1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tài liệu Nâng cao các kỹ năng về di truyền, sinh sản và lai tạo giống bò thịt nhiệt đới- chương 23 pptx

8 178 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chẩn đoán có thai và xác định tuổi thai bò
Tác giả B.M. Burns, R.G. Holtroyd, J.D. Bertram
Thể loại Bài thuyết trình
Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 175,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này là do sự chính xác và tốc độ nhanh của sờ khám qua trực tràng đối với tất cả các giai đoạn có chửa khoảng 6 tuần tuổi.. Các bước được tiến hành, và những dấu hiệu đặc biệt của s

Trang 1

Chẩn đoán có thai và xác định tuổi thai bò

B.M Burns, R.G Holtroyd, J.D Bertram

Giới thiệu

Chẩn đoán có thai cung cấp một công cụ hữu

ích trong quản lý các hệ thống chăn nuôi bò

thịt Trong chương này, những lợi ích của kỹ

thuật này đối với các nhà chăn nuôi bò vùng

Bắc Australia cũng như việc đưa ra sự đánh giá

các giai đoạn khác nhau của quá trình có chửa

ở bò thịt sẽ được thảo luận ngắn gọn

Không bao giờ được đánh giá thấp tầm quan

trọng của việc xác định tuổi thai Tỷ lệ có chửa

của lần phối giống đầu tiên, liên quan với tuổi

của con giống và lượng mưa, hình thành nên

một cơ sở cần thiết để giải thích các kết quả

Lập các chương trình một cách hợp lý để tác

động đến tỷ lệ sinh sản chỉ có thể thực hiện

được với những ghi chép đầy đủ

Những lợi ích có thể đạt được từ việc chẩn

đoán có chửa hiệu quả bao gồm:

1 Lựa chọn những bò giống không có chửa

để loại thải, thay vì loại thải vì tuổi

2 Phát hiện và đánh giá những những yếu tố

ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của đàn

3 Đưa ra các biện pháp nhằm giảm nhẹ ảnh

hưởng của hạn hán đối với bò giống

4 Hình thành các nhóm bò theo giai đoạn

mang thai, hoặc là theo mục đích bán, hay

chỉ đơn giản là để quản lý

5 Lựa chọn một cách có hiệu quả để điều trị

khi có bệnh chậm sinh

6 Tránh phối giống những con bò có biểu

hiện động dục trong lúc có chửa

7 Mua bán hợp lý, ví dụ, bán những con

giống bị loại thải, và bán lại những con bò

không có chửa ngay lập tức

8 Lựa chọn những con cái cho mục đích thí

nghiệm khi mà tình trạng, và/hay giai đoạn

có chửa có thể ảnh hưởng đến kết quả

9 Nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến

sinh sản

Kiểm tra bò bằng sờ khám qua trực tràng được

chấp nhận rộng rãi vì là phương pháp thực tế

đáng tin tưởng nhất để phát hiện có chửa, và

ước lượng tuổi của thai khi không có số liệu

phối giống Điều này là do sự chính xác và tốc

độ nhanh của sờ khám qua trực tràng đối với

tất cả các giai đoạn có chửa khoảng 6 tuần tuổi

Mức độ dễ mà theo đó chẩn đoán có thể thực hiện được ở mỗi cá thể gia súc đầu tiên phụ thuộc vào các yếu tố:

1 Giai đoạn có chửa

2 Sự kháng cự của gia súc (nhu động)

3 Sự kháng cự của gia súc phụ thuộc vào tính khí và phương pháp cố định gia súc

4 Số lứa đẻ của gia súc

Mỗi một yếu tố, đặc biệt là sự kháng cự của gia súc, ảnh hưởng đến tốc độ kiểm tra số lượng lớn bò Những yếu tố bổ xung quan trọng hơn bao gồm:

1 Thiết kế và xây dựng gióng giá và sân kiểm tra

2 Nhân công sẵn có để lùa gia súc và để làm những công việc tại chỗ kiểm tra bò

3 Tỷ lệ có chửa của đàn

4 Sự có mặt, và tỷ lệ đàn hồi phục tử cung sau khi đẻ hay sẩy thai, và

5 Sự thống nhất của người kiểm tra có kinh nghiệm khi kiểm tra một số lượng lớn gia súc

Các bước được tiến hành, và những dấu hiệu

đặc biệt của sự có chửa để phát hiện việc có chửa, và việc xác định tuổi của thai, rất dao

