1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ôn tâp văn học việt nam giai đoạn 1900 1945

49 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 78,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thể văn trần thuật nói chung, tiểu thuyết nói riêng trong những năm 1900 -1945 có sự phát triển hết sức mạnh mẽ trên nhiều mặt, từ đội ngũ tác giả, sự đadạng về thể tài, sự phong phú về

Trang 1

Họ và tên: Đặng Thu Hòa

Lớp: K58 Văn học CLC

MSSV: 13032411

KIỂM TRA GIỮA KÌ

Môn: Văn học Việt Nam giai đoạn 1900 - 1945

Đề bài: Nêu những yếu tố hiện đại thể hiện trong tiểu thuyết lịch sử “Tiêu sơn tráng sĩ” (Khái Hưng)?

Bài Làm

Văn học ở mỗi thời điểm đều có những bước chuyển biến mạnh mẽ gắn liềnvới thăng trầm của lịch sử Dưới ánh sáng của thời đại, hoàn cảnh hiện thực soichiếu vào các tác phẩm văn chương và tạo nên những đội ngũ sáng tác mangnhững đặc trưng riêng của giai đoạn Xã hội Việt Nam những năm 1900 - 1945 làthời kì được nuôi sống bằng một hệ thần kinh nho giáo phong kiến tập tành Tâyhọc Do đó, những tác phẩm trong giai đoạn này có những đổi mới Tây hóa trênnhiều bình diện, từ hình thức thể loại đến tư tưởng, bút pháp,…Bên cạnh nhữngthành công và nổi bật cách tân của Thơ Mới cùng Tự lực văn đoàn thì ở thể văntrần thuật, quá trình hiện đại hóa văn chương được phán ánh một cách đậm đặcnhất Những thể văn vốn được coi là “bên lề” đời sống văn học – tiểu thuyết,truyện ngắn, thì đến giai đoạn này vụt sáng trở thành những vận động viên tiềmnăng, những ứng cử viên sáng giá của nền văn học đang trong giai đoạn chuyểngiao

Thể văn trần thuật nói chung, tiểu thuyết nói riêng trong những năm 1900

-1945 có sự phát triển hết sức mạnh mẽ trên nhiều mặt, từ đội ngũ tác giả, sự đadạng về thể tài, sự phong phú về đề tài và chủ đề đến sự hiện đại của thi pháp.Những đổi mới này rõ ràng cho thấy sự đổi mới về tư tưởng, nhận thức từ chínhchủ thể sáng tạo lẫn chủ thể tiếp nhận Bởi lẽ, đến giai đoạn này, quá trình trao đổihai chiều giữa tác giả - tác phẩm – người đọc ở trạng thái động và luân chuyển tuần

Trang 2

hoàn, văn chương đã trở thành một nghề dựa trên nhu cầu của người xem Điềunày cũng một phần thúc đẩy sức sáng tạo và tìm tòi của đội ngũ sáng tác, đem đếnnhững tác phẩm có giá trị và mang tính thực tế hơn.

Bên cạnh những tiểu thuyết trong vùng tâm lí, xã hội thì tiểu thuyết lịch sửlại có những ngôi vị riêng trong vương quốc của mình Cái tên có thể kể đến như làmột trong số những vị kiện tướng của loại thể này: nhóm Ngô Gia văn phái với tácphẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí Bên cạnh nhóm tác giả này, Khái Hưng là mộtcái tên vừa lạ lẫm vừa thân quen Bởi lẽ, trên thi đàn của Thơ Mới, Khái Hưng như

là một vị thủ lĩnh xuất sắc, tuy nhiên, với thể loại tiểu thuyết lịch sử, Khái Hưngkhông phải là cây bút có tần suất xuất hiện dày đặc, ông vắt kiệt tinh huyết của

mình trong một tác phẩm duy nhất và công phu nhất – Tiêu Sơn tráng sĩ Tiêu sơn

tráng sĩ tái hiện một giai đoạn lịch sử hơn 200 năm thời Lê mạt Nguyễn sơ, dựa

vào một số chi tiết sử viết thành truyện đã có cách đây hàng nghìn năm như TamQuốc chí, Đông Chu liệt quốc, xây dựng lại hình ảnh hào hùng về tổ chức và hoạtđộng của Đảng Tiêu Sơn, phò Lê chống lại Tây Sơn với những chiến sĩ gan dạ, anhhùng như Phạm Quang Ngọc, Phạm Thái, Nhị Nương, Mặc dù đây là tác phẩmtiểu thuyết lịch sử duy nhất nhưng Khái Hưng đã thể hiện rõ cái tôi và tính sángtạo, đóng góp to lớn của mình cho nền văn học nước nhà thông qua những yếu tốhiện đại trong hơn 400 trang của cuốn tiểu thuyết

Tiêu sơn tráng sĩ được viết năm 1940 khi Khái Hưng dấn thân vào làng Đại

Việt tranh đấu giành độc lập, tự do, vậy nên ông đã lấy truyện xưa để che mắt bọnmật thám thực dân để khơi dậy lòng yêu nước của các thanh niện và cũng đưa rahình ảnh Phạm Thái vì tình yêu sa ngã để họ lấy đó làm gương xấu mà tránh xa.Dưới ngọn bút nghiêm khắc, và nhãn quan của một nhà cách mạng, Khái Hưng đảkích Phạm Thái, là một kẻ yếu hèn, chỉ bởi một người đàn bà mà để mất hết nghịlực, nhân cách Từ một tráng sĩ kiêu hùng một thời ngang dọc, làm quân sư, phó

Trang 3

đảng trưởng, múa gươm trên lưng ngựa vào sinh ra tử chốn ba quân, xôngpha giữa tiếng chuông trống rầm trời, mù mịt bụi bay nay thất tình, chán đời, saysưa, bỏ đảng, giã từ vũ khí, rũ bỏ hết lý tưởng cao xa, báo đền ơn vua, trả thù cho

nhà, cho đảng, chôn vùi sự nghiệp chỉ vì "đôi mắt mỹ nhân" Một cách rõ ràng mà

nói, đây không phải là một cách viết hoàn toàn hiện đại, nhưng đặt trong bối cảnhcủa tiểu thuyết lịch sử trong giai đoạn này, thì việc xây dựng nhân vật và khai thác

nó ở những mặt tốt – xấu song hành là một trong số những yếu tố mới lạ, sáng tạo.Trước đó, với Hoàng Lê nhất thống chí, nhóm tác giả xây dựng các nhân vật theohai thái cực rõ ràng, hoặc tốt, hoặc xấu Điều này càng cho thấy khuynh hướng

nương theo nội tâm, chú trọng phân tích nội tâm nhân vật trong tiểu thuyết Tiêu

Sơn tráng sĩ.

