Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ sản xuất bò sữa huyện đơn dương tỉnh lâm đồng Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ sản xuất bò sữa huyện đơn dương tỉnh lâm đồng Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ sản xuất bò sữa huyện đơn dương tỉnh lâm đồng Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ sản xuất bò sữa huyện đơn dương tỉnh lâm đồng Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ sản xuất bò sữa huyện đơn dương tỉnh lâm đồng Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ sản xuất bò sữa huyện đơn dương tỉnh lâm đồng Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ sản xuất bò sữa huyện đơn dương tỉnh lâm đồng Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ sản xuất bò sữa huyện đơn dương tỉnh lâm đồng Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ sản xuất bò sữa huyện đơn dương tỉnh lâm đồng Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ sản xuất bò sữa huyện đơn dương tỉnh lâm đồng Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ sản xuất bò sữa huyện đơn dương tỉnh lâm đồng Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ sản xuất bò sữa huyện đơn dương tỉnh lâm đồng Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ sản xuất bò sữa huyện đơn dương tỉnh lâm đồng Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ sản xuất bò sữa huyện đơn dương tỉnh lâm đồng Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ sản xuất bò sữa huyện đơn dương tỉnh lâm đồng Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ sản xuất bò sữa huyện đơn dương tỉnh lâm đồng Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ sản xuất bò sữa huyện đơn dương tỉnh lâm đồng Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ sản xuất bò sữa huyện đơn dương tỉnh lâm đồng Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ sản xuất bò sữa huyện đơn dương tỉnh lâm đồng Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ sản xuất bò sữa huyện đơn dương tỉnh lâm đồng Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ sản xuất bò sữa huyện đơn dương tỉnh lâm đồng Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ sản xuất bò sữa huyện đơn dương tỉnh lâm đồng
TỔNG QUAN
Địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Điều kiện tự nhiên a) V ị trí địa lý
Huyện Đơn Dương nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Lâm Đồng, ở độ cao trên 1.000 mét so với mực nước biển Về vị trí địa lý, phía Đông giáp tỉnh Ninh Thuận; phía Tây và phía Nam giáp huyện Đức Trọng; phía Bắc giáp Thành phố Đà Lạt và huyện Lạc Dương (Hình 2.1).
Hình 2 1 Các Huyện Thuộc Tỉnh Lâm Đồng
Nguồn: https://lamdong.gov.vn/ban-do-hanh-chinh/SitePages/Home.aspx b) Th ổ nhưỡng
Huyện X có tổng diện tích tự nhiên 61.032 ha Gồm các loại đất chính như đất phù sa cổ được bồi tụ, đất phù sa sông suối, đất phù sa không được bồi hàng năm, đất nâu đỏ trên bazan, đất đỏ vàng trên đá phiến và đất mùn vàng đỏ granit và dacit.
Ở độ cao khoảng 1000 m, địa hình được phân thành ba dạng chính: núi cao, đồi thoải lượn sóng và thung lũng sông suối Khí hậu Đơn Dương chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nguyên, chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 3 năm sau Độ ẩm trung bình khoảng 85%, lượng mưa hàng năm đạt 1.327 mm Nhiệt độ trung bình ôn hòa từ 21°C đến 22°C, và các hiện tượng thời tiết bất thường hiếm xảy ra.
2.1.2 Điều kiện xã hội a) Hành chính
Huyện Đơn Dương gồm 10 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 2 thị trấn là Thạnh Mỹ và D’Ran; dưới hai thị trấn có 8 xã gồm Đạ Ròn, Ka Đô, Ka Đơn, Lạc Lâm, Lạc Xuân, Pró, Quảng Lập và Tu Tra.
Hình 2 2 Các Thị Trấn và Xã Thuộc Huyện Đơn Dương
Đơn Dương có hai tuyến quốc lộ đi qua là Quốc lộ 27 – tuyến đường quan trọng nhất của huyện với chiều dài khoảng 30 km – và Quốc lộ 20 dài khoảng 5 km, cùng mạng lưới đường giao thông nông thôn dài 167,83 km phân bố trên 08 xã; phần lớn là đường đất nhưng lại được bổ sung bởi 22 cầu bắc qua sông suối, đảm bảo giao thông thuận tiện cho người dân Trước năm 1975, Đơn Dương có tuyến đường sắt Đà Lạt–Tháp Chàm, hiện nay tuyến đường sắt này vẫn chưa được khôi phục Về giáo dục, văn bản chưa nêu chi tiết.
Hiện nay huyện có hệ thống cơ sở giáo dục công lập gồm 11 trường mầm non, 22 trường tiểu học, 11 trường THCS, 5 trường THPT và 3 Trung tâm Giáo dục Thường Xuyên, LĐHN và dạy nghề.
Trên địa bàn huyện có 1 bệnh viện đa khoa, 2 phòng khám đa khoa khu vực và 10 trạm y tế xã-TT Tổng số giường bệnh trên địa bàn trên 120 giường, trong đó bệnh viện đa khoa trung tâm có trên 70 giường và hai phòng khám đa khoa khu vực có 20 giường.
2.1.3 Điều kiện kinh tế a) Sản xuất nông lâm nghiệp-
Trong năm 2019, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm trên địa bàn đạt 4.222,16 ha, trong đó: lúa 2.372,4 ha; ngô 362,35 ha; khoai lang 632,6 ha; rau, củ, quả 25.757,6 ha; hoa các loại 372,96 ha Tổng diện tích cây lâu năm hiện có đạt 2.945,05 ha, trong đó cà phê 1.512,2 ha và hồ tiêu 11,35 ha Diện tích cây ăn quả trên địa bàn đạt 1.389,05 ha.
Chăn nuôi trên địa bàn huyện đang dần ổn định, đặc biệt là lĩnh vực bò sữa Vài năm gần đây, giá sữa tăng cao mang lại thu nhập lớn nên nhiều hộ chọn nuôi bò lấy sữa Tổng đàn bò toàn huyện hiện đạt 26.750 con, tăng 0,62% so với cùng kỳ; trong đó bò sữa chiếm 13.310 con, tăng 5,97%.
Số con bò xuất chuồng đạt 2.505 con, tăng 1,13% so với cùng kỳ, sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng là 648,63 tấn, tăng 1% so với cùng kỳ
Lâm nghiệp: Diện tích rừng trồng mới tập trung năm 2019 đạt 11,58 ha b) Sản xuất công nghiệp đầu tư xây dựng-
Năm 2019, giá trị sản xuất theo giá thực tế của ngành sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp cá thể ước đạt 204.880,95 triệu đồng Trong cơ cấu này, ngành công nghiệp chế biến chế tạo đạt 203.750,53 triệu đồng, chiếm phần lớn giá trị sản xuất; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước đạt 1.058,42 triệu đồng Đầu tư xây dựng cơ bản ghi nhận 21 công trình xây dựng mới được triển khai c) Du lịch.
Các địa điểm có tiềm năng trở thành điểm du lịch của địa phương gồm Hồ Đanhim (TT Dran – H Đơn Dương), rừng cảnh quan đèo Ngoạn mục (Thôn Phú Thuận – TT Dran), hồ PRÓ (Thôn Đông Hồ – Xã Pró) và hồ Đàròn (Thôn Đàròn – Xã Đàròn).
Đối tượng nghiên cứu
2.2.1 Nông h s n xuộ ả ất sữa bò tại huyện Đơn Dương a) Giống, năng suất và sản lượng
Ở Đơn Dương, các hộ nông dân nuôi bò HF là chủ yếu nhằm phục vụ sản xuất sữa Đây cũng là giống bò được đề xuất trong nhiều đề án lai tạo, chọn lọc và phát triển giống bò sữa tại địa phương Giống bò HF được đánh giá cao nhờ khả năng cho sữa ổn định và phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai của vùng cao nguyên.
Holstein Friesian (HF), hay còn gọi là bò sữa Hà Lan, chủ yếu có màu trắng đen, nhưng vẫn có một số con màu trắng đỏ Bò sữa Hà Lan cho trung bình khoảng 50 lít sữa mỗi ngày, với chu kỳ 300 ngày cho sản lượng từ 10.000–15.000 lít mỗi năm khi nuôi ở điều kiện chăn nuôi chuẩn Tuy nhiên, khi nuôi ở các nước nhiệt đới như Việt Nam, năng suất mỗi ngày chỉ khoảng 15 lít, và với chu kỳ 300 ngày tổng sản lượng đạt khoảng 3.600–4.000 lít sữa tươi Số hộ chăn nuôi và quy mô chăn nuôi sẽ ảnh hưởng đến quy mô đàn và hiệu quả sản xuất sữa.
Vào năm 2017, quy mô đàn bò sữa trung bình mỗi hộ là 7 con, với quy mô lớn nhất 30 con và nhỏ nhất 3 con; tuy nhiên 92% hộ nuôi có quy mô dưới 10 con Đến tháng 8/2020, số lượng bò sữa trên địa bàn huyện tăng 41,5% trong 5 năm Toàn huyện hiện có 610 hộ chăn nuôi bò sữa tại gia đình với tổng đàn 10.780 con, quy mô trên 10 con/hộ; trong đó khoảng 5.066 con đang cho sữa Hai xã Tu Tra và Đạ Ròn có số lượng người nuôi nhiều nhất, Tu Tra có 4.654 con, Đạ Ròn 4.650 con; các xã còn lại nuôi ít hơn gồm Lạc Xuân 490 con, Quảng Lập 401 con và thị trấn Thạnh Mỹ 190 con Đến nay, huyện đã từng bước cơ giới hóa hầu hết các khâu trong chăn nuôi, từ làm đất, trồng cỏ, vận chuyển thức ăn và nước uống, chế biến thức ăn cho bò, đến sử dụng máy móc và xử lý chất thải sinh học Hằng năm người dân đã tiêm ngừa cho bò và thực hiện vệ sinh chuồng trại, khử trùng, tiêu độc đúng định kỳ Huyện có đội ngũ thú y cơ sở có kinh nghiệm, hoạt động thường xuyên và kịp thời hỗ trợ khi các hộ chăn nuôi cần Phần tiếp theo sẽ đề cập đến giá bán và thị trường tiêu thụ.