động giữa các cá thể Vì hầu hết những dao

động này phụ thuộc vào giai đoạn có chửa, nên xác định có chửa ở giai đoạn đầu thuận lợi hơn

so với việc xác định có chửa ở giai đoạn giữa

và giai đoạn cuối của quá trình có chửa

Những đặc điểm không có chửa

Bốn đặc điểm chính phân biệt tử cung bình thường không có chửa:

1 Không có dịch trong sừng tử cung

2 Cả hai sừng tử cung đều có thành dày

3 Cả hai sừng tử cung đều thuôn nhỏ về phía cuối

4 Cả hai sừng tử cung đều cong nhẹ

Kích thước, sự ổn định và vị trí của tử cung bình thường không có chửa là do sự thành thục

Trang 2

giới tính, lứa đẻ, giống, giai đoạn của chu kỳ

động dục

Kích thước của sừng tử cung từ trước khi thành

thục giới tính đến khi bắt đầu có chửa có

đường kính khoảng 12,7mm và dài khoảng

203mm Tăng kích thước tử cung xuất hiện khi

bắt đầu có chửa đến khi sừng tử cung đạt tới

đường kính 38mm, độ dài 356mm Có những

sự khác biệt nhỏ xuất hiện ở kích thước sừng

tử cung tương ứng

Trương lực cơ tử cung rất nhỏ trong thời kỳ

không động dục và trước khi gia súc thành

thục giới tính Trương lực cơ tử cung dao động

ở những gia súc có chu kỳ Trương lực cơ tăng

là một đặc tính phổ biến của gia súc trong lúc

động dục, trong khi đó trương lực cơ trung

bình ở giữa chu kỳ động dục

Tử cung không có chửa thường nằm trong

xương chậu Khoảng 5% gia súc đẻ nhiều lứa

có tử cung vẫn nằm lại trong xoang bụng sau

khi kết thúc hồi phục sinh lý Phát hiện này có

khuynh hướng xuất hiện phổ biến hơn ở bò

Brahman và các giống lai

Phát hiện có chửa sớm

Những thay đổi sớm nhất có thể sờ khám được

ở tử cung có chửa là:

1 Thành tử cung mỏng hơn

2 Có dịch trong tử cung, và

3 Không sờ thấy sừng tử cung thon về

phía cuối

Những thay đổi này xuất hiện đầu tiên ở

buồng trứng phía cuối sừng tử cung có thai

Khi dịch màng ối tích lũy những thay đổi

tương tự cũng xuất hiện ở sừng tử cung không

có thai trong vòng hai tuần Có ba dấu hiệu

của có chửa ở giai đoạn đầu có thể phát hiện

được ở bò đã đẻ nhiều lứa có thể trạng tốt vào

tuần mang thai thứ sáu Do đường kính của tử

cung nhỏ hơn và thành tử cung mỏng hơn ở bò

hậu bị so với bò cái đã đẻ nhiều lứa có thể

trạng kém, nên những thay đổi này có thể được

phát hiện sớm hơn một tuần

Khi cả 2 sừng tử cung được lấp đầy bởi dịch

màng ối vào lúc 8 tuần tuổi, thì sừng tử cung

cong lên phía trên các mạch máu màng ối Sức

căng của tử cung đã tác động đến thành tử

cung và làm mất độ cong của sừng có thai và

không làm mất độ cong của sừng không có

thai

Sự hiện diện của các núm nhau và sự có mặt của thai là những yếu tố cơ bản để khẳng định

sự có chửa

Núm nhau xuất hiện khi thai 5 tuần tuổi Tuy

nhiên, thường là vào lúc 13 tuần có chửa thì kích thước núm nhau mới đủ to để xác định

được bằng sờ khám qua trực tràng

Nhu động của thai vào lúc 10 tuần tuổi là một

căn cứ để xác định có chửa khi khám thai Trước giai đoạn này, kích thước của thai và các mạch máu màng ối bao quanh làm cho việc xác định thai khó khăn, thậm chí không thể xác định được

Nhịp đập động mạch giữa tử cung, phía sừng

có thai có thể xác định được vào lúc 13 tuần tuổi ở hầu hết bò hậu bị ấn ngón tay lên thành

động mạch có thể xác định được nhịp đập

động mạch Động mạch tử cung là một trong những căn cứ có giá trị để xác định có chửa

