1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lý luận hình thái kinh tế xã hội với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta

16 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý luận hình thái kinh tế xã hội với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta Lý luận hình thái kinh tế xã hội với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta Lý luận hình thái kinh tế xã hội với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ



TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC MARX - LENIN

ĐỀ TÀI:

LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI

VỚI CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

CỦA NƯỚC TA

Giáo viê hướ n : Cô Nguyễn Thị Tùng Lâm

Sinh viên t ện : Nguyễn Bá Minh Đức

Hà Nội - 2022

1

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 3

NỘI DUNG 4

CHƯƠNG I HỌC THUYẾT VỀ HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI 4

1 Hình thái kinh tế xã hội 4

2 Vai trò của lực lượng sản xuất: 4

3 Vấn đề xây dựng hình thái kinh tế xã hội ở Việt Nam 7

CHƯƠNG II VẬN DỤNG LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾXÃ HỘI VỚI CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CNXH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 8

1 Đường lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch, phương hướng, mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay 8

2 Những định hướng của nước ta về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại 10

KẾT LUẬN 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

2

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Lý luận hình thái kinh tế xã hội là lý luận cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch

sử do C Mác xây dựng lên, có vị trí quan trọng trong triết học Mác Lênin Lý luận đó đã được khoa học thừa nhận và là phương pháp luận cơ bản trong việc nghiên cứu lĩnh vực xã hội Nhờ có lý luận hình thái kinh tế xã hội, lần đầu tiên trong lịch sử loài người, C.Mác đã chỉ rõ nguồn gốc, động lực bên trong, nội tại của sự phát triển xã hội, bản chất của từng chế độ xã hội, nghiên cứu về cấu trúc

cơ bản của xã hội, cho phép phân tích đời sống hết sức phức tạp của xã hội để chỉ ra các mối quan hệ biện chứng giữa các lĩnh vực cơ bản của nó; chỉ ra quy luật vận động và phát triển của nó như một qua trình lịch sử tự nhiên Lý luận đó giúp chúng ta nghiên cứu một cách đúng đắn và khoa học sự vận hành của xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định cũng như tiến trình vận động lịch

sử nói chung của xã hội loài người Song sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu khiến lý luận đó bị phê phán từ nhiều phía Sự phê phán đó không phải từ phía kẻ thù của chủ nghĩa Mác mà còn từ cả một số người đã từng

đi theo chủ nghĩa Mác Họ cho rằng lý luận, hình thái kinh tế xã hội của chủ‐ nghĩa Mác đã lỗi thời trong thời đại ngày nay Phải thay thế nó bằng một lý luận khác, chẳng hạn như lý luận về các nền văn minh Chính vì vậy việc làm rõ thực chất lý luận hình thái kinh tế xã hội, giá trị khoa học và tính thời đại của nó‐ đang là một đòi hỏi cấp thiết Về thực tiễn, tại Đại hội Đảng cộng sản toàn quốc lần thứ XI, Đảng đã khẳng định việc xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Chính vì những lý do trên việc nghiên cứu đề tài: “Lý luận hình thái kinh

tế xã hội với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta” có ý nghĩa thiết

thực cả về lý luận và thực tiễn

3

Trang 4

NỘI DUNG CHƯƠNG I HỌC THUYẾT VỀ HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI

1 Hình thái kinh tế xã hội

Hình thái kinh tế xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên quan

hệ sản xuất ấy Với từng giai đoạn phát triển lịch sử nhất định thì ở những giai đoạn đó sẽ tồn tại các mặt đối lập, các quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất, lực lượng lao động sinh hoạt khác nhau với phong tục tập quán của các nước trên thế giới cũng khác nhau Trình độ phát triển khác nhau, mỗi nước có một nền sản xuất, nền kinh tế khác nhau Nhưng cuối cùng thì đó sẽ là một kiến trúc thượng tầng được hình thành trong hình thái kinh tế xã hội đó nó cũng có những kết cấu và chức năng cùng các yếu tố cấu thành hình thái kinh tế xã hội

Xã hội không phải là tổng hợp của những hiện tượng sự kiện rời rạc, những

cá nhân riêng lẻ mà xã hội là một chính thể toàn vẹn có cơ cấu phức tạp, trong

đó có những mặt cơ bản nhất là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng Mỗi mặt đó có vai trò nhất định và tác động đến các mặt khác tạo nên sự vận động của xã hội Chính tính toàn vẹn được phản ánh bằng tổng thể các mặt của hình thái kinh tế xã hội

2 Vai trò của lực lượng sản xuất:

Lịch sử phát triển của xã hội loài người từ khi hình thành đến nay đã trải qua các giai đoạn phát triển cao thấp khác nhau, tương ứng với mỗi giai đoạn đó

là một hình thái kinh tế xã hội cụ thể, sự vận động và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử là do các qui luật khách quan chi phối đặc biệt là bị chi phối bởi qui luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất

và trình độ của lực lượng sản xuất Do đó C.Mác viết “Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên”

