Bertram Giới thiệu Trong một chương trước, chúng tôi đã nói rằng khả năng sinh sản của bò cái thịt ở vùng nhiệt đới và không nhiệt đới trên thế giới được đặc trưng bởi sự khác nhau rõ r
Trang 1Quản lý sinh sản bò cái thịt ở vùng nhiệt
đới australia
B.M Burns, R.G Holroyd, J.D Bertram
Giới thiệu
Trong một chương trước, chúng tôi đã nói rằng
khả năng sinh sản của bò cái thịt ở vùng nhiệt
đới và không nhiệt đới trên thế giới được đặc
trưng bởi sự khác nhau rõ rệt về nhiệt độ môi
trường, độ ẩm, lượng mưa, độ mầu mỡ của đất,
thảm thực vật, tình trạng ký sinh và bệnh tật giữa
những môi trường này Những hạn chế này đối
với sức sinh sản bò cái thịt trong những môi
trường nhiệt đới có thể có ảnh hưởng sâu sắc lên
năng suất và sự sống còn của toàn bộ cơ sở sản
xuất
Chúng tôi cũng đã nói rằng trong ngành chăn
nuôi bò thịt ở Australia, khả năng sinh sản của
đàn bò thịt phụ thuộc vào tỷ lệ sống sót, tỷ lệ
sinh sản tốc độ sinh trưởng và chất lượng của
thân thịt Đây là những mục đích ban đầu và các
chương trình chọn giống cần dựa vào hoặc để
chọn lọc trực tiếp những tính trạng này hoặc
chọn lọc những tính trạng có tương quan di
truyền
Phần lớn vùng nhiệt đới Australian nằm ở vùng
nhiệt đới khô, trong khi những vùng nhiệt đới
ẩm ướt chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ của vùng sản
xuất bò thịt nhiệt đới này Trong vùng nhiệt đới
này chăn nuôi bò thịt được đặc trưng bởi các cơ
sở chăn nuôi lớn, mật độ chăn thả thấp, chi phí
quản lý thấp và sức sản xuất thấp Những chi phí
chăn nuôi tăng liên tục và giá bò lại giảm, có
nghĩa là những chiến lược quản lý vùng phải
được phát triển để tăng sức sản xuất, duy trì lợi
nhuận và tính bền vững của những cơ sở kinh
doanh Vì vậy, để có lợi nhuận tối đa "những hệ
thống quản lý chăn nuôi bò thịt theo vùng cải
tiến" này phải tập trung vào đạt được mức cân
bằng giữa chất lượng, số lượng của sản phẩm
cuối cùng và chi phí cho sản xuất, đó là cân
bằng của chi phí và giá cả Cân bằng giữa tỷ lệ
sinh sản và tỷ lệ chết phản ánh "số lượng", trong
khi giá trị thế hệ con được sinh ra và số những
con bò cái giống có thể bán từ cơ sở kinh doanh
giống phản ánh thành phần "chất lượng"
Trong chương này chúng tôi tập trung đến những
khía cạnh khác nhau của bò cái, hoặc người chăn
nuôi, sức sản xuất và khả năng sinh sản ở những
giống bò thịt thích nghi với vùng nhiệt đới miền
bắc Australia, thảo luận những chiến lược quản
lý khác nhau có thể làm cho hiệu quả sinh sản
đạt mức tối đa Những nội dung này sẽ được trình bày dưới dạng tóm tắt
Khả năng sinh sản
• Quá trình sinh sản bao gồm:
- Thụ thai
- Chửa
- Sinh con
- Nuôi bê đến khi cai sữa
• Cho dù bò có thai, nhưng nếu không duy trì
được sự phát triển của bào thai hoặc bê con ở giai đoạn sau đó là dấu hiệu về khả năng sinh sản thấp