Kiểm tra Finscher: sự trượt của màng thai có

thể xác định ở tuần thứ 5, mặc dầu sức căng của thành tử cung đã làm cho khó xác định bằng phương pháp này khi thai ở 8 tuần tuổi Trong khi phương pháp kiểm tra này rất phổ biến ở Mỹ, nhiều người cho rằng phương pháp này không cần thiết, bởi vì phương pháp này

dễ làm bong sự kết dính núm nhau ở giai đoạn

đầu có chửa, phương pháp kiểm tra này nên hạn chế để chẩn đoán phân biệt khi nghi ngờ

có chửa

Có thể sờ khám màng ối khi có chửa 5 tuần

và một số người đã dùng để phát hiện có chửa

và để xác định tuổi thai Vì tim thai có thể dễ xác định hơn, không phải chỉ căn cứ vào mạch máu, màng ối có thể bị bong ra, vì vậy phương pháp kiểm tra mạch máu màng ối không được khuyên dùng

Xác định tuổi thai trong giai đoạn mới có chửa

Tuổi thai có thể đoán chính xác vào tuần thứ 6

đến tuần 13 của thời kỳ có chửa Đặc điểm phát triển của tử cung được sử dụng để đoán tuổi thai được mô tả ở Bảng1

Mức độ dịch trong sừng tử cung là căn cứ để xác định tuổi thai đến 8 tuần tuổi Giữa tuần thứ 8 và 13 thì kích thước tuyệt đối và tương ứng của sừng tử cung được dùng cho xác định tuổi thai

ở một số cá thể, có ít hoặc không có màng nhau phát triển ở sừng không có chửa Trong những trường hợp này, kích thước tuyệt đối

Trang 3

của sừng mang thai tăng lên nhanh hơn bình

thường Sừng tử cung cong lên phía trên và

căng cứng xuất hiện bên sừng có thai, trong

khi đó thành sừng không có thai vẫn dầy và

không có dịch, sự khác nhau này là sự phát

triển bình thường

Khám thai sau khi có chửa 3 tháng

Trọng lượng nước ối sau 3 tháng kéo tử cung

xuống xoang bụng Cổ tử cung bị kéo sát

xuống xoang chậu, trong khi đó trọng lượng

kéo nó xuống đáy xoang chậu ảnh hưởng

của trọng lượng là biểu hiện bằng chứng hiển

nhiên ở giữa hoặc cuối giai đoạn có chửa

Sự chửa phải được khẳng định bằng sờ khám

được thai, núm nhau hoặc động mạch tử

cung

Khám thai phụ thuộc vào kích thước và vị trí

nhưng có thể xác định được tất cả các giai

đoạn Tuy không phải là phổ biến, khó chạm

đến thai nhất là vào tháng thứ 5 và thứ 7, đặc

biệt là từ giữa tháng có chửa thứ 5 đến giữa

tháng thứ 6

Xác định núm nhau không khó Sờ vào phía

trên khối thai sẽ xác định được núm nhau

Động mạch tử cung- ở một số ít trường hợp,

khi mà cả thai và núm nhau đều không sờ

thấy hoặc không chắc chắn, thì xác định

động mạch tử cung là điều cần thiết ở cả 1

hoặc cả 2 động mạch ở giữa tử cung

ở tháng có chửa thứ 3, động mạch phía sừng

tử cung chứa thai có đường kính 3,2mm và

rất mờ nhạt Đường kính động mạch tử cung

gấp đôi và xác định rõ khi thai 4 tháng Động

mạch tử cung tiếp tục phát triển và đường

kính đạt 12.7mm vào lúc thai 8 tháng, lúc

này động mạch tử cung đập mạnh, dễ xác

định

ở sừng tử cung không chứa thai, mạch đập

động mạch tử cung vẫn mờ nhạt khi thai 7

tháng tuổi và có thể xác định rõ khi thai 8

tháng tuổi

Xác định tuổi thai giai đoạn sau

tháng chửa thứ 3

Kích thước thai có thể dùng để đoán tuổi đến

khi 4 tháng Khi đó có thể xác định được sự

cong xuống thấp của tử cung

Xác định tuổi vào giai đoạn giữa và cuối có

chửa chủ yếu dựa vào kích thước núm nhau

Kích thước núm nhau trên chiều dài của tử

cung rất khác nhau vì vậy cần thiết phải lựa chọn vị trí tiêu chuẩn để đánh giá Vì vậy người ta quy định chung là khám các núm nhau ngay phía sát cổ tử cung vì có kết quả thống nhất và thuận tiện trong việc khám thai

