1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ths luật học áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của toà án nhân dân thành phố hà nội

122 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ths Luật Học Áp Dụng Pháp Luật Trong Hoạt Động Xét Xử Các Vụ Án Hình Sự Của Toà Án Nhân Dân Thành Phố Hà Nội
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 523 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong nhiều năm qua tình hình tội phạm diễn biến phức tạp, và có xu hướng gia tăng ảnh hưởng đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cùng với sự nỗ lực của toàn xã hội, các cơ quan tiến hành tố tụng đã có nhiều cố gắng trong công tác để góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, chất lượng công tác tư pháp nói chung và công tác giải quyết án hình sự nói riêng còn chưa ngang tầm với yêu cầu và nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, còn bộc lộ yếu kém, bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của xã hội và công dân tạo nên dư luận xã hội không tốt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào nền công lý xã hội chủ nghĩa (XHCN). Cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, đặc biệt là những thành tựu đáng trân trọng trong đời sống kinh tế xã hội sau hơn hai mươi năm đổi mới theo đường lối sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong những năm qua Toà án nhân dân (TAND) các cấp đã từng bước cải cách theo định hướng xây dựng các cơ quan Tư pháp của nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân. Ngày 02012002 Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương (BCTBCHTW) khoá IX đã ra Nghị quyết số 08NQTW về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp mà thực chất là đẩy mạnh công cuộc cải cách Tư pháp theo định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân ở nước ta. Nghị quyết nhấn mạnh: Chất lượng công tác tư pháp nói chung chưa ngang tầm với yêu cầu và đòi hỏi của nhân dân; còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, vi phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và các cơ quan Tư pháp 1. Ngày 02062005 Bộ Chính trị BCHTW khoá IX đã ra Nghị quyết 49NQTW về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020. Nghị quyết xác định mục tiêu chiến lược là: “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao” 2. Hoạt động xét xử thực chất là hoạt động áp dụng pháp luật (ADPL) để giải quyết một vụ án cụ thể. Do đó, việc ADPL để giải quyết các vụ án nói chung và ADPL trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự nói riêng là nhiệm vụ chủ yếu và thường xuyên của các cơ quan Toà án. Tăng cường chất lượng của việc ADPL trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự vừa là nhiệm vụ, vừa là trách nhiệm, và là đạo đức của công chức Toà án, có ý nghĩa quyết định trong việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả của hoạt động xét xử. Trong những năm qua dưới ánh sáng của Nghị quyết 49NQTW về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị, việc ADPL trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của TAND đã đạt được nhiều kết quả, góp phần rất quan trọng vào việc giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ kịp thời lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân. Tuy nhiên, thực tiễn ADPL trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của ngành Toà án trong cả nước nói chung và việc ADPL trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của TAND thành phố Hà Nội nói riêng đã và đang đặt ra những yêu cầu mới vừa cấp bách, vừa lâu dài để không ngừng nâng cao chất lượng xét xử trong quá trình thực hiện cải cách tư pháp theo định hướng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân. Các bản án, quyết định oan sai do ADPL không đúng của Toà án các cấp hàng năm tuy không nhiều nhưng lại ảnh hưởng đến uy tín của ngành Toà án nói riêng của Nhà nước pháp quyền XHCN nói chung, tác động tiêu cực đến nguyên tắc pháp quyền, công lý và công bằng xã hội. Điển hình là vụ án vũ trường New Century, bản án sơ thẩm của TAND quận Hoàn Kiếm đã tuyên xử miễn trách nhiệm hình sự (TNHS) cho bị cáo Nguyễn Đại Dương nhưng không nêu miễn TNHS về một tội danh cụ thể. Việc bản án không nêu rõ miễn trách nhiệm đối với tội danh cụ thể là sai sót của hội đồng xét xử trong việc áp dụng Bộ luật hình sự (BLHS). Việc áp dụng sai các quy định của pháp luật không chỉ ảnh hưởng sâu sắc đến quyền, lợi ích hợp pháp của người bị hại và gia đình họ mà còn làm giảm uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung đặc biệt là ngành Toà án nói riêng, làm giảm niềm tin của nhân dân vào sự công minh, khách quan của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Để góp phần khắc phục những hạn chế trên thì việc nghiên cứu vấn đề áp dụng pháp luật nhằm làm sáng tỏ về lý luận và thực tiễn có ‎ý nghĩa thiết thực. Vì vậy học viên đã lựa chọn đề tài “Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội” để nghiên cứu.

Trang 1

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG

HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TOÀ

1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của áp dụng pháp luật trong hoạt

động xét xử các vụ án hình sự của Toà án nhân dân 81.2 Các giai đoạn áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ

1.3 Các yếu tố bảo đảm đến việc áp dụng pháp luật trong hoạt động

xét xử các vụ án hình sự của Toà án nhân dân 38

Chương 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT

ĐỘNG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TOÀ ÁN

2.1 Thực trạng áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử sơ thẩm

các vụ án hình sự của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội 432.2 Thực trạng áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử phúc thẩm

các vụ án hình sự của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội 632.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế của việc áp dụng pháp luật

trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội 73

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM VIỆC ÁP DỤNG

PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 793.1 Quan điểm về bảo đảm áp dụng pháp luật trong hoạt động xét

xử các vụ án hình sự của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội 793.2 Các giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật trong hoạt động xét

xử các vụ án hình sự của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội 92

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 2

BCTBCHTW : Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ươngBLHS : Bộ luật hình sự

TANDTC : Toà án nhân dân tối cao

TNHH : Trách nhiệm hữu hạn

TNHS : Trách nhiệm hình sự

VKSND : Viện kiểm sát nhân dân

VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 3

Bảng 2.2: Thống kê kết quả xét xử phúc thẩm 64

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong nhiều năm qua tình hình tội phạm diễn biến phức tạp, và có xuhướng gia tăng ảnh hưởng đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Cùng với sự nỗ lực của toàn xã hội, các cơ quan tiến hành tố tụng đã có nhiều cốgắng trong công tác để góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh - chínhtrị, trật tự, an toàn xã hội Tuy nhiên, chất lượng công tác tư pháp nói chung vàcông tác giải quyết án hình sự nói riêng còn chưa ngang tầm với yêu cầu vànhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, còn bộc lộ yếu kém, bỏ lọt tội phạm,làm oan người vô tội, xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhànước, của xã hội và công dân tạo nên dư luận xã hội không tốt, làm giảm sútlòng tin của nhân dân vào nền công lý xã hội chủ nghĩa (XHCN)

