và 2 cây thu nhận từ Quảng Nam có hệ số tương đồng 0,9820 và nhóm 2 gồm 2 cây thu nhận từ Kontum và 2 cây thu nhận từ Quảng Nam có hệ số tương đồng 0,9762 Hình ảnh phân tích điện di sản

phẩm RAPD với 12 mồi cho thấy 32 cây con sâm Ngọc Linh in vitro được đánh giá đều cho kết quả đồng hình

Các cây con có nguồn gốc từ phôi vô tính này được chuyển ra vườn ươm và trồng thử nghiệm trên các loại giá thể khác nhau cho tỉ lệ sống sót cao (đạt trên 60%) Kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp phát sinh phôi

vô tính có khả năng tạo ra số lượng lớn cây con sâm Ngọc Linh có sự ổn định di truyền cao

Từ khóa: tương đồng di truyền, sâm Ngọc Linh, Panax vietnamensis, phôi vô tính, chỉ thị RAPD

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sâm Ngọc Linh hay còn gọi là sâm Khu 5, có

tên khoa học là Panax vietnamensis Ha et Grushv.,

thuộc họ nhân Sâm (Araliaceae) Đây là loài cây

dược liệu quí đặc hữu của Việt Nam có thành phần

ginsenoside được đánh giá vào loại nhiều nhất so với

các loài khác của chi Panax trên thế giới và có nhiều

công dụng trong việc chữa bệnh cũng như chăm sóc

sức khỏe đối với con người (Dương Tấn Nhựt et al.,

2010) Chính nhờ những giá trị dược lý to lớn như

vậy mà nhu cầu đối với sâm Ngọc Linh ngày càng

gia tăng dẫn tới việc khai thác, mua bán, sử dụng mất

kiểm soát và gần như không còn tồn tại trong tự

nhiên Cây sâm Ngọc Linh được đưa vào trong sách

đỏ Việt Nam với mức độ đe dọa ở bậc E, là loài thực

vật có giá trị đặc biệt về khoa học và kinh tế, có số

lượng, trữ lượng rất ít đang có nguy cơ bị tuyệt

chủng, nghiêm cấm khai thác ngoài tự nhiên Trong

một nỗ lực nghiên cứu di thực cây sâm Ngọc Linh ra

khỏi vùng phát triển tự nhiên ở đỉnh núi Ngọc Linh

thuộc địa phận 2 tỉnh Quảng Nam và Kon tum,

chúng tôi đã tiến hành trồng thử nghiệm 200 cây ở khu vực Cổng trời thuộc vườn Quốc gia Bidoup Núi

Bà từ năm 2010

Với mục đích bảo tồn và phát triển nguồn gen quí hiếm của Quốc gia đồng thời phát triển những vùng trồng để cung cấp nguyên liệu cho ngành dược,

từ lâu công tác tạo nguồn giống sâm Ngọc Linh đã được đề cập đến với hai hình thức chủ yếu là nhân giống từ hạt và tạo giống từ đầu mầm (thân rễ ngầm) nhưng kết quả đạt được còn hạn chế Theo báo cáo quy hoạch bảo tồn và phát triển cây sâm Ngọc Linh giai đoạn 2014-2020 của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Nam, cây sâm Ngọc Linh 4 – 5 năm tuổi mới bắt đầu ra hoa kết quả, bình quân một cây cho từ 10 đến 30 hạt, tỉ lệ nảy mầm khoảng gần 70%, cây mầm phải được chăm sóc cẩn thận trong vườn ươm 1 – 2 năm tuổi mới đem trồng Đối với phương pháp nhân giống bằng đầu mầm, khi thu hoạch sâm, cắt lại phần đầu mầm thân rễ dài khoảng 3 – 4 cm, rải trên giàn trong vườn ươm 1 tháng cho khô đất bên ngoài mới đem trồng với tỉ lệ sống và đâm chồi đạt 65% Tuy nhiên, hiện nay số