Tiêu sơn tráng sĩ là cuốn tiểu thuyết có phần cốt truyện khác biệt so với

những tiểu thuyết lịch sử đương thời Tất cả ý chí, mộng tưởng, chí làm người anhhùng của nhân vật được tác giả gói gọn trong một số mối quan hệ bạn bè, tình yêu.Lối viết này, nếu xét một cách công bằng thì nó không có quá nhiều điều mới sovới trước đây nhưng nó lại được khai thác ở một khía cạnh khác – tình cảm đờisong thường ngày của nhân vật có sự chi phối lớn trong hành trình đi tìm sự nghiệp

và cống hiến

Đặc điểm thứ ba cần nhận thấy ở Tiêu sơn tráng sĩ là kiểu kết cấu chương

hồi, nhưng ở đó lại có những cách tân trong sự sắp xếp và đặt tên các hồi Thôngthường, đối với các tiểu thuyết lịch sử khác, mỗi hồi sẽ được đặt bằng một câumang tính chất khái quát nội dung của hồi đó và có tính vần điệu rõ nét, cụ thểtrong Hoàng Lê nhất thống chí, các hồi được đặt tên như sau: Đặng Tuyên phiđược yêu dấu, đứng đầu hậu cung, Vương thế tử bị truất ngôi, ra ở nhà kín (Hồi 1),Lập điện đô, bảy quan nhận di chúc, Giết Huy quận, ba quân phò Trịnh Dương

(Hồi 2),…Tuy nhiên, trong Tiêu sơn tráng sĩ, mỗi hồi đều được đặt tên bằng một

Trang 4

cụm từ ngắn gọn và hoàn toàn không có sắc thái biểu cảm trong đó (Hồi 1: Ngườikhách lạ, Hồi 2: Bến lo, ) Ở đây, có thể nhận thấy cái tôi hoàn toàn biến mất mộtcách sạch trơn trong cách đặt tên hồi của tác phẩm này, không còn chỗ cho bản ngã

và lý tưởng, tình cảm riêng của tác giả xuất hiện

Một điểm khác cần lưu ý với Tiêu sơn tráng sĩ là tiểu thuyết duy trì theo tâm

lý và hành động nhân vật nhưng vẫn theo một mạch thời gian nhất định, nói mộtcách chính xác nhất thì mạch thời gian đã bị làm mờ đi xếp sau mạch của tâm lýnhân vật Đây là một trong số những nét mới mà Khái Hưng đã xây dựng Thôngthường, tiểu thuyết lịch sử là quá trình ghi lại một cách chính xác trật tự thời gian

và tôn trọng sự thật đã trải qua, mạch thời gian là chủ đạo, tâm lý nhân vật chỉ là

những điều nương theo mạch chủ đạo đó Trong Tiêu sơn tráng sĩ, mỗi nhân vật

đều được miêu tả tâm lý khá sâu sắc và lý giải hành động nhân vật theo tâm lý đó,các chương hồi cũng sắp xếp và nối tiếp theo mạch này Mặt khác, theo mạch tiểuthuyết lịch sử thông thường, mỗi hồi là một sự việc giải quyết dang dở để làm tiền

đề “mớm” và hấp dẫn cho hồi sau Nhưng trong tác phẩm của mình, Khái Hưnggiải quyết các xung đột các sự kiện một cách dứt điểm trong từng hồi mà khônglàm các biến cố lay lắt sang những phần khác (Quang Ngọc giải cứu Lê Báo từquán rượu là những sự kiện ở hồi 1 và được tác giả đóng gói lại trong một hồi đó,đến hồi 2, một câu chuyện khác lại được kể và tạo nên các mạng lưới sự kiện dần

hé lộ) Đây có thể coi là một trong số những nét mới đáng ghi nhận trong Tiêu Sơn

tráng sĩ.

Nét nổi bật trong cuốn tiểu thuyết này của Khái Hưng là sự đề cập đến nữquyền Những nhân vật nữ của Khái Hưng mạnh bạo hơn phái nam, họ nhận thức

được vấn đề trách nhiệm, và họ thể hiện tinh thần cao thượng của tác giả, cách

miêu tả nhân vật không còn trừu tượng bóng bẩy mà cụ thể hơn Điển hình trong tiểu thuyết là nhân vật Nhị Nương – một người con gái văn võ song toàn, mưu cao

Trang 5

trí lược không thua kém bất kì nam nhân nào, thậm chí còn có phần hơn những tướng lĩnh khác trong đảng Tiêu Sơn Rõ ràng, việc xây dựng nhân vật này, Khái Hưng đã góp một tiếng nói đề cao người phụ nữ và giá trị con người của họ đối với cuộc sống và đối với vận mệnh quốc gia Tuy nhiên, cũng chính từ khía cạnh này, Khái Hưng xây dựng nhân vật Trương Quỳnh Như – nàng cũng ý thức và thấu hiểu được vận mệnh nhà Lê, thấu hiểu được hoài bão và chí lớn của Phạm Thái, tuy nhiên nàng cũng chính là nhân tố khiến Phạm Thái sa ngã và rơi vào sự

bi ai Khái Hưng rõ ràng đã đề cập đến cả mặt tích cực và tiêu cực của vấn đề, tuy

có phần khiên cưỡng và độc tôn Nhưng phải nói rằng, đây là cái nhìn có tầm vóc bao quát về nhân sinh và tâm lý.

Tình yêu cũng là một yếu tố được đề cập nhiều trong Tiêu sơn tráng sĩ, mà nhất là tình yêu hi sinh vì lý tưởng thì điều này ít có một tiểu thuyết lịch sử trước đây Khái Hưng quan tâm đến những bản năng, bản thể cảm xúc của con người,

do đó ông đề cập đến tình yêu nam nữ với cả hai dạng thức tác động của nó – một bên vì nghĩa, một bên mù quáng sa đà Điều này càng cho thấy giá trị nhân sinh và nhân đạo về con người của tác giả.

Tiêu sơn tráng sĩ kết thức bằng một cái kết mở - một điều mà thông thường không gặp ở tiểu thuyết lịch sử Cái kết mở đã tạo nên tính chân thật nhưng cũng đầy mộng ảo cho tác phẩm, mặc dù kết quả đều đã định sẵn trong lòng mỗi người.

Có lẽ đây là điểm khác biệt và hiện đại nhất từ một nhà văn chủ lực của Tự lực văn đoàn, của phong trào Thơ Mới.

Có thể nói, Tiêu sơn tráng sĩ của Khái Hưng với những nét hiện đại của nó

đã đóng góp một tiếng nói riêng biệt mà thống nhất trong dòng chảy của thể văntrần thuật giai đoạn 1900 – 1945 Những cách tân về nghệ thuật, đổi mới trong lí

Trang 6

tưởng đã đem đến giá trị vượt tầm thời đại của tác phẩm và thể hiện giá trị tư tưởngthúc đẩy gián tiếp, nuôi dưỡng tư tưởng chính trị một cách sâu sắc

Trang 7

SỰ VẬN ĐỘNG CỦA CÁC THỂ VĂN TRẦN THUẬT TRONG GIAIĐOẠN 1900 – 1945

Trong hệ thống các thể loại văn học, có thể nói, các thể văn trần thuật là bộphận phản ánh rõ nét nhất quá trình hiện đại hóa văn học Trong mười thế kỷ pháttriển của văn học Trung đại, bắt nguồn từ những nguyên nhân về quan niệm vănhọc và mỹ học (đề cao các thể trữ tình, tụng ca hơn các thể văn trần thuật) và xãhội (đô thị chậm phát triển, nhu cầu về văn học giải trí bị kiềm chế, số lượng ngườibiết chữ chỉ chiếm một phần nhỏ trong xã hội) nên các thể văn trần thuật phát triểnhết sức hạn chế, đặc biệt nếu so với các thơ trữ tình Số lượng tác phẩm ít ỏi, quy

