1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích mối liên hệ giữa pháp luật với cơ cấu xã hội – dân tộc (cho ví dụ cụ thể trong lĩnh vực phong tục tập quán)

12 135 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 732,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp luật trong mối liên hệ với cơ cấu xã hội là một trong những nội dung cơ bản trong nghiên cứu xã hội học pháp luật. Trong đó việc phân tích mối liên hệ giữa pháp luật cơ cấu xã hội – dân tộc được đặc biệt quan tâm, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật, góp phần quản lý, kiểm soát xã hội ngày càng phát triển văn minh hơn. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, em xin chọn đề tài thứ 3: Phân tích mối liên hệ giữa pháp luật với cơ cấu xã hội – dân tộc (cho ví dụ cụ thể trong lĩnh vực phong tục tập quán) để làm bài tập lớn giữa kỳ của mình. Bài làm của em do hiểu biết còn hạn hẹp nên không tránh khỏi sai sót, rất mong nhận được sự góp ý của cô để bài tập sau này của em được tốt hơn. Em xin cảm ơn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

KHOA LUẬT

-

TIỂU LUẬN MÔN:

XÃ HỘI HỌC

Đề tài: Phân tích mối liên hệ giữa pháp luật với cơ cấu xã hội – dân tộc (cho ví

dụ cụ thể trong lĩnh vực phong tục tập quán)

Họ và tên: NGUYỄN THỊ NGỌC ÁNH

Ngày, tháng, năm sinh: 30/10/2003

MSSV: 21510100240

Lớp: 2151A01

Ngành: Luật Kinh Tế

Hà Nội, 10/2021

Trang 2

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 3

B NỘI DUNG 3

1 Khái niệm, đặc trưng của cơ cấu xã hội – dân tộc 3

1.1 Khái niệm 3

1.2 Đặc trưng của cơ cấu xã hội – dân tộc 3

2 Mối quan hệ giữa pháp luật và cơ cấu xã hội – dân tộc 4

2.1 Pháp luật trong lĩnh vực giáo dục nhằm tăng sự hiểu biết, giảm bớt sự cách biệt và đảm bảo sự phát triển bình đẳng giữa các dân tộc 5

2.2 Pháp luật có vai trò giữ gìn bản sắc dân tộc, loại bỏ hủ tục lạc hậu 5

2.3 Pháp luật bảo vệ trật tự, quyền và lợi ích hợp pháp của các dân tộc khác nhau trên cùng một khu vực lãnh thổ 7

3 Thực trạng pháp luật trong cơ cấu xã hội – dân tộc 9

3.1 Đạt được 9

3.2 Hạn chế 9

3.3 Biện pháp 10

C KẾT LUẬN 11

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 3

A MỞ ĐẦU

Pháp luật trong mối liên hệ với cơ cấu xã hội là một trong những nội dung

cơ bản trong nghiên cứu xã hội học pháp luật Trong đó việc phân tích mối liên hệ giữa pháp luật cơ cấu xã hội – dân tộc được đặc biệt quan tâm, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật, góp phần quản lý, kiểm soát xã hội ngày càng phát triển văn minh hơn Nhận thức được tầm quan

trọng của vấn đề, em xin chọn đề tài thứ 3: Phân tích mối liên hệ giữa pháp luật

với cơ cấu xã hội – dân tộc (cho ví dụ cụ thể trong lĩnh vực phong tục tập quán)

để làm bài tập lớn giữa kỳ của mình

Bài làm của em do hiểu biết còn hạn hẹp nên không tránh khỏi sai sót, rất mong nhận được sự góp ý của cô để bài tập sau này của em được tốt hơn Em xin cảm ơn!