Vị trí của thai, mặc dầu đã được nhiều người dùng để xác định tuổi thai, nhiều khi bị nhầm lẫn do sự biến động rất lớn Đặc biệt chú ý khi khám cho bò bị đói ăn, thiếu nước uống trong một thời gian Trong những trường hợp này thì vị trí thai sẽ rất khác so với bò được ăn uống đầy đủ

Kích thước thai cũng cần được bổ xung thêm

để xác định tuổi thai

ở một mức độ hạn chế, quan sát bên ngoài cũng là một công cụ để xác định có chửa ở giai đoạn đầu Sự phát triển của bầu vú và sưng mọng của âm hộ là những căn cứ tốt trước khi bò đẻ Khi có các biểu hiện như vậy ít nhất thì thai cũng trên 8 tháng

Các căn cứ để xác định tuổi thai được tổng kết ở Bảng 2

Chẩn đoán phân biệt Bóng đái

• Bóng đái không có rãnh chia đôi

• Cổ bóng đái ở phía dưới hay song song với cổ tử cung, gắn đối ngược với thân tử cung

• Không có núm nhau

• Không có sự va động khi khám phải bóng đái

• Tiếp tục kiểm tra sẽ xác định được tử cung

Tử cung ở giai đoạn đầu hồi phục

• Không có núm nhau và không xác định

động mạch đập

• Không có sự va động của thai

• Thành tử cung dày

• Cổ tử cung to toàn bộ

• Dịch tử cung và chất thải dễ thấy ở âm

hộ

• Thể trạng cơ thể và sự phát triển bầu vú

là các căn cứ để xác định bò mới đẻ hay sẩy thai

Tử cung ở giai đoạn cuốí hồi phục

• Thành tử cung dày

• Có dịch nhưng thành tử cung không căng

• ít khi có thể vàng trên buồng trứng

Trang 4

• Đôi khi quan sát thấy dịch ở âm hộ

• Kiểm tra Finscher- âm tính

Tích mủ , tích nước và viêm tử cung

• Thành tử cung dày

• Dịch âm hộ biểu hiện viêm tử cung

• Tử cung phía trên không căng lên

• Kiểm tra Finscher- âm tính

Viêm nội mạc tử cung

• Thành sừng tử cung dày mềm về phía

cuối sừng và cong nhẹ

• Không có dịch

• Kiểm tra Finscher’s-âm tính

Viêm cơ tử cung

• Phân biệt với giai đoạn giữa của kỳ chửa

• Tử cung có thành dày

• Không có núm nhau và

• Không thể phát hiện khối thai

• Phân biệt với giai đoạn chửa sớm

• Tử cung có sừng dày

• Sừng tử cung không cong lên phía trên

• Kiểm tả Finscher’s-âm tính

Thai gỗ

• Không có dịch màng ối, núm nhau và

mạch đập tử cung

• Khối thai hoặc là “chắc và nhão” hay

“Cứng như đá”

Buồng trứng

• Phân biệt với núm nhau

• Có hình dáng đẹp, nếu có mặt của thể

vàng

• Cứng đồng đều hơn so với núm nhau

• Có vị trí ở phía bên so với thân tử cung

Các thiết bị gióng giá

Thiết kế và xây dựng gióng giá rất khác nhau

và ảnh hưởng lớn đến sự thuận tiện, tốc độ và

độ an toàn khi kiểm tra

Cổng bên đối với người kiểm tra là tốt nhất

Cổng xoay một mình hay kết hợp với cổng

trượt rất được ưa thích Nên dùng cổng bên

để ngăn cách những bò đang đợi, cổng phải xoay chắc chắn, vừa với một người kiểm tra

Việc cố định gia súc trong lúc kiểm tra nên

hạn chế tối thiểu Giữ bò ở phía đầu thường mất nhiều thời gian, và làm khuấy động cả

đàn Nếu một gia súc phải được cô lập để kiểm tra thì cần phải có dây thừng, dây xích hay thanh gỗ chắn ngang phía sau để tránh bị

đá

ở những nơi mà hai hay ba con bò có thể

được giữ ở trong gióng giá phía trước của lối vào phía bên, thì dây thừng hay thanh gỗ để