Trang 3

lượng sâm giống tạo ra chưa đáp ứng được nhu cầu

trồng trọt hàng năm Thêm vào đó là sự chủ quan,

thiếu kinh nghiệm trong công tác tạo giống đã làm

cho bài toán về nhân giống sâm Ngọc Linh ngày

càng trở nên khó khăn và phức tạp

Lai tạo là phương pháp chọn giống phổ biến trên

các đối tượng cây trồng, cây cảnh và cây ăn quả Tuy

nhiên, đối với sâm Ngọc Linh, việc chọn giống bằng

phương pháp lai tạo hầu như rất khó xảy ra do sự suy

giảm diện tích vùng sâm tự nhiên cùng với việc sử

dụng không kiểm soát đã dẫn đến sự suy giảm đáng

kể đa dạng di truyền, làm giảm tiềm năng di truyền

của quần thể tự nhiên của loài đặc hữu quý hiếm này

Điều này có nghĩa là đối với sâm Ngọc Linh có rất ít

nguồn gene đã biết được sử dụng cho mục đích lai

tạo để tạo ra giống mới Do vậy, để đáp ứng được

nhu cầu nguồn cây giống đang ngày càng gia tăng

hiện nay, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành nhằm

nhân giống vô tính sâm Ngọc Linh (Nguyễn Ngọc

Dung, 1995; Dương Tấn Nhựt et al., 2010) Gần đây,

chúng tôi đã phát triển phương pháp vi nhân giống

sâm Ngọc Linh thông qua con đường phát sinh phôi

vô tính từ mẫu cấy lá (Bùi Văn Thế Vinh et al.,

2014) Việc ứng dụng phương pháp phát sinh phôi

vô tính ở cây sâm Ngọc Linh hứa hẹn sẽ mang lại

nhiều ưu điểm vì có thể tạo ra một số lượng lớn cây

con có chất lượng tốt trong một thời gian ngắn, tỉ lệ

sống sót của cây con ngoài vườn ươm cao do cây

con phát triển từ phôi vô tính theo con đường tương

tự như phôi hữu tính

Trong những nghiên cứu nhân giống vô tính đối

với các loài cây dược liệu, có thể xác định mức độ

đồng nhất của quần thể cây con bằng phương pháp

phân tích định lượng các hợp chất biến dưỡng thứ

cấp Tuy nhiên, phương pháp phân tích này cần một

số lượng mẫu lớn cũng như cần thời gian phát triển

kéo dài Do đó, các nhà khoa học thường sử dụng

các kỹ thuật phân tích di truyền như RAPD để xác

nhận mức độ ổn định về mặt di truyền của các cây

con được nhân giống vô tính (Rani et al., 1995; Goto

et al., 1998; Carvalho et al., 2004; Martins et al.,

2004) Phương pháp này cũng được sử dụng để đánh

giá sự khác biệt về mặt địa lý của các loại cây dược

liệu (Mizukami et al., 1993; Nakai et al., 1996), xác

định các cây thuộc chi Panax (Shaw và But, 1995)

và đánh giá quan hệ di truyền giữa các loài cây dược

liệu và các hợp chất biến dưỡng thứ cấp của chúng

(Yamazaki et al., 1994)

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng kỹ

thuật RAPD để đánh giá sự ổn định di truyền của cây

sâm Ngọc Linh được tái sinh thông qua con đường

phát sinh phôi vô tính qua trung gian mô sẹo Kết quả nghiên cứu này sẽ giúp định hướng thiết lập quy trình nhân giống, giúp sản xuất cây sâm Ngọc Linh với số lượng lớn trong thời gian ngắn bằng kỹ thuật

vi nhân giống

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

Vật liệu

Nguồn mẫu ex vitro được sử dụng là các mẫu lá

của 4 cây sâm Ngọc Linh 4 năm tuổi được thu nhận

từ khu vực di thực sâm Ngọc Linh ở rừng Quốc gia Bidoup Núi Bà thuộc huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng (ký hiệu LD1, LD2, LD3, LD4); 2 cây được thu nhận từ nông trường sâm Ngọc Linh ở xã Măng

Ri, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum (ký hiệu KT5, KT6); 4 cây được thu nhận từ trại sâm Ngọc Linh ở xã Trà Linh, huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam (ký hiệu QN7, QN8, QN9, QN10)