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, đặc biệt là nhữngthành tựu đáng trân trọng trong đời sống kinh tế - xã hội sau hơn hai mươinăm đổi mới theo đường lối sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, trongnhững năm qua Toà án nhân dân (TAND) các cấp đã từng bước cải cách theođịnh hướng xây dựng các cơ quan Tư pháp của nhà nước pháp quyền XHCNcủa dân, do dân và vì dân

Ngày 02/01/2002 Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương(BCTBCHTW) khoá IX đã ra Nghị quyết số 08-NQ/TW về một số nhiệm vụtrọng tâm của công tác tư pháp mà thực chất là đẩy mạnh công cuộc cải cách

Tư pháp theo định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, dodân và vì dân ở nước ta Nghị quyết nhấn mạnh:

Chất lượng công tác tư pháp nói chung chưa ngang tầm với yêucầu và đòi hỏi của nhân dân; còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm,làm oan người vô tội, vi phạm các quyền tự do, dân chủ của côngdân, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước vàcác cơ quan Tư pháp [1]

Trang 5

Ngày 02/06/2005 Bộ Chính trị BCHTW khoá IX đã ra Nghị quyết NQ/TW về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 Nghị quyết xác địnhmục tiêu chiến lược là: “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dânchủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân,phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọngtâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao” [2].

49-Hoạt động xét xử thực chất là hoạt động áp dụng pháp luật (ADPL) đểgiải quyết một vụ án cụ thể Do đó, việc ADPL để giải quyết các vụ án nóichung và ADPL trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự nói riêng là nhiệm

vụ chủ yếu và thường xuyên của các cơ quan Toà án Tăng cường chất lượngcủa việc ADPL trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự vừa là nhiệm vụ,vừa là trách nhiệm, và là đạo đức của công chức Toà án, có ý nghĩa quyếtđịnh trong việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả của hoạt động xét xử

Trong những năm qua dưới ánh sáng của Nghị quyết 49-NQ/TW vềChiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị, việc ADPLtrong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của TAND đã đạt được nhiều kếtquả, góp phần rất quan trọng vào việc giữ vững an ninh, chính trị, trật tự antoàn xã hội, bảo vệ kịp thời lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp phápcủa các tổ chức và công dân Tuy nhiên, thực tiễn ADPL trong hoạt động xét

xử các vụ án hình sự của ngành Toà án trong cả nước nói chung và việcADPL trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của TAND thành phố Hà Nộinói riêng đã và đang đặt ra những yêu cầu mới vừa cấp bách, vừa lâu dài đểkhông ngừng nâng cao chất lượng xét xử trong quá trình thực hiện cải cách tưpháp theo định hướng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vìdân Các bản án, quyết định oan sai do ADPL không đúng của Toà án các cấphàng năm tuy không nhiều nhưng lại ảnh hưởng đến uy tín của ngành Toà ánnói riêng của Nhà nước pháp quyền XHCN nói chung, tác động tiêu cực đến

Trang 6

nguyên tắc pháp quyền, công lý và công bằng xã hội Điển hình là vụ án vũtrường New Century, bản án sơ thẩm của TAND quận Hoàn Kiếm đã tuyên

xử miễn trách nhiệm hình sự (TNHS) cho bị cáo Nguyễn Đại Dương nhưngkhông nêu miễn TNHS về một tội danh cụ thể Việc bản án không nêu rõmiễn trách nhiệm đối với tội danh cụ thể là sai sót của hội đồng xét xử trongviệc áp dụng Bộ luật hình sự (BLHS) Việc áp dụng sai các quy định của phápluật không chỉ ảnh hưởng sâu sắc đến quyền, lợi ích hợp pháp của người bịhại và gia đình họ mà còn làm giảm uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụngnói chung đặc biệt là ngành Toà án nói riêng, làm giảm niềm tin của nhân dânvào sự công minh, khách quan của các cơ quan bảo vệ pháp luật

Để góp phần khắc phục những hạn chế trên thì việc nghiên cứu vấn đề

áp dụng pháp luật nhằm làm sáng tỏ về lý luận và thực tiễn có ý nghĩa thiết

thực Vì vậy học viên đã lựa chọn đề tài “Áp dụng pháp luật trong hoạt động

xét xử các vụ án hình sự của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội” để

nghiên cứu.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Áp dụng pháp luật nói chung và ADPL trong hoạt động xét xử các vụ

án hình sự nói riêng của TAND luôn luôn là đề tài thu hút sự quan tâm củanhiều nhà khoa học pháp lý Đặc biệt, trong thời kỳ xây dựng Nhà nướcpháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân; phát huy dân chủ đi đôi vớiviệc tăng cường pháp chế XHCN và thực hiện cải cách tư pháp thì số lượngcác bài viết, công trình nghiên cứu về cải cách tư pháp, về hoạt động ADPLnói chung và hoạt động xét xử các vụ án hình sự của TAND nói riêng tănglên rõ rệt

GS.TSKH Đào Trí Úc với "Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật"

[47] đã phân tích rất sâu về hoạt động áp dụng pháp luật và hoạt động xét xửcủa Tòa án, đồng thời tác giả đã rất coi trọng công tác tổng kết thực tiễn xét

Trang 7

xử của ngành Tòa án Về cải cách tư pháp và những vấn đề liên quan đến hoạt

động áp dụng pháp luật, PGS.TS Chu Hồng Thanh nghiên cứu vấn đề "Bảo đảm công bằng xã hội trong tư pháp" [34, tr.13-14, 21] Trong lĩnh vực áp

dụng pháp luật của Tòa án nhân dân, các nhà khoa học đã nghiên cứu đến cácvấn đề cụ thể có liên quan đến hoạt động xét xử Cụ thể, TS Nguyễn Văn

Hiện với việc"Tăng cường năng lực xét xử của tòa án cấp huyện - Một số vấn

đề cấp bách" [19]; TS Đặng Quang Phương nghiên cứu đến chất lượng bản

án, hoạt động của Thư ký Tòa án và những yêu cầu mới đặt ra cho Thẩm

phán, Hội thẩm Tòa án nhân dân qua bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng dự án Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân sửa đổi" [26]; TS Phan Hữu Thư nghiên cứu về vấn đề "Đạo đức nghề luật" [37] Luận văn tiến sĩ của tác giả Lê Xuân Thân: "Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay", năm

