Điều này là do sự chính xác và tốc độ nhanh của sờ khám qua trực tràng đối với tất cả các giai đoạn có chửa khoảng 6 tuần tuổi.. Các bước được tiến hành, và những dấu hiệu đặc biệt của s
Trang 1Chẩn đoán có thai và xác định tuổi thai bò
B.M Burns, R.G Holtroyd, J.D Bertram
Giới thiệu
Chẩn đoán có thai cung cấp một công cụ hữu
ích trong quản lý các hệ thống chăn nuôi bò
thịt Trong chương này, những lợi ích của kỹ
thuật này đối với các nhà chăn nuôi bò vùng
Bắc Australia cũng như việc đưa ra sự đánh giá
các giai đoạn khác nhau của quá trình có chửa
ở bò thịt sẽ được thảo luận ngắn gọn
Không bao giờ được đánh giá thấp tầm quan
trọng của việc xác định tuổi thai Tỷ lệ có chửa
của lần phối giống đầu tiên, liên quan với tuổi
của con giống và lượng mưa, hình thành nên
một cơ sở cần thiết để giải thích các kết quả
Lập các chương trình một cách hợp lý để tác
động đến tỷ lệ sinh sản chỉ có thể thực hiện
được với những ghi chép đầy đủ
Những lợi ích có thể đạt được từ việc chẩn
đoán có chửa hiệu quả bao gồm:
1 Lựa chọn những bò giống không có chửa
để loại thải, thay vì loại thải vì tuổi
2 Phát hiện và đánh giá những những yếu tố
ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của đàn
3 Đưa ra các biện pháp nhằm giảm nhẹ ảnh
hưởng của hạn hán đối với bò giống
4 Hình thành các nhóm bò theo giai đoạn
mang thai, hoặc là theo mục đích bán, hay
chỉ đơn giản là để quản lý
5 Lựa chọn một cách có hiệu quả để điều trị
khi có bệnh chậm sinh
6 Tránh phối giống những con bò có biểu
hiện động dục trong lúc có chửa
7 Mua bán hợp lý, ví dụ, bán những con
giống bị loại thải, và bán lại những con bò
không có chửa ngay lập tức
8 Lựa chọn những con cái cho mục đích thí
nghiệm khi mà tình trạng, và/hay giai đoạn
có chửa có thể ảnh hưởng đến kết quả
9 Nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến
sinh sản
Kiểm tra bò bằng sờ khám qua trực tràng được
chấp nhận rộng rãi vì là phương pháp thực tế
đáng tin tưởng nhất để phát hiện có chửa, và
ước lượng tuổi của thai khi không có số liệu
phối giống Điều này là do sự chính xác và tốc
độ nhanh của sờ khám qua trực tràng đối với
tất cả các giai đoạn có chửa khoảng 6 tuần tuổi
Mức độ dễ mà theo đó chẩn đoán có thể thực hiện được ở mỗi cá thể gia súc đầu tiên phụ thuộc vào các yếu tố:
1 Giai đoạn có chửa
2 Sự kháng cự của gia súc (nhu động)
3 Sự kháng cự của gia súc phụ thuộc vào tính khí và phương pháp cố định gia súc
4 Số lứa đẻ của gia súc
Mỗi một yếu tố, đặc biệt là sự kháng cự của gia súc, ảnh hưởng đến tốc độ kiểm tra số lượng lớn bò Những yếu tố bổ xung quan trọng hơn bao gồm:
1 Thiết kế và xây dựng gióng giá và sân kiểm tra
2 Nhân công sẵn có để lùa gia súc và để làm những công việc tại chỗ kiểm tra bò
3 Tỷ lệ có chửa của đàn
4 Sự có mặt, và tỷ lệ đàn hồi phục tử cung sau khi đẻ hay sẩy thai, và
5 Sự thống nhất của người kiểm tra có kinh nghiệm khi kiểm tra một số lượng lớn gia súc
Các bước được tiến hành, và những dấu hiệu
đặc biệt của sự có chửa để phát hiện việc có chửa, và việc xác định tuổi của thai, rất dao
động giữa các cá thể Vì hầu hết những dao