mô tác phẩm hạn chế, đề tài chủ yếu là ghi chép lịch sử và các câu chuyện dângian, các bộ phận của văn học thị dân (các loại truyện diễm tình, trinh thám, kì án,kiếm hiệp ) phát triển hết sức yếu ớt Chỉ đến khi xã hội Việt Nam chuyển mìnhhiện đại hóa, ta mới chứng kiến sự phát triển có tính cách đột biến của các thể văntrần thuật (tiểu thuyết, truyện ngắn) Từ một thể văn “ở bên lề” của đời sống vănhọc, giờ đây, cùng với thơ trữ tình, các thể văn trần thuật đã trở thành “nhân vậtchính”, “đứng ở vị trí trung tâm” (theo cách hình dung của các nhà hình thức luậnNga) của đời sống văn học Số lượng tác giả, tác phẩm gia tăng một cách đột biến.Ngay trong những năm 1920, có những tác giả sáng tác hàng chục tiểu thuyết chỉtrong vòng mười năm (Hồ Biểu Chánh) hoặc có những cuốn tiểu thuyết có quy môhàng ngàn trang (các tiểu thuyết của Nguyễn Chánh Sắt ở Nam kỳ) Không nhữngthế, số lượng độc giả đọc các thể văn trần thuật tăng vọt, thuộc đủ mọi tầng lớpngười Gần như tờ báo nào trong giai đoạn 1932 – 1945 cũng có mục đăng truyệnngắn hoặc tiểu thuyết (dưới dạng feuilleton) Có những tờ báo chuyên xuất bản tiểuthuyết với số lượng hàng vạn bản (điển hình là Tiểu thuyết thứ bảy của Vũ ĐìnhLong) Phạm vi phản ánh của tiểu thuyết bám sát đời sống đương đại, phản chiếunhững vấn đề của con người đương thời, đồng thời, bút pháp tiểu thuyết cũng có

Trang 8

những vận động thay đổi mang tính triệt để, từ bỏ các khuôn mẫu truyện truyền kì,chí quái, tiểu thuyết chương hồi, truyện thơ truyền thống để du nhập những môhình tiểu thuyết hiện đại với những kỹ thuật viết tân kỳ của phương Tây Các loạihình thể tài tiểu thuyết, truyện cũng có sự phát triển hết sức đa dạng từ truyệnphiêu lưu, trinh thám, truyện tâm lý – xã hội, truyện phong tục, lịch sử, cho đếntruyện luận đề Có thể nói, trong toàn bộ nền văn học, các thể văn trần thuật chính

là đứa con của thời hiện đại

1 Sự vận động của đội ngũ tác giả

Sự vận động của đội ngũ tác giả, trên một phương diện, chính là hình ảnhphản chiếu sự vận động của đời sống văn học Điều này được phản ánh rất rõ trongmảng sáng tác trần thuật ở Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX Trong nửa đầu thế

kỷ XX, các thế hệ nhà văn tài năng không ngừng nối tiếp nhau xuất hiện, làmphong phú đời sống sáng tác văn học Tất nhiên, quan sát sự vận động của đời sốngvăn học Việt Nam đầu thế kỷ, không thể bỏ qua tính chất vùng miền Tính chất nàythể hiện rất rõ trong giai đoạn đầu của tiến trình hiện đại hóa Có một số quy luật

có thể dễ dàng nhận ra Trước hết, do miền Nam bị biến thành thuộc địa của Phápsớm nên quá trình hiện đại hóa văn học cũng diễn ra ở đây trước miền Bắc Thứhai, do đặc điểm là một vùng đất mới nên văn hóa miền Nam cũng có phần cởi mở,

ít tính hàn lâm hơn văn hóa ở miền Bắc thế nên Những quy luật này phản ánh rất

rõ trong đời sống văn học Các tác giả văn học miền Nam bước vào quá trình hiệnđại hóa sớm hơn các tác giả ở miền Bắc, đồng thời, học vấn của các tác giả nàycũng mềm dẻo, linh hoạt hơn, thường là thu nhận, tổng hợp nhiều nền học vấn

Những sáng kiến về một nền văn học hiện đại theo kiểu phương Tây và viếtbằng chữ Quốc ngữ xuất hiện ở những nhà văn miền Nam từ rất sớm, đặc biệt lànhững người công giáo Trường hợp điển hình là Nguyễn Trọng Quản, một người

Trang 9

công giáo đã từng được học trong trường của Nhà thờ tại Việt Nam và Algérie vànhờ đó, có một sự tiếp xúc với văn học phương Tây Chính sự tiếp xúc này đã làmxuất hiện trong ông ý định viết một tiểu thuyết kiểu mới về chính những con ngườiđương thời: cuốn Truyện thầy Lazaro Phiền Tuy vậy, có lẽ, trong giai đoạn đầucủa quá trình thuộc địa hóa Việt Nam, số lượng người sử dụng chữ quốc ngữ vẫncòn chưa nhiều, đặc biệt lại là những người có hiểu biết về văn học hiện đạiphương Tây, hơn nữa, tiểu thuyết văn xuôi kiểu mới vẫn là một cái gì quá lạ lẫmvới công chúng Việt Nam nên cuốn sách mới ra đời đã không được sự hưởng ứngcủa công chúng và có lẽ đó cũng chính là lí do khiến nhà văn này không tiếp tụcsáng tác

Phải đến sau những phong trào Duy tân với những khẩu hiệu kêu gọi sửdụng chữ quốc ngữ thay thế chữ Hán và chữ Nôm thì phong trào viết văn bằng chữquốc ngữ mới một lần nữa được khởi động nhưng lần này là trên phạm vi toànquốc Có một thế hệ những nhà văn viết trần thuật bằng chữ quốc ngữ mà nhữngngười tiêu biểu nhất có thể kể đến đó là Hồ Biểu Chánh, Lê Hoằng Mưu, TrầnChánh Chiếu ở Nam kỳ và Tản Đà, Phan Kế Bính ở Bắc Kỳ Đặc điểm chung củacác tác giả này đó là họ đều xuất thân từ nền giáo dục truyền thống và đã đưa kinhnghiệm sáng tác các thể văn truyền thống như tiểu thuyết chương hồi, truyện tiểu

sử nhân vật, truyện thơ vào đời sống văn chương đương đại Một số tác giả điểnhình như Phan Kế Bính vẫn trung thành với đề tài lịch sử (các tập truyện Nam Hải

dị nhân và tiểu thuyết Hưng Đạo đại vương) nhưng đa số các nhà văn còn lại đềutập trung vào đề tài đời sống đương đại Dẫu vậy, số lượng tác giả viết trần thuậtbằng chữ quốc ngữ trong hai thập niên đầu của thế kỷ XX vẫn còn thưa thớt Điềunày một phần cũng liên quan đến mặt bằng dân trí chưa cao, sự phổ biến của chữquốc ngữ và học vấn mới trong xã hội vẫn còn chưa rộng khắp

Trang 10

Phải đến những năm 1920, văn học mới thực sự chuyển mình Thực ra, ngaytrong những năm 1910, đội ngũ những người viết trần thuật vẫn tiếp tục có sự bổsung với những tác giả chuyên viết truyện ngắin như Nguyễn Bá Học hay PhạmDuy Tốn Nhưng, phải đến những năm 1920, thực sự có một sự đột biến trong độingũ những nhà văn viết trần thuật Điều đáng chú ý là trong giai đoạn này, văn học

ở Nam kỳ phát triển sôi động hơn hẳn so với ở Bắc kỳ với hàng trăm tác giảchuyên viết trần thuật và chủ yếu là tiểu thuyết mà những tên tuổi quan trọng cóthể kể đến là Tân Dân Tử, Phú Đức, Bửu Đình, Pham Minh Kiên, Biến Ngũ Nhi,Nguyễn Văn Vinh, Lê Hoằng Mưu, Hồ Biểu Chánh Ở miền Bắc, phải kể đến cáctên tuổi như Hoàng Ngọc Phách, Đặng Trần Phất, Nguyễn Công Hoan, NguyễnTường Tam, Vũ Bằng, Tam Lang Dẫu vậy, điều đặc biệt là các tác giả miền Bắctuy mỏng về đội ngũ, số lượng tác phẩm không nhiều nhưng lại tạo nên đượcnhững hiện tượng văn chương gây tiếng vang trong toàn quốc trong một thời giandài như tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách hay các truyện ngắn củaNguyễn Công Hoan trên An Nam tạp chí Hơn nữa, điều đáng kể là nhiều nhà vănsáng tác ở giai đoạn này, cả ở Nam kỳ lẫn Bắc kỳ đều xuất thân từ nhà trường tânhọc nên đã làm chủ nhiều kĩ thuật văn chương hiện đại