2004 [36] Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Đức Hiệp “"Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân ở tỉnh Ninh Bình”,

năm 2004 [20] Tác giả Lưu Tiến Dũng với bài “Bàn về áp dụng pháp luậttrong công tác xét xử”, Tạp chí Toà án nhân dân số tháng 5/2005 Ngoài ra,các vấn đề về Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, văn hoá tư pháp, đổi mới tổchức và hoạt động của cơ quan tư pháp; vấn đề giải thích pháp luật, quanđiểm về tranh luận dân chủ trong hoạt động tố tụng; những yêu cầu cần thiếtcủa một bản án của Toà án…đều được các nhà khoa học phân tích, nghiêncứu và nêu những lý giải thiết thực

Tuy nhiên, những công trình khoa học trên đây chỉ đề cập đến áp dụngpháp luật nói chung và ADPL của toà án nhân dân trong một số lĩnh vực cụthể Luận văn này tập trung nghiên cứu việc ADPL trong hoạt động xét xửcác vụ án hình sự của TAND thành phố Hà Nội nhằm rút ra những mặt được,

Trang 8

những hạn chế tồn tại để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả ADPL trongviệc xét xử các vụ án hình sự ở địa phương.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích

Nghiên cứu để làm rõ cơ sở lý luận ADPL trong hoạt động xét xử các

vụ án hình sự trên cơ sở đó phân tích, đánh giá thực trạng ADPL trong hoạtđộng xét xử các vụ án hình sự của TAND thành phố Hà Nội Từ đó luận văn

đề xuất quan điểm và giải pháp bảo đảm ADPL trong hoạt động xét xử các vụ

án hình sự, khắc phục những hạn chế ADPL trong xét xử các vụ án hình sự ởđịa phương

3.2 Nhiệm vụ

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc ADPL trong hoạt động xét xử các

vụ án hình sự của TAND dưới góc độ lý luận Mác - Lê Nin về Nhà Nước vàpháp luật Làm rõ những đặc trưng riêng có của hoạt động xét xử các vụ ánhình sự và các tiêu chí để đánh giá chất lượng ADPL trong hoạt động xét xửcác vụ án hình sự của TAND hiện nay

- Phân tích thực trạng ADPL trong hoạt động xét xử các vụ án hình sựcủa TAND thành phố Hà Nội trong thời gian qua, tìm hiểu về các nguyênnhân đến đến việc ban hành các bản án, quyết định của Tòa án còn oan sai,không đúng pháp luật

- Đề xuất những giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng áp dụng phápluật trong hoạt động xét của Tòa án nhân dân góp phần thực hiện có hiệu quảcông cuộc cải cách tư pháp, nâng cao uy tín của nền tư pháp nước nhà trongđiều kiện xây dung nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 9

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc áp dụng luật nội dung(Luật Hình sự) và luật hình thức (Luật Tố tụng hình sự), luật Dân sự và cácvăn bản pháp luật khác trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của Toà ánnhân dân thành phố Hà Nội.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi là một luận văn thạc sĩ luật học thuộc chuyên ngành Lýluận và lịch sử về Nhà nước và pháp luật, luận văn này chỉ bao gồm nhữngnội dung lý luận, thực tiễn có liên quan đến vấn đề ADPL trong hoạt động xét

xử các vụ án hình sự của TAND thành phố Hà Nội (bao gồm cả sơ thẩm vàphúc thẩm) Luận văn khái quát những vấn đề chung của quy trình ADPLtrong hoạt động xét xử các vụ án hình sự từ việc nghiên cứu các tình tiết cụthể của vụ án đến việc chọn quy phạm pháp luật và ban hành bản án, quyếtđịnh tại phiên tòa xét xử công khai

Mốc thời gian nghiên cứu của đề tài luận văn là hoạt động xét xử các

vụ án hình sự của TAND thành phố Hà Nội trong khoảng thời gian 5 năm (từnăm 2005 - 2009)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở là lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật; tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và phápquyền; đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về tăng cường pháp chếXHCN và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân ởnước ta; về vấn đề cải cách tổ chức và hoạt động của TAND và các cơ quan

tư pháp trong giai đoạn hiện nay nhằm đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của côngcuộc cải cách tư pháp

5.2 Các phương pháp nghiên cứu

Trang 10

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; quan điểm của Đảngcộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn làtổng kết thực tiễn, phương pháp hệ thống; phương pháp thống kê và phươngpháp phân tích, tổng hợp

6 Những đóng góp mới của luận văn

Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về ADPLtrong hoạt động xét xử nói chung và ADPL trong hoạt động xét xử các vụ ánhình sự của TAND thành phố Hà Nội nói riêng, luận văn đề xuất một sốphương hướng và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả ADPL trong hoạtđộng xét xử các vụ án hình sự của TAND thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầucông cuộc cải cách tư pháp hiện nay, đồng thời góp phần thực hiện Nghịquyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị BCHTW về một sốnhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp cơ sở lý luận và cơ

sở thực tiễn cho những người trực tiếp làm công tác xét xử các vụ án hình sự

- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiêncứu, giảng dạy, tham khảo, học tập trong các trường đại học chuyên luật vàkhông chuyên luật

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung của luận văn gồm 3 chương 8 tiết

Trang 12

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của việc áp dụng pháp luật

1.1.1.1 Khái niệm áp dụng pháp luật

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, pháp luật xã hội chủnghĩa là tổng hợp các quy tắc xử sự chung thể hiện ý chí của giai cấp côngnhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, được cơquan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo một trình tự nhất định với cáchình thức nhất định nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong quá trìnhxây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Trong đời sống và trong xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quantrọng Xét trong bình diện chung nhất, pháp luật là phương tiện đã thể chế hoáđường lối, chủ trương của Đảng, bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng được triểnkhai thực hiện có hiệu quả trên quy mô toàn xã hội; là phương tiện để Nhà nướcquản lý mọi mặt đời sống xã hội; là phương tiện để nhân dân phát huy, thực hiệnquyền dân chủ, các quyền và lợi ích hợp pháp, nghĩa vụ của công dân

Pháp luật với tư cách là một phương tiện điều chỉnh các quan hệ xãhội, tác động và ảnh hưởng tới các quan hệ xã hội, cũng như các yếu tố củathượng tầng kiến trúc pháp lý; pháp luật có vai trò duy trì trật tự xã hội có lợicho giai cấp thống trị Trong quan hệ với Nhà nước, vai trò của pháp luật luôngắn liền với việc thực hiện các chức năng Nhà nước, vai trò của pháp luậtluôn gắn liền với việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, pháthuy được vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện chức năng, quản lý, đưa