động này phụ thuộc vào giai đoạn có chửa, nên xác định có chửa ở giai đoạn đầu thuận lợi hơn
so với việc xác định có chửa ở giai đoạn giữa
và giai đoạn cuối của quá trình có chửa
Những đặc điểm không có chửa
Bốn đặc điểm chính phân biệt tử cung bình thường không có chửa:
1 Không có dịch trong sừng tử cung
2 Cả hai sừng tử cung đều có thành dày
3 Cả hai sừng tử cung đều thuôn nhỏ về phía cuối
4 Cả hai sừng tử cung đều cong nhẹ
Kích thước, sự ổn định và vị trí của tử cung bình thường không có chửa là do sự thành thục
Trang 2giới tính, lứa đẻ, giống, giai đoạn của chu kỳ
động dục
Kích thước của sừng tử cung từ trước khi thành
thục giới tính đến khi bắt đầu có chửa có
đường kính khoảng 12,7mm và dài khoảng
203mm Tăng kích thước tử cung xuất hiện khi
bắt đầu có chửa đến khi sừng tử cung đạt tới
đường kính 38mm, độ dài 356mm Có những
sự khác biệt nhỏ xuất hiện ở kích thước sừng
tử cung tương ứng
Trương lực cơ tử cung rất nhỏ trong thời kỳ
không động dục và trước khi gia súc thành
thục giới tính Trương lực cơ tử cung dao động
ở những gia súc có chu kỳ Trương lực cơ tăng
là một đặc tính phổ biến của gia súc trong lúc
động dục, trong khi đó trương lực cơ trung
bình ở giữa chu kỳ động dục
Tử cung không có chửa thường nằm trong
xương chậu Khoảng 5% gia súc đẻ nhiều lứa
có tử cung vẫn nằm lại trong xoang bụng sau
khi kết thúc hồi phục sinh lý Phát hiện này có
khuynh hướng xuất hiện phổ biến hơn ở bò
Brahman và các giống lai
Phát hiện có chửa sớm
Những thay đổi sớm nhất có thể sờ khám được
ở tử cung có chửa là:
1 Thành tử cung mỏng hơn
2 Có dịch trong tử cung, và
3 Không sờ thấy sừng tử cung thon về
phía cuối
Những thay đổi này xuất hiện đầu tiên ở
buồng trứng phía cuối sừng tử cung có thai
Khi dịch màng ối tích lũy những thay đổi
tương tự cũng xuất hiện ở sừng tử cung không
có thai trong vòng hai tuần Có ba dấu hiệu
của có chửa ở giai đoạn đầu có thể phát hiện
được ở bò đã đẻ nhiều lứa có thể trạng tốt vào
tuần mang thai thứ sáu Do đường kính của tử
cung nhỏ hơn và thành tử cung mỏng hơn ở bò
hậu bị so với bò cái đã đẻ nhiều lứa có thể
trạng kém, nên những thay đổi này có thể được
phát hiện sớm hơn một tuần
Khi cả 2 sừng tử cung được lấp đầy bởi dịch
màng ối vào lúc 8 tuần tuổi, thì sừng tử cung
cong lên phía trên các mạch máu màng ối Sức
căng của tử cung đã tác động đến thành tử
cung và làm mất độ cong của sừng có thai và
không làm mất độ cong của sừng không có
thai
Sự hiện diện của các núm nhau và sự có mặt của thai là những yếu tố cơ bản để khẳng định
sự có chửa
Núm nhau xuất hiện khi thai 5 tuần tuổi Tuy
nhiên, thường là vào lúc 13 tuần có chửa thì kích thước núm nhau mới đủ to để xác định
được bằng sờ khám qua trực tràng
Nhu động của thai vào lúc 10 tuần tuổi là một
căn cứ để xác định có chửa khi khám thai Trước giai đoạn này, kích thước của thai và các mạch máu màng ối bao quanh làm cho việc xác định thai khó khăn, thậm chí không thể xác định được
Nhịp đập động mạch giữa tử cung, phía sừng
có thai có thể xác định được vào lúc 13 tuần tuổi ở hầu hết bò hậu bị ấn ngón tay lên thành