Sau 1932, đội ngũ những người viết văn liên tục được bổ sung những câybút tài năng Những nhà văn xuất hiện từ trước 1932 như Nhất Linh, Nguyễn CôngHoan tiếp tục sáng tác Nhiều nhà văn xuất thân từ nền giáo dục cựu học cũng cónhững thay đổi để bắt kịp với đời sống văn học đương đại mà điển hình là trườnghợp của Ngô Tất Tố Tuy vậy, chiếm số lượng áp đảo tuyệt đối vẫn là các nhà vănviết trần thuật xuất thân từ giáo dục tân học Những năm 1932 – 1935, những nhàvăn viết trần thuật gây được tiếng vang lớn trong đời sống phần lón đều thuộcnhóm Tự lực văn đoàn: Nhất Linh và Khái Hưng với những tiểu thuyết ký tênchung Ở phía “đối trọng” với TLVĐ là nhóm Tân dân với cây bút chủ đạo trong

Trang 11

thời gian này là Nguyễn Công Hoan Sau năm 1935, đội ngũ nhà văn viết trần thuậtkhông ngừng mở rộng, Nhất Linh và Khái Hưng của nhóm TLVĐ bắt đầu viết cáctác phẩm ký tên riêng đồng thời có sự bổ sung thêm cây bút truyện ngắn ThạchLam Đội ngũ những người viết cho Tân dân được mở rộng với Lan Khai, NguyễnTriệu Luật, Nhiều nhà văn trẻ xuất hiện trong đời sống văn học mà điển hình làNguyên Hồng Nhiều nhà văn trước đây chỉ chuyên viết phóng sự nay cũng chuyểnsang viết trần thuật và có những thành tựu lớn mà nổi bật là Vũ Trọng Phụng với

bộ ba tiểu thuyết Số đỏ, Giông tố, Vỡ đê Sau năm 1939, trong khi những tác giảlớp trước tiếp tục sáng tác và có những thành tựu đỉnh cao thì đội ngũ những ngườiviết trần thuật lại được tiếp tục bổ sung với một loạt tên tuổi quan trọng nhưNguyễn Tuân, Nam Cao, Tô Hoài, Bùi Hiển, Nguyễn Huy Tưởng

Như vậy, có thể nói, trong nửa đầu thế kỷ XX, đội ngũ những nhà văn viếtcác thể văn trần thuật không ngừng được bổ sung với những tài năng lớn, có trình

độ học vấn cao, am hiểu cả văn học truyền thống Việt Nam và văn học hiện đại thếgiới Chính họ đã làm nên sự lớn mạnh có tính đột biến của các thể văn trần thuậttrong giai đoạn đầu của tiến trình hiện đại hóa văn học ở Việt Nam

2 Sự đa dạng về thể tài

Sự phát triển của đội ngũ người viết các thể văn trần thuật đã kéo theo sựphát triển mạnh mẽ của bộ phận sáng tác trần thuật Một trong những dấu hiệuquan trọng của sự phát triển đó chính là sự đa dạng về thể tài Để thấy được tầmvóc của sự thay đổi này, cần phải nhìn lại sự vận động của văn học Trung Đại.Trong quá khứ, trần thuật không chỉ là một bộ phận chậm phát triển so với thơ ca

mà trong sự phát triển trần thuật, có sự phát triển không đồng đều giữa các thể tài.Điều này có thể nhận thấy rõ khi so sánh với sự phát triển của các thể văn trầnthuật trong văn học Trung Quốc Về trần thuật dài, tiểu thuyết chương hồi và tiểu

Trang 12

truyện thơ Nôm là hai hình thức chủ đạo Tiểu thuyết chương hồi Việt Nam thờiTrung Đại chủ yếu tập trung vào đề tài lịch sử Các dạng tiểu thuyết võ hiệp, kì án,diễm tình hoặc tiểu thuyết gia đình hầu như không phát triển Truyện thơ Nôm ởViệt Nam chủ yếu là viết về đề tài tài tử giai nhân với các cốt truyện tài tử giainhân vay mượn trong văn học Trung Quốc Về các thể trần thuật ngắn, dạng thứctrần thuật phát triển nhất vẫn là các dạng truyện chí quái, chí dị ghi chép lại cácthần tích, thần phả,các chuyện ma quái trong dân gian Từ thế kỷ XVI, bắt đầu xuấthiện loại truyện truyền kì, chịu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc với các cốttruyện phản ánh đời sống xã hội pha trộn với các yếu tố kỳ ảo, ma quái Tuy vậy,truyền kì ở Việt Nam không có sự phát triển mạnh về số lượng và nhiều tập truyền

kì vẫn có sự vay mượn cốt truyện của văn học và tín ngưỡng dân gian Tình trạngchậm phát triển nói trên một phần quan trọng có thể được giải thích bởi sự pháttriển chậm của đô thị và đời sống đô thị song song với việc nền văn hóa chủ yếumang tính chất tinh hoa, chữ viết và các sản phẩm văn hóa không được phổ biếntrong đại chúng

Sang đầu thế kỷ XX, cấu trúc thể tài của các thể văn trần thuật đã có sự thayđổi Thi pháp trần thuật thay đổi sâu sắc dưới sự ảnh hưởng của văn học phươngTây Truyện thơ chỉ còn tồn tại đến những năm 1920 sau đó, sự phổ biến của vănhóa đọc đã dẫn đến việc truyện văn xuôi thay thế dần truyện Nôm Tiểu thuyếtchương hồi duy trì ảnh hưởng đến năm 1920 sau đó cũng biến đổi dần để trở thànhtiểu thuyết hiện đại Truyện chí quái, chí dị không còn phổ biến như trước dù một

số nhà văn như Tchuya, Lan Khai, Nguyễn Tuân vẫn tiếp tục viết các truyện kỳ ảo,kinh dị Một phần quan trọng là do những quan niệm duy lý và tinh thần khoa học.Tiểu thuyết chương hồi về lịch sử biến đổi dần thành tiểu thuyết lịch sử và trởthành một trong những thể tài phát triển hết sức mạnh mẽ trong đời sống văn học.Tiểu thuyết lịch sử xuất hiện ngay trong thập niên đầu tiên của thế kỷ XX với tên

Trang 13

tuổi của Phan Kế Bính Trong những năm 1920, tiểu thuyết lịch sử ghi dấu các nhàvăn như Phạm Minh Kiên , Tân Dân Tử, Nguyễn Chánh Sắt, Đinh Gia Thuyết vàđặc biệt là Nguyễn Tử Siêu Sự phát triển của tiểu thuyết lịch sử trong giai đoạnnày chủ yếu gắn liền với tinh thần dân tộc, phản kháng lại một cách ngấm ngầmách đô hộ của người Pháp Sau năm 1932, bất chấp sự phát triển mạnh mẽ của cácdạng tiểu thuyết khác, tiểu thuyết lịch sử vẫn phát triển mạnh với các tên tuổi tàinăng như Khái Hưng, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Triệu Luật, Trần Thanh Mại, NgôTất Tố và Đào Trinh Nhất, Chu Thiên và đặc biệt là Nguyễn Huy Tưởng