đề phòng bò đá là không cần thiết và khó thực hiện Với sự bố trí này, một bò đã được kiểm tra được giữ lại trong róng giá để giữ những con bò tiếp theo trong lúc kiểm tra Khám ở phía sau gióng giá với những bò bình tĩnh có thể cần thiết với với những gióng giá ngắn mà không có lối vào ở bên Phương pháp này loại bỏ việc cần thiết phải vào chuồng gia súc giữa các lần khám vì sự

an toàn của người khám và tốc độ khám Khi phương pháp này là cần thiết, những bò đã

được kiểm tra nên giữ lại đến khi đầy chuồng, và sau đó thả từng con giữa các lần khám

Dây cố định bò thường được buộc từ phía

bên qua phía sau của gióng giá ở những nơi không có cổng trượt Phương pháp này được

áp dụng ở những nơi mà lối vào trượt về phía trước của gióng giá

Dây buộc cố định thường nằm ở một tấm bảng phía sau lối trượt cũng có thể rất hữu ích Nó đảm bảo rằng một con bò sẵn sàng di chuyển về phía trước ngay lập tức để kiểm tra Hơn nữa, dây cố định gia súc sẽ là một chướng ngại đối với con bò đang đợi thứ hai muốn lao về phía trước

Xác định tuổi thai bằng cách quan sát bằng mắt

Xác định tuổi thai bằng cách quan sát bằng mắt thường được xác định bằng kích thước của thai, bằng độ dài của chóp mông, và cũng bằng sự nhận biết về sự phát triển giải phẫu Kích thước và hình dáng của các mạch máu màng ối cũng là những chỉ dẫn hữu ích trong những giai đoạn có chửa sớm

Cho điểm thể trạng khi chẩn đoán có chửa ở

bò tơ và bò cái: nên cho điểm thể trạng bò vì

điểm thể trạng giúp giải thích hiện tượng chửa và giúp đưa ra các quyết định quản lý

Trang 5

Bảng 1

Đăc điểm phát triển bình thường của tử cung bò

giai đoạn 35-90 ngày có chửa

Lượng dịch trong tử cung

Bò sinh sản Bò tơ

Tuần

tuổi

Sừng

có thai

Sừng không thai

Sừng

có thai

Sừng không thai

Kích thước tương ứng của sừng có thai

Các đặc điểm bổ xung

51mm-64mm 8,5 Đầy Đầy Đầy Đầy

9

Đầy Đầy Đầy Đầy Lớn hơn sừng không

có thai 50%

10 Đầy Đầy Đầy Đầy Lớn hơn sừng không

có thai 100%

11 Đầy Đầy Đầy Đầy Lớn hơn sừng không

có thai 150%

12 Đầy Đầy Đầy Đầy Lớn hơn sừng không

có thai 200%

Đôi khi có núm nhau

quả bóng con, Kích thước núm nhau như trứng chim

bồ câu (25,4mmx12,7mm);

Đường kính sừng có thai 76-89mm Đôi khi có động mạch tử cung

Trang 6

Bảng 2 đặc điểm phát triển bình thường của tử cung bò

có chửa từ 3-9 tháng

Động mạch tử cung (phía có thai)

Động mạch tử (phía không thai) Tháng

thai

Kích

thước

thai

Vị trí thai Kích thước

núm nhau (gần

cổ tử cung)

Đường kính

Mạch

đập

Đường kính

Mạch

đập

Đặc điểm khác

3 Chuột Ngay dưới

đáy xoang chậu

25,4mmx12,7

mm (bằng kích thước trứng chim

bồ câu)

3,2 mm Yếu 3,2mm Không

Kích thước tử cung-bóng đá nhỏ

4 Mèo

nhỏ

Nửa dưới xoang chậu

38,1mm x 17mm (bằng trứng gà Bantam)

6,4mm Có thể

phân biệt

được

3,2mm Không

Có thể xác

định đường cong dưới của

tử cung

5 Mèo to Thai bắt đầu

vào xoang bụng

49 mmx24,5mm (Bằng trứng

gà mái tơ)

9,5mm Rõ 6,4mm Không

Nếu thai có thể sờ thấy nó thường trượt khỏi tay khi chạm vào

6 Chó

nhỏ

Thai xuống hẳn đáy xoang bụng, khó sờ thấy

49,51mmx3,6 5mm (trứng

gà nhỏ)

12,7m

m

Rất rõ 9,5mm Không

7 Chó

nhỡ

Sờ thấy phía bên phải

50,8mm x 39mm (trứng

gà lớn)