Trong đời sống hàng ngày những điều tất yếu mà xã hội nào cũng cần có đó

là sản xuất vật chất, sản xuất vật chất có vai trò rất lớn trong cuộc sống con

4

Trang 5

người, nó là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào tự nhiên, cải biên các dạng vật chất của tự nhiên để tạo ra của cải vật chất cho đời sống xã hội Đó là quá trình hoạt động có mục đích, nhằm cải biến những vật liệu tự nhiên làm cho nó thích hợp với nhu cầu của con người, sản xuất vật chất thực hiện trong quá trình lao động, chính trong quá trình lao động mà mỗi người phải liên kết với nhau để làm và mọi người làm là lực lượng sản xuất sinh ra từ đây Quan hệ sản xuất cũng sinh ra khi mọi người dựa vào nhau để làm ra của cải vật chất

Con người phải sản xuất của cải vật chất, đó là yêu cầu khách quan của sự sinh tồn xã hội Để sản xuất ra của cải vật chất thì phải cần đến lực lượng sản xuất vì sản xuất vật chất không những là cơ sở cho sự sinh tồn của xã hội, mà còn là cơ sở để hình thành nên tất cả các hình thức quan hệ xã hội khác Dù bất

cứ một hệ thống vật chất nào cũng đều có những kiểu quan hệ nhất định giữa các yếu tố cấu thành nó Trong đời sống xã hội, tất cả các quan hệ xã hội về nhà nước, chính trị, pháp quyền, đạo đức, nghệ thuật… đều hình thành và phát triển trên cơ sở sản xuất Trong quá trình sản xuất nhất định con người đồng thời sản xuất và tái sản xuất ra những quan hệ xã hội của mình

Muốn sản xuất ra của cải vật chất thì nó cũng có những nhân tố tất yếu của sản xuất và đời sống: Xã hội là một hệ thống tự điều khiển bằng những quy luật đặc thù của mình, song điều đó không có nghĩa là xã hội phát triển một cách biệt lập với tự nhiên Bởi vì tự nhiên là môi trường sống của con người hợp thành xã hội và xã hội trong đó có con người là sản phẩm phát triển tự nhiên Vai trò của điều kiện tự nhiên trước hết được thể hiện ở chỗ: Từ trong thế giới thực vật và động vật con người khai thác những tư liệu dinh dưỡng để chế biến ra tư liệu tiêu dùng; tài nguyên khoáng sản tự nhiên, con người chế tạo ra tư liệu sản xuất;

từ nguồn năng lượng tự nhiên con người sử dụng vào quá trình sản xuất như: sức gió, sức nước, sức hơi nước, điện, năng lượng của quá trình hoá học và các quá trình bên trong nguyên tử

Quá trình phát triển lịch sử tự nhiên của xã hội có nguồn gốc sâu xa ở sự phát triển của lực lượng sản xuất Những lực lượng sản xuất được tạo ra bằng

5

Trang 6

năng lực thực tiễn của con người, song không phải con người làm ra theo ý muốn chủ quan Bản thân năng lực thực tiễn của con người cũng bị quy định bởi nhiều điều kiện khách quan nhất định Người ta làm ra lực lượng sản xuất của mình dựa trên những lực lượng sản xuất đã đạt được trong mọi hình thái kinh tế

xã hội đã có sẵn do thế hệ trước tạo ra Lực lượng sản xuất biểu hiện quan hệ giữa người với giới tự nhiên

Đối tượng lao động không phải là toàn bộ giới tự nhiên mà chỉ có bộ phận của giới tự nhiên được đưa vào sản xuất, được con người sử dụng mới là đối tượng lao động trực tiếp Con người không chỉ tìm trong giới tự nhiên những đối tượng lao động có sẵn, mà còn sáng tạo ra bản thân đối tượng lao động Sự phát triển của sản xuất có liên quan với việc đưa những đối tượng ngày càng mới hơn vào quá trình sản xuất

Tư liệu lao động là vật thể hay là phức hợp vật thể mà con người đặt giữa mình với đối tượng lao động Vì vậy những tư liệu đó là kế tục của lịch sử chính những tính chất và trình độ kỹ thuật của lực lượng sản xuất đã quy định một cách khách quan tính chất và trình độ quan hệ sản xuất, do đó xét đến cùng lực lượng sản xuất quyết định quá trình vận động và phát triển của hình thái kinh tế

xã hội như một quá trình lịch sử tự nhiên

Ngày nay cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại đã tạo ra bước nhảy vọt lớn trong lực lượng sản xuất Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Khoa học trở thành điểm xuất phát cho những biến đổi to lớn trong kỹ thuật sản xuất, tạo ra những ngành sản xuất mới, kết hợp khoa học kỹ thuật thành một thể thống nhất, đưa đến những phương pháp công nghệ mới đem lại hiệu quả cao trong sản xuất Do khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp mà thành phần người cấu thành lực lượng sản xuất cũng thay đổi