Cùng với tiểu thuyết chương hồi về đề tài lịch sử, truyên thơ Nôm về tài tửgiai nhân cũng có những sự biến đổi như chuyển sang viết bằng văn xuôi, hiện đạihóa thi pháp, lấy đối tượng phản ánh la cuộc sống và con người đương đại để trởthành tiểu thuyết tâm lý diễm tình hiện đại Cần ghi nhận rằng tiểu thuyết hiện đạiđầu tiên đạt được sự thành công về mặt xã hội, được độc giả lẫn giới phê bìnhđương thời đánh giá cao, tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách chính là một

sự kết hợp giữa tiểu thuyết tâm lý, tiểu thuyết bằng thư kiểu Tây phương với tiểuthuyết tài tử giai nhân truyền thống của người Việt Sau 1932, tiểu thuyết và truyệntâm lý có sự phát triển mạnh theo hướng hiện đại hóa, du nhập các mô hình thể loại

và thi pháp của phương Tây Trong sự phát triển của nhóm thế tài này, có vai tròquan trọng của các nhà văn trong nhóm Tự lực văn đoàn Sau đó, phải kể đến têntuổi của những nhà văn quan trọng là Nguyễn Tuân và Nam Cao Một điều quantrọng cần phải được nhấn mạnh là sự phát triển của tiểu thuyết, truyện tâm lý gắnliền với sự đa dạng hóa về đề tài phản ánh (xem phần tiếp theo), không chỉ giới hạntrong đề tài tình yêu, hôn nhân mà còn mở rộng sang đề tài về đời sống trụy lạc củathanh niên hay những đấu tranh tư tưởng của trí thức, văn nghệ sĩ

Bên cạnh hai thể tài nói trên, có một thể tài cũng đặc biệt phát triển là cácloại truyện, tiểu thuyết luận đề Sự phát triển của nhóm thể loại này gắn liền với

Trang 14

nhu cầu đấu tranh về mặt chính trị, xã hội, văn hóa của nhà văn Các dạng truyện

và tiểu thuyết luận đề xuất hiện ngay trong giai đoạn đầu của văn học hiện đại vớicác sáng tác của Tản Đà, Nguyễn Bá Học với các chủ đề về đổi mới, hiện đại hóa

xã hội hoặc bảo vệ luân lý truyền thống Trong giai đoạn 1932 – 1939, tiểu thuyết,truyện luận đề trở thành một hình thức thể loại có tính thời thượng với các sáng tác

về đề tài tự do cá nhân, hôn nhân, gia đình, mối quan hệ giữa thế hệ trẻ và gia đìnhtruyền thống gắn với tên tuổi của các nhà văn như Nhất Linh, Khái Hưng, HoàngĐạo, Nguyễn Công Hoan Từ 1936 trở đi, các nhà văn nói trên ngoại trừ NguyễnCông Hoan vẫn tiếp tục viết truyện, tiểu thuyết luận đề nhưng chuyển sang đề tài

về người trí thức và trách nhiệm xã hội hoặc những suy tư về bản chất của nghệthuật và sứ mạng của người nghệ sĩ Nối tiếp mạch này là những sáng tác truyệnngắn của Nam Cao

Bên cạnh hai những thể tài ít nhiều có liên hệ với những thể tài mang tínhtruyền thống của văn học dân tộc nói trên, không thể không kể đến một thể loạitrần thuật xuất hiện cùng với quá trình hiện đại hóa văn học và hiện diện ở vị tríchủ lưu, với nhiều sáng tác có giá trị về nghệ thuật và tư tưởng: các dạng truyện,tiểu thuyết phong tục Khái niệm phong tục ở đây được hiểu không phải như lànhững thói quen sinh hoạt đặc trưng của một dân tộc mà là những sinh hoạt nóichung của một cộng đồng người Với cách hiểu như vậy, sự phát triển của truyện

và tiểu thuyết phong tục đặc biệt gắn bó với dòng văn học hiện thực với các nhàvăn như Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Công Hoan,Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Bùi Hiển, Nguyễn ĐìnhLạp Bên cạnh đó, tính chất mô tả phong tục cũng hiện diện trong sáng tác củanhóm Tự lực văn đoàn khi họ mô tả những sinh hoạt của đại gia đình phong kiến

và tầng lớp tư sản tiểu tư sản Trên một khía cạnh nhất định, cũng có thể coiNguyễn Tuân là một nhà văn mô tả phong tục điển hình khi ông tập trung tái hiện

Trang 15

đời sống truỵ lạc của một bộ phận thanh niên đương thời hoặc những thú chơi củagiới Nho sĩ thời trước

Những thể tài được liệt kê ở trên là những thể tài không chỉ phát triển mạnh

về số lượng mà còn có những tác phẩm có chất lượng về nghệ thuật, có giá trị lâubền trong đời sống văn học Bên cạnh những thể tài đó, cần phải ghi nhận sự pháttriển của một loạt những thể tài mang là sản phẩm trực tiếp của quá trình thươngmại hóa văn học: những thể tài mang tính giả trí sâu sắc Chúng tôi muốn nói đếncác dạng truyện trinh thám, truyện phiêu lưu Có thể nói các dạng thể tài này xuấthiện ngay trong giai đoạn đầu của quá trình hiện đại hóa văn học, đặc biệt là ởNam kì, nơi có một thị trường văn học với nhu cầu giải trí hết sức phát triển Sau

1932, những thể tài này phổ biến cả ở miền Bắc với những nhà văn chuyên viếttruyện trinh thám hoặc truyện phiêu lưu đường rừng như Lan Khai, Tchuya, Thế

Lữ và đặc biệt là Lê Văn Trương, người có một sức sáng tác phi thường với hàngchục đầu tác phẩm được sáng tác và xuất bản trước năm 1945 Dẫu vậy, do không

có một truyền thống lâu dài, do sức ép của thị trường và nên những dạng truyện,tiểu thuyết này mặc dù nhiều về số lượng nhưng không có được những đỉnh cao vềnghệ thuật

3 Sự phong phú về đề tài và chủ đề

Những vận động của trần thuật Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX khôngchỉ thể hiện qua sự đa dạng hóa của hệ thống thể tài mà còn qua sự thay đổi vềphạm vi phản ánh của tác phẩm Có thể nói, nhìn một cách khái quát, từ góc độphạm vi phản ánh, đã diễn ra những thay đổi mang tính cách mạng của thể văn trầnthuật Trong thời Trung đại, sáng tác trần thuật thường lựa chọn các đề tài quá khứhoặc vay mượn cốt truyện từ văn học nước ngoài Chúng ta đã biết rõ là TruyệnKiều của đại thi hào Nguyễn Du là được xây dựng trên cơ sở cốt truyện chương