• Định nghĩa tốt nhất về khả năng sinh sản là:
Tỷ lệ cai sữa = số bê được cai sữa
Số bò cái được phối giống
• Mục tiêu của sản xuất bê con đối với những giống bò thích nghi ở vùng nhiệt đới Bắc Australia là:
ở những nơi có lượng mưa trung bình đến lượng mưa cao: 80 bê được cai sữa/100 bò cái được phối giống
ở nơi nhiệt đới khô: 70 bê được cai sữa/100 bò cái được phối giống
• Các loại bò cái thường mất bê con bao gồm:
- Những bò cái tơ đẻ lần đầu (có con bê đầu tiên) sống ở những vùng nghèo dinh dưỡng
- Những con bò cái tơ đang nuôi con bê đầu tiên của chúng
- Những con bò cái trưởng thành đang tiết sữa không được chăm sóc phù hợp
Quản lý giao phối (Xem Hình 1)
- Mục tiêu chính là sắp xếp thời gian phối giống để cho nhu cầu về thức ăn (thay đổi lớn trong giai đoạn có mang thai và tiết sữa) phù hợp với nguồn thức ăn sẵn có
- ở những vùng nhiệt đới nhằm để tránh các chu kỳ tiết sữa vào mùa khô
Trang 2- Nhu cầu thức ăn tăng khi bò ở giai đoạn
mang thai cuối và sau đó là khi tiết sữa
- Bò bắt đầu sinh đẻ tốt nhất là vào gần cuối
mùa khô, và cai sữa vào cuối mùa cỏ sinh
trưởng - nếu như đẻ và tiết sữa vào mùa khô,
đặc biệt là những năm khô hạn, thì chi phí
chăm sóc sẽ cao hơn
- Để tăng tối đa tỷ lệ có thai ở những bò cái
đang tiết sữa nên bắt đầu cho bò đẻ vào cuối
mùa khô
- Bê đẻ càng sớm thì chúng càng lớn vào lúc
cai sữa; nếu bò đẻ quá sớm phí chăm sóc bò
mẹ và bê con tăng lên
- ở vùng nhiệt đới khô, bò được giao phối tối
thiểu trong khoảng 5 tháng
- Giao phối trong khoảng 7 tháng kết hợp với
cai sữa tất cả bê con khi bò đực được chuyển
đi là thích hợp nhất ở hầu hết các đàn
- Đẻ vào độ 2 năm tuổi có thể tăng số bê sinh
ra trong cả đời bò lên 0,5 bê, tuy nhiên:
+ Không nên cho đẻ trong điều kiện không
thuận lợi
+ Nên giao phối trong khoảng thời gian
ngắn, chẳng hạn 3 tháng, để tránh đẻ khó
nếu để đẻ sau mùa ẩm ướt những bò cái 2
năm tuổi sẽ quá béo
Hình 1: Biểu đồ vòng thời gian sinh đẻ và cai sữa liên
quan tới thời gian (mùa) giao phối
Dinh dưỡng ở những vùng nhiệt đới
• Chăn nuôi bò thịt phụ thuộc vào khả năng sinh
sản và tốc độ sinh trưởng
• Quá trình sinh sản là tổng các sự kiện sinh lý
• Bởi vì những điều kiện khí hậu theo mùa, bò phải trải qua những thời kỳ thiếu ăn, đặc biệt
là trước tuổi dậy thì và trong suốt thời kỳ tiết sữa, điều này có thể ảnh hưởng đến đặc tính sinh sản sau này
• Dinh dưỡng không ảnh hưởng như nhau lên mỗi sự kiện này, cho nên có thể điều khiển sinh sản bằng quản lý
• Thiếu dinh dưỡng phản ánh ở khối lượng cơ thể và trạng thái cơ thể – có mối quan hệ gần gũi giữa khối lượng cơ thể hoặc trạng thái cơ thể và khả năng sinh sản ở bò được chăn thả (Xem phụ lục 8 – Điểm thể trạng – một hệ thống có thể sử dụng để kiểm soát tình hình dinh dưỡng và những ảnh hưởng của nó đến khả năng sinh sản