Trang 13

xã hội phát triển Đối với chính Nhà nước, pháp luật vừa là cơ sở để tổ chức,hoạt động vừa là sức mạnh của quyền lực chính trị đồng thời nó cũng làphương tiện ràng buộc Nhà nước hạn chế sự lạm quyền, lộng quyền của Nhànước, tránh cho Nhà nước khỏi tình trạng hoạt động tùy tiện, vi phạm quyền

và tự do của công dân Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật nóichung và pháp luật XHCN nói riêng, pháp luật luôn có vai trò, giá trị xã hội

và tính pháp quyền mà không một công cụ, phương tiện nào có thể thay thếđược

Tuy nhiên, vai trò của pháp luật chỉ có thể phát huy được hiệu quả khicác quy định của pháp luật do Nhà nước đặt ra được chính các cơ quan nhànước, tổ chức xã hội, các công dân thực hiện một cách chính xác, nghiêmminh và tự giác Do đó vấn đề đặt ra là không phải chỉ có các văn bản phápluật đáp ứng nhu cầu đời sống xã hội và đời sống Nhà nước, mà điều quantrọng hơn ở chỗ là đặt ra không phải chỉ có đủ các văn bản pháp luật đáp ứngnhu cầu đời sống xã hội và đời sống Nhà nước, mà điều quan trọng hơn ở chỗpháp luật đó có được thực hiện không, những yêu cầu của pháp luật có trởthành hiện thực không

Về mặt lý luận, thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động của conngười có tổ chức có ý chí bao gồm những hành vi hợp pháp phù hợp vớinhững quy định, những yêu cầu của pháp luật

Thực hiện pháp luật là những hoạt động, những phương cách, nhữngquá trình làm cho quy tắc xử sự chung chứa đựng trong những quy phạmpháp luật trở thành hành vi, cách xử sự thực tế của các chủ thể pháp luật Khicác quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trở thành các quan hệpháp luật với các chủ thể mang quyền và nghĩa vụ pháp lý tương ứng Khi cácchủ thể quan hệ pháp luật thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình

sẽ làm phát sinh hành vi pháp luật, hay nói cách khác, thực hiện pháp luật làm

“hiện thực hoá” các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể pháp luật trong đời

Trang 14

sống xã hội Căn cứ vào tính chất của việc thực hiện pháp luật, khoa học pháp

lý đã phân chia thực hiện pháp luật thành những hình thức cụ thể như: Tuânthủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật

- Tuân thủ pháp luật, còn gọi là tuân theo pháp luật, là hình thức các

chủ thể quan hệ pháp luật không được thực hiện những hành vi mà pháp luật

đã ngăn cấm Thông qua việc tuân thủ pháp luật của các chủ thể quan hệ phápluật, các quy phạm pháp luật ngăn cấm được tôn trọng và thực hiện trên thực

tế Ví dụ: việc tuân thủ các quy phạm nghiêm cấm trong Bộ luật hình sự như:không được trộm cắp, không được lừa đảo chiếm đoạt tài sản; không đượcxâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người v.v Cáchành vi bị nghiêm cấm được quy định trong Luật Đất đai như: lấn chiếm đấtđai; hủy hoại đất; không sử dụng hoặc sử dụng đất không đúng mục đíchv.v chủ thể thực hiện hình thức tuân thủ pháp luật là tất cả các cơ quan nhànước, nhân viên nhà nước, các tổ chức, cá nhân và mọi công dân trong xã hội

- Thi hành pháp luật, còn gọi là chấp hành pháp luật là hình thức các

chủ thể quan hệ pháp luật phải thực hiện những hành vi mà pháp luật quyđịnh được thực hiện trong những hoàn cảnh, những quan hệ pháp luật màpháp luật đã dự liệu cụ thể Đây là hình thức thực hiện pháp luật chủ động vàtích cực bằng các hành vi cụ thể của các chủ thể quan hệ pháp luật Ví dụ,việc thực hiện các quy phạm pháp luật hôn nhân gia đình về nghĩa vụ chămsóc, nuôi dưỡng con cái của cha mẹ; việc thực hiện các quy định về sinh đẻ có

kế hoạch, xây dựng gia đình ít con, ấm no, hạnh phúc của vợ chồng v.v Chủthể thực hiện hình thức thi hành pháp luật này là tất cả các cơ quan nhà nước,nhân viên nhà nước, các cá nhân, tổ chức và mọi công dân trong xã hội

- Sử dụng pháp luật là hình thức các chủ thể thực hiện pháp luật sử

dụng các quyền mà pháp luật cho phép Đây cũng là hình thức thực hiện phápluật chủ động và tích cực bằng các hành vi cụ thể của các chủ thể quan hệ

Trang 15

pháp luật Do hình thức thực hiện pháp luật này là việc sử dụng các quyềnnăng pháp lý được pháp luật trao quyền, nên các chủ thể quan hệ pháp luật cóquyền thực hiện hoặc không thực hiện các quyền của mình, pháp luật khôngbắt buộc các chủ thể phải thực hiện như hai hình thức tuân thủ pháp luật vàchấp hành pháp luật Ví dụ: việc thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự haykhông khởi kiện vụ án dân sự của các cá nhân theo quy định của pháp luật tốtụng dân sự; quyền chứng minh mình vô tội hay quyền không buộc phảichứng minh mình vô tội trong tố tụng hình sự v.v Chủ thể thực hiện hìnhthức sử dụng pháp luật là tất cả các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước,các cá nhân, tổ chức và mọi công dân trong xã hội.

- Áp dụng pháp luật là một trong những hình thức thực hiện pháp

luật có những đặc điểm riêng so với các hình thức thực hiện pháp luật đã nêutrên và bao giờ cũng có sự tham gia của cơ quan nhà nước, nhân viên nhànước có thẩm quyền

Tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật là nhữnghình thức phổ biến thì áp dụng pháp luật là hình thức đặc thù bởi luôn có sựtham gia của Nhà nước, thông qua các cơ quan hoặc nhà chức trách có thẩmquyền

Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật quan trọng

của việc thực hiện pháp luật, thông qua hình thức này ý chí của Nhà nướcđược trở thành hiện thực, Nhà nước thực hiện được chức năng tổ chức, quản

lý các lĩnh vực của đời sống xã hội, kết hợp với trật tự xã hội, bảo đảm choviệc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, các công chức nhà nướctrong khuôn khổ pháp luật Điều này có nhiều lý do bởi trong nhiều trườnghợp, các quy định của pháp luật không thể thực hiện nếu chỉ bằng hình thứctuân theo pháp luật, thi hành pháp luật hoặc sử dụng pháp luật Lý do có thểcác chủ thể không muốn thực hiện hoặc không đủ khả năng thực hiện nếu