Trang 16

hồi của Thanh Tâm Tài Nhân ở Trung Quốc Trong toàn bộ kho tàng truyện Nômbác học ở Việt Nam thời Trung Đại hiện chỉ có một truyện Nôm là được sáng tạohoàn toàn về cốt truyện là Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, dù trong truyện

có chỗ nhắc đến “Truyện Tây Minh” ở Trung Quốc Một hiện tượng khác cũng rấtphổ biến là các nhà văn thường lấy các đề tài có tính cách hồi cố Điển hình chokhuynh hướng này Truyền Kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ Mặc dù được sáng tác vàokhoảng thế kỷ XVI, vào thời Lê Mạt nhưng toàn bộ các truyện trong tập sách nàyđều lấy bối cảnh là giai đoạn cuối Trần đầu Hồ, nghĩa là vào thế kỷ XIV, cách đóhơn một thế kỷ Tất nhiên, dù vay mượn cốt truyện hoặc lấy bối cảnh quá khứnhưng hiện thực sinh hoạt được phản ảnh trong tác phẩm vẫn mang nhiều dáng dấpcủa xã hội đương thời, khi nhà văn sáng tác tác phẩm Dẫu vậy, vẫn phải thấy đây

là một đặc trưng về nội dung phản ánh của trần thuật trong giai đoạn Trung Đại.Điều này có thể được giải thích bằng việc chế độ quân chủ có một sự kiểm soátnghiêm ngặt về tư tưởng đối với sáng tác văn học Mọi sáng tác đề cập đến hiệnthực xã hội có tính đương đại đều có thể có nguy cơ động chạm đến những húy kịhoặc bị diễn dịch theo những cách thức bất lợi cho người cầm bút và dẫn đếnnhững sự nguy hiểm cho tác giả Việc lựa chọn những đề tài có tính hồi cố hoặcvay mượn cốt truyện cũng là một cách giữ an toàn cho người sáng tác Tất nhiên, ởđây, không loại trừ cả các nguyên nhân về mỹ học đặc thù của văn chương TrungĐại (tính tập cổ, sùng cổ, tính trữ tình )

Ngay từ cuối thế kỷ XIX, với những người đã được tiếp xúc với văn họcphương Tây như Nguyễn Trọng Quản, những hạn chế của trần thuật thời Trung đại

về phạm vi phản ánh đã sớm lộ ra Đó chính là lí do khiến ông lựa chọn câuchuyện về một con người đương thời, một con người bình thường với những lầmlạc và sám hối làm đối tượng phản ánh cho tác phẩm của mình Bước sang đầu thế

kỷ XX, trước yêu cầu nâng cao dân trí, chấn hưng đạo đức xã hội, trong một định

Trang 17

hướng chung là kiểm điểm lại nền văn hóa truyền thống, văn chương Trung Đạinói chung và sáng tác trần thuật nói riêng cũng bị đưa ra phê phán Nhà Nho yêunước cho rằng trần thuật truyền thống “mô tả sai cảnh thực”, “truyện chí quái,truyện truyền kì” chỉ kể lại những chuyện ma quỷ hão huyền, “sống say chếtmộng” mà không “mở mang trí khôn cho dân” Ngay cả những truyện tài tử giainhân mà điển hình là Truyện Kiều cũng bị đưa ra phê phán vì “ru ngủ thanh niên”trong chuyện tình ái, không khuyến khích óc phấn đấu và chí tiến thủ, thậm chítrNhững yêu cầu về tính chân thực, về giá trị nhận thức (được hình dung rằng tácphẩm trần thuật phải cung cấp những hiểu biết cụ thể về tự nhiên và xã hội để gópphần nâng cao dân trí cho nguời đọc) được đặt ra với những người viết trần thuật.Tất nhiên, ý thức về chức năng nhận thức không thể tách rời khỏi ý thức về chứcnăng giáo dục của trần thuật Sáng tác trần thuật được đòi hỏi phải góp phần vàocông cuộc cải lương phong tục, chấn hưng đạo đức xã hội Chính những quan điểmnày đã mở đường cho sự thay đổi của các thể văn trần thuật về phạm vi phản ánh

Nhìn một cách khái quát, thay đổi lớn nhất của các sáng tác trần thuật nửađầu thế kỷ XX so với trần thuật thời Trung đại trước hết thể hiện ở việc phạm viphản ánh của tác phẩm được hướng vào chính đời sống đương đại Hơn nữa, cáinhìn của nhà văn về hiện thực cũng trở nên phức tạp hơn Cái đời thường vớinhững hiện thực sinh hoạt bình dị được nhà văn quan tâm nhiều hơn Cái nhìn đơntuyến theo kiểu thiện – ác gắn với những giá trị đạo đức, luân lí cổ truyền củaKhổng giáo cũng từng bước được giải thể Thay vào đó là con người trong tínhchưa hoàn chỉnh, trong cuộc đấu tranh tốt - xấu, thiện – ác, trong sự tự hoàn thiện.Văn chương đương đại cũng lấy con người bình thường thuộc đủ mọi tầng lớp xãhội để đưa vào sáng tác, thay cho tính tinh hoa của văn chương Trung đại Đọc vănchương Trung đại, ta chỉ bắt gặp những con người xuất chúng ở những phươngdiện khác nhau (người Nho sĩ có đạo đức cao quý, ông quan có phẩm hạnh, người

Trang 18

tài tử, người giai nhân ) thì văn học Hiện đại đã đưa con người bình thường vàotrong sáng tác của mình, thậm chí cả những nhân vật méo mó, không hoàn chỉnh

về hình hài, bị tật bệnh về nhân cách và thuộc những tầng lớp dưới đáy xã hội.Những yếu tố kỳ ảo, hoang đường, siêu nhiên từng bước cũng được loại trừ khỏisáng tác trần thuật Thay vào đó là tinh thần duy lý, khoa học, “có thật”, “đúng sựthật” của con người đương đại Trên một cái nền chung đó, từng giai đoạn pháttriển của nền văn học lại nổi lên một số những đề tài mang tính đặc thù, thu hútnhiều cây bút sáng tác với những cách nhìn khác nhau

Dẫu vậy, sự đổi mới không có nghĩa là hoàn toàn cắt đứt với truyền thống Ởmột số đề tài, vẫn có thể nhận ra tính liên tục giữa truyền thống và hiện đại Điểnhình trong số này là đề tài lịch sử Trong quá khứ, đây cũng là một trong những đềtài phát triển mạnh nhất của trần thuật Trung đại với các bộ tiểu thuyết chương hồibằng chữ Hán mà điển hình là Hoàng Lê Nhất thống chí Bước sang giai đoạn hiệnđại hóa, mảnh đất màu mở của sáng tác trần thuật về đề tài lịch sử chính là tinhthần dân tộc luôn âm ỉ trong hoàn cảnh đất nước bị ngoại bang xâm lược Điều đógiải thích cho việc các trần thuật về đề tài lịch sử xuất hiện ngay trong giai đoạnđầu tiên của quá trình hiện đại hóa văn học và phát triển một cách liên tục cho đếnnăm 1945 Từ Hưng Đạo đại vương (tiểu thuyết lịch sử của Phan Kế Bính viết vềTrần Hưng Đạo, một nhân vật được người Việt Nam coi là một trong Tứ bất tử)cho đến Gia Long tẩu quốc của Phạm Minh Kiên (tiểu thuyết lịch sử viết về quátrình kháng chiến chống Tây Sơn của Hoàng đế Gia Long) hay Vua bà Triệu Ẩu(tiểu thuyết lịch sử viết về bà Triệu), Sấm trận đêm đông (tiểu thuyết lịch sử viết vềchiến thắng chống Thanh của hoàng đế Quang Trung) của Nguyễn Tử Siêu, lịch sử

đã trở thành một đề tài thu hút được nhiều nhà văn đồng thời cũng tạo được mộtlượng công chúng đông đảo Điểm chung của các tiểu thuyết này đó là tác giả củachúng đã khéo léo kết hợp nhu cầu giải trí với tinh thần dân tộc âm ỉ trong công

Trang 19

chúng đương thời Nhân vật chính của các tiểu thuyết này đa phần đều là nhữnganh hùng lịch sử danh tiếng của dân tộc, nội dung tiểu thuyết tập trung vào những

kì tích, đặc biệt là kì tích chống ngoại xâm của những vị anh hùng này Bên cạnh

đó, để thỏa mãn nhu cầu giải trí của công chúng, các tiểu thuyết này thường đượctriển khai với kết cấu chương hồi với cốt truyện nhấn mạnh vào các yếu tố giaotranh và mưu trí giống như những tiểu thuyết lịch sử Trung Quốc được dịch rất phổbiến trong giai đoạn đó mà điển hình là Tam Quốc diễn nghĩa (đã được nhiềungười dịch, cả ở trong Nam lẫn ngoài Bắc)