Nguồn mẫu in vitro được sử dụng là 32 cây con

được nhân giống thông qua con đường phát sinh phôi vô tính qua trung gian mô sẹo (Bùi Văn Thế

Vinh et al., 2014) tại Phòng Sinh học phân tử và

Chọn tạo giống cây trồng, Viện Nghiên cứu Khoa học Tây Nguyên

Phương pháp tách chiết DNA

Các mẫu lá và cây con sâm Ngọc Linh sau khi thu nhận được tách DNA tổng số theo quy trình của

bộ kit EZ-10 Spin Column Plant DNA MiniPreps (Biobasics) Nồng độ DNA tổng số được ước lượng bằng cách điện di trên gel agarose 1%, nhuộm sản phẩm DNA trong gel agarose bằng Edithium bromide nồng độ 10 mg/ml trong 15 phút Quan sát

và phân tích các vệt băng bằng đèn UV Nếu kết quả tách chiết tốt, không làm đứt gãy DNA, vệt băng sẽ sáng rõ nét và ngược lại

Phân tích bằng chỉ thị RAPD

Sử dụng 15 mồi RAPD có trình tự được trình bày trong bảng 1 Phản ứng PCR được thực hiện trên máy PCR Eppendorf với tổng thể tích phản ứng 25 µl gồm những thành phần sau: 1,0 µl DNA tổng số (100 ng/µl), 2,5 µl mồi RAPD (0,2 µM), 12,5 µl MyTaq

các thành phần của hỗn hợp rồi chuyển vào máy PCR sau đó chạy theo chương trình đã được cài đặt sẵn: 1 chu kỳ 94°C trong 4 phút, theo sau là 40 chu kỳ (94°C trong 30 giây, 35°C trong 1 phút, 72°C trong 2 phút)

và cuối cùng là 1 chu kỳ 72°C trong 10 phút

Trang 4

Bảng 1 Danh sách các mồi RAPD được sử dụng trong nghiên cứu

Các băng DNA được ghi nhận dựa trên sự có

mặt của chúng trên bản điện di của các mẫu nghiên

cứu theo DNA thang chuẩn (DNA marker) Nếu một

vệt băng DNA (có kích thước cụ thể) xuất hiện ở

mẫu i nhưng không xuất hiện ở mẫu j hoặc đồng thời

xuất hiện ở cả i và j nhưng không xuất hiện ở các

mẫu khác thì vệt băng DNA đó được gọi là băng đa

hình Ngược lại, nếu vệt băng DNA nào xuất hiện ở

tất cả các mẫu nghiên cứu thì gọi là băng đơn hình

(Nguyễn Mạnh Hoa et al., 2014)

Các băng DNA được mã hóa dưới dạng nhị

phân, nếu xuất hiện băng DNA thì ký hiệu là 1 còn

nếu không có thì ký hiệu là 0 Các số liệu này sau đó

được xử lý bằng phần mềm NTSYSpc 2.1 (Rohlf,

2008) để tính ma trận tương đồng giữa các đôi theo

phương pháp UPGMA theo mức độ xa gần về mặt di

truyền và vẽ thành sơ đồ hình cây trong TREE

DISPLAY

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Đánh giá di truyền của cây sâm Ngọc Linh có

nguồn gốc địa lý khác nhau

Sau khi tách chiết DNA tổng số từ các nguồn vật

liệu và tiến hành điện di sản phẩm, kết quả được chỉ

ra trong hình 1 cho thấy DNA được tách chiết có băng vạch đậm, rõ nét và không tạo vệt dài, chứng tỏ DNA được tách với hàm lượng lớn, không bị đứt gãy, đạt tiêu chuẩn có thể dùng cho phản ứng PCR-RAPD

Kết quả quan sát cho thấy có 1 mồi không thể hiện khếch đại bất cứ băng hình nào (OPB-13), 14 mồi cho sản phẩm khếch đại trên tất cả các mẫu, trong đó có 2 mồi (OPA-05, OPB-14) chỉ cho duy nhất 1 băng đồng hình (Bảng 2) Kích thước các vệt băng trong khoảng từ 100 đến 2800 bp Kết quả thu được tổng số 98 vệt băng/15 mồi với giá trị trung bình 6,5 vệt băng/1 mồi