Trang 16

thiếu sự thông qua của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Do đó rất cầnhoạt động ADPL của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc cá nhân có thẩmquyền để tạo điều kiện cho các chủ thể khác thực hiện đầy đủ các quy phạmpháp luật Tuy vậy, ADPL chỉ được tiến hành trong các trường hợp sau:

- Trong trường hợp khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế Nhànước, hoặc áp dụng chế tài xử lý đối với những chủ thể có hành vi vi phạmpháp luật Ví dụ, một công dân thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, hành vi đó

có đầy đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 138BLHS năm 1999 Không phải ngay sau đó trách nhiệm hình sự tự động phátsinh và người vi phạm tự giác chấp hành các biện pháp chế tài tương xứng Vìvậy, cần có hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật và những người cóthẩm quyền nhằm điều tra, truy tố, xét xử để đối chiếu với quy định của phápluật để ấn định trách nhiệm hình sự đối với người đã thực hiện hành vi viphạm và buộc người này phải chấp hành

- Trong trường hợp khi những quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủthể không mặc nhiên phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt nếu thiếu sự can thiệpcủa Nhà nước

Ví dụ, Hiến pháp năm 1992 quy định lao động là quyền và nghĩa vụcủa công dân, những quan hệ pháp luật lao động với những quyền và nghĩa vụcủa công dân, những quan hệ pháp luật lao động với những quyền và nghĩa vụ

cụ thể giữa một công dân với một cơ quan nhà nước chỉ phát sinh khi có sựquyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuyển dụng người đó vào làmviệc

- Trong một số quan hệ pháp luật mà Nhà nước thấy cần thiết phảitham gia để giám sát, kiểm tra hoạt động của các bên tham gia vào quan hệ đóhoặc Nhà nước xác nhận sự tồn tại của một số vụ việc, sự kiện thực tế Ví dụ,

Trang 17

uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng nhận việc đăng ký kết hôn, xácnhận di chúc, chứng thực thế chấp…

Mặc dù hiện nay còn có những quan điểm khác nhau của các nhà khoahọc pháp lý về ADPL nhưng đa số các nhà khoa học pháp lý đều cho rằng:ADPL là hoạt động mang tính tổ chức, quyền lực của nhà nước được thựchiện thông qua những cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức tráchhoặc tổ chức xã hội được nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hoá nhữngquy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân cụ thể

và tổ chức cụ thể

Như vậy, ADPL là hình thức thực hiện pháp luật đặc thù, do cơ quannhà nước, công chức nhà nước được trao quyền tiến hành theo một thủ tục dopháp luật quy định; nhằm thực hiện các biện pháp cưỡng chế khi có hành vi viphạm pháp luật và tội phạm; khi phải giải quyết các tranh chấp về quyền chủthể và các nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể trong một quan hệ pháp luật nhấtđịnh hoặc khi nhà nước thấy cần thiết phải can thiệp, cần phải tham gia để bảođảm việc thực thi trên thực tế của các chủ thể trên các lĩnh vực của đời sống

xã hội theo quy định của pháp luật

1.1.1.2 Đặc điểm của áp dụng pháp luật

Thứ nhất, áp dụng pháp luật mang tính tổ chức, thực hiện quyền lực

của Nhà nước trong thực tế:

- Hoạt động áp dụng pháp luật chỉ do những cơ quan nhà nước có thẩmquyền tiến hành hoặc những cá nhân, tổ chức được nhà nước trao quyền thựchiện Mỗi cơ quan nhà nước hay tổ chức, cá nhân trong phạm vi thẩm quyềnđược giao thực hiện một số hoạt động áp dụng pháp luật quyết định Trongquá trình áp dụng pháp luật cơ quan áp dụng pháp luật phải tính đến mọi khíacạnh, mọi chi tiết và phải xem xét cẩn trọng, dựa trên cơ sở những quy định,yêu cầu của áp dụng pháp luật đã được xác định để ra quyết định áp dụng

Trang 18

pháp luật Như vậy, pháp luật là cơ sở xuất phát điểm để cho cơ quan nhànước có thẩm quyền áp dụng pháp luật thực hiện chức năng của mình.

Quá trình áp dụng pháp luật được xem là việc thực hiện ý chí của Nhànước được thể hiện trong pháp luật Do vậy, việc áp dụng pháp luật phải tuântheo pháp luật và với chủ trương, chính sách của Nhà nước trong mỗi giaiđoạn nhất định

Trong lĩnh vực tư pháp, ADPL được các cán bộ công chức nhà nước

có chức danh tư pháp như Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hộithẩm, Chấp hành viên…tiến hành theo một thủ tục tố tụng nhất định để thuthập chứng cứ, xác minh, điều tra làm rõ các tình tiết của vụ án nhằm xácđịnh khách quan việc truy cứu trách nhiệm pháp lý; xác định quyền và nghĩa

vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật

- Tính chất tổ chức thực hiện quyền lực của Nhà nước của ADPL thểhiện ở chỗ hoạt động này chỉ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhân viênnhà nước có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật mà không theo

ý chí chủ quan của các chủ thể ADPL

- Áp dụng pháp luật có tính bắt buộc đối với chủ thể bị áp dụng phápluật và các chủ thể có liên quan

- Văn bản ADPL chỉ do các cơ quan hay nhà chức trách có thẩmquyền áp dụng pháp luật ban hành Văn bản ADPL mang tính bắt buộc phảithực hiện đối với những tổ chức và cá nhân có liên quan Trong những trườnghợp cần thiết, quyết định ADPL được bảo đảm bằng biện pháp cưỡng chế củaNhà nước

Thứ hai, nếu quy phạm pháp luật là những khuôn mẫu chung, là

những tiêu chuẩn chung cho xử sự giữa người với người trong mối quan hệ xãhội thì hoạt động ADPL luôn mang tính cụ thể