động mạch có thể xác định được nhịp đập
động mạch Động mạch tử cung là một trong những căn cứ có giá trị để xác định có chửa
Kiểm tra Finscher: sự trượt của màng thai có
thể xác định ở tuần thứ 5, mặc dầu sức căng của thành tử cung đã làm cho khó xác định bằng phương pháp này khi thai ở 8 tuần tuổi Trong khi phương pháp kiểm tra này rất phổ biến ở Mỹ, nhiều người cho rằng phương pháp này không cần thiết, bởi vì phương pháp này
dễ làm bong sự kết dính núm nhau ở giai đoạn
đầu có chửa, phương pháp kiểm tra này nên hạn chế để chẩn đoán phân biệt khi nghi ngờ
có chửa
Có thể sờ khám màng ối khi có chửa 5 tuần
và một số người đã dùng để phát hiện có chửa
và để xác định tuổi thai Vì tim thai có thể dễ xác định hơn, không phải chỉ căn cứ vào mạch máu, màng ối có thể bị bong ra, vì vậy phương pháp kiểm tra mạch máu màng ối không được khuyên dùng
Xác định tuổi thai trong giai đoạn mới có chửa
Tuổi thai có thể đoán chính xác vào tuần thứ 6
đến tuần 13 của thời kỳ có chửa Đặc điểm phát triển của tử cung được sử dụng để đoán tuổi thai được mô tả ở Bảng1
Mức độ dịch trong sừng tử cung là căn cứ để xác định tuổi thai đến 8 tuần tuổi Giữa tuần thứ 8 và 13 thì kích thước tuyệt đối và tương ứng của sừng tử cung được dùng cho xác định tuổi thai
ở một số cá thể, có ít hoặc không có màng nhau phát triển ở sừng không có chửa Trong những trường hợp này, kích thước tuyệt đối
Trang 3của sừng mang thai tăng lên nhanh hơn bình
thường Sừng tử cung cong lên phía trên và
căng cứng xuất hiện bên sừng có thai, trong
khi đó thành sừng không có thai vẫn dầy và
không có dịch, sự khác nhau này là sự phát
triển bình thường
Khám thai sau khi có chửa 3 tháng
Trọng lượng nước ối sau 3 tháng kéo tử cung
xuống xoang bụng Cổ tử cung bị kéo sát
xuống xoang chậu, trong khi đó trọng lượng
kéo nó xuống đáy xoang chậu ảnh hưởng
của trọng lượng là biểu hiện bằng chứng hiển
nhiên ở giữa hoặc cuối giai đoạn có chửa
Sự chửa phải được khẳng định bằng sờ khám
được thai, núm nhau hoặc động mạch tử
cung
Khám thai phụ thuộc vào kích thước và vị trí
nhưng có thể xác định được tất cả các giai
đoạn Tuy không phải là phổ biến, khó chạm
đến thai nhất là vào tháng thứ 5 và thứ 7, đặc
biệt là từ giữa tháng có chửa thứ 5 đến giữa
tháng thứ 6
Xác định núm nhau không khó Sờ vào phía
trên khối thai sẽ xác định được núm nhau
Động mạch tử cung- ở một số ít trường hợp,
khi mà cả thai và núm nhau đều không sờ
thấy hoặc không chắc chắn, thì xác định
động mạch tử cung là điều cần thiết ở cả 1
hoặc cả 2 động mạch ở giữa tử cung
ở tháng có chửa thứ 3, động mạch phía sừng
tử cung chứa thai có đường kính 3,2mm và
rất mờ nhạt Đường kính động mạch tử cung
gấp đôi và xác định rõ khi thai 4 tháng Động
mạch tử cung tiếp tục phát triển và đường
kính đạt 12.7mm vào lúc thai 8 tháng, lúc
này động mạch tử cung đập mạnh, dễ xác
định
ở sừng tử cung không chứa thai, mạch đập
động mạch tử cung vẫn mờ nhạt khi thai 7
tháng tuổi và có thể xác định rõ khi thai 8
tháng tuổi
Xác định tuổi thai giai đoạn sau
tháng chửa thứ 3