RAPD là chỉ thị nhân ngẫu nhiên các đoạn DNA trong genome trên cơ sở phương pháp PCR dùng một đoạn mồi Các mồi này sẽ bắt cặp một cách ngẫu nhiên vào DNA khuôn ở một vị trí bất kỳ mà tại đó có trình tự bổ sung với nó Chỉ thị RAPD phát hiện tính

đa dạng đáng tin (sự mất đoạn nhiễm sắc, sự thay đổi, thêm bớt nucleotide, xen đoạn,… đều làm thay đổi

kích thước đoạn khuếch đại) (Nguyễn Văn Giang et al., 2013) Tuy nhiên, phương pháp này rất nhạy cảm

với các yếu tố tham gia phản ứng như: thành phần

Trang 5

phản ứng, điều kiện thí nghiệm, độ lặp lại, khoảng

cách thích hợp giữa 2 điểm bắt cặp mồi và đặc biệt là

nhiệt độ gắn mồi cần tuân thủ nghiêm ngặt quy trình

(Shim et al., 2003)

Kết quả được trình bày trong bảng 2 cho thấy tỉ

lệ băng đa hình đạt được tương đối thấp (5,1%) Đối

với mồi nhân OPB-01, 100% số mẫu đều cho sản

phẩm khuếch đại PCR Kết quả được chỉ ra trong

hình 2a cho thấy có 7 vạch băng được tạo ra với kích

thước dao động từ 300 đến 2800 bp, trong đó có 1 băng đa hình với kích thước 1800 bp xuất hiện ở cả 2 mẫu sâm được thu nhận từ Kontum (KT5, KT6) và 2 mẫu sâm được thu nhận từ Quảng Nam (QN8, QN10) Trong khi đó cả 4 mẫu sâm được di thực

Hình 1 Ảnh điện di sản phẩm tách chiết DNA của 10 mẫu lá sâm Ngọc Linh

Hình 2 Ảnh điện di sản phẩm RAPD của 10 mẫu lá sâm Ngọc Linh có nguồn gốc khác nhau với mồi OPB-01 (a), OPO-08

(b), OPE-11 (c), OPD-20 (d), OPC-08 (e) và OPA-08 (f)

Trang 6

đang trồng ở khu vực Cổng trời thuộc vườn Quốc

gia Bidoup Núi Bà (Lâm Đồng) không có sự xuất

hiện của vạch băng đa hình này Tương tự như

vậy, 4 mẫu KT5, KT6, QN8, QN10 cũng tạo 1

băng đa hình tại vị trí 1000 bp trong khi đó cả 10

mẫu phân tích đều cho 2 vạch băng đồng hình có

kích thước 400 và 600 bp khi thực hiện phản ứng

RAPD với mồi OPO-08 (Hình 2b) Sự khác nhau

về số lượng và vị trí của các băng có thể cho biết được sự khác nhau về trình tự DNA giữa các giống Bên cạnh đó, nhiều mẫu có cùng các vệt băng đa hình do chúng đều xuất phát từ cùng một giống chỉ khác nhau về mặt địa lý (Nguyễn Thị

Lang et al., 2007)

Bảng 2 Kết quả tổng hợp các băng DNA khi phân tích 10 mẫu sâm Ngọc Linh có nguồn gốc khác nhau bằng chỉ thị RAPD

với 15 mồi ngẫu nhiên.