Giá bán sữa tươi tại Việt Nam từ sau khi Covid-19 được kiểm soát cho thấy ngành chăn nuôi và tiêu thụ sữa tươi vẫn ổn định Sữa tươi sản xuất ra được thu mua với mức giá từ 12.000 đồng đến 14.000 đồng/kg tùy chất lượng Đối với các hộ nông dân bán sữa tại chợ và thị trường nhỏ lẻ, giá khoảng 10.000 đồng cho mỗi lít vẫn được duy trì Trong nhiều tháng gần đây, giá sữa không có dấu hiệu sụt giảm.
Thị trường tiêu th : Tụ ại Đơn Dương hiện có 3 phương thức tiêu thụ lượng s a bò ữ sản xu t ra m i ngày: ấ ỗ
Thứ nhất, các doanh nghiệp thu mua sữa đã ký hợp đồng mua sữa tươi trực tiếp với các hộ nông dân, nhằm đảm bảo nguồn cung ổn định và chuỗi cung ứng minh bạch Các đối tác điển hình hiện nay gồm Vinamilk, Dalatmilk và Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam - VP Milk đóng vai trò chủ chốt trong mô hình này Qua các hợp đồng này, nông dân được nhận mức giá ổn định và doanh nghiệp có thể kiểm soát chất lượng, từ đó tối ưu hóa chu kỳ sản xuất và đảm bảo nguồn sữa tươi phục vụ thị trường.
Thứ hai, các hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã có thể đứng ra làm đầu mối thu mua sản phẩm từ các hộ thành viên và ký hợp đồng cung ứng cho các doanh nghiệp theo khối lượng cụ thể thông qua các trạm thu mua (bao gồm 10 trạm) Việc thiết lập liên kết giữa các hợp tác xã và doanh nghiệp theo cách này không chỉ tăng cường hiệu quả ở khâu đầu vào như cung cấp thức ăn, vật tư và công nghệ, đảm bảo chất lượng sản phẩm và tiết kiệm chi phí cho người nuôi mà còn xây dựng mối liên kết vững chắc với người nuôi tại địa phương.
Thứ ba, các doanh nghiệp đang đầu tư xây dựng chu trình sản xuất sữa khép kín từ chăn nuôi bò sữa, chế biến và tiêu thụ sản phẩm Hiện nay Vinamilk và Dalatmilk đã sở hữu các trang trại chăn nuôi bò sữa khép kín và cung cấp sữa tươi trực tiếp cho nhà máy chế biến sữa của chính đơn vị hàng ngày.
Việc liên kết theo chuỗi giá trị từ chăn nuôi bò sữa đến thu mua, chế biến và tiêu thụ sữa tươi nguyên liệu trên địa bàn hiện nay đã tạo nguồn nguyên liệu ổn định cho các công ty thu mua và sản xuất sữa Việc này giúp người nuôi bò sữa tại huyện Yên có thể yên tâm đầu tư, mở rộng quy mô chăn nuôi và tham gia mạng lưới sản xuất – tiêu thụ hiệu quả Nhờ đó nguồn sữa tươi chất lượng được đảm bảo cho thị trường, đồng thời phát triển mạng lưới cung ứng ổn định và tăng thu nhập cho người dân, góp phần thúc đẩy ngành chăn nuôi bò sữa phát triển bền vững.
2.2.2 Doanh nghi p thu mua s a bò t i huyệ ữ ạ ện Đơn Dương
Hiện tại, tại Đơn Dương có ba doanh nghiệp lớn tham gia đầu tư và liên kết với nông hộ sản xuất bò sữa, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người chăn nuôi thông qua mô hình hợp tác chuỗi giá trị, hỗ trợ kỹ thuật và thu mua ổn định Mô hình liên kết này giúp nâng cao hiệu quả nuôi bò sữa, cải thiện chất lượng sữa và tăng thu nhập cho nông dân, đồng thời khẳng định vai trò của doanh nghiệp trong phát triển ngành chăn nuôi địa phương.
CP sữa Việt Nam (Vinamilk), Công ty TNHH Friesland Campina Việt Nam - Dutch Lady và Công ty CP Sữa Đà Lạt (Dalatmilk) Trong đó, Công ty CP sữa Việt Nam (Vinamilk) chiếm đa số về hợp đồng liên kết tiêu thụ sữa với các nông hộ bò sữa trên địa bàn huyện
2.3 Tình hình liên k t gi a các doanh nghiế ữ ệp với nông h s n xu t bò s a t i huyộ ả ấ ữ ạ ện Đơn Dương a) Tình hình liên k t ế
Các nông h liên k t vộ ế ới các công ty để chăn nuôi bò sữa, trong đó các công ty cung cấp nguyên li u thệ ức ăn cho nông hộ và thu mua s n ph m sả ẩ ữa tươi trong ngày Riêng Công ty CP s a Viữ ệt Nam (Vinamilk) đã liên kế ới hơn 500 hột v trong t ng s h nuôi bò sổ ố ộ ữa toàn huy n; s h còn l i h p tác v i Công ty Friesland Capina Vi t Nam (Dutch Lady) và ệ ố ộ ạ ợ ớ ệ Công ty CP sữa Đà Lạt (Dalat Milk) Các công ty thu mua sữa đóng vai trò quan trọng trong cung cấp thức ăn cho bò, tư vấn và chuy n giao công ngh ể ệ trong chăn nuôi b) Điều kiện liên kết
Trong quá trình liên kết, nông dân chăn nuôi được ký hợp đồng liên kết cụ thể Ngoài điều kiện kỹ thuật, các công ty thu mua, chế biến sữa đặt quy định chỉ ký hợp đồng tiêu thụ sữa với những hộ chăn nuôi có quy mô đàn tối thiểu từ 10–12 con.