B NỘI DUNG

1 Khái niệm, đặc trưng của cơ cấu xã hội – dân tộc

1.1 Khái niệm

Dân tộc theo nghĩa rộng là cộng đồng người có chung nền văn hóa, nhóm sắc tộc, ngôn ngữ, nguồn gốc, lịch sử; dôi khi dân tộc còn bao hàm nhiều nhóm sắc tộc, dân tộc còn có tính bền vững qua sự phát triển lâu dài của lịch sử Ví dụ: dân tộc Kinh, Thái, Chăm, Ê đê, H’mông…

Cơ cấu xã hội - dân tộc là kết cấu dân cư của một quốc gia xét dưới góc độ bao gồm nhiều tộc người khác nhau, trong đó có những tộc người chiếm đa số trong thành phần dân cư và có những tộc người thiểu số

1.2 Đặc trưng của cơ cấu xã hội – dân tộc

Trải qua bao quá trình tồn tại và phát triển, cơ cấu xã hội – dân tộc của nước

ta bao gồm ba đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, Việt Nam là một quốc gia có đa tộc người sinh sống, bao gồm 54 dân tộc được hình thành trong quá trình dựng và giữ nước Trong đó dân tộc Kinh

Trang 4

chiếm 87% dân số, 53 dân tộc còn lại chiếm 13%, có 6 dân tộc dưới một nghìn người (Cống, SiLa, Pupéo, Ronăm, Ơđu, Brâu)

Thứ hai, các tộc người sống xen kẽ lẫn nhau, có trình độ phát triển kinh tế –

xã hội không đồng đều, nhưng không có sự phân chia lãnh thổ và chế độ xã hội riêng Hình thái cư trú xen kẽ nhiều dân tộc anh em, phản ánh mối quan hệ đoàn kết, thống nhất của cộng đồng dân tộc Việt Nam trong một quốc gia Những năm gần đây, gắn liền với sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, tính chất đan xen đó càng tăng lên Hiện nay, ở miền núi hầu như không có tỉnh, huyện nào chỉ có một cồng đồng hai dân tộc sinh sống, như: Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng… Do địa bàn cư trú, phong tục tập quán và tâm lý, lối sống của các dân tộc, nên trình độ phát triển kinh tế – xã hội của vùng, miền dân tộc không đồng đều Một số dân tộc có dân số ít, ở vùng sâu, vùng xa, điều kiện kinh tế – xã hội còn gặp khó khăn, như: Si La, Pu Péo, Rơ Măm, Brâu, Ơ Đu…

Thứ ba, mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên nền văn hóa Việt Nam

đa dạng, phong phú, thống nhất Mỗi dân tộc đều có phong tục, tập quán, tâm lý, lối sống, tín ngưỡng tôn giáo mang tính đặc thù, tạo nên những sắc thái văn hóa riêng của từng dân tộc, tồn tại và phát triển trong tính đa dạng và thống nhất của

nền văn hóa các dân tộc Việt Nam Ví dụ như trong cuốn “Việt Nam Phong Tục”,

tác giả Phan Kế Bính có nhắc tới lễ hội Xíp xí (Tết xíp xí) của người Thái, người Kháng hay tục thổi khèn tìm bạn tình ở chợ tình Sa Pa của người Mông, Tày, Giáy,

2 Mối quan hệ giữa pháp luật và cơ cấu xã hội – dân tộc

Một xã hội gồm nhiều dân tộc cùng tồn tại và hoạt động theo một hệ thống thiết chế xã hội nhất định Nhưng do sự phát triển không đồng đều về kinh tế xã hội, văn hoá tư tưởng giữa các dân tộc đã tạo nên sự bất bình đẳng và mâu thuẫn giữa các dân tộc Mâu thuẫn dân tộc thường bị các thế lực đối lập trong và ngoài nước lợi dụng, kích động và lôi kéo các dân tộc chống đối chính phủ và ly khai làm rối loạn xã hội Vì vậy, Việt Nam luôn coi trọng vấn đề dân tộc và luôn coi đây là một vấn đề có tính chiến lược trong quá trình phát triển xã hội Bởi lẽ đó, pháp luật

ra đời chính là cầu nối, như một công cụ giúp nhà nước ta quản lý xã hội tốt hơn

Cụ thể như sau:

Trang 5

2.1 Pháp luật trong lĩnh vực giáo dục nhằm tăng sự hiểu biết, giảm bớt

sự cách biệt và đảm bảo sự phát triển bình đẳng giữa các dân tộc

Do điều kiện kinh tế xã hội của mỗi dân tộc không đồng đều nên trình độ phát triển cũng khác nhau Chính vì thế pháp luật cần tạo điều kiện để mỗi dân tộc đều được phát triển, từ đó có thể giải quyết những xung đột về lợi ích giữa các dân tộc, đồng thời giảm sự cách biệt, đảm bảo sự bình đẳng giữa các dân tộc đúng theo

tinh thần tại Điều 5 Hiến pháp 2013 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt

Nam Bình đẳng ở đây không có nghĩa là “mọi cá nhân đều được ‘cào bằng’ như nhau để dẫn tới áp dụng pháp luật một cách cứng ngắc, máy móc, mà phải tính tới những đặc điểm riêng về thể chất, tinh thần, điều kiện môi trường sống, sinh hoạt,…”, là sự bình đẳng về điều kiện phát triển giữa các dân tộc

Một mặt, nhà nước ta khẳng định học tập là quyền bình đẳng, không phân

biệt giữa các dân tộc theo khoản 1 Điều 13 Luật Giáo dục 2019: “Học tập là

quyền và nghĩa vụ của công dân Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính, đặc điểm cá nhân, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập.”

Mặt khác, nhà nước ưu tiên đầu tư giáo dục tại các vùng dân tộc thiểu số,

vùng có điều kiện kinh tế khó khăn theo Khoản 2 Điều 17 Luật Giáo dục 2019:

“Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, địa bàn có khu công nghiệp […]”

Như vậy, pháp luật đã đảm bảo điều kiện phát triển bình đẳng của các dân tộc bằng các chính sách ưu tiên việc học, tuyển sinh, giáo dục nghề nghiệp đối với

cả ba đối tượng vùng dân tộc thiểu số là: cơ sở vật chất, người học và người giảng dạy, công tác

2.2 Pháp luật có vai trò giữ gìn bản sắc dân tộc, loại bỏ hủ tục lạc hậu

Mỗi dân tộc lại có những ngôn ngữ, phong tục tập quán riêng, đã được hình thành và tồn tại lâu đời từ những thói quen được lặp đi lặp lại của người dân trong cuộc sống sinh hoạt Qua quá trình phát triển ngày một văn minh hơn của xã hội,

có những phong tục tập quán tốt đẹp vẫn được giữ vững và tạo thành bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc đó, nhưng cũng có những hủ tục lạc hậu, lỗi thời cần phải

bị xóa bỏ

Trang 6

Pháp luật đã thực hiện nhiệm vụ đó bằng cách: Một là cấm những hành vi xâm phạm, đồng thời đưa ra những chế tài xử phạt những hành vi đó Hai là nâng những phong tục tập quán tốt đẹp lên thành những quy tắc xử sự chung buộc mọi người phải tuân theo Ba là đảm bảo đưa những giá trị truyền thống của mỗi dân tộc vào trong công tác giảng dạy, phổ biến với tất cả mọi người

Khoản 2 Điều 11 Luật Giáo dục 2019 về ngôn ngữ, chữ viết dùng trong cơ

sở giáo dục: “Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình theo quy định của Chính phủ.”

Đối với các hành vi mê tín dị đoan, hủ tục lạc hậu thì pháp luật lại quy định

như sau: “Cấm lợi dụng hoạt động giáo dục để xuyên tạc chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, phá hoại thuần phong mỹ tục, truyền bá mê tín, hủ tục, lôi kéo

người học vào các tệ nạn xã hội.” (Điều 21 Luật Giáo dục 2019)

Từ đó ta có thể thấy pháp luật cũng có tác động quan trọng đối với chuẩn mực phong tục tập quán Pháp luật có thể góp phần củng cố, khẳng định, phát huy các phong tục, tập quán; hoặc ngược lại, có thể can thiệp, cưỡng bức để loại bỏ chúng ra khỏi đời sống cộng đồng

Ví dụ như tục lệ “bắt vợ” ở một số dân tộc vùng núi cao, theo một giáo viên công tác tại trường Phổ thông Dân tộc nội trú huyện Quỳ Hợp, thời điểm rộ lên nạn