Những ảnh hưởng dinh dưỡng ở vùng nhiệt
đới đến các giai đoạn của chu kỳ sinh sản Tuổi dậy thì
• Xuất hiện khi noãn bao có khả năng phát triển đến giai đoạn thành thục và giải phóng trứng
• Lý tưởng là tuổi dậy thì càng sớm càng tốt – tăng tiềm năng sinh sản trong cuộc đời của con cái
• Khối lượng trung bình ở tuổi dậy thì ở bò
cái tơ Brahman khoảng 280 kg
Phối giống • Thậm chí trong tình trạng tương đối nghèo
dinh dưỡng một số bò cái tơ vẫn thành thục khi thể trọng dưới 200kg và trước 1 năm tuổi
Mưa nhiều
• Ngược lại một số bò cái tơ không đạt tuổi thành thục cho tới khi chúng nặng 400kg
• Tuổi thành thục muộn hơn ở những con bò cái tơ có tốc độ tăng trưởng thấp hơn
Cai sữa
cái tơ cũng cao hơn dưới điều kiện dinh dưỡng nghèo hơn (Mức độ bổ sung thấp ở mùa khô sau cai sữa để tránh giảm khối lượng có thể giảm khối lượng trung bình ở tuổi thành thục xuống sấp xỉ 20kg);
Nhiều
nhất
• Khi những con bò cái tơ thành thục chúng sẽ tiếp tục chu kỳ trừ khi chúng giảm khối lượng qua nhiều (16% khối lượng cơ thể chúng)
• Nếu những con bò cái tơ phải chịu thời kỳ thiếu dinh dưỡng và khối trọng lượng với tốc
Trang 3độ 0,3–0,4kg/ngày, chúng sẽ ngừng chu kỳ
động dục Thậm chí ngay cả khi tình trạng
dinh dưỡng của những con bò cái tơ này được
cải thiện, và chúng tăng trưởng ở tốc độ
0,5kg/ngày thì chúng cũng không bắt đầu chu
kỳ động dục trong khoảng 3 tháng Chế độ
dinh dưỡng này có thể phá vỡ khả năng thụ
thai của chúng và cả khả năng sinh sản về sau
• Bò cái Bos indicus có tuổi thành thục muộn
hơn bò Bos taurus
Động dục trở lại sau khi đẻ
• Bò có thai khoảng 284 ngày (±2 tuần) - bò
cái phải động dục lại trong vòng 2 tháng sau
khi đẻ để sinh sinh được một con bê trong
vòng 365 ngày
• Để trở lại chu kỳ sau khi đẻ, phải có quần
thể nang trứng phát triển khoẻ mạnh làm cho
bò có khả năng nuôi dưỡng những nang tới
trưởng thành hoàn toàn
• Dinh dưỡng tốt đòi hỏi phải cả ở trước và
sau khi sinh, bò phải có trạng thái cơ thể tốt
hoặc tối thiểu duy trì được khối lượng cơ thể
để nang phát triển trong buồng trứng tiếp tục –
một bò cái có thể có động dục tiếp sau trong
vòng 3-4 tuần sau khi đẻ
• Dinh dưỡng kém, đặc biệt là trước khi sinh,
làm cho sự phát triển của nang trứng bị chậm
lại, hoặc thậm chí dừng hẳn vào thời gian sinh
đẻ Điều này điển hình ở bò sinh đẻ sau mùa
khô ở vùng nhiệt đới điểm thể trạng đã giảm
• Thức ăn chất lượng tốt phải được cung cấp
tối thiểu 50 ngày trước sinh, để phục hồi lại
chức năng buồng trứng và cho bò có cơ hội thụ
thai sớm trong chu kỳ tiết sữa
• Trì hoãn cải tiến dinh dưỡng cho tới sau khi
sinh, đặc biệt là ở con bò cái tơ lần đầu tiên
sinh đẻ, có thể làm chậm sự phát triển nang
trứng và chậm động dục trở lại
• Nghèo dinh dưỡng và nếu bò đang cho bú,