2.4 T ng quan tài li u tham kh o ổ ệ ả
Nguyễn Ngọc Sơn (2015) nghiên cứu "Phân tích hiện trạng kỹ thuật và kinh tế của mô hình chăn nuôi bò sữa ở vùng nước trời tại đồng bằng sông Cửu Long: trường hợp Sóc Trăng" nhằm khảo sát hiện trạng kỹ thuật, phân tích các yếu tố lợi ích và khó khăn của mô hình chăn nuôi bò sữa ở cấp độ nông hộ; phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình ở cấp độ nông hộ; đề xuất giải pháp nâng cao kỹ thuật chăn nuôi bò sữa Kết quả cho thấy hiện trạng tài nguyên đất ở nông hộ nuôi bò sữa cho thấy đất chủ yếu dành cho sản xuất lúa, trồng cây và rau màu; diện tích trồng cỏ còn thấp, lượng cỏ không đủ để cung cấp cho đàn bò sữa nên phải mua cỏ và rơm từ bên ngoài hoặc tận dụng rơm từ lúa sản xuất trong nông hộ Lợi nhuận và sản lượng sữa bình quân trên mỗi con bò sữa mỗi năm có xu hướng cao hơn ở các nông hộ có quy mô đàn lớn Các giải pháp đề xuất tập trung hỗ trợ về nguồn vốn và áp dụng các kỹ thuật quản lý chăm sóc bò sữa theo chuẩn tiên tiến, đồng thời đảm bảo nguồn thức ăn tinh sạch và đầy đủ để nâng cao hiệu quả chăn nuôi thông qua sản phẩm bê con.
Cuộc nghiên cứu của Lê Bảo Lâm và Phạm Văn Rạnh về Các yếu tố tác động đến năng suất bò sữa nuôi tại huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đã khảo sát 241 hộ nuôi bò sữa ở Đức Hòa, sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas và phương pháp hồi quy đa biến để phân tích và xác định các yếu tố ảnh hưởng Kết quả cho thấy có 9 biến ảnh hưởng đến năng suất sữa, trong đó 4 biến có mối quan hệ nghịch chiều và 5 biến có mối quan hệ thuận chiều với năng suất Các biến nghịch chiều gồm: hộ nuôi tham gia chương trình khuyến nông của huyện; hộ sử dụng rơm làm thức ăn cho bò; kinh nghiệm nuôi; thế hệ giống ban đầu là F3 Các biến đồng biến gồm: chi phí thức ăn; hộ sử dụng xác mì làm thức ăn cho bò sữa; nguồn cung cấp giống ban đầu từ Tây Ninh; nguồn cung cấp giống ban đầu từ Hóc Môn; số lao động tham gia nuôi Kết quả này gợi ý một số chính sách dành cho hộ nuôi và chính quyền địa phương nhằm nâng cao năng suất sữa của bò sữa nuôi tại Đức Hòa.
Minh Nguyệt đã tiến hành nghiên cứu "Phân tích và đề xuất các khuyến nghị chính sách cho ngành chăn nuôi bò sữa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế" Nghiên cứu áp dụng các phương pháp điều tra khảo sát, phỏng vấn, PRA cùng với phân tích thống kê, phân tích ngành hàng và phân tích kinh tế Kết quả cho thấy việc xây dựng và triển khai các chính sách hiện tại còn nhiều bất cập, ảnh hưởng đến quy mô sản xuất, nguồn lực ngân sách nhà nước và chuỗi giá trị của ngành chăn nuôi bò sữa Tuy nhiên, các khuyến nghị được đề xuất có tiềm năng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giúp Việt Nam thoát khỏi trạng thái thiếu cân đối tài nguyên và tạo điều kiện cho các ngành liên quan hưởng lợi từ quá trình hội nhập Các đề xuất này có thể đóng góp vào tăng cường hiệu quả sản xuất, cải thiện nguồn lực và cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp, nông dân và ngân sách nhà nước nếu được triển khai đồng bộ và có sự tham gia của các bên liên quan.
Cơ sở lí luận
3.1.1 Các khái ni m có liên quan ệ
Nông hộ được xác định là hộ gia đình ở nông thôn tham gia hoạt động sản xuất trong lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp bằng cách sử dụng nguồn lực sẵn có của hộ và tham gia một phần hay toàn bộ vào sản xuất theo thị trường Đặc điểm về đất đai cho thấy ruộng đất là yếu tố sản xuất chính, nguồn lực có giá trị lâu dài gắn bó với đời sống của nông hộ Đặc điểm về lao động cho thấy hầu hết nông hộ sử dụng lao động gia đình, đây được coi là đặc điểm kinh tế cơ sở và nổi bật nhất của nông hộ, giúp phân biệt kinh tế nông hộ với các xí nghiệp tư bản Đặc điểm về vốn và tiêu dùng cho rằng người nông dân làm công việc của gia đình chứ không phải làm công việc kinh doanh thuần túy; hoạt động kinh tế của nông hộ mang tính tự cung tự cấp và chủ yếu là kiếm thu nhập từ nông sản, không phải là hoạt động kinh doanh.
Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam (2014), doanh nghiệp là một tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ở địa chỉ xác định, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.
Doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi ích cho người tiêu dùng và thu lợi nhuận Các hình thức doanh nghiệp hiện nay bao gồm doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp cổ phần và công ty liên doanh Dưới góc độ mối quan hệ giữa doanh nghiệp và nông nghiệp, mối quan hệ này được hình thành và thể hiện thông qua hợp đồng nông nghiệp, đảm bảo liên kết và công nhận quyền lợi giữa các bên liên quan trong sản xuất, chế biến và phân phối nông sản.
Trần Quốc Nhân và Ikuo Takeuchi (2012) mô tả hợp đồng nông nghiệp theo hình thức hợp đồng (CF) như một thỏa thuận giữa nông dân và doanh nghiệp chế biến hoặc doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất và cung cấp nông sản, được thực hiện trên cơ sở cam kết giao hàng trong tương lai với mức giá đã được xác định trước Dựa trên hợp đồng này, nông dân cam kết cung ứng một loại hàng hóa cụ thể với số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu của người thu mua, trong khi người mua có cam kết hỗ trợ sản xuất cho nông dân và mua lại sản phẩm của họ, từ đó hình thành một chuỗi cung ứng nông sản có sự dự báo và ổn định.
Hợp đồng nông nghiệp là một hình thức liên kết sản xuất có cam kết rõ ràng giữa doanh nghiệp và hộ nông dân, trong đó hai bên đã thỏa thuận trước về sản lượng, chất lượng và giá cả Bên cạnh việc đảm bảo đầu ra cho người nông dân, nhiều doanh nghiệp còn cam kết hỗ trợ đầu vào như giống, vốn đầu tư và kỹ thuật để nâng cao hiệu quả sản xuất Đồng thời, các doanh nghiệp thường tổ chức các buổi tập huấn định kỳ nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng cho người nông dân, từ đó thúc đẩy sự ổn định của chuỗi cung ứng.
Nhận thức là quá trình phản ánh thực tại khách quan và sự tồn tại của các hiện tượng trong thế giới bên ngoài thông qua các giác quan truyền vào não bộ của con người Nó chi phối sự vận động và sự phát triển của các hiện tượng, đối tượng và sự vật quanh ta Nhận thức không chỉ phản ánh hiện tượng tại thời điểm hiện tại mà còn tích lũy kinh nghiệm và hình thành nhận thức về quá trình và tương lai Hoạt động nhận thức gồm nhiều quá trình khác nhau, thể hiện ở mức độ phản ánh thực tế khách quan và cho ra các sản phẩm nhận thức khác nhau Có thể phân loại nhận thức theo nhiều tiêu chí, từ mức độ phản ánh đến loại hình và phạm vi tác động, giúp ta hiểu rõ cách tiếp cận và diễn giải thế giới.
Nhận thức cảm tính là quá trình bao gồm hai thành phần chính: cảm giác và tri giác Các đặc tính bên ngoài của sự vật hiện tượng trực tiếp tác động lên các giác quan, tạo nên các tín hiệu cảm nhận ban đầu Lúc này, sự tác động đó được gọi là nhận thức cảm tính, giúp ta nhận diện thế giới xung quanh và làm nền tảng cho các cấp độ nhận thức tiếp theo.
Nhận thức lý tính là mức độ nhận thức cao hơn nhận thức cảm tính, trong đó cảm tính làm nền tảng và được bổ sung bởi tư duy cùng tưởng tượng về sự vật hay hiện tượng Lúc này nhận thức lý tính hình thành và phản ánh bản chất bên trong của sự vật hay hiện tượng thông qua khái quát, phân tích và liên hệ giữa các yếu tố Nhận thức lý tính giúp mở rộng hiểu biết bằng cách kết hợp quan sát, lý giải và sự sáng tạo, từ đó nêu lên các quy luật và mối quan hệ thiết yếu của thế giới.
Theo quan điểm của trường phái cổ điển, rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người (Bùi Thị Gia, 2005).
Theo quan điểm của trường phái trung hòa, rủi ro là sự biến động tiềm ẩn có thể ảnh hưởng đến kết quả của hoạt động con người Rủi ro có thể xuất hiện trong mọi hoạt động của con người, và khi có rủi ro, người ta không thể dự đoán chính xác kết quả sẽ ra sao Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất định, và nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào một hành động dẫn tới khả năng được hoặc mất mà không thể đoán trước được (Bùi Thị Gia, 2005).
Rủi ro nông nghiệp là những bất trắc và thiệt hại có thể xảy ra với người sản xuất do nhiều nguyên nhân như thời tiết khắc nghiệt, thiên tai, dịch bệnh và biến động giá cả Rủi ro được phân loại thành năm nhóm chính: rủi ro sản xuất, rủi ro giá, rủi ro thể chế (liên quan đến chính sách và quản lý), rủi ro do con người, và rủi ro tài chính Trong đó, hai nhóm rủi ro mà nông dân thường đối mặt nhiều nhất là rủi ro thị trường và rủi ro về giá, tức là biến động cung cầu và giá nông sản trên thị trường Nhận diện và quản lý các rủi ro này là chìa khóa giúp giảm thiệt hại và duy trì hiệu quả sản xuất nông nghiệp.