Trang 19

Tính cụ thể của hoạt động ADPL thể hiện ở chỗ các địa chỉ để ADPLđược xác định, gồm cả sự việc, con người, tập thể, thời gian, không gian; cácquy định ADPL được ban hành luôn mang tính cá biệt, cụ thể đối với cácquan hệ xã hội xác định Ví dụ, trong một vụ án hình sự thì các quyết địnhkhởi tố của từng bị can có tính riêng biệt, không thể sử dụng một quyết địnhkhởi tố bị can cho các bị can nếu vụ án có nhiều bị can bị khởi tố Đối tượngcủa hoạt động ADPL là những quan hệ xã hội cần đến sự điều chỉnh cá biệt,trên cơ sở những mệnh lệnh chung trong quy định của pháp luật Bằng hànhđộng ADPL những quy phạm pháp luật nhất định được cá biệt hoá một cách

cụ thể và chính xác

Thứ ba, việc ban hành một quyết định ADPL phải được thực hiện

thông qua thủ tục nhất định Các thủ tục để ban hành quyết định trong hoạtđộng ADPL phải được pháp luật quy định rất chặt chẽ và đòi hỏi các chủ thểphải thực hiện nghiêm minh Các thủ tục giúp cho các chủ thể ADPL thể hiệnđược nguyện vọng, mong muốn của mình một cách dân chủ, khách quantrong quá trình ADPL Tính đơn giản hay phức tạp của thủ tục này phụ thuộcvào tính chất nội dung sự việc cần phải ADPL Để áp dụng các quy phạmpháp luật đơn giản như việc xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ thì các thủtục đặt ra là phải đơn giản, phải nhanh chóng Ví dụ, cảnh sát giao thông phạtngười điều khiển xe gắn máy không đội mũ bảo hiểm khi đang điều khiển xegắn máy trên đoạn đường bắt buộc phải đội mũ bảo hiểm Để áp dụng quyphạm pháp luật phức tạp thì cần phải xác minh, điều tra, đánh giá kỹ nhữngtình tiết, sự việc; việc xác định một người có phạm tội hay không phạm tộiđòi hỏi phải có cả một quá trình của những cơ quan tiến hành tố tụng nhưCông an, Viện kiểm sát, Toà án

Thứ tư, áp dụng pháp luật là hành động đòi hỏi tính sáng tạo; khi ADPL,

các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải nghiên cứu kỹ lưỡng vụ việc, cần làm

Trang 20

sáng tỏ các cấu thành pháp lý của nó để từ đó lựa chọn quy phạm, ra văn bảnADPL và tổ chức thi hành Trong trường hợp pháp luật chưa có quy địnhhoặc quy định chưa rõ thì phải vận dụng một cách sáng tạo bằng cách ADPLtương tự Để đạt được điều đó, đòi hỏi các nhà chức trách phải có ý thức phápluật cao, có tri thức tổng hợp, có kinh nghiệm phong phú, có đạo đức nghềnghiệp và có tay nghề vững vàng…

Ở nước ta, trong điều kiện xây dựng nhà nước và pháp quyền hiệnnay, đòi hỏi phải đề cao vai trò của hoạt động ADPL, đặc biệt là hoạt độngADPL của các cơ quan tiến hành tố tụng nhất là Toà án Ngoài hệ thống Toà

án truyền thống xét xử những vụ án hình sự, vụ án dân sự, hôn nhân gia đìnhcòn xuất hiện các loại Toà án khác như: Toà án hành chính, Toà án kinh tế,Toà án lao động…điều đó nhằm tạo ra cơ chế đồng bộ bảo đảm trật tự, kỷcương pháp luật, bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân và tiến bộ xãhội

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của Toà án nhân dân

1.1.2.1 Khái niệm áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ

án hình sự của toà án nhân dân

Theo Từ điển Luật học năm 2006, xét xử là "hoạt động xem xét, đánhgiá bản chất pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức

độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc (xét xử vụ án hình sự, dân sự,kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính…) Chức năng, thẩm quyền xét

xử thuộc về toà án” [45, tr.869- 870]

Do đó, theo pháp luật nước ta, xét xử là hoạt động đặc trưng, là chứcnăng riêng có của Toà án nhân dân, hoạt động xét xử của Toà án nhân dân làhoạt động trung tâm và chủ yếu của hoạt động tư pháp là hoạt động giữ gìn,bảo vệ pháp luật Nếu căn cứ vào cấp độ xét xử thì xét xử có thể chia thành

Trang 21

xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm, trong đónguyên tắc hai cấp xét xử (xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm) được thựchiện một cách triệt để và thống nhất Nếu căn cứ vào thời hạn và các bướctiến hành tố tụng thì xét xử các vụ án hình sự có thể chia thành hai loại: xét xửtheo thủ tục đầy đủ và xét xử theo thủ tục rút gọn.

Trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự, việc tuyên bố một người

là có tội và phải chịu hình phạt nhất thiết phải thông qua hoạt động xét xửcủa Toà án Một người bị coi là có tội khi người đó đã bị Toà án xét xử vàkết án bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật Việc xét xử của toà ánphải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật tố tụng và phải trảiqua các giai đoạn cụ thể như chuẩn bị xét xử, thủ tục bắt đầu phiên toà, xéthỏi, tranh luận, nghị án và ra bản án, quyết định của Toà án Việc xét xửphải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản như nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán

và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nguyên tắc mọi công dânđều bình đẳng trước pháp luật; nguyên tắc xét xử công khai; nguyên tắc xét

xử tập thể và quyết định theo đa số…chỉ có thông qua hoạt động xét xử,Toà án mới được phép ra các bản án, quyết định giải quyết vụ án để bảo vệlợi ích Nhà nước, lợi ích tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân vàcác tổ chức theo đúng quy định của pháp luật

Tóm lại, xét xử các vụ án hình sự là một quá trình bao gồm nhiều quy

trình, thủ tục, đó là tiền đề quan trọng để đi đến một quyết định về tráchnhiệm hình sự cho người phạm tội cụ thể, đảm bảo nguyên tắc khách quan,công bằng, chính xác tạo ra những ảnh hưởng tích cực trong việc trừng trị kếthợp với giáo dục và cải tạo người phạm tội, góp phần vào công cuộc đấutranh phòng chống tội phạm của toàn xã hội

Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự là một nội

dung cụ thể, đặc biệt và quan trọng của hình thức ADPL nói chung Áp dụng

Trang 22

pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của toà án nhân dân là việc thực hịên pháp luật của Thẩm phán và Hội thẩm trong quá trình xác định sự thật khách quan của vụ án để ra các bản án, các quyết định nhân danh Nhà nước phán xét một hành vi Điều 127 Hiến pháp năm 1992 nước ta

quy định: “Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà

án quân sự và các Toà án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”[29] Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân

là những chức danh hợp thành Hội đồng xét xử của Toà án Toà án nhân dân

có quyền nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đề ra nhữngphán quyết thực hiện công lý xã hội chủ nghĩa theo những nguyên tắc và trình

tự nhất định

Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân là mộttrong những phương tiện pháp lý trực tiếp và hữu hiệu để giáo dục ý thứcpháp luật, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật và xây dựng thói quen sử dụngpháp luật bảo vệ các quyền, thực thi các nghĩa vụ của các tầng lớp nhân dântrong xã hội Với cơ chế xét xử công khai có tranh tụng với một thủ tục chặtchẽ, tỉ mỉ, hoạt động ADPL của Tòa án nhân dân có thể nói là một điển hìnhcủa việc thực hiện dân chủ và giữ gìn pháp chế trong đời sống xã hội Chấtlượng ADPL của Tòa án nhân dân ở nước ta phản ánh việc thực hiện công

lý, công bằng xã hội của chế độ xã hội chủ nghĩa, của Nhà nước xã hội chủnghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Do đó, nhiệm vụ củaTòa án nhân dân các cấp không chỉ lo hoàn thành việc xét xử các vụ ánđúng hạn luật định mà quan trọng hơn là phải thực hiện cho được công lý

xã hội chủ nghĩa và công bằng xã hội, phải bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa,bảo vệ tài sản của Nhà nước; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự vànhân phẩm của công dân và hướng vào việc thực hiện mục tiêu chung củatoàn dân tộc là bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và xây dựng thành công

Trang 23

chủ nghĩa xã hội đúng theo đường lối, cương lĩnh của Đảng Cộng sản ViệtNam Do đó, nhiệm vụ của Toà án nhân dân các cấp không chỉ bảo đảmhoàn thành việc xét xử các vụ án đúng hạn luật định mà quan trọng hơn làphải thực hiện cho được công lý xã hội chủ nghĩa và công bằng xã hội, phảibảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tài sản của Nhà nước; bảo vệ tínhmạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân và hướng vàoviệc thực hiện mục tiêu chung của toàn dân tộc là bảo vệ Tổ quốc xã hộichủ nghĩa và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội đúng theo đường lối,cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam.

1.1.2.2 Đặc điểm áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ

án hình sự của toà án nhân dân

Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân là mộthình thức cụ thể của ADPL nên khi thực hiện, người ADPL phải tuân theonhững nguyên tắc chung và quy trình chung Bên cạnh đó, ADPL trong hoạtđộng xét xử của Tòa án nhân dân có những đặc điểm riêng biệt Có thể cónhiều cách tiếp cận để nghiên cứu về vấn đề này Ở đây, chúng tôi chỉ xin nêumột số đặc điểm cơ bản như sau:

a Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự là hoạt động nhân danh quyền lực Nhà nước của Toà án được thực hiện thông qua những người có thẩm quyền là hội đồng xét xử

Tính chất nhân danh quyền lực của việc ADPL trong hoạt động xét xửcác vụ án hình sự của Toà án trước hết được thể hiện ở chủ thể áp dụng phápluật Chủ thể ADPL trong trường hợp này là Toà án nhân dân, đây là cơ quanđược thành lập theo quy định của Hiến pháp, Toà án nhân danh nhà nước tổchức các hoạt động xét xử nói chung và xét xử các vụ án hình sự nói riêng.Chủ thể trực tiếp ADPL trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự là Hội đồngxét xử (HĐXX), vai trò chính là Thẩm phán chủ toạ phiên toà người được

Trang 24

Chánh án toà án phân công giải quyết vụ án Bộ luật tố tụng hình sự 2003 đã quyđịnh rõ ràng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong quá trìnhgiải quyết các vụ án hình sự nói riêng và trong quá trình xét xử nói chung.

Toà án là cơ quan duy nhất có chức năng xét xử, có quyền phán quyếtcuối cùng để xác định tội phạm và hình phạt Trong hoạt động của mình, Toà ánphải tuân thủ các nguyên tắc chung của tổ chức và hoạt động bộ máy Nhà nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các nguyên tắc của tổ chức và hoạt động

tư pháp và các nguyên tắc đặc trưng cho hoạt động xét xử các vụ án hình sự.Việc thực hiện các nguyên tắc riêng có trong hoạt động xét xử như nguyên tắcxét xử công khai; nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật;nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, quyền bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của đương sự; nguyên tắc hai cấp xét xử; nguyên tắc khi xét xử có Hộithẩm nhân dân tham gia và Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán;nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theopháp luật v.v đã tạo nên vị trí trung tâm và quan trọng của cơ quan Toà ántrong hoạt động tư pháp Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ ánhình sự của Toà án phải tuân thủ triệt để các nguyên tắc nêu trên và điều quantrọng là phải luôn luôn xuất phát từ lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc để bảo đảmtính công bằng và nghiêm minh trong việc ban hành các bản án

Do hoạt động ADPL của Toà án khi ra các bản án hình sự có liên quantrực tiếp đến tính mạng, tự do, danh dự, tài sản, nhân thân, uy tín và lợi íchcủa các cơ quan nhà nước và các tổ chức trong xã hội nên Toà án ra bản ánkhông nhân danh cá nhân người tiến hành tố tụng, không nhân danh cơ quanToà án mà nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam để phánquyết Toà án được quyền nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam là nhân danh quốc gia, nhân danh cả chế độ chính trị - xã hội xã hội chủnghĩa Việt Nam để xét xử và ra bản án Toà án nhân danh nước Cộng hoà xã

Trang 25

hội chủ nghĩa Việt Nam là nhân danh quyền lợi chung của cả đất nước và của

cả dân tộc Chính việc ban hành văn bản được phép nhân danh nước Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và tầm quan trọng của tư cách của chủ thể tiếnhành ADPL như vậy nên vị thế của Toà án cũng khác hơn, đặc biệt hơn so vớicác cơ quan nhà nước khác trong hệ thống bộ máy nhà nước Mỗi một bản án,quyết định đúng đắn, chính xác, nghiêm minh và công bằng của Toà án là mỗiviên gạch xây dựng nên nền công lý xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triểnniềm tin yêu của nhân dân đối với cơ quan pháp luật và Nhà nước Nó có sứcmạnh và tác dụng giáo dục to lớn ý thức tôn trọng pháp luật trong quần chúngnhân dân; sống và làm việc, xử sự theo đúng pháp luật và sử dụng pháp luật

để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình Mỗi một bản án, quyết địnhoan sai trong quá trình áp dụng pháp luật khi xét xử các vụ án hình sự của Toà

án đều là những sai lầm nghiêm trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến uy tíncủa Nhà nước, đến sự tín nhiệm của nhân dân đối với chế độ xã hội chủnghĩa, đến quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân, tổ chức trong xã hội

b Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của toà án nhân dân được tiến hành chủ yếu tại phiên toà