buồng trứng chỉ có một chút cơ hội giải phóng
trứng
• Bò đang tiết sữa + trạng thái cơ thể hợp lý +
thức ăn tốt thường sẽ khắc phục ảnh hưởng của
việc cho bê bú và chu kì sẽ được bắt đầu trở
lại
• Tập chung chính của quản lý dinh dưỡng
cho tỷ lệ có thai cao là đảm bảo thức ăn đầy đủ
để duy trì trạng thái cơ thể trong ít nhất 2 tháng trước khi sinh
Chửa
• Thiếu dinh dưỡng trầm trọng có thể ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ phôi chết
• Những biến động bình thường về dinh dưỡng không thực sự ảnh hưởng tới tỷ lệ chết phôi
• Những hạn chế nghiêm trọng về dinh dưỡng trong giai đoạn cuối của thời kỳ chửa có thể giảm khối lượng sinh và vì vậy ảnh hưởng đến
tỷ lệ chết của bê
Tóm tắt
• Không động dục là nguyên nhân gây thiệt hại lớn nhất và hầu hết là do hậu quả của thiếu dinh dưỡng, tiết sữa và những biến động cá thể
Quản lý để đảm bảo số bê sinh ra cao
và ổn định từ những con bò cái nuôi ở vùng nhiệt đới
Quản lý nguồn thức ăn cơ sở
• Đồng cỏ là nguồn năng lượng sẵn có rẻ nhất;
• Cung cấp thức ăn bổ sung thường chỉ mang lại lợi nhuận khi sử dụng với các nhóm bò mục tiêu
• Thức ăn bổ sung thường không hiệu quả khi thiếu đồng cỏ đầy đủ chất khô để thoả mãn lượng thức ăn ăn vào
• Mật độ chăn thả phải được điều chỉnh để
đảm bảo luôn có sẵn đồng cỏ
• Giá phải trả dài hạn cho việc chăn thả quá mức là lợi nhuận thấp và thoái hoá đất trồng
Quản lý dinh dưỡng
• Những bò cái tơ, bò cái có thể trạng tốt, nặng hơn tỷ lệ mang thai cao hơn
• Hầu hết bò Brahman và Brahman được lai với bò sữa sẽ động dục lại trong vòng 3 tháng sau khi sinh nếu chúng được nuôi tốt điểm thể trạng cao (80% chửa)
• Để có 80% có thai ở những con bò cái tơ tiết sữa lần đầu đòi hỏi khối lượng cơ thể phải là 380kg
• Với những giống khác đòi hỏi khối lượng hơi 420kg để đạt tỷ lệ có thai 80%
Trang 4• Để có được nhiều bê nhất và hiệu quả tối đa,
cần phải cung cấp thức ăn cho bò để sinh sản
và sử dụng chiến lược quản lý để giảm nhu cầu
thức ăn
- Tách bò dựa trên cơ sở về nhu cầu thức ăn
- Điều chỉnh để giai đoạn tiết sữa xảy ra đồng
thời với giai đoạn dinh dưỡng tốt nhất trong
năm
+ Phối giống để bò đẻ sớm trong giai
đoạn này
+ Cai sữa để giảm số bò tiết sữa trong
giai đoạn nghèo dinh dưỡng
• Sử dụng những chiến lược nuôi dưỡng và bổ
sung thức ăn hiệu quả dựa vào sự hiểu biết
hoàn chỉnh về những nhu cầu dinh dưỡng
của bò giống Để đạt hiệu quả giống tối đa,
nuôi dưỡng phải nhằm mục đích nâng cao
chức năng của buồng trứng, đặc biệt ở giai
đoạn quan trọng của mùa sinh sản
Bò cái
- Khẩu phần protein thấp (<1% nitơ) - Sử
dụng các viên đá liếm chứa nitơ để cung cấp
khoảng 50g urê/ngày cùng với lưu huỳnh
(N:S)
- Khẩu phần cơ sở chất lượng kém + protein
thực+ năng lượng
+ Thức ăn protein (40% protein) vào khoảng