3.1.2 M t sộ ố chỉ tiêu tính toán a) K t qu ế ả
Chỉ tiêu đánh giá được thể hiện qua các chỉ số liên kết nông nghiệp: số lượng hộ nông dân tham gia liên kết hợp tác; diện tích đất nông dân tham gia liên kết; diện tích bình quân/hộ tham gia liên kết; số lượng doanh nghiệp tham gia liên kết; số lượng và giá trị các loại vật tư mà doanh nghiệp đầu tư cho nông dân tham gia liên kết; số nợ đầu tư mà doanh nghiệp thu từ nông dân tham gia liên kết; số lượng và giá trị nông sản doanh nghiệp thu mua từ nông dân tham gia liên kết.
Chỉ tiêu chất lượng thực hiện liên kết phản ánh qua các chỉ số như sản lượng bình quân trên mỗi ha, giá trị đầu tư vật tư bình quân/ha, vốn đầu tư bình quân/ha cho sản xuất, giá trị đầu tư của doanh nghiệp cho hoạt động liên kết và chi phí sản xuất; sản lượng bình quân doanh nghiệp thu mua từ nông hộ tham gia liên kết; tỷ lệ thu hồi vốn đầu tư của doanh nghiệp; tỷ lệ nông dân hoàn thành cam kết bán sản phẩm theo hợp đồng liên kết với doanh nghiệp và tỷ lệ nông dân vi phạm hoặc phá vỡ hợp đồng Hiệu quả sau liên kết được thể hiện qua mức tăng sản lượng, độ ổn định của nguồn cung và hiệu quả quản lý chi phí, từ đó nâng cao lợi ích cho cả nông dân và doanh nghiệp.
Hiệu quả kinh tế được đánh giá thông qua các chỉ tiêu như doanh thu, lợi nhuận và thu nhập, trong khi hiệu quả xã hội được thể hiện qua số lượng lao động nông nghiệp có việc làm nhờ các liên kết và tỷ lệ hộ nghèo giảm nhờ những liên kết này, từ đó nâng cao đời sống và thu nhập của người dân Đánh giá tổng thể nên kết hợp cả hai khía cạnh kinh tế và xã hội để phản ánh đầy đủ mức độ thành công của mô hình liên kết trong thực tế sản xuất và tiêu thụ.
3.1.3 Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
3.1.3.1 Cơ sở lý thuyết a) Lý thuy t liên k t kinh t ế ế ế
Liên kết kinh tế theo một cách có hệ thống là quá trình gắn kết mang tính tổ chức giữa các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế khác và nông dân để hình thành một mạng lưới liên kết trong kinh tế nông thôn Trong bối cảnh ấy, liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông dân là một thành phần quan trọng của liên kết kinh tế ở khu vực nông thôn, nơi các bên tham gia là doanh nghiệp và nông dân thực hiện một mô hình liên kết nông nghiệp – công nghiệp nhằm ổn định và nâng cao hiệu quả kinh tế (Hồ Quế Hậu, 2013).
Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Thu th p s u ậ ốliệ a) Số liệu th c p ứ ấ
Dữ liệu thu thập từ nhiều nguồn khác nhau gồm thông tin thống kê quốc gia và dữ liệu nông nghiệp; các luận án, luận văn, sách, tạp chí và báo cáo tổng kết trong và ngoài nước liên quan đến nội dung liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất nông nghiệp; các trường đại học và các trang web chuyên ngành Những thông tin này được sử dụng để nghiên cứu và làm rõ các vấn đề mang tính hệ thống, đồng thời tổng hợp thực trạng liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ trong chu trình sản xuất và chuỗi giá trị, làm cơ sở cho các phân tích ở cấp độ địa phương và tỉnh Lâm Đồng b) Số liệu sơ cấp được thu thập bổ sung nhằm kiểm chứng và cập nhật các kết quả nghiên cứu thông qua các phương pháp như khảo sát và phỏng vấn trực tiếp tại hiện trường.
Số lượng hộ điều tra: 300 h ộ
Thiết kế bảng hỏi cho điều tra (phỏng vấn) được xây dựng dựa trên các tiêu chí về đặc điểm, thực trạng, kết quả và hiệu quả của liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất bò, đồng thời lồng ghép những câu hỏi nhằm thu thập thông tin đầy đủ để đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nhằm tăng cường liên kết trong thời gian tới Sau khi chỉnh sửa và hoàn thiện phiếu điều tra, cuộc khảo sát sẽ được tiến hành tại các hộ nông dân ở huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng Thực hiện bằng phương pháp chọn mẫu phi xác suất và phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình tại địa bàn này.
3.2.2.1 Phương pháp thống kế mô tả
Dựa trên số liệu được tổng hợp, chúng tôi tiến hành ứng dụng phương pháp thống kê mô tả bằng cách sử dụng các công cụ SPSS và Excel nhằm đo lường các chỉ tiêu như giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất, tần số và tần suất Phương pháp này được triển khai với hai mục đích: mô tả đặc điểm của dữ liệu và hỗ trợ so sánh giữa các nhóm hoặc thời điểm để rút ra các kết luận về xu hướng và mức độ phân bố của biến nghiên cứu.