Trong các quy luật khách quan chi phối sự vận động, phát triển của các hình thái kinh tế xã hội thì quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất có vai trò quyết định nhất Lực lượng sản xuất, một mặt là phương thức sản xuất, là yếu tố đảm bảo tính kế thừa trong sự phát triển tiến lên của xã hội, quy định khuynh hướng phát triển từ thấp đến cao

6

Trang 7

3 Vấn đề xây dựng hình thái kinh tế xã hội ở Việt Nam

Lần đầu tiên trong lịch sử xã hội học, học thuyết Mác Lê nin về hình thái kinh tế xã hội vạch ra nguồn gốc động lực bên trong của sự phát triển xã hội, tìm ra những nguyên nhân và cơ sở của sự xuất hiện và biến đổi của những hiện tượng xã hội, đặt cơ sở khoa học cho xã hội học, nâng xã hội học lên thành một khoa học thật sự, chống lại quan điểm duy tâm về lịch sử, coi xã hội học là sự kết hợp có tính chất máy móc của nhiều cá nhân và gia đình, coi sự vận động phát triển của xã hội là do ý chí của những nhà cần quyền chi phối Coi kỹ thuật

là cái chung quyết định tính chất chế độ xã hội là tiêu chuẩn khách quan phân biệt các hình thái kinh tế kinh tế xã hội

Nước ta chọn lựa con đường xã hội chủ nghĩa không qua giai đọan phát triển tư bản với ý nghĩa là bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đặc biệt là về mặt chính trị của chế độ đó tức không thể hình thành một hệ thống chính trị của giai cấp tư sản, trong đó đa số sống phụ thuộc vào lợi ích và quyền lực của thiểu số

Để xây dựng phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa, chúng ta chủ trương một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước nhằm phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất để xây dựng cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội, từng bước xã hội hoá xã hội chủ nghĩa Trong đó các đơn vị tập đoàn kinh tế nhà nước là nòng cốt Tức là chúng ta chỉ bỏ qua những gì mà xã hội mới có thể thay thế vào những quan hệ xã hội cũ đem laị hiệu quả kinh tế xã hội cao hơn Chúng

ta không chủ trương gạt bỏ cái cũ để có cái mới mà thực hiện chuyển hoá cái cũ thành cái mới

Vì cơ cấu và quy luật phổ biến tác động trong mọi hình thái kinh tế xã hội được biểu hiện theo những kiểu riêng biệt trong mỗi hình thái kinh tế xã hội cụ thể (cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa) Ở mỗi hình thái kinh tế xã hội cụ thể những quy luật phổ biên đó lại thể hiện theo những hình thức đặc thù thì ởnhững nước khác nhau Điều đó cho phép chúng ta có thể vận dụng những quy luật phổ biến để nghiên cứu một hình thái kinh tế xã hội cụ thể

7

Trang 8

CHƯƠNG II VẬN DỤNG LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾXÃ HỘI VỚI CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CNXH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1 Đường lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch, phương hướng, mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay

Tại Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của nước ta là: Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta,

là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử

Xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống

ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới

Đây là một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen Chúng ta có nhiều thuận lợi cơ bản: có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, có bản lĩnh chính trị vững vàng và dày dạn kinh nghiệm lãnh đạo; dân tộc ta là một dân tộc anh hùng, có ý chí vươn lên mãnh liệt; nhân dân ta có lòng yêu nước nồng nàn, có truyền thống đoàn kết và nhân ái, cần cù lao động và sáng tạo, luôn ủng hộ và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; chúng ta đã từng bước xây dựng được những cơ sở vật chất kỹ thuật rất quan trọng; cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, sự hình thành

8

Trang 9

và phát triển kinh tế tri thức cùng với quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế

là một thời cơ để phát triển

Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được

về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hoá phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc Để thực hiện thành công các mục tiêu trên, toàn Đảng, toàn dân ta cần nêu cao tinh thần cách mạng tiến công,

ý chí tự lực tự cường, phát huy mọi tiềm năng và trí tuệ, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, quán triệt và thực hiện tốt các phương hướng cơ bản sau đây: Một là, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường

Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Ba là, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn

xã hội

Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế

Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất

Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh

Trong quá trình thực hiện các phương hướng cơ bản đó, phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn: quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa tăng

9

Trang 10

trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; Không phiến diện, cực đoan, duy ý chí

2 Những định hướng của nước ta về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại

Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; các nguồn lực được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội Nhà nước quản lý nền kinh tế, định hướng, điều tiết, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất

Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên, môi trường; xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, có hiệu quả và bền vững, gắn kết chặt chẽ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ Coi trọng phát triển các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp chế tạo có tính nền tảng và các ngành công nghiệp có lợi thế; phát triển nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng đạt trình độ công nghệ cao, chất lượng cao gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới Bảo đảm phát triển hài hoà giữa các vùng, miền; thúc đẩy phát triển nhanh các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời tạo điều kiện phát triển các vùng có nhiều khó khăn Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế

10

Ngày đăng: 14/03/2022, 18:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w