Sau 1932, bất chấp sự phát triển mạnh của các đề tài có tính thời sự, tiểuthuyết lịch sử vẫn phát triển một cách mạnh mẽ Trong giai đoạn này, đề tài lịch sửgắn với tên tuổi của những nhà văn như Khái Hưng, Lan Khai, Nguyễn TriệuLuật, Trần Thanh Mại, Ngô Tất Tố và Đào Trinh Nhất, Chu Thiên và đặc biệt làNguyễn Huy Tưởng Mỗi nhà văn trong số này lại triển khai những con đườngkhác nhau trong việc khai thác đề tài lịch sử Khái Hưng và Lan Khai có thể nói làđại diện cho một khuynh hướng mới trong việc khai thác đề tài lịch sử sau năm

1932 Nếu như Khái Hưng chỉ có một tiểu thuyết lịch sử là Tiêu Sơn tráng sĩ thìLan Khai được biết đến như một nhà văn chuyên chú ở đề tài lịch sử Ông có hàngloạt tiểu thuyết lịch sử như Ai lên Phố Cát, Chiếc Ngai vàng, Cái hột mận, Gái thờiloạn, Liếp Li, Bóng cờ trắng trong sương mù, Cưỡi đầu voi dữ, Đỉnh nonthần, Cả Khái Hưng và Lan Khai đều tích cực loại trừ cái trang nghiêm của trầnthuật về đề tài lịch sử trong giai đoạn trước, đưa vào cái không khí lãng mạn củathời đại Lịch sử đối với các ông chỉ còn là một cái khung cho sự hư cấu Bên cạnhnhững nhân vật có thật, các ông đều sáng tạo thêm hàng loạt nhân vật hư cấu đồngthời, trung tâm của tiểu thuyết lịch sử của các ông thường là các mối tình lãngmạn Có thể nói, Khái Hưng và Lan Khai đã tích cực khai thác đề tài lịch sử theohướng dã sử hóa Trong khi đó, các nhà văn như Đào Trinh Nhất, Trần Thanh Mại,

Trang 20

Nguyễn Triệu Luật vẫn đi theo con đường của các nhà văn trước năm 1932 nghĩa

là trung thành các chi tiết được ghi trong chính sử nên khó có thể phân biệt đượctiểu thuyết lịch sử của các ông với các ký sự lịch sử Tất nhiên, cũng có thể kể đếnmột khuynh hướng khác là khai thác nét đẹp mang tính phong tục của lịch sử Điểnhình cho khuynh hướng này là Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Chu Thiên Tiểu thuyếtcủa các ông thường tái hiện lại đời sống, sinh hoạt của những lớp người đã quatrong lịch sử, đặc biệt là tầng lớp Nho sĩ, trí thức Có thể nói, đây là một mảng đềtài có sức hấp dẫn lớn đối với nghệ thuật Việt Nam hiện đại Trong hội họa, trong

số những tác phẩm xuất hiện ở giai đoạn mở đầu của hội họa Việt Nam hiện đại, córất nhiều tác phẩm tái hiện lại đời sống, sinh hoạt của lớp người này, điển hình làcác họa phẩm Cụ đồ nho của Nam Sơn hay Buổi bình văn của Lê Văn Miến

Nếu như đề tài lịch sử ít nhiều thể hiện tính liên tục của trần thuật từ Trungđại đến Hiện đại về phạm vi phản ánh thì đề tài sinh hoạt xã hội lại là một trongnhững mảng đề tài thể hiện sự chuyển biến rõ nét của sáng tác trần thuật Khuynhhướng lấy hiện thực xã hội đương thời làm đối tượng phản ánh của trần thuật đãxuất hiện ngay từ tiểu thuyết hiện đại đầu tiên của nền văn học mới Truyện thầyLazarô Phiền Dẫu vậy, phải đến cuối những năm 1910 và đặc biệt là trong nhữngnăm 1920, với sự lớn mạnh của trần thuật bằng chữ quốc ngữ thì hiện thực đờisống xã hội mới thực sự tràn vào sáng tác văn chương Dù được viết với thể tàinào, truyện trinh thám, truyện phong tục hay tiểu thuyết diễm tình thì đối tượngphản ánh của tác phẩm cũng là đời sống của những con người đương thời, từnhững người tá điền bình thường ở nông thôn Nam Bộ hay người nông dân ở đồngbằng Bắc Bộ, từ những thanh niên tân học cho đến những tư sản dân tộc, từ đámlưu manh, giang hồ cho đến quan lại, tư sản mại bản Đặc biệt, trong giai đoạn nàyphải kể đến vai trò của các nhà văn Nam kỳ trong việc thúc đẩy sự phát triển mạnh

mẽ của trần thuật hiện đại nói chung và mảng đề tài sinh hoạt xã hội nói riêng Mối

Trang 21

quan tâm chủ yếu của nhà văn trong giai đoạn này là sự bần cùng của con người vànhững tệ nạn mà quá trình tư sản hóa gây ra Đời sống trở nên tự do hơn Môitrường sống được mở rộng ra ngoài môi trường làng xã và chủ yếu là hướng tới đờisống đô thị Nhiều giá trị cổ truyền bắt đầu bị rạn vỡ Trong văn chương Nam kỳ,con người đã trở nên hết sức tự do trong các quan hệ luyến ái và tình dục Hiệntượng quan hệ tình dục trước hôn nhân đã trở nên phổ biến trong các tiểu thuyếtcủa Hồ Biểu Chánh Đặc biệt, tình dục cũng không còn là một đề tài cấm kỵ Dẫuvậy, đi kèm với sự tự do lại là tình trạng tháo cũi sổ lồng của dục vọng Đủ thứ dụcvọng từ tiền bạc, danh vọng cho đến khoái lạc xác thịt Đi kèm theo nó là những tệđoan hủy diệt những giá trị đạo đức truyền thống Lừa đảo, trộm cướp và đặc biệt

là nạn ngoại tình trở nên những vấn đề trầm trọng được phản ánh trong trần thuật.Trần thuật phản ánh nỗi băn khoăn của nhà văn trước sự hủy diệt của những giá trịđạo đức truyền thống Nhà văn cảnh báo con người thông qua số phận bi thảm củanhững con người là nạn nhân của dục vọng đồng thời vẫn đề cao những giá trị hiếunghĩa, chung thủy giữa vợ chồng, bạn bè thông qua các nhân vật chính diện vượtqua những thử thách của cuộc đời để giữ vững xác tín đạo đức của mình và cuốicùng được đền bù bằng hạnh phúc trong cuộc sống Có thể nói, đã hình thành mộtthứ chủ nghĩa hiện thực đạo lí trong văn chương trần thuật Việt Nam trước năm

Trang 22

dưới đáy bòn mót đủ mọi cách để có được miếng ăn, những người nghệ sĩ biểudiễn nghệ thuật chỉ vì tiền, những ông chủ bút báo chí làm báo chỉ với một lí tưởngduy nhất là tăng được số lượng phát hành, sự phân hóa xã hội đến mức mạng ngườikhông đắt giá bằng một con chó nhập khẩu tất cả đều được phản ánh trong nhữngtruyện ngắn của Nguyễn Công Hoan mà sau này được tập hợp trong tập truyệnngắn Kép Tư Bền nổi tiếng Sự tha hóa và sự bần cùng bắt đầu trở thành một chủ