Đoạn này trình bày thống kê thành phần và đặc điểm nhân khẩu học cũng như đặc điểm xã hội học của các nông hộ nuôi bò sữa tham gia khảo sát Dữ liệu cho thấy cấu trúc hộ gia đình, trình độ học vấn, nghề nghiệp và nguồn thu nhập liên quan đến hoạt động nuôi bò sữa được phản ánh như thế nào trong mẫu khảo sát Các yếu tố xã hội học, bao gồm vai trò giới, mạng lưới hỗ trợ và thói quen tiếp cận thị trường, được phân tích từ hệ thống dữ liệu thu thập Từ những kết quả này, bài phân tích thực trạng chăn nuôi bò sữa của nông hộ tại đây nêu bật mức độ đóng góp của ngành nuôi bò sữa đối với sinh kế, đồng thời chỉ ra các thách thức và cơ hội phát triển chuỗi giá trị.
Kiểm định và so sánh sự khác biệt trong nhận thức của nông hộ về rủi ro trong chăn nuôi bò sữa theo từng đặc điểm riêng, từ đó đánh giá mức độ hiểu biết và các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tại khu vực này Bài viết phân tích các yếu tố như quy mô hộ, hình thức nuôi (trong chuồng kín hay thả), trình độ kỹ thuật và tiếp cận thông tin, điều kiện vệ sinh chuồng trại, nguồn lực thú y và chăm sóc đàn bò để nhận diện các rủi ro liên quan đến dịch bệnh, chi phí sản xuất và biến động giá Từ kết quả kiểm định, đề xuất các biện pháp giảm thiểu rủi ro, nâng cao nhận thức của nông hộ và cải thiện quản lý chuồng trại, an toàn sinh học và hiệu quả sản xuất bò sữa tại địa phương.
3.2.2.2 Phương pháp SEM a) Phương pháp phân tích
Mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) là một công cụ phân tích thống kê được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu khoa học nhờ khả năng linh hoạt mô hình hóa các quan hệ giữa các biến quan sát và biến tiềm ẩn Trong quá trình xây dựng mô hình đo lường cho đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa doanh nghiệp và nông sản ở Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng”, ta nhận thấy sự xuất hiện của các biến tiềm ẩn Vì vậy, việc áp dụng hồi quy đa biến hay hồi quy bội là không khả thi, do hai phương pháp này đòi hỏi các biến độc lập hoặc biến phụ thuộc phải được đo lường đầy đủ giá trị Giải pháp được đề xuất là sử dụng SEM, với ưu điểm nổi bật là cho phép hiện thị các biến tiềm ẩn và mô hình hóa đồng thời các quan hệ giữa biến tiềm ẩn với các biến quan sát.
Ngoài việc áp dụng mô hình SEM để đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ sản xuất bò sữa tại huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng, nghiên cứu còn sử dụng SEM để phân tích nhận thức về rủi ro trong chu trình chăn nuôi bò sữa của nông hộ ở địa phương.
Một sốchỉ ố ử ụ s s d ng trong mô hình SEM bao gồm:
Chỉ số SRMR (Standardized Root Mean Square Residual) là thước đo độ phù hợp (goodness of fit) của mô hình PLS-SEM, thể hiện mức độ sai lệch chuẩn giữa ma trận dự đoán và ma trận quan sát SRMR nên có giá trị càng nhỏ càng tốt, với ngưỡng tham chiếu thông dụng là dưới 0,08 hoặc 0,1 để xác nhận mô hình fit Mục đích của chỉ số SRMR là phát hiện và hạn chế sai lệch do cấu trúc mô hình hoặc đo lường, từ đó đảm bảo kết quả phân tích PLS-SEM phản ánh đúng mối quan hệ giữa các biến.
Độ tin cậy (Reliability) của các biến quan sát được đánh giá qua outer loading; khi giá trị này từ 0,5 trở lên, nó đạt yêu cầu về độ tin cậy Đối với độ tin cậy tổng hợp (composite reliability), khi hệ số này từ 0,7 trở lên, nó được xem là đạt độ tin cậy tốt và phù hợp cho phân tích.
Độ giá trị hội tụ (Convergent Validity) được sử dụng để đánh giá sự ổn định và tính đáng tin cậy của thang đo Đánh giá này được thực hiện thông qua hệ số AVE (Average Variance Extracted); AVE có giá trị lớn hơn hoặc bằng 0,5 được cho là đủ để khẳng định sự hội tụ của các yếu tố đo lường trong mô hình.
- H s t i c a m i bi n quan sát lên nhân t lệ ố ả ủ ỗ ế ố ớn hơn hoặc b ng 0,7 ch ng t có ý ằ ứ ỏ nghĩa là bằng chứng về độ tin cậy của các thang đo
Độ phân biệt (Discriminant Validity) đo lường mức độ khác biệt giữa các nhân tố được đo lường và đảm bảo các yếu tố này không bị trộn lẫn với nhau Đánh giá thường dựa trên AVE (Average Variance Extracted): giá trị căn bậc hai của AVE của mỗi nhân tố nên lớn hơn các hệ số tương quan giữa nhân tố đó với các nhân tố khác (theo chuẩn Fornell–Larcker) Bên cạnh đó, tải trọng đo lường của mỗi biến trên nhân tố của nó nên cao hơn so với tải trọng trên các nhân tố còn lại, nhằm củng cố tính phân biệt và độ tin cậy của mô hình.