Trong tự nhiên, cây sâm Ngọc Linh phát triển chủ

yếu dưới tán rừng nguyên sinh ẩm, nhiều mùn, có

nhiệt độ thích hợp ban ngày từ 20°C - 25°C và ban

đêm từ 15°C - 18°C ở độ cao 1700 - 2000 m của núi

Ngọc Linh thuộc 2 huyện Đăk Tô, tỉnh Kontum và

huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam Từ năm 2010,

chúng tôi đã tiến hành di thực và trồng thử nghiệm

cây sâm Ngọc Linh ở khu vực Cổng trời thuộc vườn

Quốc gia Bidoup Núi Bà với hệ sinh thái rừng thuộc

kiểu rừng kín thường xanh, lá rụng, độ cao trung bình

từ 1700 - 1800 m, nhiệt độ 15 - 20°C, độ ẩm 80 -

90% Mặc dù có điều kiện tự nhiên, địa lý, khí hậu,

thổ nhưỡng tương đối giống nhau nhưng xét về mặt

hình thái, các cây sâm Ngọc Linh sau 4 năm phát triển

ở Lâm Đồng có các chỉ số phát triển (chiều cao cây,

số lá, bề rộng lá) đều thấp hơn so với cây cùng độ tuổi

được trồng ở núi Ngọc Linh Bên cạnh đó, màu sắc lá cũng phản ánh sự khác biệt giữa cây di thực (vàng) và cây bản địa (xanh) (dữ liệu chưa được công bố) Tuy

có sự khác nhau về mặt hình thái nhưng kết quả đánh giá di truyền cho thấy sự tương đồng lớn giữa 2 nhóm LD1, LD2, LD3, LD4, QN7, QN9 và KT5, KT6, QN8, QN10 (Hình 3)

Kết quả được chỉ ra trong bảng 3 cho thấy hệ

số di truyền tương đồng từng cặp rất cao (trên 92,8%) Hệ số tương đồng cao nhất (đạt 100%) là giữa 4 cây LD1, LD2, LD3, LD4 được thu nhận trong tổng số 200 cây được nhân giống vô tính và trồng ở vườn Quốc gia Bidoup Núi Bà từ năm

2010 Hệ số tương đồng thấp nhất là giữa cây QN8 và QN9 (đạt 92,86%)

Trang 7

Xử lý bằng phần mềm NTSYSpc 2.1 cũng thu

được kết quả phân loại các mẫu nghiên cứu theo cây

phân loại (Hình 3) Theo cây phân loại dựa theo hệ

số tương đồng di truyền đã chia 10 mẫu nghiên cứu

thành 2 nhóm chính, trong đó nhóm 1 gồm 6 cây LD1, LD2, LD3, LD4, QN7, QN9 có hệ số tương đồng 0,9820 và nhóm 2 gồm 4 cây KT5, KT6, QN8, QN10 có hệ số tương đồng 0,9762

Bảng 3 Bảng ma trận tương đồng của 10 cây sâm Ngọc Linh có nguồn gốc khác nhau

QN7 0.97959 0.97959 0.97959 0.97959 0.93878 0.95918 1.00000

QN8 0.94898 0.94898 0.94898 0.94898 0.96939 0.96939 0.94898 1.00000

QN9 0.97959 0.97959 0.97959 0.97959 0.93878 0.93878 0.97959 0.92857 1.00000

QN10 0.96939 0.96939 0.96939 0.96939 0.98980 0.96939 0.94898 0.97959 0.94898 1.00000

Artyukova và đồng tác giả (2000) khi phân tích

đa dạng di truyền của các quần thể sâm Hàn Quốc

(Panax ginseng) bằng kỹ thuật RAPD đã kết luận

rằng mức độ đa dạng di truyền của các quần thể

sâm tự nhiên (10,6%) cao hơn so với các quần thể

sâm trồng (7,6%) Trong một nghiên cứu khác, Li

và đồng tác giả (2011) đã tiến hành phân tích 282

cây thuộc 16 quần thể Nhân sâm khác nhau và kết luận mức độ đa dạng di truyền chỉ đạt 4,9% Đối

với sâm Mỹ (Panax quinquefolius), Erin và Marla

(2012) đã tiến hành nghiên cứu đánh giá mức độ đa dạng di truyền của quần thể tự nhiên phát triển ở vùng Bắc Mỹ Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ

đa dạng di truyền đạt 11% Mức độ đa dạng di

Hình 3 Sơ đồ mối quan hệ di truyền của 10 cây sâm Ngọc Linh có nguồn gốc khác nhau