0,35% thể trọng (1.4kg/ngày cho bò khoảng
400kg)
+ Rỉ mật + 8% urê, cho ăn tự do
+ Ăn ở mức 0.5 % thể trọng hay 2kg/ngày
đối với bò 400kg
Quá trình phát triển ở bò cái tơ trước tuổi
dậy thì (tránh sút khối lượng ở giai đoạn nghèo
dinh dưỡng nhất)
Bò cái tơ từ 100 đến 150kg
- Khẩu phần cơ sở chất lượng kém + protein thực
+ năng lượng thức ăn Protein (40% protein) ở
mức 0,35% trọng lượng cơ thể Ví dụ:
+ 0,5kg/ngày là hạt bông – hàng ngày
hoặc 2 lần trong tuần,
+ Rỉ mật + 5% urê + 10% thức ăn
protein thực, ăn khoảng 0,75% trong lượng cơ
thể, 1kg/ngày cho bê cai sữa
Giai đoạn 50 ngày mang thai cuối cùng
Cung cấp khẩu phần cao năng – bột protein hoặc
rỉ mật và urê
+ Tăng tỷ lệ thụ thai 15% trong quá trình nuôi
bò tiết sữa
Bổ sung mức độ thấp nitơ-sulphua N:S (5g/con/ngày) trong mùa ẩm cho bò tiết sữa
Đồng cỏ vùng nhiệt đới có đủ độ protein trong một thời kỳ tương đối ngắn
+ Có thể cải tiến tỷ lệ thụ thai + Bổ sung thức ăn phải cho toàn mùa không chỉ trong những giai đoạn cuối của mùa
ẩm
Sự thiếu hụt photpho
Vấn đề phổ biến ở các vùng nhiệt đới Australia
- Những tiến bộ chủ yếu trong sinh trưởng và khả năng sinh sản đã đạt được cộng với việc quản lý cai sữa sẽ giảm nhu cầu về protein
- Chỉ giới hạn vào mùa ẩm
- 5-10g phốt pho/con/ngày cho những con bò
đang tiết sữa
Cai sữa
• Thành phần có tính chất quyết định (quan trọng) của toàn bộ quá trình quản lý để đạt
được hiệu quả giống cao
• Quản lý cai sữa tốt là nhân tố chủ chốt để
đạt được tỷ lệ cai sữa trung bình là 80-85%
ở vùng nhiệt đới khô
• Bò cái: sinh trưởng và sinh sản được cải tiến
Bò cái
• Duy trì giảm khối lượng từ -26 đến 41 kg
• Khối lượng cao trước khi đưa vào giao phối tiếp và cải tiến tỷ lệ thụ thai
• Những con bò cai sữa muộn vào mùa hạn hán trong tình trạng thiếu dinh dưỡng hơn thì tỷ lệ bê chết từ lúc thai đến cai sữa cao (13% so với 17%)
• Hạn ngắn cai sữa ở những con bò đói tăng tỷ lệ có thai ở những con bò bằng 50% hầu hết thụ thai vào 2 tháng sau khi cai sữa
• Cai sữa quanh thời điểm cuối của mùa sinh trưởng của cỏ khi bò đang trong điều kiện nuôi dưỡng đủ cho duy trì
Trang 5• Cai sữa lần 2 cho con bê nhỏ hơn
Bê tơ lỡ
• Tăng tỷ lệ thụ thai nhưng không ảnh
hưởng tới sinh trưởng và tồn tại của bê cai
sữa
• Chi phí chủ yếu của cai sữa là chi phí về
nuôi duỡng, cơ sở vật chất và quản lý
Quản lý giao phối
• Quản lý giao phối phải kiểm soát ngay khi
bê được sinh ra
• Mục đích chính:
- Thời gian giao phối và nhu cầu dinh
dưỡng phù hợp với thức ăn có sẵn
- ứng dụng giao phối theo mùa để tránh
tiết sữa vào mùa khô
• Thời gian giao phối là quan trọng
- Đối với bò Bos indicus thức ăn cần phải
tăng từ lúc chưa có thai, chưa tiết sữa
đến có thai, sinh sữa
- Sinh đẻ tốt nhất là vào cuối mùa khô để
đạt tỷ lệ thụ thai tối đa ở bò đang tiết sữa