Trong mô hình cấu trúc tuyến tính SEM, có hai kỹ thuật phổ biến là CB-SEM (Covariance-based SEM) và PLS-SEM (Partial Least Squares SEM) CB-SEM thường được dùng với các phần mềm như AMOS và LISREL, còn PLS-SEM được thực hiện bằng SmartPLS Đề tài này chọn mô hình PLS-SEM nhờ những ưu điểm nổi bật của nó, như khả năng khắc phục các vấn đề liên quan đến kích thước mẫu và phân phối dữ liệu, cho phép ước lượng mô hình nghiên cứu có các biến trung gian, biến ẩn và biến quan sát phức tạp, đặc biệt là các mô hình cấu trúc, đồng thời phù hợp với các nghiên cứu thiên về định hướng dự đoán Phương pháp phân tích với PLS-SEM được thực hiện dựa trên hai bước chính trong quá trình nghiên cứu.
Thứ nh t, th c hiấ ự ện đánh giá độ tin c y cậ ủa mô hình đo lường và mô hình c u trúc ấ thông qua kiểm định Cronbach’s Alpha
Kiểm định Cronbach’s Alpha nhằm xác định xem các biến quan sát có cùng đo lường một khái niệm hay không và ước lượng độ tin cậy của thang đo Trong quá trình này sẽ loại bỏ các biến có Corrected item-total correlation < 0.3 và kiểm tra giá trị Cronbach’s Alpha Giá trị Cronbach’s Alpha từ 0.8 đến gần 1 được xem là rất tốt; từ 0.7 đến gần 0.8 là tốt; từ 0.6 trở lên là đủ điều kiện Sau khi loại biến rác, các biến còn lại được dùng để phân tích bước tiếp theo nhằm đánh giá cấu trúc mô hình và tiến hành các phân tích mô hình tiếp theo.
Thứ ắt đầ ấ ến tính SEM nh m kiểm tra ằ có m i quan h gi a các khái ni m hay không Nghiên c u s d ng h s tin c y t ng hố ệ ữ ệ ứ ử ụ ệ ố ậ ổ ợp
Trong phân tích SEM, các chỉ số CR, tổng phương sai trích (AVE) và hệ số tải ngoài (outer loading) được dùng để đánh giá độ tin cậy và tính hợp lý của mô hình; theo Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2017), CR phải lớn hơn 0,7, hệ số tải ngoài phải to hơn 0,4 và AVE phải vượt quá 0,5 để khẳng định mức độ tin cậy của mô hình Cuối cùng, kiểm định Bootstrapping được thực hiện nhằm kiểm tra độ tin cậy và tính bền vững của mô hình SEM; với kiểm định Bootstrapping, khi giá trị t-value vượt quá 1,96 ta có thể kết luận rằng hệ số trên đường dẫn khác 0 với ý nghĩa thống kê 5% (α = 0,05, kiểm định hai phía) Các giá trị t-value vượt mức 2,57 và 1,65 tương ứng với mức ý nghĩa thống kê 1% và 10% Sau khi hoàn tất các bước kiểm định độ tin cậy của mô hình SEM, ta tiến hành kiểm định các giả thuyết đã đề ra Để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ chăn nuôi bò sữa tại huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng, phương pháp phân tích cấu trúc tuyến tính (SEM) được ứng dụng; phương pháp này đòi hỏi cỡ mẫu lớn do dựa vào lý thuyết phân phối mẫu, nhưng nếu dùng phương pháp ước lượng Maximum Likelihood thì kích thước mẫu tối thiểu khoảng 100–150 (Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự, 2017).
300, như vậy cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu của phương pháp phân tích SEM.
B ả ng 3 1 Kết luận về kiểm định các giả thiết
Giả thiết Diễn giải Kỳ vọng dấu
H 1 Sự cân bằng quyền lực ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng liên kết (-)
H2a Sự chia sẻ thông tin ảnh hưởng tích cực đến chất lượng liên kết (+)
H2b Sự chia sẻ thông tin sẽ có ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng (+)
H 2c Sự cam kết có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng liên kết (+)
H3a Sự cam kết có ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng (+)
H3b Sự cam kết có ảnh hưởng tích cực đến sự tin tưởng (+)
H 3c Sự cam kết có ảnh hưởng tích cực đến sự hợp tác phối hợp (+)
H3d Sự cam kết có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng liên kết (+)
H4a Sự tin tưởng có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng liên kết (+)
H 4b Sự tin tưởng có ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng (+)
H4c Sự tin tưởng có ảnh hưởng tích cực đến sự hợp tác phối hợp (+)
H5a Sự hợp tác phối hợp ảnh hưởng tích cực đến chất lượng liên kết (+)
H 5b Sự hợp tác phối hợp ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng (+)
H6 Sự hài lòng ảnh hưởng tích cực đến chất lượng liên kết (+)
Nguồn: tổng hợp từ các tài liệu nghiên cứu, 2020