Trang 8

truyền ở sâm Ngọc Linh nói riêng và ở các loài

thuộc chi sâm nói chung rất thấp, điều này làm

giảm tiềm năng di truyền của quần thể dẫn đến

những hạn chế trong việc lai tạo để tạo ra giống

mới

Đánh giá ổn định di truyền của cây sâm Ngọc

Linh in vitro có nguồn gốc từ phôi vô tính

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng 12 mồi

ngẫu nhiên: OPA-08, OPB-01, OPB-05, OPB-08,

OPC-08, OPC-15, OPD-11, OPD-20, OPM-11,

OPO-08, OPE-11, OPF-05 để phân tích tính ổn định

di truyền của 32 cây con in vitro có nguồn gốc từ

phôi vô tính Kết quả nhận được cả 12 mồi đều cho

biểu hiện các băng đồng hình có kích thước 100 -

2800 bp (Hình 4)

Tính đồng nhất về mặt di truyền là yêu cầu tiên quyết trong kỹ thuật vi nhân giống đối với bất kỳ

loại cây trồng nào (Carvalho et al., 2004; Martins et al., 2004) Tuy nhiên, vấn đề đối với nuôi cấy in vitro là sự xuất hiện các biến dị soma giữa các dòng

vô tính có nguồn gốc từ một cây mẹ ban đầu (Larkin

và Scowcroft, 1981) Dạng biến dị này được công bố xảy ra trên một số loài thực vật và cung cấp thêm những nguồn tính trạng mới phục vụ cho công tác chọn tạo giống cây trồng tương tự như các dạng đột

biến hóa chất và vật lý (Skirvin et al., 1993; Jain, 1998; Moghaieb et al., 2010) Các biến dị soma

không thể dự đoán trước được và có thể di truyền hoặc không

Để phát hiện các biến dị soma xảy ra trong quá

trình nuôi cấy mô và tế bào thực vật, nhiều kỹ thuật

phân tích di truyền đã được sử dụng nhưng thường

chỉ cho biết những thay đổi trên nhiễm sắc thể mà

không đánh giá được những biến đổi trên từng gene

riêng biệt (Reda et al., 2011) Các kỹ thuật như phân

tích isozyme là một phương pháp khá thuận lợi để

xác định những biến đổi về mặt sinh hóa mặc dù

phương pháp này thường bị giới hạn số lượng chỉ thị

ít (Brown et al., 1993) Một kỹ thuật có thể xác định

chính xác những thay đổi trong trình tự của một gene

chuyên biệt là RFLP Tuy nhiên, phương pháp này

rất đắt tiền và tốn thời gian trong khi kết quả chỉ giới

hạn đối với trình tự gene được sử dụng như là mẫu

dò (Brown et al., 1993) Nhiều nhà khoa học đã

khẳng định có thể sử dụng các kỹ thuật phân tử dựa vào PCR như RAPD, ISSR hay ALFP để đánh giá tính ổn định di truyền của các cây con được nuôi cấy

in vitro ở nhiều loài thực vật khác nhau như Prunus dulcis (Martins et al., 2004), Malus domestica (Modgil et al., 2005), Pinus thunbergii (Goto et al., 1998), Brassica oleracea (Leroy et al., 2001), Digitalis obscura (Gavida et al., 1996)

Kỹ thuật RAPD được sử dụng để xác nhận tính

ổn định di truyền trong vi nhân giống chồi cây

Pinus thunbergii (Goto et al., 1998), nhân chồi nách cây hạt dẻ (Carvalho et al., 2004) và cây hạnh nhân (Martins et al., 2004) Trong khi đó, các biến

dị di truyền cũng được báo cáo trong vi nhân giống

D

Hình 4 Ảnh điện di sản phẩm RAPD của cây sâm Ngọc Linh in vitro có nguồn gốc từ phôi vô tính với mồi OPB-01 (A),

OPO-08 (B) và OPB-05 (C, D)