Kích thước thai có thể dùng để đoán tuổi đến
khi 4 tháng Khi đó có thể xác định được sự
cong xuống thấp của tử cung
Xác định tuổi vào giai đoạn giữa và cuối có
chửa chủ yếu dựa vào kích thước núm nhau
Kích thước núm nhau trên chiều dài của tử
cung rất khác nhau vì vậy cần thiết phải lựa chọn vị trí tiêu chuẩn để đánh giá Vì vậy người ta quy định chung là khám các núm nhau ngay phía sát cổ tử cung vì có kết quả thống nhất và thuận tiện trong việc khám thai
Vị trí của thai, mặc dầu đã được nhiều người dùng để xác định tuổi thai, nhiều khi bị nhầm lẫn do sự biến động rất lớn Đặc biệt chú ý khi khám cho bò bị đói ăn, thiếu nước uống trong một thời gian Trong những trường hợp này thì vị trí thai sẽ rất khác so với bò được ăn uống đầy đủ
Kích thước thai cũng cần được bổ xung thêm
để xác định tuổi thai
ở một mức độ hạn chế, quan sát bên ngoài cũng là một công cụ để xác định có chửa ở giai đoạn đầu Sự phát triển của bầu vú và sưng mọng của âm hộ là những căn cứ tốt trước khi bò đẻ Khi có các biểu hiện như vậy ít nhất thì thai cũng trên 8 tháng
Các căn cứ để xác định tuổi thai được tổng kết ở Bảng 2
Chẩn đoán phân biệt Bóng đái
• Bóng đái không có rãnh chia đôi
• Cổ bóng đái ở phía dưới hay song song với cổ tử cung, gắn đối ngược với thân tử cung
• Không có núm nhau
• Không có sự va động khi khám phải bóng đái
• Tiếp tục kiểm tra sẽ xác định được tử cung
Tử cung ở giai đoạn đầu hồi phục
• Không có núm nhau và không xác định
động mạch đập
• Không có sự va động của thai
• Thành tử cung dày
• Cổ tử cung to toàn bộ
• Dịch tử cung và chất thải dễ thấy ở âm
hộ
• Thể trạng cơ thể và sự phát triển bầu vú
là các căn cứ để xác định bò mới đẻ hay sẩy thai
Tử cung ở giai đoạn cuốí hồi phục
• Thành tử cung dày
• Có dịch nhưng thành tử cung không căng
• ít khi có thể vàng trên buồng trứng
Trang 4• Đôi khi quan sát thấy dịch ở âm hộ
• Kiểm tra Finscher- âm tính
Tích mủ , tích nước và viêm tử cung
• Thành tử cung dày
• Dịch âm hộ biểu hiện viêm tử cung
• Tử cung phía trên không căng lên
• Kiểm tra Finscher- âm tính
Viêm nội mạc tử cung
• Thành sừng tử cung dày mềm về phía
cuối sừng và cong nhẹ
• Không có dịch
• Kiểm tra Finscher’s-âm tính
Viêm cơ tử cung
• Phân biệt với giai đoạn giữa của kỳ chửa
• Tử cung có thành dày
• Không có núm nhau và
• Không thể phát hiện khối thai
• Phân biệt với giai đoạn chửa sớm
• Tử cung có sừng dày
• Sừng tử cung không cong lên phía trên
• Kiểm tả Finscher’s-âm tính
Thai gỗ
• Không có dịch màng ối, núm nhau và
mạch đập tử cung
• Khối thai hoặc là “chắc và nhão” hay
“Cứng như đá”
Buồng trứng
• Phân biệt với núm nhau
• Có hình dáng đẹp, nếu có mặt của thể
vàng
• Cứng đồng đều hơn so với núm nhau
• Có vị trí ở phía bên so với thân tử cung
Các thiết bị gióng giá
Thiết kế và xây dựng gióng giá rất khác nhau
và ảnh hưởng lớn đến sự thuận tiện, tốc độ và
độ an toàn khi kiểm tra
Cổng bên đối với người kiểm tra là tốt nhất
Cổng xoay một mình hay kết hợp với cổng
trượt rất được ưa thích Nên dùng cổng bên
để ngăn cách những bò đang đợi, cổng phải xoay chắc chắn, vừa với một người kiểm tra