"bắt vợ" ở vùng cao Quỳ Hợp là những năm 2007, 2008 Giai đoạn này có hàng chục vụ việc nữ sinh là người dân tộc thiểu số bất ngờ bị "bắt" về làm vợ vào giữa đêm khuya, trong đó, có em mới 15 tuổi Rất may, tất cả các nạn nhân đều được nhà trường phối hợp với chính quyền địa phương giải cứu Thực tế ở nhiều vùng miền núi, nơi có đồng bào dân tộc Mông, Thái sinh sống, chỉ vì muốn có thêm lao động trong gia đình, bất chấp con trai mình chưa đến độ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật, các bậc cha mẹ đã dựa vào phong tục "bắt vợ", kéo đến nhà cô gái

"cướp" cô gái về làm vợ cho con mình Ngoài những hệ lụy đau lòng về mặt pháp luật, đây chính là một trong các nguyên nhân dẫn đến tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống đang diễn ra khá phổ biến, nhất là ở các vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc

Trang 7

Điều đáng quan ngại là không chỉ có tục "bắt vợ" của người Mông, người Thái, các hủ tục khác như hứa hôn, cưỡng ép hôn mang tính gả bán, hiện đang tồn tại ở vùng Tây Nguyên, Bắc Trung bộ cũng đang cản trở quyền tự do kết hôn của nam và nữ, trở thành "gánh nặng" của sự tiến bộ và phát triển Và cũng không chỉ

có những hủ tục liên quan đến việc xây dựng gia đình đôi lứa, ở nhiều vùng dân tộc hiện đang còn tồn tại nhiều phong tục, luật tục lạc hậu, gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số Nhà nước phải có những biện pháp cưỡng cưỡng chế mạnh tay nhằm loại bỏ những hủ tục này, góp phần xây dựng lối sống văn minh, phù hợp với sự tiến bộ xã hội

2.3 Pháp luật bảo vệ trật tự, quyền và lợi ích hợp pháp của các dân tộc khác nhau trên cùng một khu vực lãnh thổ

Để đạt được mục tiêu xây dựng xã hội ngày càng dân chủ văn minh, nhà nước Việt Nam luôn chú trọng đến hoạt động bảo vệ pháp luật nhằm đảm bảo sự

ổn định của xã hội cũng như bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các dân tộc trong xã hội

Thực hiện chức năng này, trước tiên nhà nước ban hành pháp luật quy định cách thức xử sự của tất cả các thành viên trong xã hội khi tham gia vào các quan hệ

xã hội được pháp luật điều chỉnh Pháp luật quy định cho các chủ thể những hành

vi được làm, những hành vi phải làm cũng như những hành vi bị cấm

Trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, luật số 02/2016/QH14:

“ Điều 5 Các hành vi bị nghiêm cấm

1 Phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo

2 Ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo

3 Xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo

4 Hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo:

a) Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường;

Trang 8

b) Xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;

c) Cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân;

d) Chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo; chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau

5 Lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi.”

Hoặc theo Điều 6 Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người (Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016)

“1 Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào

2 Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo

3 Mỗi người có quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng của tổ chức tôn giáo Người chưa thành niên khi vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý

4 Chức sắc, chức việc, nhà tu hành có quyền thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác

5 Người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo

6 Chính phủ quy định chi tiết việc bảo đảm thực hiện các quyền quy định tại khoản 5 Điều này.”

Nghị quyết số 33-NQ/TW khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” (năm 2014) định hướng phải giữ gìn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc thiểu số, nhất là tiếng nói, chữ viết, trang phục, lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số Để đảm bảo

các quyền của dân tộc thiểu số, Điều 42 Hiến pháp 2013 quy định: “Công dân có

Trang 9

quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ

giao tiếp” Trước đó, Điều 7, Luật Giáo dục 2005 cũng ghi rõ: “Nhà nước tạo

điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giúp cho học sinh người dân tộc thiểu số dễ dàng tiếp thu kiến thức khi học tập trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác” Thông qua quy định này nhằm bảo đảm cho các dân tộc thiểu số có

quyền tự do quyết định vị thế xuất thân cũng như thể hiện quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình - đây là những vấn đề căn cốt để khẳng định quyền bình đẳng của các dân tộc thiểu số trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Bên cạnh đó nhà nước còn tiến hành nhiều hoạt động khuyến khích, động viên công dân tích cực tham gia phòng, chống các hiện tượng vi phạm pháp luật; kiểm tra giám sát hoạt động của nhà nước trong thực hiện các quyền lợi của công dân, qua đó phát huy sức mạnh to lớn của mọi tầng lớp nhân dân trong việc xây dựng một xã hội ổn định và phát triển

3 Thực trạng pháp luật trong cơ cấu xã hội – dân tộc

3.1 Đạt được

Những năm đổi mới, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta

đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn trong tất cả lĩnh vực đời sống xã hội Quyền bình đẳng giữa các dân tộc đã được thực hiện đầy đủ trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội Đoàn kết giữa các dân tộc tiếp tục được củng cố Kinh tế vùng dân tộc và miền núi có bước phát triển đáng kể, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm cao Các lĩnh vực xã hội đạt được những kết quả quan trọng: Mặt bằng dân trí được nâng cao Vùng dân tộc và miền núi đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học

và xóa mù chữ Công tác phát triển Đảng trong vùng đồng bào dân tộc được chú trọng Tình hình chính trị, trật tự xã hội ở vùng dân tộc và miền núi cơ bản ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững

3.2 Hạn chế

Tuy nhiên, vùng dân tộc ở nước ta hiện nay còn có những khó khăn, thách thức cơ bản như sau:

Thứ nhất, quan điểm, nhận thức và sự am hiểu, thông tin, kinh nghiệm của một bộ phận cán bộ trực tiếp làm công tác tham mưu về lĩnh vực thể chế hóa chính sách dân tộc, công tác dân tộc còn có những hạn chế nhất định, chưa đầy đủ, toàn

Trang 10

diện, nhất là nhận thức về những vấn đề phát triển mới ở vùng dân tộc Do đó, các chính sách nói chung chưa được thiết kế, xây dựng phù hợp với đặc điểm tự nhiên, văn hóa, phong tục, tập quán, ngôn ngữ của đồng bào…

Thứ hai, tình hình tôn giáo, tín ngưỡng ở các vùng dân tộc thiểu số diễn biến rất đa dạng và có không ít nơi không bình thường; có nơi tôn giáo đã và đang bị kẻ xấu lợi dụng để tập hợp lực lượng, kích động phá hoại đoàn kết dân tộc, chống Đảng, chống chế độ, đòi ly khai… Các tổ chức phản động trong và ngoài nước tìm mọi cách lợi dụng những khó khăn phức tạp trong vùng dân tộc thiểu số để kích động, tập hợp lực lượng gây bất ổn về an ninh chính trị, trật tự xã hội…

Thứ ba, những dân tộc ở vùng có điều kiện kinh tế kém phát triển, dẫn tới việc kém hiểu biết về các quyền của bản thân, không hiểu rõ, không biết áp dụng…

Bị kẻ xấu lợi dụng để làm điều bất lợi cho Đảng và Nhà nước ta

Thứ tư, trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc và cán bộ

là người dân tộc thiểu số ở một số địa phương chưa đáp yêu cầu; chưa có chế độ, chính sách phù hợp trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số đối với từng vùng miền, địa phương…

3.3 Biện pháp

3.3.1 Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng chiến lược

công tác dân tộc; củng cố, kiện toàn cả về chất lượng và số lượng đội ngũ làm công tác dân tộc ở các cấp, nhất là cán bộ người dân tộc; đổi mới nội dung và phương pháp công tác dân tộc

3.3.2 Củng cố vai trò của các tổ chức cộng đồng và quá trình vận động xã

hội ảnh hưởng tới công tác xoá mù và nâng cao mặt bằng dân trí Xã hội hoá giáo dục thông qua công tác văn hoá và các hoạt động, tổ chức truyền thống ở cộng đồng Tăng cường và khuyến khích sự tham gia của bộ đội, bộ đội biên phòng tham gia công tác xoá mù chữ

3.3.3 Xây dựng chính sách văn hóa dân tộc phải bảo đảm phù hợp với điều

kiện, hoàn cảnh môi trường sống của khu vực miền núi dân tộc - là cái gốc để sản sinh văn hóa và nuôi dưỡng văn hóa truyền thống Bảo đảm phù hợp với trình độ hiểu biết, nhận thức của người dân hay chính là điểm thực tại của bối cảnh văn hóa

Ngày đăng: 14/03/2022, 22:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w