C

Trang 9

ở một số loài thực vật như Pinus tremuloides

(Rahman và Rajora, 2001) và Actinidia deliciosa

(Palombi và Damiano, 2002) nhờ sử dụng các chỉ

thị RAPD

Mặc dù trong nghiên cứu này không phát hiện

bất kỳ một khác biệt về mặt di truyền nào tuy nhiên

một số dạng biến dị có thể xảy ra mà không được

phát hiện như các đột biến điểm xảy ra ngoài vị trí

bắt cặp của mồi ngẫu nhiên được sử dụng Các đột

biến này có thể được tạo ra do các thành phần dinh

dưỡng trong môi trường nuôi cấy, do nồng độ và tỉ lệ

auxin-cytokinin, do thời gian nuôi cấy kéo dài, do

các điều kiện không tự nhiên trong môi trường nuôi

cấy gây ra stress in vitro, do nhịp ngày đêm bị thay

đổi (Modgil et al., 2005) Các mô thực vật nuôi cấy

phải chịu stress oxi hóa ở nhiều mức độ khác nhau

do các gốc oxi tự do được tạo ra bên trong tế bào, các gốc oxi tự do này là nguyên nhân gây ra sự tổn

thương DNA (Jackson et al., 1998)

Trong nghiên cứu này, không có sự khác biệt giữa các băng hình được tạo ra bởi 12 mồi ngẫu

nhiên trên 32 cây con in vitro được nhân giống thông

qua con đường phát sinh phôi vô tính Bên cạnh đó, kết quả phân tích mức độ tương đồng di truyền giữa

32 cây con in vitro có nguồn gốc từ phôi vô tính đạt

trên 99% (Hình 5) Do đó, phương pháp này có thể được sử dụng để nhân giống cây sâm Ngọc Linh với

số lượng lớn với độ ổn định di truyền cao Cây con

in vitro được chuyển ra vườn ươm và trồng trên 2

loại giá thể khác nhau (đất mùn và đất sạch Dasi) đạt

tỉ lệ sống sót tương ứng 62% và 57% sau 4 tháng trồng (Hình 6)

Hình 5 Sơ đồ mối quan hệ di truyền của 32 cây con sâm Ngọc Linh in vitro có nguồn gốc từ phôi vô tính

Hình 6 Cây con sâm Ngọc Linh có nguồn gốc từ phôi vô tính được trồng trên giá thể đất mùn (a) và đất sạch Dasi (b)

Trang 10

KẾT LUẬN

Khi sử dụng chỉ thị RAPD đánh giá mối quan hệ

di truyền của 10 cây sâm Ngọc Linh có nguồn gốc

khác nhau cho thấy mức độ tương đồng cao (trên

92,86%) Đối với cây con sâm Ngọc Linh in vitro có

nguồn gốc từ phôi vô tính, mức độ ổn định di truyền

đạt được trên 99%

Lời cảm ơn: Các tác giả xin chân thành cảm ơn Dự

án sản xuất thử nghiệm “Ứng dụng hệ thống chiếu

sáng đơn sắc (LED) trong nghiên cứu nhân nhanh

cây Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et

Grushv.) với số lượng lớn phục vụ nhu cầu nhân

giống của tỉnh Quảng Nam.)” (Viện Hàn lâm Khoa

học và Công nghệ Việt Nam) đã hỗ trợ kinh phí cho

nghiên cứu này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Artyukova EV, Kozyrenko MM, Koren OG, Muzarok TI,

Reunova GD, Zhuravlev YN (2000) RAPD Analysis of

the genome variability of planted Ginseng, Panax ginseng

Mol Biol, 34: 297-302

Brown PTH, Lang FD, Kranz E, Lorz H (1993) Analysis

of single protoplasts and regenerated plants by PCR and

RAPD technology Mol Genet Genomics, 237: 311-317

Bùi Văn Thế Vinh, Vũ Thị Thủy, Thái Thương Hiền,

Vũ Quốc Luận, Nguyễn Bá Nam, Nguyễn Phúc Huy,

Trịnh Thị Hương, Vũ Thị Hiền, Lê Kim Cương, Đỗ

Khắc Thịnh, Dương Tấn Nhựt (2014) Nghiên cứu một

số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát sinh phôi vô

tính sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et

Grushv.) in vitro Tạp chí Công nghệ Sinh học, 12(1):