Việc cố định gia súc trong lúc kiểm tra nên
hạn chế tối thiểu Giữ bò ở phía đầu thường mất nhiều thời gian, và làm khuấy động cả
đàn Nếu một gia súc phải được cô lập để kiểm tra thì cần phải có dây thừng, dây xích hay thanh gỗ chắn ngang phía sau để tránh bị
đá
ở những nơi mà hai hay ba con bò có thể
được giữ ở trong gióng giá phía trước của lối vào phía bên, thì dây thừng hay thanh gỗ để
đề phòng bò đá là không cần thiết và khó thực hiện Với sự bố trí này, một bò đã được kiểm tra được giữ lại trong róng giá để giữ những con bò tiếp theo trong lúc kiểm tra Khám ở phía sau gióng giá với những bò bình tĩnh có thể cần thiết với với những gióng giá ngắn mà không có lối vào ở bên Phương pháp này loại bỏ việc cần thiết phải vào chuồng gia súc giữa các lần khám vì sự
an toàn của người khám và tốc độ khám Khi phương pháp này là cần thiết, những bò đã
được kiểm tra nên giữ lại đến khi đầy chuồng, và sau đó thả từng con giữa các lần khám
Dây cố định bò thường được buộc từ phía
bên qua phía sau của gióng giá ở những nơi không có cổng trượt Phương pháp này được
áp dụng ở những nơi mà lối vào trượt về phía trước của gióng giá
Dây buộc cố định thường nằm ở một tấm bảng phía sau lối trượt cũng có thể rất hữu ích Nó đảm bảo rằng một con bò sẵn sàng di chuyển về phía trước ngay lập tức để kiểm tra Hơn nữa, dây cố định gia súc sẽ là một chướng ngại đối với con bò đang đợi thứ hai muốn lao về phía trước
Xác định tuổi thai bằng cách quan sát bằng mắt
Xác định tuổi thai bằng cách quan sát bằng mắt thường được xác định bằng kích thước của thai, bằng độ dài của chóp mông, và cũng bằng sự nhận biết về sự phát triển giải phẫu Kích thước và hình dáng của các mạch máu màng ối cũng là những chỉ dẫn hữu ích trong những giai đoạn có chửa sớm
Cho điểm thể trạng khi chẩn đoán có chửa ở
bò tơ và bò cái: nên cho điểm thể trạng bò vì
điểm thể trạng giúp giải thích hiện tượng chửa và giúp đưa ra các quyết định quản lý
Trang 5Bảng 1
Đăc điểm phát triển bình thường của tử cung bò
giai đoạn 35-90 ngày có chửa
Lượng dịch trong tử cung
Bò sinh sản Bò tơ
Tuần
tuổi
Sừng
có thai
Sừng không thai
Sừng
có thai
Sừng không thai
Kích thước tương ứng của sừng có thai
Các đặc điểm bổ xung
51mm-64mm 8,5 Đầy Đầy Đầy Đầy
9
Đầy Đầy Đầy Đầy Lớn hơn sừng không
có thai 50%
10 Đầy Đầy Đầy Đầy Lớn hơn sừng không
có thai 100%
11 Đầy Đầy Đầy Đầy Lớn hơn sừng không
có thai 150%
12 Đầy Đầy Đầy Đầy Lớn hơn sừng không
có thai 200%
Đôi khi có núm nhau
quả bóng con, Kích thước núm nhau như trứng chim
bồ câu (25,4mmx12,7mm);
Đường kính sừng có thai 76-89mm Đôi khi có động mạch tử cung
Trang 6Bảng 2 đặc điểm phát triển bình thường của tử cung bò
có chửa từ 3-9 tháng
Động mạch tử cung (phía có thai)
Động mạch tử (phía không thai) Tháng
có
thai
Kích
thước
thai
Vị trí thai Kích thước
núm nhau (gần
cổ tử cung)
Đường kính
Mạch
đập
Đường kính
Mạch
đập
Đặc điểm khác
3 Chuột Ngay dưới
đáy xoang chậu
25,4mmx12,7
mm (bằng kích thước trứng chim
bồ câu)
3,2 mm Yếu 3,2mm Không
có
Kích thước tử cung-bóng đá nhỏ
4 Mèo
nhỏ
Nửa dưới xoang chậu