- Nếu đẻ sớm điểm thể trạng kém, không
động dục lại cho đến khi cai sữa
- Bò sinh sớm thì nặng hơn vào lúc cai
sữa, dễ dàng hơn cho việc quản lý và
bán
- Nếu bò sinh quá sớm trong suốt thời
gian kém dinh dưỡng, giảm khối lượng
nghiêm trọng ở bò cái Tăng chi phí
chăm sóc bò và bê, giảm sự phát triển
của bê và giảm khả năng tái thụ thai
- Nếu đẻ muộn hơn có ít thời gian được
dinh dưỡng tốt để bình phục và xuất hiện
chu kỳ; giảm cơ hội chăm sóc bê năm
tiếp theo
- Cai sữa tốt nhất vào giai đoạn cuối mùa
sinh trưởng của đồng cỏ
- Tránh chi phí quản lý cao "ngoài mùa"
cai sữa và sinh sữa
• Độ dài thời kỳ phối giống
- Độ dài đủ để cho phép tỷ lệ thụ thai cao
của bò, 1 cơ hội tốt để bắt đầu chu kỳ và
thụ thai
- ở những vùng nhiệt đới - tối thiểu 5 tháng
- 7 tháng phối giống kết hợp với cai sữa của tất cả các bê khi bò đực được đưa ra khỏi
đàn bò cái là thích hợp cho những đàn
đông bò cái
- Mùa giao phối dựa vào phạm vi trung bình của những điều kiện theo mùa
Quản lý bò cái tơ
• Hiệu quả sinh sản của đàn giống cao hơn khi tuổi dậy thì đạt sớm hơn
• Mục tiêu ở những vùng nhiệt đới khô - tỷ lệ
bò cái tơ đạt tuổi dậy thì cao vào cuối kỳ phối giống lúc 2 năm tuổi, dinh dưỡng là nhân tố chủ chốt
• Những vùng nhiệt đới - thường cần bổ sung vào mùa khô để đảm bảo duy trì khối lượng hơi
• Bê cai sữa - sử dụng rỉ mật đường cùng với 5-8% ure thêm thức ăn protein 10% cho bê cai sữa sớm hơn
• Khả năng sinh sản thấp nhất ở bò cái tơ lần
đầu tiết sữa Tách riêng đàn những bò cái tơ
để nuôi dưỡng tốt hơn là cách có hiệu quả nhất về kinh tế
• Thời điểm giao phối ban đầu của bò cái tơ là vô cùng quan trọng Thời gian bắt đầu đẻ cùng thời gian như đối với bò trưởng thành - sớm hơn một tháng trong môi trường dinh dưỡng tốt
• Định thời gian đẻ đối với bò tơ là rất quan trọng
- Phối giống thời gian ngắn - tối đa 3 tháng
- Không để quá béo có thể dẫn tới khó đẻ
- Hầu hết bò tơ nuôi bê lúc 2 năm tuổi và không có bê lúc 3-4 năm tuổi vì cần sinh trưởng bù vào thời gian này
• Quản lý bò cái như bò cái tơ 3.5 tuổi
Những kiến nghị về quản lý bò cái tơ
• Tách bò cái tơ khỏi bò cái
• Tách con cai sữa (0,5-1,5 năm) từ bò cái tơ (1.5 - 3.5 năm)
• Giao phối khoảng 3 tháng mỗi năm
• Cai sữa bê của bò cái tơ ở giai đoạn cuối của mùa sinh trưởng của cỏ khi bò đực được chuyển đi khỏi đàn
Trang 6• Chuyển bò cái tơ đến đàn bò cái ở độ tuổi
3,5
Quản lý bệnh tật
Có kế hoạch tiêm phòng tốt để chống lại sự
nhiễm bệnh là thành phần chủ chốt đối với bất
kỳ chương trình quản lý đàn bò cái tơ nào ở
vùng bắc Australian các bệnh có thể ảnh hưởng
đến sức sinh sản đàn bao gồm bệnh xoắn khuẩn
(leptospirosis), bệnh do vi khuẩn, ngộ độc thịt,
sốt ephemeral, virut IBR Các loại vaxin đã được
sản xuất để phòng một số bệnh quan trọng về
kinh tế này