73-84

Carvalho LC, Goulao L; Oliveira C; Goncalves JC,

Amancio S (2004) RAPD assessment for identification of

clonal identity and genetic stability of in vitro propagated

chestnut hybrids Plant Cell Tiss Org Cult, 77(1): 23-27

Dương Tấn Nhựt, Hoàng Xuân Chiến, Nguyễn Bá Trực,

Nguyễn Bá Nam, Trần Xuân Tình, Vũ Quốc Luận, Nguyễn

Văn Bình, Vũ Thị Hiền, Trịnh Thị Hương, Nguyễn Cửu

Thành Nhân, Lê Nữ Minh Thùy, Lý Thị Mỹ Nga, Thái

Thương Hiền, Nguyễn Thành Hải (2010) Nhân giống vô

tính cây sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et

Grushv.) Tạp chí Công nghệ Sinh học, 8(3B): 1211-1219

Erin MS, Marla SM (2012) RAPD-based assessment of

genetic relationships among and within American ginseng

(Panax quinquefolius L.) populations and their

implications for a future conservation strategy Genet

Resour Crop Evol, 59: 1553–1568

Gavida I, Agudo LC, Pérezbermúdez P (1996) Selection

and long-term cultures of high-yielding Digitalis obscura

plants: RAPD markers for analysis of genetic stability

Plant Sci, 121(2): 197-205

Goto S, Thakur RC, Ishii K (1998) Determination of genetic stability in long-term micropropagated shoots of

Pinus thunbergii Parl using RAPD markers Plant Cell Rep, 18(3-4): 193-197

Jackson AL, Chen RU, Lawrence LA (1998) Induction of

Microsatellite instability by oxidative DNA damage Proc National Academy Sci Uni States America, 95 (21):

12468-12473

Jain SM (1998) Plant biotechnology and mutagenesis for

sustainable crop improvement Crop Improvement for Stress Tolerance (Eds Behl et al.) CCSHAU, New Delhi,

India: 218-232

Larkin PJ, Scowcroft WR (1981) Somaclonal variation – a novel source of variability from cell cultures for plant

improvement Theor Appl Genet, 60: 197-214

Leroy XJ, Leon K, Hily JM, Chaumeil P, Branchard M

(2001) Detection of in vitro culture induced instability through inter-simple sequence repeat analysis Theo App Gen, 102(6-7): 885-891

Li S, Li J, Yang XL, Cheng Z, Zhang WJ (2011) Genetic

diversity and differentiation of cultivated ginseng (Panax ginseng C A Meyer) populations in North-east China

revealed by inter-simple sequence repeat (ISSR) markers

Genet Resour Crop Evol, 58: 815-824

Martins M, Sarmento D, Oliveira MM (2004) Genetic stability of micropropagated almond plantlets as assessed by

RAPD and ISSR markers Plant Cell Rep, 23(7): 492-496

Mizukami H, Ohbayashi K, Umetsu K, Hiraoka N (1993) Restriction fragment length polymorphisms of medicinal

plants and crude drugs II Analysis of Glehnia littoralis of different geographical origin Biol Pharm Bull, 16:

611-612

Modgil M, Mahajan K, Chakrabarti SK, Sharma DR, Sobti

RC (2005) Molecular analysis of genetic stability in

micropropagated apple rootstock MM106 Sci Hort,

104(2): 151-160

Moghaieb REA, Abdel-Hadi AA, Ahmed MRA, Hassan AGM (2010) Genetic diversity and sex determination in

date palms (Phoenix dactylifera L.) based on DNA markers Arab J Biotechnol, 13(2): 143-156

Nakai R, Shoyama Y, Shiraishi S (1996) Genetic

characterization of Epimedium species using random

amplified polymorhic DNA (RAPD) and PCR-restriction

fragment length polymorphism (RFLP) diagnosis Biol Pharm Bull, 19(1): 67-70

Nguyễn Mạnh Hoa, Bùi Thị Thu Hương, Hồ Mạnh Tường,

Lê Văn Sơn (2014) Đánh giá đa dạng di truyền một số

Ngày đăng: 14/03/2022, 22:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w