38,1mm x 17mm (bằng trứng gà Bantam)
6,4mm Có thể
phân biệt
được
3,2mm Không
có
Có thể xác
định đường cong dưới của
tử cung
5 Mèo to Thai bắt đầu
vào xoang bụng
49 mmx24,5mm (Bằng trứng
gà mái tơ)
9,5mm Rõ 6,4mm Không
có
Nếu thai có thể sờ thấy nó thường trượt khỏi tay khi chạm vào
6 Chó
nhỏ
Thai xuống hẳn đáy xoang bụng, khó sờ thấy
49,51mmx3,6 5mm (trứng
gà nhỏ)
12,7m
m
Rất rõ 9,5mm Không
có
7 Chó
nhỡ
Sờ thấy phía bên phải
50,8mm x 39mm (trứng
gà lớn)
12,7m
m
Rất rõ 9,5mm Yếu
8 Chó
lớn
Hai chân trước hoặc hai chân sau của thai nằm giữa xoang chậu
59mmx 39mm (bằng trứng Vịt)
12,7m
m
Rất mạnh
12,7mm Rõ
9 Bê con Đầu và hai
chân trước hoặc hai chân sau nằm ở xoang chậu
(bằng trứng Vịt)
12,7m
m khúc khuỷ
Rất rõ 12,7mm Rõ
ràng
Bầu vú phát triển
Âm môn phù
Trang 7Bảng 3 Quan sát thai bò qua các giai đoạn tuổi khác nhau
Tuổi Kích thước thai
(mm)
Đặc điểm giải phẫu
4 tuần 12,7mm Hình thành túi ối có đường kính 19,1mm
5 tuần 15,2 mm Túi ối có đường kính 31,75m
6 tuần 31,8mm Túi ối hình ôvan 50,8mmx38,1mm
7 tuần 44,5mm
8 tuần 57,2mm Thai bằng con chuột
9 tuần 76,2mm Mắt nhắm, túi ối ovan kích thước 101,6mm
11 tuần 114,6mm
12 tuần 139,7mm
3 tháng 156,2mm Thai bằng con chuột
3 1/2 tháng 190,5mm Xuất hiện mầm sừng ở những giống có sừng
4 tháng 266,7mm Thai bằng con mèo nhỏ
5 tháng 406,4mm Lông xúc giác xuất hiện, thai bằng con mèo lớn
6 tháng 558,8mm Túm lông ở đuôi và xung quanh sừn mọc,
thai bằng chó nhỏ
7 tháng 685,8mm Lông tơ phủ đầy cơ thể, thai bằng chó nhỡ
8 tháng 812,8mm Mọc đủ lông, thai bằng chó lớn
9 tháng 912,8mm Răng cửa nhú lên
Trang 8Phần bổ sung
Giám định thể trạng
Hệ thống cho điểm thể trạng sau đây dựa
trên thang điểm và đã được sửa đổi từ thang
điểm của hệ thống đánh giá năng suất bò thịt
quốc gia
Điểm Thể trạng
1 Còm
Cho điểm thể trạng là một việc đánh giá chủ
quan dựa trên việc xác định bằng mắt đối với
con vật Thể trạng được xác định theo lượng
mỡ và mô cơ bao phủ bộ xương
Sau đây là những nét chính liên quan đến
thang thể trạng
9 Quá béo Con vật có rất nhiều mỡ
bao phủ cơ thể đến mức các súc mỡ
có thể dễ dàng phát hiện ở các vùng
hông, xương ống, gốc đuôi và sườn
8 Béo Con vật được phủ khá nhiều cơ
và mỡ nhưng không tới mức tích mỡ
như trên
7 Đâỳ đặn Khung xương được phủ đều
bởi cơ và mỡ nhưng không có dấu hiệu tích mỡ Con vật có ngoại hình
đầy đặn
6 Hơi béo Khung xương có một lớp cơ
phủ với ít mỡ, xương sống không thấy rõ và không thấy xương sườn, Tuy nhiên, có thể nhìn thấy xương hông
5 Vừa phải Bộ khung chỉ được phủ vừa
phải bởi cơ Có thể nhận thấy xương sống lưng; có thể thấy những xương sườn phía sau với ranh giới giữa các xương sườn Xương hông và bả vai có thể nhìn thấy rõ
4 Hơi gầy Có một lớp mô mỏng phủ
lên bộ xương; xương sống lưng cũng như xương sườn, xương hông và bả vai đều nhìn thấy rõ
3 Gầy Bộ xương được bao bọc bởi rất
ít cơ và toàn bộ khung xương có thể nhìn thấy rõ
2 Rất gầy Bộ xương có thể phân biệt
rất rõ Bò đang tiết sữa có thể chết ở thể trạng này
1 Còm Con vật có rất ít cơ Mắt trũng
và con vật có ngoại hình phờ phạc
ốm yếu Dễ bị chết