đề lớn của các sáng tác trần thuật trong suốt những năm 1930 với hàng loạt nhàvăn tên tuổi như Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Ngọc Giao, Ngô Tất Tố vàđặc biệt là Vũ Trọng Phụng Ở một số nhà văn bắt đầu có sự chuyên môn hóa trongsáng tác Nếu như Ngô Tất Tố chuyên chú trong mảng đề tài nông thôn, NguyênHồng với các sáng tác về đời sống của những kẻ lưu manh du đãng thì Vũ TrọngPhụng lại chuyên sáng tác về các tầng lớp người ở đô thị từ doanh nhân, nghệ sĩcho đến tư sản, chính trị gia Gần như một hệ giá trị đã được hình thành với hailoại người: những người nghèo hèn đáng thương nạn nhân của quá trình tư sản hóa

và những kẻ thuộc tầng lớp trên với sự tha hóa không thể nào cứu vãn Có nhữngnhà văn đẩy cái nhìn của mình đến mức cự đoan mà điển hình là Vũ Trọng Phụng.Trong thế giới tiểu thuyết của ông, gần như không có bất cứ nhân vật nào thoátkhỏi sự tha hóa do dục vọng xui khiến Không những thế, trong thế giới của ông,

sự giả dối cũng ngự trị một cách tuyệt đối Nhà văn cũng đặc biệt chú ý tới các mô

tả phong tục gồm những sinh họat, phục sức, nói năng, ngôn ngữ của nhân vật Cóthể nói, đó là một thứ chủ nghĩa hiện thực sinh hoạt với sự ưu tiên của nhà vănhướng vào những sinh hoạt bên ngoài hơn đời sống tinh thần của nhân vật Bêncạnh các yếu tố trên, cũng không thể phủ nhận được ảnh hưởng của các phong trào

xã hội với cách thức tiếp cận hiện thực của các nhà văn, đặc biệt là trong nhữngnăm 1936 – 1939, thời điểm Đảng cộng sản đã tận dụng được những cởi mở vềchính trị xã hội để phổ biến những tư tưởng về xã hội của mình Trong giai đoạnnày, cái nhìn giai cấp đã thay thế cho cái nhìn đạo lí của các nhà văn trước 1932

Trang 23

Trong những tiểu thuyết như Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan hay Tắtđèn của Ngô Tất Tố, những xung đột giai cấp trong xã hội, đặc biệt là ở nông thôn

đã được thể hiện một cách hết sức chân thực

Bên cạnh mảng đề tài về sinh hoạt xã hội, mảng đề tài liên quan đến nhữngvấn đề của con người cá nhân hiện đại cũng là một mảng đề tài thể hiện sự thay đổicủa trần thuật hiện đại về phạm vi phản ánh Đây là hệ quả trực tiếp của nhữngthay đổi về mặt ý thức hệ của xã hội Việt Nam trong giai đoạn hiện đại hóa và tưsản hóa Khổng giáo dần dất mất vị thế là một ý thức hệ độc tôn được chính quyềnbảo trợ Tư tưởng dân chủ tư sản và sau đó, những ý thức hệ có nguồn gốc từphương Tây bắt đầu tràn vào Việt Nam mà trong đó, ý thức hệ có ảnh hưởng lớnnhất trong đời sống xã hội chính là chủ nghĩa cá nhân hiện đại Trên thực tế, những

tư tưởng cá nhân chủ nghĩa đã xuất hiện ngay từ trong tiểu thuyết hiện đại đầu tiêncủa văn học hiện đại, Truyện thầy Lazarô Phiền, dưới hình thức cuộc đấu tranh củacon người cá nhân với tội lỗi của chính mình và hành trình của anh ta đi tìm sự giảithoát, một chủ đề mang màu sắc Ki tô giáo rất rõ nét Tuy vậy, phải đến sau 1920sau khi xã hội Việt Nam đã trải qua hai thập niên hiện đại hóa và tư sản hóa thì chủnghĩa cá nhân mới hiện diện một cách rõ nét trong văn chương Việt Nam và đặcbiệt là trong các sáng tác trần thuật Sự hiện diện của chủ nghĩa cá nhân trong trầnthuật Việt Nam hiện đại trước hết, được gắn với đề tài tình yêu, hôn nhân, gia đình,một đề tài mà nếu nhìn lại mười thế kỷ phát triển của văn học Trung đại, có thể nói

là có một lịch sử phát triển lâu dài Điển hình cho mảng đề tài này phải kể đến tiểuthuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách Đây là tiểu thuyết tái hiện lại một mối tình

bi thảm mang mầu sắc của những tiểu thuyết lãng mạn phương Tây cuối thế kỷXVIII như Nỗi đau chàng Werther của Goeth hoặc những tiểu thuyết cận đại của

Từ Trẩm Á ở Trung Quốc Nhân vật chính trong tiểu thuyết là một đôi trai gái,Đạm Thủy và Tố Tâm, đều thuộc lớp thanh niên tân học, có tài văn chương, vì cảm

Trang 24

mến tài năng thi ca (dấu vết rõ rệt của các tiểu thuyết tài tử giai nhân truyền thống)nên đến với nhau một cách tự do Dẫu vậy, khi tình yêu giữa hai người hình thànhcũng là khi họ phải đối diện với mặc cảm về việc đã vượt qua những lề thói truyềnthống về những cuộc hôn nhân do cha mẹ sắp xếp Cả hai đều trải qua một cuộcđấu tranh tư tưởng dữ dội (rất giống với những bi kịch của Racine và Corneille vềxung đột giữa nghĩa vụ và dục vọng) và cuối cùng thuận theo những quyết địnhcủa gia đình Dẫu vậy, đó lại là quyết định đưa họ đến một kết cục bi thảm: ngườicon gái chết vì bệnh tật và người con trai sống quãng đời còn lại trong nổi đau khổ.

Tố Tâm sau khi đã được công chúng, đặc biệt là thanh niên đón nhận một cáchnồng nhiệt trong suốt nhiều năm bởi lẽ đã phản ánh đúng những vấn đề của conngười cá nhân Việt Nam hiện đại: bắt đầu hình thành ý thức về quyền tự do cánhân nhưng vẫn chưa thể vượt qua những rào cản của phong tục và lễ giáo

Sau năm 1932, những vấn đề của con người cá nhân hiện đại trong mối quan

hệ với gia đình truyền thống sẽ có một sự thay đổi Sau gần mười năm, chủ nghĩa

cá nhân ngày càng ăn sâu bám rễ vào xã hội Việt Nam, lớp thanh niên tân học ngàycàng đông đảo về số lượng Bước sang giai đoạn này, đề tài tình yêu, hôn nhân, giađình được tiếp nối với các tiểu thuyết luận đề của Khái Hưng và Nhất Linh nhưHồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt hay Cô giáo Minh của NguyễnCông Hoan Con người cá nhân (thường là các chàng trai, cô gái tân học, đặc biệt

là các cô gái trẻ) trong giai đoạn này được đặt trong những xung đột với những lềthói của đại gia đình nhiều thế hệ truyền thống Con người cá nhân muốn tìm kiếmmột đời sống được làm chủ bản thân, được sống một cách phong phú về tâm hồn,được yêu và đi theo tiếng gọi của trái tim trong khi đó đại gia đình truyền thống lạibóp chết mọi khát vọng tự do, muốn biến con người thành những cỗ máy phụctùng và đảm bảo sự liên tục của dòng họ thông qua sứ mạng sinh nở Những tiểuthuyết này thường được viết theo lối luận đề và kết thúc bằng những kết thúc có

Ngày đăng: 14/03/2022, 21:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w