12,7m

m

Rất rõ 9,5mm Yếu

8 Chó

lớn

Hai chân trước hoặc hai chân sau của thai nằm giữa xoang chậu

59mmx 39mm (bằng trứng Vịt)

12,7m

m

Rất mạnh

12,7mm Rõ

9 Bê con Đầu và hai

chân trước hoặc hai chân sau nằm ở xoang chậu

(bằng trứng Vịt)

12,7m

m khúc khuỷ

Rất rõ 12,7mm Rõ

ràng

Bầu vú phát triển

Âm môn phù

Trang 7

Bảng 3 Quan sát thai bò qua các giai đoạn tuổi khác nhau

Tuổi Kích thước thai

(mm)

Đặc điểm giải phẫu

4 tuần 12,7mm Hình thành túi ối có đường kính 19,1mm

5 tuần 15,2 mm Túi ối có đường kính 31,75m

6 tuần 31,8mm Túi ối hình ôvan 50,8mmx38,1mm

7 tuần 44,5mm

8 tuần 57,2mm Thai bằng con chuột

9 tuần 76,2mm Mắt nhắm, túi ối ovan kích thước 101,6mm

11 tuần 114,6mm

12 tuần 139,7mm

3 tháng 156,2mm Thai bằng con chuột

3 1/2 tháng 190,5mm Xuất hiện mầm sừng ở những giống có sừng

4 tháng 266,7mm Thai bằng con mèo nhỏ

5 tháng 406,4mm Lông xúc giác xuất hiện, thai bằng con mèo lớn

6 tháng 558,8mm Túm lông ở đuôi và xung quanh sừn mọc,

thai bằng chó nhỏ

7 tháng 685,8mm Lông tơ phủ đầy cơ thể, thai bằng chó nhỡ

8 tháng 812,8mm Mọc đủ lông, thai bằng chó lớn

9 tháng 912,8mm Răng cửa nhú lên

Trang 8

Phần bổ sung

Giám định thể trạng

Hệ thống cho điểm thể trạng sau đây dựa

trên thang điểm và đã được sửa đổi từ thang

điểm của hệ thống đánh giá năng suất bò thịt

quốc gia

Điểm Thể trạng

1 Còm

Cho điểm thể trạng là một việc đánh giá chủ

quan dựa trên việc xác định bằng mắt đối với

con vật Thể trạng được xác định theo lượng

mỡ và mô cơ bao phủ bộ xương

Sau đây là những nét chính liên quan đến

thang thể trạng

9 Quá béo Con vật có rất nhiều mỡ

bao phủ cơ thể đến mức các súc mỡ

có thể dễ dàng phát hiện ở các vùng

hông, xương ống, gốc đuôi và sườn

8 Béo Con vật được phủ khá nhiều cơ

và mỡ nhưng không tới mức tích mỡ

như trên

7 Đâỳ đặn Khung xương được phủ đều

bởi cơ và mỡ nhưng không có dấu hiệu tích mỡ Con vật có ngoại hình

đầy đặn

6 Hơi béo Khung xương có một lớp cơ

phủ với ít mỡ, xương sống không thấy rõ và không thấy xương sườn, Tuy nhiên, có thể nhìn thấy xương hông

5 Vừa phải Bộ khung chỉ được phủ vừa

phải bởi cơ Có thể nhận thấy xương sống lưng; có thể thấy những xương sườn phía sau với ranh giới giữa các xương sườn Xương hông và bả vai có thể nhìn thấy rõ

4 Hơi gầy Có một lớp mô mỏng phủ

lên bộ xương; xương sống lưng cũng như xương sườn, xương hông và bả vai đều nhìn thấy rõ

3 Gầy Bộ xương được bao bọc bởi rất

ít cơ và toàn bộ khung xương có thể nhìn thấy rõ

2 Rất gầy Bộ xương có thể phân biệt

rất rõ Bò đang tiết sữa có thể chết ở thể trạng này

1 Còm Con vật có rất ít cơ Mắt trũng

và con vật có ngoại hình phờ phạc

ốm yếu Dễ bị chết

Ngày đăng: 26/01/2014, 09:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3   Quan sát thai bò qua các giai đoạn tuổi khác nhau - Tài liệu Nâng cao các kỹ năng về di truyền, sinh sản và lai tạo giống bò thịt nhiệt đới- chương 23 pptx
Bảng 3 Quan sát thai bò qua các giai đoạn tuổi khác nhau (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm