Văn học giai đoạn này đã bám sát cuộc sống, cuộc đấu tranhcủa nhân dân ta chống Pháp, đã ghi lại một cách sinh động trung thành một giaiđoạn lịch sử đau thương mà hùng tráng của dân tộc,
Trang 1ÔN TẬP MÔN: VĂN HỌC VIỆT NAM
Chương 1
KHÁI QUÁT VĂN HỌC YÊU NƯỚC VIỆT NAM
NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX (1858-1900)
***
I BỐI CẢNH LỊCH SỬ:
1.Sự xâm lược của thực dân Pháp trên đất nước ta:
Thực dân Pháp đã có ý đồ xâm chiếm nước ta từ lâu, từ cuối thế kỷ XVIIInhưng âm mưu này chưa thực hiện được Mãi đến cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháplấy cớ triều đình nhà Nguyễn đã bắn giết các giáo sĩ và ngăn chặn thông thươngnên đã chính thức xâm lược Việt Nam
Thực dân Pháp phải mất gần 40 năm mới đặt ách thống trị trên đất nước ta
và non một thế kỷ nhân dân ta phải sống dưới sự cai trị của Pháp
Trong điều kiện xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX thì sự kiện Pháp xâmlược Việt Nam là sự kiện quan trọng, nổi bật, chi phối các sự kiện khác và có ảnhhưởng rất lớn đến mọi tầng lớp người trong xã hội
2.Sự đấu tranh của nhân dân ta chống Pháp: TOP
Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, nhân dân ta đấu tranh chống Phápquyết liệt
Giai cấp phong kiến lúc đầu còn chống đối nhưng ngày càng yếu ớt và cuốicùng thì nhượng bộ, thỏa hiệp, đầu hàng thực dân Pháp
Nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra khắp nơi Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa củanông dân chống triều đình phong kiến đầu hàng và chống Pháp xâm lược Chẳnghạn như cuộc khởi nghĩa của Ba Cai Vàng, Ðoàn Hữu Trưng, Trần Tấn…
Trang 2Phong trào đấu tranh yêu nước của các sĩ phu, các lãnh binh đã lãnh đạonhân dân chống Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương cũng nổ ra rầm rộ kéo dài từ BìnhÐịnh, Quảng Bình ra đến Hưng Yên, Thái Bình, Tây Bắc Các cuộc khởi nghĩa tiêubiểu như Phan Ðình Phùng, Ðinh Công Tráng, Tống Duy Tân, Nguyễn ThiệnThuật, Hoàng Hoa Thám…
Phong trào chống Pháp tuy sôi nổi, đều khắp nhưng không có lực lượng hậuthuẫn làm nồng cốt nên cuối cùng phong trào đấu tranh chống Pháp bị thất bại Mấtnước là do nhà Nguyễn phản động, sợ dân hơn sợ giặc chứ hoàn toàn không phải
do định mệnh
Mặc dù thất bại nhưng cũng chứng tỏ được tinh thần yêu nước nồng nàn,tinh thần dũng cảm của nhân dân, khẳng định phong trào đấu tranh mang tính nhândân sâu sắc Có thể nói, đây là giai đoạn lịch sử đau thương mà hùng tráng của dântộc, nhiều hi sinh mất mát nhưng rất tự hào, giai đoạn Khổ nhục nhưng vĩ đại
3.Sự phân hóa giai cấp trong xã hội: TOP
Trước những biến cố lớn lao, xã hội có sự phân hóa giai cấp sâu sắc Mỗitầng lớp bị phân hóa đều mang sắc thái tâm lý riêng, một thái độ chính trị riêng
Trong hàng ngũ giai cấp phong kiến, giai cấp thống trị cũ của xã hội, thái dộcủa họ không giống nhau nhưng tâm lý chủ yếu của tầng lớp này là đầu hàng, thỏahiệp Bên cạnh đó có một số sĩ phu, trí thức phong kiến thấy rõ quyền lợi của
phong kiến cũng chỉ là quyền lợi làm tay sai cho đế quốc(*)) , họ tiếp thu truyền
thống yêu nước của dân tộc, sống gần gũi với nhân dân nên đã hăng hái cùng với
nhân dân chống giặc
Số khác là những nhà thơ, nhà văn yêu nước đã dùng ngòi bút để chiến đấu,
để nói lên tâm tư, nguyện vọng và thái độ của mình trước cảnh nước mất, nhà tan
Bên cạnh lực lượng nho sĩ, nhiều tầng lớp mới xuất hiện như tư sản, tiểu tưsản và vô sản, quyền lợi đối lập nhau
Giai cấp tư sản mới hình thành nên chưa đủ mạnh để chống lại tư sản chínhquốc, cũng chưa đủ sức để vươn cao ngọn cờ yêu nước
Trang 3Giai cấp vô sản hầu hết xuất thân từ giai cấp nông dân, giai cấp này lớnmạnh nhanh chóng nhất là sau chiến tranh thế giới I Tuy nhiên, sáng tác văn họcgiai đoạn này vẫn thuộc về giai cấp cũ nên văn học vẫn chịu sự chi phối của ý thức
hệ phong kiến rõ nét
4.Về văn hóa tư tưởng, khoa học kỹ thuật: TOP
Vẫn trong tình trạng lạc hậu, trì trệ Triều đình tôn sùng nho học, xem nhogiáo là quốc giáo, lợi dụng tôn giáo là công cụ để thống trị xã hội…Khổng, Mạnh,Trình… được xem là những vị thánh Sách vở của họ là thiên kinh địa nghĩa Họctrò đi thi chỉ học thuộc lòng một số câu, đoạn trong sách vở… Ðiều này làm hạnchế óc sáng tạo của con người
Ngoài nho giáo thì Ðạo giáo, Phật giáo và các tín ngưỡng khác cũng rất pháttriển Binh tướng đều xem bổn mạng trước khi ra trận, trời hạn hán lâu ngày, cáctriều thần lập đàn cầu đảo để được mưa… Ðiều đó lộ rõ được sự bảo thủ nặng nềtrong mọi hoạt động Con người tin vào mệnh trời Họ tin vào lực lượng siêuhình có khả năng giải quyết mọi thành bại ở trên đời Ðiều đó làm hạn chế sự cốgắng của con người
Trước tình hình đó vẫn có một số sĩ phu có đầu óc canh tân như Nguyễn LộTrạch, Nguyễn Trường Tộ… có dịp học hỏi khoa học kỹ thuật tiến bộ nên đã nhiềulần đưa ra những kiến nghị cải cách xã hội
Nguyễn Trường Tộ đả kích lối học từ chương, hư văn, chủ trương học khoahọc kỹ thuật, học thiên văn, địa lý, luật, sinh ngữ… Học tức là học cái chưa biết để
mà biết, biết để mà làm (Tế cấp bát điều) Ông say sưa với những đề nghị cải
cách đất nước thậm chí viết cả trên giường bệnh
Giống như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch chủ trương mở rộng giaothiệp với nước ngoài, trọng việc học kỹ nghệ Việc học kỹ nghệ không phải khó như
việc cắp nách túi Thái Sơn để vượt qua biển Bắc như lời thầy Mạnh Vả lại, theo
tình hình khẩn cấp, lúc khát mới lo đào giếng thì đã chậm, nhưng chậm còn hơn là không biết mãi Dù mất dê mới lo làm chuồng cũng chưa phải là muộn (Thời vụ sách thứ hai)
Trang 4Nhưng triều đình mục nát không nghĩ gì đến vận nước nên nhiều bản điềutrần của hai ông bị vùi trong quên lãng Tư tưởng con người quay về với nề nếpnho gia, cổ hủ, có ảnh hưởng làm hạn chế sự phát triển của văn học đương thời.
II TÌNH HÌNH VĂN HỌC:
1.1 Văn học mang tính thời sự:
Tính chất thời sự chi phối toàn bộ đời sống văn học và làm thay đổi diệnmạo văn học Văn học giai đoạn này ra đời trong hoàn cảnh lịch sử xã hội đặc biệt
có nhiều biến cố trọng đại nên văn học gắn với chính trị và phục vụ cho cuộc đấutranh chính trị Với yêu cầu cấp thiết đó, văn học đã phản ánh những vấn đề trungtâm nóng hổi của thời đại: Cuộc đấu tranh của nhân ta chống thực dân Pháp Ðây
là chủ đề chính của văn học thời kỳ này Trước kia chưa có một giai đoạn nào mà
sự chuyển biến về chủ đề và đề tài trong văn học lại nhanh chóng và theo sát biến
cố đến vậy
Nhiều tác phẩm yêu nước ra đời đã ghi lại những biến cố lớn lao của đấtnước Miên Thẩm có nhắc đến sự kiện Pháp tấn công Ðà Nẵng:
Nẵng tuế Tây di phạm Quảng Nam
Quan quân chiến bại huyết thành đàm.
(Mại chỉ y)
Dịch nghĩa:
Năm kia giặc tây đánh Quảng Nam.
Quân ta thua chạy máu chảy thành đầm.
(Mua áo giấy)
Phạm Văn Nghị trên đường hành quân vào Ðà Nẵng đã làm bài Trà sơn quân
thứ nói lên lòng căm thù giặc của mình.
Nguyễn Ðình Chiểu có viết hàng loạt tác phẩm yêu nước phản ánh cuộcchiến đấu của nhân dân, tố cáo tội ác của giặc và kêu gọi nhân dân đứng lên chốngPháp
Trang 51.2 Văn học mang tính trữ tình:
Văn học giai đoạn này đã kế thừa tính trữ tình của văn học dân gian và vănhọc bác học đồng thời có sự vươn một buớc theo hoàn cảnh mới của lịch sử Vìvậy nó chịu ảnh hưởng sâu sắc tính trữ tình của văn học giai đoạn trước, chủ yếu đisâu vào chủ đề con người nên chất trữ tình của nó rất phong phú và đa dạng.Nhưng trữ tình ở đây là trữ tình yêu nước, phát triển trên cảm hứng mới của chủ đề
đó là lòng yêu nước gắn liền với những biến cố lớn lao của đất nước
Văn học giai đoạn này đã thể hiện tình cảm yêu nước của nhân dân bằngnhững lời lẽ thiết tha sâu nặng Do đó yếu tố lãng mạn đã giữ vai trò không thểthiếu được để đảm bảo cái nhìn vừa đúng hiện thực vừa vừa phù hợp với nguyệnvọng của nhân dân Ngay Nguyễn Khuyến và Tú Xương là những nhà thơ hiệnthực trào phúng nhưng cũng có những bài thơ trữ tình độc đáo
Có thể nói, văn thơ yêu nước phong phú về trữ tình nhưng không thiếu tự sự
kể cả trào phúng, tính trữ tình là yếu tố căn bản của văn học yêu nước chống Pháp
2.1 Ngôn ngữ:
Vẫn tồn tại hai thành phần chữ Hán và chữ Nôm Có tác giả viết hoàn toànbằng chữ Hán như Miên Thẩm, Nguyễn Thông, Nguyễn Quang Bích, NguyễnXuân Ôn… Có tác giả viết bằng chữ Hán vừa bằng chữ Nôm như Nguyễn Khuyến
Có tác giả viết chủ yếu bằng chữ Nôm như Nguyễn Ðình Chiểu, Trần Tế Xương…
Bên cạnh đó chữ quốc ngữ cũng được khích lệ dưới nhiều hình thức: Báochí, phiên âm, dịch thuật… Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của đã cò nhiều hoạtđộng rộng rãi nhằm phổ biến chữ quốc ngữ như phiên âm, dịch một số tác phẩmchữ Nôm và chữ Hán ra chữ quốc ngữ, biên soạn truyện cổ tích bằng chữ quốcngữ, làm tự điển, ngữ pháp… Sự ra đời cuốn Ðại Nam quốc âm tự vị của HuỳnhTịnh Của xuất bản năm 1895 và 1896 là một công trình biên soạn có giá trị
Một loạt những ngôn gnữ hàng ngày rất mới, rất mộc mạc đã đi vào thơ văn và cógiá trị hiện thực đáng quý
Trang 62.2 Thể loại:
Thể loại thể hiện tính đại chúng, tính nhân dân sâu sắc
- Các thể loại dài như: Truyện thơ Lục vân Tiên , Dưong Từ Hà Mậu,
Ngư Tiều y thuật vấn đáp.
- Các thể loại sân khấu: Tuồng, chèo cũng phát triển Về nội dung chưa có
gì đổi mới đáng kể so với trước nhưng về hình thức thì có nhiều đóng góp
2.3 Về mặt hình thức nghệ thuật:
Phương pháp chính vẫn là phương pháp sáng tác truyền thống Nhưng doyêu cầu phản ánh trung thực và gần gũi để động viên chiến đấu nên văn học đã vậndụng hniều chất liệu hiện thực, mang sắc thái phê phán và ít nhiều đã phá vỡ nhữngkhuôn khổ của phương pháp sáng tác truyền thống Ðặc biệt là Trần Tế Xương, tácgiả có nhiều đóng góp trong việc sáng tác một phương pháp mang đậm tính hiệnthực
Trong bộ phận văn học chữ Hán, phong cách biểu hiện của thơ vẫn chưa có
gì đổi mới, vẫn chưa thoát khỏi biểu hiện có tính chất công thức, ước lệ của vănhọc phong kiến Riêng văn xuôi chữ Hán có phần khác trước, câu văn trong sáng,giản dị hơn, lập luận cũng chặt chẽ, lô gích hơn
Trong bộ phận văn học chữ Nôm, nghệ thuật biểu hiện một mặt kế thưàtruyền thống; mặt khác có sự đổi mới đáng kể Văn học giai đoạn này bớt lối diễnđạt chung chung, ước lệ, không cụ thể mà bám sát đời sống Trong thơ hiện thựctrào phúng nổi bật lên tính cụ thể, cá thể rõ nét, các nhà thơ đã dùng tiếng cười đểxua tan mọi suy nghĩ siêu hình, tự biện, chất sống của nó rõ hơn trong thơ trữ tình
Trang 7Cùng với lối biểu hiện có tính chất cá thể, cụ thể lịch sử, thơ thời kỳ này cònxuất hiện cái tôi trữ tình Phong cách cá nhân rõ nét Những đại từ ngôi thứ nhất số
ít như Tôi, tớ, anh, em, ông, mình… đã thay thế cho ta, hoặc một ẩn chủ ngữ cùngloại Ðiều này đã làm cho văn học giai đoạn này có tiếng nói riêng vừa gần gũi vừađại chúng
III CÁC KHUYNH HƯỚNG VĂN HỌC:
1.Khuynh hướng yêu nước chống Pháp: TOP
Yêu nước vốn là truyền thống lâu đời của dân tộc Trải qua hàng chục thế kỷchống ngoại xâm, từ buổi đầu dựng nước cho đến khi có văn học thành văn, nhândân ta thể hiện lòng yêu nước mãnh liệt của mình
Ðến nửa cuối thế kỷ XIX, khi Pháp sang, truyền thống yêu nước vốn làtruyền thống lâu đời của dân tộc lại có dịp bùng lên một cách mạnh mẽ Văn họcchống Pháp ra đời đã kế thừa một cách tốt đẹp truyền thống yêu nước trong lịch sử
và và có những bước phát triển phù hợp với hoàn cảnh mới của lịch sử
Văn thơ yêu nước đã vạch trần những luận điệu hèn nhát, bỉ ổi của triều đình, bọnvua quan vô trách nhiệm, bè lũ Việt gian bán nước thành những bản án đanh théphoặc những trang châm biếm sắc sảo
- Hịch đánh Tây của Lãnh Cồ
- Hà thành thất thủ ca.
- Hà thành chính khí ca.
- Vè thất thủ kinh đô.
- Biểu trần tình của Hoàng Diệu
- Phú kể tội Pháp đánh Bắc kỳ lần I của Phạm Văn Nghị.
- Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây của Nguyễn Ðình Chiểu…
Trang 8Khuynh hướng này đã đem đến cho văn học một luồng sinh khí mới, mộtsức sống mới Các tác giả tiêu biểu của khuynh hướng này là Nguyễn Ðình Chiểu,Phan Văn Trị, Nguyễn Thông, Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Xuân Ôn…
2 Khuynh hướng hiện thực trào phúng: TOP
Có quan hệ chặt chẽ với khuynh hướng yêu nước chống Pháp Các nhà vănnày, ban đầu sáng tác văn học yêu nước nhưng về sau khi phong trào kháng phápthất bại, Pháp chiếm toàn bộ đất nước ta, xã hội bộc lộ những chướng tai gai mắtnên các nhà văn này đã dùng ngòi bút của mình để phơi bày những mặt trái của xãhội bằng khiếu hài hước nhạy bén của mình Họ đã lấy việc tố cáo làm phưông tiện
để gây căm thù nhằm mục đích kêu gọi chiến đấu
Khuynh hướng này phát triển thành một khuynh hướng độc lập, tuy kkôngđông đúc như khuynh hướng yêu nước chống Pháp nhưng cũng khá đa dạng, pháttriển khắp trong Nam ngoài Bắc Các tác giả tiêu biểu của khuynh hứơng này làNguyễn khuyến, Trần Tế Xương, Học Lạc, Nguyễn Thiện kế, Tú Quỳ, Kép trà,Trần Tích Phiên,, Nguyễn Hiển Dĩnh, Học Quế… Bên cạnh đó còn có những tácgiả dân gian, của loại truyện Ba giai Tú Xuất, chất tố cáo càng mạnh mẽ
Các bài thơ tiêu biểu :
- Ông làng hát bội, Chó chết trôi của Học lạc.
Vịnh Lê Hoan, Vịnh tri phủ Quảng Oai của Nguyễn Thiện kế
Ông Phỗng đá, Thầy đồ ve gái góa của Nguyễn Khuyến
- Ðất Vị hoàng, Mùng hai tết viếng cô Ký của Trần Tế Xương…
Khuynh hướng này có nhiều đóng góp đáng kể cho sự phát triển của ngônngữ dân tộc
3 Khuynh hướng thoát ly hưởng lạc: TOP
Khuynh hướng này ra đời và phát triển song song với khuynh hướng hiệnthực trào phúng Ða số các nhà thơ thuộc khuynh hướng này đều xuất thân từ tầnglớp quan lại phong kiến suy tàn, mang tâm lý hưởng lạc, cá nhân, tùy thời Trongbối cảnh chung là sự thất bại của phong trào chống Pháp và việc đặt ách thống trịlên đất nước ta, một số khác ra làm quan mục đích để hưởng nhàn chứ không đàn
Trang 9áp phong trào kháng chiến, số khác thoát ly vào thơ, rượu, vào mộng, vào tìnhyêu…
Khuynh hướng này thường viết về thiên nhiên, thời thế,tâm trạng, thỉnhthoảng có bày tỏ nỗi lòng yêu nước thầm kín nhưng chủ yếu nói về cuộc sống ănchơi, hưởng lạc của họ Các tác giả tiêu biểu như Dương Lâm, Dương Khuê, ChuMạnh Trinh…
Sáng tác của họ thường bằng chữ Nôm nên đã có những đóng góp nhất địnhtrong việc trau dồi ngôn ngữ dân tộc Tuy nhiên, khuynh hướng này thường chủtrương là co về mình, thích hưởng lạc, lao vào ăn chơi nên ít nhiều cũng gây ảnhhưởng tai hại
Ðây là khuynh hướng phản động bao gồm những tên tay sai cho Pháp, nhưTôn Thọ Tường, Hoàng Cao Khải
Nội dung của khuynh hướng này là ca ngợi người Pháp, bênh vực biện hộcho những tên tay sai, phục vụ cho mục đích chính trị của Pháp
Trong thời kỳ đầu khuynh hướng này còn tỏ ra ra dè dặt, úp mở nhưng càng
về sau càng lộ rõ tính chất phản động của nó Tiêu biểu có Phạm Quỳnh, NguyễnVăn Vĩnh
IV ÐẶC ÐIỂM CỦA VĂN HỌC YÊU NƯỚC CHỐNG PHÁP:
1.Văn thơ yêu nước gắn liền với vận mệnh dân tộc: TOP
Văn thơ yêu nước tự phát tham gia gánh vác nhiệm vụ của dân tộc một cách
vẻ vang Nó gắn liền với vận mệnh của dân tộc trong một giai đoạn lịch sử bitráng Ðồng thời nêu lên hai vấn đề có liên quan đến vận mệnh của dân tộc: Vấn đềchính trị và vấn đề nhân sinh
1.1 Vấn đề chính trị:
Trang 10-Vấn đề Duy tân được thể hiện qua các bản điều trần của những sĩ phu cóđầu óc canh tân như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch Hai ông đã nhiều lần
đề nghị triều đình nghiên cứu thực hiện chủ trương cải cách đất nước, nhưng khôngđược triều đình chấp nhận, việc Duy tân thất bại
- Vấn đề chống Pháp, chống thỏa hiệp đầu hàng là vấn đề trọng tâm của vănhọc yêu nứơc chống Pháp
- Vấn đề vai trò của người dân có ý nghĩa lịch sử quan trọng, nhất là trongviệc chống ngoại xâm Thơ văn yêu nước của Nguyễn Ðình Chiểu không chỉ cangợi người dân ở chiến lược, chiến thuật, về tinh thần chiến đấu mà còn ở nhậnthức tự phát của họ:
Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình.
Chẳng thèm trốn ngược, trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.
(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)
Trong bức thư Phan Ðình Phùng trả lời Hoàng cao Khải nhân dân là mụctiêu phục vụ, mục tiêu bảo vệ và chiến đấu của nghĩa quân, nhân dân gắn liền vớiphong trào kháng chiến
1.2 Vấn đề nhân sinh quan:
Nói đến nhân sinh quan là nói sống để làm gì? Sống như thế nào?Thái độ của conngười trước sự sống và cái chết? Ðể giải quyết các vấn đề chính trị, thơ văn yêunước đặt ra những vấn đề mang ý nghĩa thời sự
- Vấn đề sống - chết được giải quyết không theo quan điểm con người trừu tượng theo kiểu tôn giáo mà từ góc dộ của cuộc đấu tranh dân tộc Tức là sống
trọng nghĩa và chết đúng đắn
Làm người sao khỏi thác, thác trung thần thác cũng thơm danh
(Hịch Quản Ðịnh)
Hay:
Ninh cam tử táng sài lang vẫn
Khẳng nhẫn sinh phùng bạch quỷ ưu.
(Nguyễn Cao điếu Nguyễn Tri Phương)
Trang 11- Khái niệm vinh - nhục theo quan điểm thà chết vinh hơn sống nhục Sốngđánh giặc cứu nước là sống đúng, chết vì nước nhà là vinh, sống theo giặc đầuhàng phản bội là sống nhục (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn tế Trương Ðịnh,
Thơ điếu Phan Tòng).
- Khái niệm chính khí gắn với hành động vì nghĩa:
Nhớ câu kiến nghĩa bất vi
Làm người thế ấy cũng phi anh hùng
(Nguyễn Ðình Chiểu)
Kiến nghĩa ninh cam bất dũng vi
(Thấy nghĩa há đành làm kẻ không có dũng)
(Hồ Huấn Nghiệp)
Các vấn đề nhân sinh quan được đặt ra dựa vào các hệ tư tưởng vốn có ởnước ta nhưng chủ yếu từ cơ sở, tư tưởng Việt Nam, từ những giá trị tinh thầntruyền thống của dân tộc
2 Văn thơ yêu nước gắn với cuộc sống dân tộc và con người thời đại: TOP
2.1 Văn thơ yêu nước phản ánh về dân tộc và về thời cuộc:
Văn thơ yêu nước là cuốn sử thi của thời đại đã ghi chép một cách cảm độngtrung thành cuộc đấu tranh của dân tộc Ðó còn là lịch sử khổ nhục nhưng vĩ đạicủa dân tộc Việt Nam trong giai đoạn này
Văn thơ yêu nước còn chứng tỏ rằng dẫu nước mất nhưng còn dân, còn giá trị tinhthần truyền thống và tin tưởng vào thắng lợi của dân tộc
2.2 Văn thơ yêu nước phản ánh về con người thời đại:
Ðó là những con người tiêu biểu như người sĩ phu, người trí thức bất hợptác, người nông dân, người phụ nữ, người nghĩa sĩ … Bên cạnh đó còn có nhữngtên sâu dân mọt nước như bọn vua quan, bọn tay sai và cả một bức tranh xã hộiViệt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX được tái hiện một cách đấy đủ, sinh động
Trang 12Có thể nói, với những nét hào hùng về thời đại, về dân tộc, về con người,văn thơ yêu nước được xem như pho sử thi đau thương nhưng không kém phầnhùng tráng của dân tộc Việt Nam trong giai đoạn lịch sử khổ nhục nhưng vĩ đại.
3.Văn thơ yêu nước là bản anh hùng ca:
Cuộc đấu tranh trong giai đoạn này rất hào hùng nhưng không tránh khỏithất bại Âm hưởng chung của văn thơ yêu nước giai đoạn này là âm điệu đauthương nhưng anh dũng Thậm chí cái buồn, cái bi quan cũng không phải khônggây phẫn uất Do đó, nó là một âm điệu bi hùng
V.KẾT LUẬN CHUNG:
Ðây là giai đoạn cuối cùng của văn học được sáng tác dưới sự chi phối của ýthức hệ phong kiến Văn học giai đoạn này đã bám sát cuộc sống, cuộc đấu tranhcủa nhân dân ta chống Pháp, đã ghi lại một cách sinh động trung thành một giaiđoạn lịch sử đau thương mà hùng tráng của dân tộc, ghi lại cuộc chiến đấu bền bỉcủa dân tộc ta Có thể nói, giai đoạn này mang tính chiến đấu cao, tính dân tộc, tínhđại chúng dồi dào, rõ rệt
Cho đến nay, những tác phẩm yêu nước vẫn luôn mới về tinh thần đấu tranhchống xâm lược, chống thỏa hiệp đầu hàng, và nó đã để lại không ít bài học vềnhiều mặt, từ tư tưởng đến tình cảm, không chỉ cho một thời mà còn cho lâu dài
Nội dung của thơ Đường rất phong phú khó có thể trình bày đầy đủ trong một bàigiới thiệu ngắn Các sáng tác thơ Đường thường theo khuynh hướng lãng mạn tíchcực ( các sáng tác của Lý Bạch là tiêu biểu), khuynh hướng hiện thực sâu sắc ( ĐỗPhủ là người mở đầu), khuynh hướng sơn thủy điền viên ( Vương Bột, Mạnh HạoNhiên đã đưa thơ sơn thủy Trung Quốc lên đến đỉnh cao của tình yêu thiên nhiên,khát vọng hòa hợp với thiên nhiên) hay các sáng tác của phái biên tái phản đốichiến tranh, khát vọng hòa bình Tuy nhiên, dù sáng tác theo khuynh hướng nàothì Thơ Đường cũng có một số đặc điểm về nội dung đáng chú ý sau:
1.Không gian hình tượng trong thơ Đường
Trang 13Không gian trong thơ Đường là loại không gian hình tượng vìkhi miêu tả về nó các tác giả luôn luôn tìm cách đồng nhất các sự kiện, biến cáihữu hạn thành cái vô hạn Trong bài “ Đăng Cao”Đỗ Phủ miêu tả:
Phong cấp thiên cao viên khiếu ai
Chử thanh sa bạch điểu phi hồi
Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ
Bất tận Trường Giang cổn cổn lai
Trên đây có ba sự kiện đựơc tả trời cao, rừng cây bát ngát, vàdòng sông bất tận Rừng cây, dòng sông mà tác giả thấy là dài dằng dặc nhưng lạinhỏ bé so với cái vô cùng của trời cao Cho dù là “Vô biên lạc mộc”, là “Bất tậnTrường Giang” thì cũng là hữu hạn so với thiên cao vô hạn Với cùng một khuynhhướng đồng nhất mô tả các sự kiện giống nhau, Đỗ Phủ đã biến cái hưũ hạn thànhcái vô hạn bằng cách nhìn chúng trong một không gian ba chiều Trời càng cao,nước càng trong thì cái nhìn càng sâu, bề rộng với ngàn cây bát ngát vô biên, láxào xạc rơi thì rừng cây càng mênh mông, sông dài càng bất tận, nước càng cuồncuộn Từ vật nhỏ góp thành vật lớn, ngàn cây góp thành rừng bất tận, con nước làmthành sông dài Tất cả tạo nên vũ trụ mênh mông Trong không gian ba chiều ấy,rừng cây và dòng sông hòa vào trời cao làm thành vũ trụ mênh mông, choángngợp
2 Phương thức chiếm lĩnh không gian của các nhà thơ Đường
Để có được không gian hình tượng trong thơ, các thi nhân thời Đường
có phương thức chiếm lĩnh không gian rất độc đáo Họ hướng đến việc chiếm lĩnhkhông gian theo bề cao chứ không phải theo bề rộng.Bề cao mang đến sự cảmnhận về chiều sâu, thăm thẳm và đầy bí ẩn, không phải nghe là biết, nhìn làhiểu.Điều này mới chính là đặc trưng của thơ Đường,bình dị mà sâu sắc, đơn giảnngắn gọn mà trầm lắng sâu xa Chúng ta có thể thấy điều này trong bài Hoàng Hạclâu của Thôi HIệu:
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
Thôi Hiệu không đứng từ xa để nhìn và làm thơ về lầu Hoàng Hạc,không miêu tả để làm nổi bật nó với những gì xung quanh, mà đứng ngay trên lầu
để miêu tả mọi thứ xung quanh, qua đó lầu Hoàng Hạc hiện lên một cách gián
Trang 14tiếp.Giữa hai phương thức để miêu tả, một nhìn lên để trông thấy,một nhìn xuống
để tầm nhìn mở rộng hơn.Thôi Hiệu đã chọn cách thứ hai để miêu tả lầu HoàngHạc.Điều đó chứng tỏ thói quen chiếm lĩnh không gian theo chiều cao trong thơĐường.Phương thức chiếm lĩnh ấy phổ biến trong phong cách chung của thơĐường,bất kể tác giả là người ít tên tuổi như Thôi Hiệu, hay lừng lẫy trên thi đànnhư Lí Bạch hay Đỗ Phủ
3 Thơ Đường có sức khái quát cao, hàm ý súc tích:
Thơ Đường mang “ý tại ngôn ngoại” Một bài thơ chỉ vẻn vẹn có
28 chữ hoặc 56 chữ nhưng đã nói được rất nhiều điều: vừa có tình cảm của nhàthơ, vừa là sự suy ngẫm về cuộc đời, là tiếng nói tố cáo xã hội,cũng có thể là bứctranh tuyệt vời theo bút pháp: Thi trung hữu họa
Ta hãy lắng nghe tâm sự sau đây của Lí Bạch:
Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu
Yên hoa tam nguyện há Dương Châu
Cô phàm viễn cảnh bích không tận
Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu
( Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng)
Đây là cuộc chia li giữa Lí Bạch và bạn thơ Mạnh HạoNhiên.Trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ, phương tiện đi lại khó khăn, nên sự ra đinày của Mạnh Hạo Nhiên là không hẹn ngày gặp lại, nên càng thêm vấn vương âusầu.Hình ảnh cánh buồm chỉ là cái bóng xa xôi lẫn vào xa xăm vời vợi của trờinước mênh mông thể hiện sự lưu luyến, buồn đau khi chia tay bạn mà không thểquay gót bước đi.Ông còn đứng đó trông theo con thuyền cho tới khi nó chỉ còn làmột chấm nhỏ nơi cuối trời.Nhìn cánh buồm cô độc, chia tay bạn rồi nhà thơ cũng
cô đơn như cánh buồm ấy.Bài thơ là bức tranh thiên nhiên phóng khoáng cao rộng ,hơn thế là bức tranh sơn thủy thật tuyệt vời.Lý Bạch tả cảnh nơi đưa tiễn bạn,nhưng cảnh ấy lại thấm đẫm nỗi buồn đau Cái tài của Lí Bạch không chỉ dừng lại
ở việc tả cảnh ngụ tình Cảnh trong thơ Lí Bạch vẫn đẹp, vẫn tươi vui nhưng vẫnnói lên được cái buồn,thêm nữa lại được phát huy trong bút pháp thi trung hữu họa,chỉ vài nét đơn sơ mà vẽ được tình cảnh thần diệu vừa hài hòa, vừa sinh động
4 Thiên nhiên tràn ngập trong thơ Đường là một thứ thiên nhiên khái quát Thiên nhiên tràn ngập trong thơ Đường bởi các thi nhân cókhuynh hướng dùng cảnh ngụ tình.Lý Bạch tả cảnh để nói lên sự lưu luyến củamình trong buổi chia tay với Mạnh Hạo Nhiên (“Hoàng Hạc lâu tống Mạnh HạoNhiên chi Quảng Lăng”); Đỗ Phủ dùng cảnh để nói lên nỗi uất hận u hoài của cuộcđời gian truân; Thôi hiệu tả lầu Hoàng Hạc với khói sóng hoàng hôn mà sầu não,nhìn khói sóng hoàng hôn mà chạnh lòng tự hỏi quê nhà giờ ở đâu trong khi phậnmình vẫn lênh đênh
Trang 15Nhưng nhìn ở một góc độ khác, thiên nhiên trong thơ Đườnglại là một thiên nhiên khái quát Trong thơ Đường thiên nhiên ngập tràn và hầu nhưtuân theo một quy luật bất thành văn: đi từ cái rộng lớn đến cái nhỏ bé.Ta sẽ thấytrời cao, gió lộng, núi cao, sông dài xuất hiện nhiều nhất trong thơ sau đó mới đếnrừng cây, ánh trăng, hoa cỏ Mặc dù thiên nhiên diễn tả những cung bậc tình cảmkhác nhau nhưng khi xuất hiện ý nghĩa riêng của nó trong mỗi bài thơ là khôngthay đổi.Khi thiên nhiên xuất hiện trong tác phẩm thì nó phải được hiểu là trời cao,bao la vô tận, mây trắng bay gợi khoảng không vô tận.Con sông được tả trong thơbao giờ cũng là con sông dài, sóng nước mênh mông, chảy mãi không ngừng,mang theo cả thời gian,cùng cuộc sống không lấy lại được Còn trăng bao giờ cũng
là vầng trăng sáng, tượng trưng cho những gì thanh cao, đẹp đẽ.Núi non thì cao vúttrập trùng, cây cỏ thì xanh tươi um tùm rậm rạp
Chính vì các nhà thơ Đường chỉ miêu tả trong thơ một loạithiên nhiên khái quát nên cảnh trong thơ bao giờ cũng hiện ra dưới mắt người đọcthật hùng vĩ mênh mông và khoáng đạt Cảnh bao giờ cũng có tầm cao để thấy conngười nhỏ bé Thiên nhiên luôn mang một bề rộng đến bao la vô tận để con ngườicảm thấy mình cô độc, lẻ loi vô cùng giữa cuộc đời này
Văn học quốc ngữ ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một bộ phận đặcbiệt cả về ý nghĩa lãnh thổ và lịch sử trong nền văn học Việt Nam, thế nhưng nóvẫn chưa được tìm hiểu một cách hợp lý và xứng đáng Bài viết này khái quátnhững vấn đề liên quan đến cách thức tiếp cận bộ phận văn học này, hướng đếnviệc khắc phục những sai lầm và bất cập trong quan niệm và phương pháp, kỹ năng
và thao tác nghiên cứu để có thể trả lại cái “bản lai chân diện mục” của bộ phậnvăn học này cho văn học sử Việt Nam
***
Là một bộ phận địa phương đặc biệt đồng thời là một giai đoạn chuyển tiếp quantrọng của văn học viết dân tộc khi con người Việt Nam bắt đầu tiếp xúc toàn diệnvới các giá trị văn hóa phương Tây, văn học viết bằng chữ quốc ngữ la tinh ở Nam
Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một đối tượng nghiên cứu phức tạp Hiệndiện như một tập hợp các hiện tượng, lãnh vực và quá trình văn học với nhiềukhuynh hướng xã hội và nghệ thuật khác nhau, sự phát triển của bộ phận văn họcnày mang trong nó nội dung hiện đại hóa với sắc thái độc đáo như của một phongtrào canh tân văn hóa, ở đó các hệ thống chuẩn mực thẩm mỹ và sáng tạo truyền
Trang 16thống và hiện đại, nội sinh và ngoại nhập cùng phát huy ảnh hưởng đồng thờikhông ngừng chi phối lẫn nhau Tình hình nói trên khiến cho văn học viết ở Nam
Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX mang trong nó một hàm lượng văn hóa caođồng thời trở thành một cơ cấu phức hợp nhiều chiều và nhiều tầng mà để tìm hiểucần phải có những cách thức tiếp cận phù hợp Việc tìm hiểu các đặc điểm văn học
sử, văn hóa, văn bản và văn chương của bộ phận văn học này để tiến tới xác lậpnhững cách thức ấy vì vậy là một vấn đề cần được đặt ra
Nảy sinh từ quá trình hiện đại hóa văn học viết Việt Nam đương thời trong nhữngmối quan hệ nhân quả với thất bại của phong trào võ trang chống Pháp, văn họcquốc ngữ la tinh ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX mang trong sự pháttriển của nó một màu sắc “tái thiết hậu chiến” có nội dung và nhịp điệu tương ứngvới quá trình bình định quân sự và khai thác thuộc địa của thực dân Bị chi phốibởi tình hình cụ thể của sự phát triển lịch sử ở địa phương, bộ phận văn học nàycũng mang trong nó nhiều đặc điểm khác với vùng Trung Bắc Sự sử dụng ngàycàng phổ biến loại chữ viết quốc ngữ la tinh ghi âm dễ học mau nhớ cuối thế kỷXIX đã giúp nó có được một lực lượng sáng tác cũng như công chúng văn họcđông đảo và bình dân hơn trước đó, đồng thời sự phát triển trên đường hướngchuyên nghiệp hóa của văn giới Nam Kỳ trong xu thế hàng hóa hóa hoạt động vănhọc bên cạnh sự xuất hiện của cái máy in và tờ báo còn tạo ra cho nó những thếmạnh kinh tế – kỹ thuật khác trước trong việc phổ biến tác phẩm văn chương Ảnhhưởng của văn học phương Tây mà chủ yếu là văn học Pháp cũng dần dần vượtkhỏi giới hạn của các trường Dòng, trường Thông ngôn mà lan ra trong tầng lớp tríthức cả tân học lẫn cựu học ở địa phương, điều này lại được củng cố bởi sự phátsinh và phát triển của tầng lớp tư sản dân tộc, đặc biệt ở khu vực đô thị Đáng chú
ý là sự nỗ lực của các nhà nho yêu nước cuối thế kỷ XIX trong việc bảo vệ văn hóatruyền thống đã giúp văn học Hán Nôm mà chủ yếu là bộ phận chữ Nôm được duytrì và phát triển trong một hình thức mới trên đường hướng nối tiếp thi pháp truyềnthống, tạo ra một dòng chảy riêng biệt bao gồm cả hoạt động sáng tác, dịch thuật
và lý luận trong văn học viết bằng chữ quốc ngữ la tinh ở Nam Bộ đương thời…Phong trào Minh tân, Duy tân ở Nam Kỳ đầu thế kỷ XX cũng tác động tích cực tớibản lĩnh chính trị và năng lực sáng tạo của các tác giả có tinh thần dân tộc ở vùngnày, giúp họ đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong mảng tiểu thuyết lấy đềtài lịch sử Việt Nam như Gia Long tẩu quốc, Gia Long phục quốc, Việt Nam Lýtrung hưng, Tiền Lê vận mạt sau Chiến tranh thế giới thứ nhất Và nếu như đến
Trang 17giữa thế kỷ XIX văn học Hán Nôm ở Nam Bộ vẫn còn phát triển một cách rấtkhông cân đối giữa các loại thể tự sự và trữ tình, giữa sáng tác và lý luận… thì đếnvăn học quốc ngữ la tinh cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở địa phương tình hình đãthay đổi: mảng tiểu thuyết, ký sự trực tiếp phản ảnh thực tế đã chiếm một tỷ lệ caohơn trong các tác phẩm được xuất bản Vấn đề lý luận văn học cũng được quan tâmhơn, chẳng hạn trong các sưu tập, hợp tập văn chương loại Quốc âm thi hiệp tuyểncủa Lê Quang Chiểu, Việt âm văn uyển của Lê Sum, Thi phú văn từ của Võ Sâm…đều có phần giới thiệu về thi luật và thi pháp thơ Đường, thậm chí người đọc Nam
Kỳ còn đã được chứng kiến cuộc bút chiến sôi nổi về thơ Đường luật giữa NguyễnViên Kiều với hàng chục người khác trên Nông cổ mín đàm thời gian 1904 – 1906trên một đường hướng “thi pháp học ứng dụng”(1) Những điều nói trên tạo ra cácđặc điểm văn học sử cần lưu ý khi tìm hiểu văn học viết Nam Bộ cuối thế kỷ XIXđầu thế kỷ XX, chẳng hạn không thể ngay lập tức và đơn giản đánh đồng mục tiêu
và tính chất của việc dịch thuật các “truyện Tàu” với việc chuyển ngữ các tác phẩmvăn học phương Tây, cũng như không thể đánh giá thấp trình độ nghệ thuật hay ýthức dân tộc của những Hồ Biểu Chánh, Trần Chánh Chiếu qua Cay đắng mùi đời,Ngọn cỏ gió đùa, Tiền căn báo hậu… phóng tác Sans famille của Hector Malot,Les Misérables của Victor Hugo, Le Comte de Monte Cristo của AlexandreDumas… chỉ vì đó là những tác phẩm mô phỏng: có lẽ cần nhắc lại rằng họ đã Việthóa các tác phẩm nói trên ở một mức độ cao hơn hẳn Nguyễn Du trong TruyệnKiều
Trên một phác đồ có thể chấp nhận về xuất phát điểm và con đường phát triển củavăn học quốc ngữ la tinh ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX như vậy, cóthể nghĩ tới các đặc điểm văn hóa của nó Nếu quan niệm văn hóa bao gồm cả cácgiá trị vật chất và tinh thần được con người sáng tạo ra lẫn các cách thức mà họsáng tạo ra các giá trị ấy, thì phải nói rằng thành tựu chủ yếu của văn học viết Nam
Bộ thời gian này chính là trên phương diện cách thức chứ không phải kết quả sángtạo Việc biến chữ quốc ngữ la tinh thành chữ viết chính thức của văn học dân tộc ởđây là một trong những bằng chứng Hơn thế nữa, đúng như K Marx đã khẳngđịnh “Con người làm ra lịch sử của chính mình, nhưng không phải làm theo ýmuốn tùy tiện của mình, trong những điều kiện tự mình chọn lấy, mà là trongnhững điều kiện trực tiếp có trước mắt, đã cho sẵn và do quá khứ để lại” (NgàyMười tám tháng Sương mù của Louis Bonaparte), văn học quốc ngữ la tinh cuốithế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Nam Bộ còn phát triển trên cả các thành tựu và chuẩn
Trang 18mực nghệ thuật của văn học Hán Nôm ở địa phương trong đó có mảng thơ văn yêunước chống Pháp(2), mà các truyện thơ như Thơ Sáu Trọng, Thơ Sáu Nhỏ, ThơThầy Thông Chánh, Thơ Phan Xích Longhoàng đế bị bắt… ít nhiều là những bằngchứng Chính nhờ vậy mà mặc dù hình thành trong hoàn cảnh mất nước và sử dụngmột loại chữ viết ngoại nhập, nó vẫn mau chóng vượt ra khỏi nguy cơ bị tha hóatrong vòng vây “khai hóa” của ngoại nhân Không phải ngẫu nhiên mà từ cuối thế
kỷ XIX rồi từ 1920 trở đi, các khuynh hướng lãng mạn và suy đồi phương Tây ít
có ảnh hưởng tới thơ mới Việt Nam trên địa bàn này, hay các tác phẩm văn xuôiđược ưa chuộng ở đây đều ít nhiều mang nội dung đề cao các giá trị đạo đức trunghiếu tiết nghĩa truyền thống Đồng thời, một trong những tác nhân chủ yếu của quátrình hiện đại hóa văn học viết Việt Nam ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX là chữ quốc ngữ la tinh phát triển trực tiếp trên cơ sở tiếng Việt ở địa phương,nên các tác giả của nó cũng dễ có điều kiện kế thừa và phát triển tính nhân dân củavăn học Hán Nôm ở Nam Bộ trong hoàn cảnh mới Chế độ kiểm duyệt của chínhquyền thuộc địa đã gây ra một số mất mát quan trọng về văn bản và tài liệu, nhưngnhững bằng chứng hiện tại vẫn cho phép khẳng định văn giới Nam Kỳ đã đi đầutoàn quốc trong việc sử dụng văn học quốc ngữ la tinh để chống đối ách thống trịcủa thực dân.Tất cả các biểu hiện nói trên đã làm nên hệ thống các đặc điểm vănhóa của văn học quốc ngữ la tinh ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trong
đó nổi bật là sự thích ứng ngày càng chủ động và tích cực của một truyền thốngtrước những yếu tố mang tính chất hủy diệt mà kẻ cướp nước đưa tới, mà mộttrong những ví dụ điển hình là sự phản ứng kịch liệt của dư luận đối với tác phẩmvăn chương khiêu dâm Hà Hương phong nguyệt của Lê Hoằng Mưu Cho nên nếutìm hiểu bộ phận văn học này chỉ trên cơ sở các giá trị được sáng tạo ra, tức thànhtựu tư tưởng và nghệ thuật của các tác phẩm theo kiểu thông thường thì sẽ khôngthể nào lý giải được nhiều hiện tượng, lãnh vực và quá trình trong đó, thậm chí còn
có thể đi tới những nhận định cực đoan và cảm tính như Trúc Hà năm 1932 hayPhạm Thế Ngữ trước 1975
Dĩ nhiên, phải tìm hiểu văn học quốc ngữ la tinh ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầuthế kỷ XX trên cơ sở hệ thống các tác phẩm (chủ yếu là ấn bản) của nó, nên ở đâycần lưu ý tới các đặc điểm văn bản của hệ thống này Những hủy hoại của thờigian, chiến tranh và sự thiếu quan tâm nếu không nói là coi thường văn học viếthiện đại Nam Bộ trước 1945 trong nhiều năm qua khiến cho đến nay các công trìnhnghiên cứu nó đều ít nhiều phải làm thêm cả nhiệm vụ Thư mục học Tuy nhiên ở
Trang 19đây có những khó khăn chưa thể vượt qua, chẳng hạn một nhà nghiên cứu âm thầm
mà nhiệt tâm như Bằng Giang mãi đến 1992 vẫn còn áy náy vì chưa lấp kín được
“khoảng trống thư tịch” trong Thư mục văn học quốc ngữ la tinh Nam Bộ thời gian
1914 – 1922(3) Ngay cả một học giả lớn mà tác phẩm từng được hàng ngàn ngườitrích dẫn như Trương Vĩnh Ký, mảng “sương mù” trên tác phẩm của ông cũng chỉmới được chính thức lưu ý vài năm gần đây(4) Nhà nghiên cứu đã quá cố NguyễnVăn Y lúc sinh thời từng có hơn 20 trang viết tay góp ý với Ban Biên tập bộ Tựđiển Văn học 1983 – 1984 chỉ riêng về các tác giả và tác phẩm văn học quốc ngữ latinh Nam Bộ được đề cập trong đó, và có lẽ cũng không thừa khi nói thêm rằng bộ
từ điển quốc gia này còn đạt tới những đỉnh cao nhất của sự ít hiểu biết và thái độthờ ơ về lịch sử và văn hóa Nam Bộ với những chi tiết kiểu Huỳnh Tịnh Của người
Bà Rịa nay là Long An Bên cạnh đó, trong hầu hết các ấn phẩm văn chương quốcngữ la tinh trước 1930 ở Nam Bộ đều nhan nhản những lỗi chính tả do cách phát
âm địa phương đem lại, tình hình này cùng với lối hành văn sử dụng nhiều từ ViệtHán nhiều khi khiến văn bản trở thành một hệ thống những câu đố đối với ngườiđọc không biết chữ Hán và không rành phương ngữ Nam Bộ Ngoài ra, cách đọcViệt Hán chịu ảnh hưởng Minh âm, Thanh âm chứ không phải theo Đường âm trênđịa bàn phía Nam Quảng Nam hai thế kỷ trước với hàng loạt biến thể loại Chánh –Chính, Lãnh – Lĩnh, Đảnh – Đỉnh, Sanh – Sinh, Phò – Phù, Thọ – Thụ, Võ – Vũhay Oai – Uy, Soái – Súy, Thoại - Thụy… cũng được phản ảnh trong ngôn ngữ báochí và văn học Nam Bộ, gây thêm khó khăn trong việc xử lý tín hiệu thông tin,chẳng hạn nhiều người đọc miền Bắc hiện nay khó mà hiểu cái nhan đề Tài thọluận của Phan Công Võ trên Nông cổ mín đàm chính là “Tài thụ luận” (Luận vềviệc trồng cây) Việc Tổng tập Văn học tập 20 chép lại nguyên văn những lỗi chính
tả do cách phát âm Nam Bộ đem lại trong bài Làm biếng phải hư của Lương DũThúc trên Nông cổ mín đàm như “Làm biến phải hư”, “Bất hoán thiên hề bất vưunhân”(5) mà không hề sửa lại hay chú thích đó là “Làm biếng phải hư”, “Bất oánthiên hề bất vưu nhân” (Không oán trời cũng không giận người) là một ví dụ vềnhững thiếu sót đang tồn tại trong việc tiếp cận văn bản học đối với bộ phận vănhọc này Thực tế nói trên cho thấy việc tìm hiểu văn học quốc ngữ la tinh ở Nam
Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX hiện nay phải bắt đầu từ việc biên soạn cácsách công cụ cần thiết tức các công trình Thư mục học đồng thời đối với nhữngngười nghiên cứu thì cần đặt ra yêu cầu về sự hiểu biết tiếng Việt địa phương cũngnhư chữ Hán để có thể hiểu đúng văn bản trước khi đi vào tìm hiểu nội dung tưtưởng và nghệ thuật của tác phẩm
Trang 20Trước nay khi nói tới văn học viết Nam Bộ kể cả văn học Hán Nôm, người tathường kết luận rằng về mặt văn chương thì bộ phận văn học địa phương này cònkém vùng Trung Bắc Ý kiến ấy cũng có cơ sở thực tế là sự khác biệt về phongcách nghệ thuật giữa văn học viết Nam Bộ với toàn quốc, tuy nhiên vấn đề còn lànhìn nhận sự khác biệt ấy từ tiêu chuẩn nào Thật ra thi pháp truyền thống của vănhọc Hán Nôm Việt Nam trước kia hoàn toàn thống nhất nhưng được vận dụng khácnhau ở các địa phương, chẳng hạn Nguyễn Đình Chiểu cũng dùng lối diễn đạt ước
lệ với các điển cố, nhưng đọc câu “Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổihươu; Hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó” trong bài Văn tếnghĩa dân chết trận Cần Giuộc thì tuy không hiểu các điển cố như “xa thư”, “chémrắn đuổi hươu” nhưng một người đọc bình thường vẫn có thể dễ dàng hiểu được ý
tứ của ông, chứ nếu đọc câu “Tưởng thuở thái bình tại vũ, bề khuông tương để mặckhách thiên chung; Đến nay Di Địch loạn Hoa, lòng tiết nghĩa phải xướng trò lụcquán” mở đầu bài Hịch sĩ phu kêu gọi chống Pháp ở miền Bắc thì những người cóhọc ngày nay cũng phải lúng túng trước lối diễn đạt bác học tới mức bí hiểm củatác giả chứ không cần nói tới đa số nhân dân Rõ ràng sự khác biệt nghệ thuật giữavăn học viết Nam Bộ với toàn quốc trước nay chủ yếu là do phong cách chứ khôngphải do trình độ, nhưng các đầu óc quen nhai văn nhá chữ đã coi chúng là mộttrong thái độ kinh viện rỗng tuếch bất chấp cả chức năng hàng đầu của văn học làphản ảnh – thông tin Việc tìm hiểu các đặc điểm thi pháp chủ yếu với hệ thốngchuẩn mực nghệ thuật cơ bản của văn học quốc ngữ la tinh ở Nam Bộ cuối thế kỷXIX đầu thế kỷ XX là một vấn đề phức tạp và cơ bản còn đang trong giai đoạn bắtđầu, nên sẽ là quá hấp tấp nếu muốn qua một bài viết nhỏ nêu ra những nhận định.Tuy nhiên có thể nói ngay rằng dòng văn học Hán Nôm trong biến thái quốc ngữ latinh của nó vẫn tác động tới hệ thống thi pháp của văn học Nam Bộ cuối thế kỷXIX đầu thế kỷ XX, chẳng hạn lối văn biền ngẫu trong nhiều tác phẩm tiểu thuyếtNam Bộ thời gian này chính phản ảnh thị hiếu thẩm mỹ của một bộ phận côngchúng văn học Cũng có thể coi lối hành văn trơn tuột và ngôn ngữ dân dã trong tácphẩm của nhiều tác giả chính là sự kế tục truyền thống thẩm mỹ “vì đời” tích cựccủa văn học viết truyền thống ở địa phương trong quá trình nó xây dựng cho mình
hệ thống thi pháp mới, điều này đã tạo ra cho nó sức đề kháng tự nhiên mạnh mẽvới các khuynh hướng nghệ thuật vị nghệ thuật lai căng, suy đồi và bế tắc, và cũngchính điều này đã tạo ra hiện tượng Hồ Biểu Chánh với hàng loạt tiểu thuyết tảchân như một loại Tiểu Bách khoa về đời sống xã hội Nam Kỳ giữa hai cuộc Chiến
Trang 21tranh thế giới, một giá trị không sao tìm được nơi tác phẩm của các cây bút điêuluyện trong Tự Lực văn đoàn…
*
Sau nhiều tháng năm thăng trầm cùng vận nước, cho đến nay văn học quốc ngữ latinh ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX vẫn chưa được quan tâm tìm hiểumột cách xứng đáng Ngoại trừ các lý do phi học thuật, ở đây còn có vấn đề cáchthức tiếp cận Cho nên việc khắc phục các sai lầm và bất cập trong quan niệm vàphương pháp, kỹ năng và thao tác nghiên cứu là một yêu cầu mà lịch sử đang đòihỏi ở các nhà nghiên cứu trong việc mau chóng tái hiện để trả lại cái “bản lai chândiện mục” của bộ phận văn học này cho văn học sử Việt Nam
Chú thích:
(1) Xem Nông cổ mín đàm từ số 164 ngày 3 11 1904
(2) Xem thêm Cao Tự Thanh, Văn học Hán Nôm ở Gia Định, Địa chí Văn hóaThành phố Hồ Chí Minh, tập II (Văn học), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1988, tr
Trang 22sự kiện xuyên suốt toàn giai đoạn, chi phối mọi sự kiện khác và thu hút mối quantâm của tất cả mọi thành viên trong xã hội.
Thực dân Pháp đã lợi dụng lúc Nguyễn Ánh đang lúng túng trong việcchống quân Tây Sơn vào cuối thế kỉ XVIII để thực hiện dã tâm xâm lược đất nước
ta nhưng trong quá trình đó đã xảy ra một số biến cố Vì vậy đến giữa thế kỉ XIX,con bạch tuộc chủ nghĩa thực dân mới lại thò vòi sang các nước phương Đông
Ngày 1 tháng 9 năm 1858 quân Pháp nổ súng vào cửa bể Đà Nẵng, mở đầucuộc xâm lược chính thức nước ta
Bước đầu thực dân Pháp đã đạt được những thắng lợi to lớn: chiếm ba tỉnhMiền Đông Nam Kì , rồi ba tỉnh miền Tây, rồi đánh Trung Kì, có được những hằngước của triều đình Huế kí kết với chúng
Trong sự xâm lược của thực dân Pháp , dân tộc ta đã tiến hành một cuộcchiến đấu quyết liệt chống kẻ thù.Trong cuộc chiến đấu chống Pháp giai đoạn nửacuối thế kỉ XIX, giai cấp phong kiến lúc đầu còn chống đối một phần nào, nhưng
về sau dần từng bước đã thỏa hiệp, đầu hàng thực dân Pháp Trong triều, bộ phậnđầu não của nhà nước phong kiến ngay từ đầu đã chia làm hai phái, chủ hòa và chủchiến Nhìn chung giai đoạn đầu triều đình còn chống Pháp Nhưng khi Nam Kìdồn sức chống ngoại xâm, ở miền Trung và miền Bắc chưa có ngoại xâm,bọnphong kiến tăng cường bóc lột nhân dân rất thậm tệ.Dẫn đến nhiều cuộc khởi nghĩanông dân bùng nổ,tiêu biểu là khởi nghĩa của Cai Vàng Triều đình nhà Nguyễn đãthỏa hiệp với bọn thực dân để quay lại đàn áp phong trào nông dân trong nước Sau
1862, triều đình không còn vai trò gì trong cuộc kháng chiến chống Pháp nữa.Cuộcchiến đấu chống Pháp sau 1862 không những tập trung mũi nhọn vào thực dânPháp mà bắt đầu đả kích cả triều đình phong kiến đầu hàng.Một số cuộc khởi nghĩatiêu biểu của Đoàn Hữu Trung, Đặng Thai Mai,
Cuộc kháng chiến chống Pháp trong phong trào Cần vương tiếp theo sau đóvẫn chịu sự chi phối của ý thức hệ phong kiến, nhưng không phải do những ngườiđại diện cho nhà nước phong kiến cầm đầu , mà do các văn thân và sĩ phu yêunước chống Pháp lãnh đạo Phong trào rầm rộ từ Bình Định, Quảng Bình ra đếnHưng Yên,Thái Bình, Tây Bắc và kéo dài gần hết thế kỉ XIX
Trang 23Những diễn biến lịch sử trên đây có ảnh hưởng rõ rệt, trực tiếp đối với sựphát triển của văn học giai đọc nửa cuối thế kỉ XIX Mục tiêu đấu tranh của vănhọc, cường độ của tính chiến đấu, sự phân hóa các lực lượng sáng tác văn học, rõràng chịu sự chi phối của tình hình chính trị lúc bấy giờ.
II. Khái quát chung về văn học Việt Nam và văn học vùng Nam Bộ giai đoạn
trước nửa cuối thế kỉ XIX:
1. Văn học Việt Nam giai đoạn trước nửa cuối thế kỉ XIX
Giai đoạn nửa cuối thế kỷ 19 này với bối cảnh thực dân Pháp xâm lược nước
ta Thực dân Pháp đã đặt ách thống trị lên đất nước ta gần 40 năm và chúng ta phảisống dưới sự cai trị của chúng Sự kiện này là một sự kiện quan trọng, làm thứcdậy trong lòng người dân Việt Nam lòng căm thù giặc sâu sắc, ảnh hưởng đến mọitầng lớp trong xã hội và nhân dân ta đã chống phá một cách quyết liệt Qua đó, đây
là giai đoạn lịch sử nước ta chịu nhiều đau thương nhưng vô cùng hùng tráng, tựhào và vĩ đại
Trong bối cảnh lịch sử như vậy, văn học ra đời, nhà thơ dùng ngòi bút củamình để nói hộ lòng người dân Chính điều đó đã xuất hiện những khuynh hướngvăn học thể hiện qua tính chất “trữ tình” , tính chất thời sự Trước hết, đối với nềnvăn học mang tính thời sự được thể hiện qua việc văn học ra đời trong hoàn cảnhlịch sử có nhiều biến động nên văn học gắn bó chặt chẽ với chính trị là chống Phápđây là chủ đề chính của văn học thời kỳ này Đối với nội dung văn học mang tíchchất thời sự thể hiện qua việc văn học ra đời trong bối cảnh lịch sử có nhiều biếnđộng nên ta có thể nói đó là văn học gắn bó chặt chẽ với chính trị và phục vụ chochính trị Nhiều tác phẩm yêu nước ra đời chính là để ghi lại những biến cố lịch sửcủa đất nước
Như ta thấy, vào giai đoạn trước chưa có sự chuyển biến về chủ đề một cáchnhanh chóng như thời kỳ này Khi nói tới văn học giai đoạn này, chúng ta khôngthể không nhắc đến các nhà thơ tiêu biểu như Nguyễn Đình Chiểu, NguyễnKhuyến, Tế Xương, Như Nguyễn Đình Chiểu đã có nhiều tác phẩm yêu nướcchống Pháp, phản ánh nhiều tội ác của giặc và kêu gọi nhân dân Việt Nam ta đứnglên chống Pháp Tiếp đó là văn học mang tính chất “trữ tình”, do bị ảnh hưởng củagiai đoạn trước đó nên đã đi sâu vào hình ảnh con người nhưng trữ tình ở đây lạikhác, là trữ tình yêu nước, tinh thần yêu nước nồng nàn chống Pháp của nhân dân
Trang 24ta, luôn gắn bó chặt chẽ với chính trị, với những biến cố của lịch sử Như NguyễnKhuyến và Tế Xương đều là những nhà thơ hiện thực trào phúng nhưng cũng cónhiều bài thơ trữ tình, độc đáo và sắc sảo Chúng ta thấy rằng, nói đến văn học thìkhông thể thiếu là ngôn ngữ, thể loại và nghệ thuật
Văn học Việt Nam giai đoạn trước nửa cuối thế kỷ 19 này đầu tiên thể hiệnkhuynh hướng yêu nước chống Pháp, là truyền thống lâu đời của dân tộc ta Vănhọc chống Pháp ra đời chính là để thể hiện lòng yêu nước và vạch trần những tội áccủa thực dân Pháp, những bọn vua quan vô trách nhiệm, bè lũ một cách sắc sảo.Như tác phẩm Hà thành chính khí ca, Vè thất thủ kinh đô , tác giả tiểu biểu nhưNguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông Thứ hai là khuynh hướng hiện thực tràophúng chính là các nhà thơ dùng ngòi bút của mình để nói tới những mặt trái của
xã hội nhưng qua lăng kính hài hước như Nguyễn Khuyến, Tế Xương Tiếp đó, làkhuynh hướng thoát ly hưởng lạc và thường viết về thiên nhiên, thời thế, có lòngyêu nước thầm kín với cuộc sống ăn chơi, hưởng lạc của tầng lớp quan lại
Chắc hẳn, văn học yêu nước giai đoạn 1858-1900 này đã thể hiện văn thơyêu nước và chính điều đó gắn liền với vận mệnh dân tộc qua các vấn đề chính trị
và nhân sinh quan Đối với vấn đề chính trị diễn tả việc chống Pháp và chống thỏahiệp, đây là vấn đề quan trọng trong văn học yêu nước chống Pháp giai đoạn này.Thể hiện rõ ràng nhất là tác giả Nguyễn Đình Chiểu qua tác phẩm “ Văn tế nghĩa sĩCần Giuộc”:
“Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình
Chẳng thèm trốn ngược, trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.”
Đây chính là ca ngợi tinh thần chiến đấu của nhân dân ta với tinh thần yêunước Thứ hai đó là vấn đề nhân sinh quan như: “ Thà chết vinh còn hơn sốngnhục” để thể hiện sống để đánh giặc, chết vì nước nhà nhưng theo giặc đầu hàng lànhục Hay như Nguyễn Đình Chiểu từng viết:
“ Nhớ câu kiến nghĩa bất vi Làm người thế ấy cũng phi anh hùng.”
Chưa dừng lại ở đó, văn học yêu nước giai đoạn trước nửa cuối thế kỷ 19này nói tới văn thơ yêu nước luôn gắn bó với dân tộc, với con người Nhờ có văn