Khác với hoạt động ADPL của các cơ quan nhà nước khác, ADPLtrong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân được tiến hành tại phiên tòa.Phiên tòa xét xử trở thành một thuật ngữ chuyên dùng của Tòa án nhân dânvới các nghi thức trang trọng, các thủ tục chặt chẽ thể hiện quyền uy của Nhànước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được tiến hành một cách côngkhai Các vị trí, các chỗ ngồi được bố trí một cách phù hợp với tư cách củanhững người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng; Các thủ tục bắt đầuphiên toà, thủ tục xét hỏi, tranh luận, nghị án, tuyên án luôn luôn được phápluật tố tụng quy định chặt chẽ, chi tiết và yêu cầu những người ADPL phảituân thủ tuyệt đối và nghiêm ngặt Nó hoàn toàn không giống nơi nghị bàncủa cơ quan dân cử, cũng không giống với nơi họp bàn, giải quyết công việc

Trang 26

thường xuyên hàng ngày của cơ quan hành pháp Phiên tòa xét xử của Tòa ánnhân dân cũng là nơi quần chúng nhân dân, các cơ quan ngôn luận, báo chítrực tiếp chứng kiến và mong mỏi sự thật khách quan của vụ án được làmsáng tỏ Phiên tòa xét xử là nơi các quyền của con người, các quyền tự do dânchủ của công dân, lợi ích của Nhà nước xã hội chủ nghĩa được bảo vệ; là nơi

sự thật khách quan của vụ án được xác định Theo quy định của pháp luật tốtụng hiện hành, chỉ các vụ án cần giữ gìn bí mật nhà nước, thuần phong mỹtục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của các đương sự theo yêu cầu chính đángcủa họ thì Tòa án xét xử kín Dù xét xử không công khai các thủ tục như xéthỏi, tranh luận nhưng phần tuyên án phải công khai Phiên tòa xét xử của Tòa

án cũng là nơi để Tòa án kiểm tra lại việc ADPL của các cơ quan tiến hành tốtụng, người tiến hành tố tụng trước đó đã thực hiện Việc Tòa án tiến hànhkiểm tra, đánh giá, xem xét các kết quả áp dụng pháp luật trước đó càng thậntrọng, chính xác, khách quan bao nhiêu thì việc áp dụng pháp luật trong hoạtđộng xét xử của Tòa án càng chính xác, đúng pháp luật bấy nhiêu Phiên tòaxét xử các vụ án hình sự diễn ra dưới sự điều khiển của Thẩm phán chủ tọaphiên tòa, có người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và quần chúngnhân dân quan tâm dự theo dõi Tính công khai của phiên tòa thể hiện ở lịchxét xử công khai, giấy triệu tập công khai, giờ xử án công khai và mọi côngdân từ mười sáu tuổi trở lên đều có thể đến theo dõi phiên tòa xét xử chỉ vớimột điều kiện duy nhất là phải tôn trọng và chấp hành nội quy phòng xử án.Phiên toà xét xử vụ án hình sự, bị cáo được trình bày ý kiến của mình về việcbuộc tội của cơ quan công tố, luật sư được đưa ra các chứng cứ và tranh luận

để thực hiện quyền bào chữa cho các bị cáo Và, cũng chính tính chất côngkhai, dân chủ của phiên tòa lại tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho việc giámsát của các tổ chức xã hội, của quần chúng nhân dân ngoài nhiệm vụ kiểm sátxét xử trực tiếp của cơ quan Viện kiểm sát Các quy trình áp dụng pháp luật

Trang 27

trong hoạt động xét xử, đặc biệt là việc ban hành các quyết định, các bản áncủa Tòa án nhân dân luôn luôn chịu sự nhận xét, giám sát của công luận vàđông đảo quần chúng nhân dân Theo đó, trình độ, năng lực, đạo đức và kỹnăng nghề nghiệp của người Thẩm phán cũng được thể hiện công khai và chịu

sự giám sát tương tự

Ngoài ra, những nghi thức riêng có của phiên tòa xét xử như cách bàitrí phòng xử án, chỗ ngồi của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng,trang phục xét xử, vành móng ngựa cho bị cáo; việc quy định mọi người phảiđứng khi nghe tuyên án v.v còn tạo không khí trang nghiêm, thể hiện tínhtrật tự của một nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, tính quyền uy của Nhà nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa và tính vô tư, không thiên vị của công lý xã hộichủ nghĩa

Có thể nói rằng, để ra một bản án, một quyết định giải quyết vụ án,người Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân phải tuân theo những thủ tụcnghiêm ngặt, tuân theo các trình tự, thủ tục, xử lý các tình huống trong mộtđiều kiện đặc biệt riêng có của phiên tòa hình sự

c Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của toà

án được dựa trên kết quả của hoạt động điều tra, truy tố của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát

Xét xử vụ án hình sự với tính chất chỉ là một khâu trong quá trình giảiquyết một vụ án hình sự Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ ánhình sự của Toà án ngoài việc căn cứ vào các quy định của pháp luật còn căn

cứ vào tình hình thực tế của vụ việc được phản ánh qua những chứng cứ và tàiliệu được cơ quan điều tra thu thập Hoạt động xét xử và ADPL của toà ándựa trên kết quả điều tra, truy tố (tố tụng xét hỏi) đây là mô hình tố tụng màViệt Nam và các nước thuộc hệ thống pháp luật châu âu lục địa đang áp dụnghiện nay Toà án với tư cách là cơ quan độc lập có nhiệm vụ kiểm tra tính xácthực, có căn cứ của các chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án để đưa ra phán

Trang 28

quyết cuối cùng là các bị cáo có tội hay không có tội Điều 196 BLTTHS năm

2003 đã quy định rõ giới hạn của việc xét xử của Toà án:

Toà án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh màViện kiểm sát truy tố và Toà án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử

Toà án có thể xét xử bị cáo khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy

tố trong cùng một điều luật hoặc một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Việnkiểm sát truy tố [33, tr.151]

Trong trường hợp, qua hoạt động xét xử nếu Toà án thấy bị cáo phạmmột tội nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát truy tố thì Toà án trao đổi với Việnkiểm sát để thay đổi quyết định truy tố hoặc trả hồ sơ để Viện kiểm sát bổ sung

Mô hình xét hỏi ở Việt Nam hiện nay cũng tạo ra nhiều điểm bất cậptrong việc ADPL của Toà án Toà án dựa vào kết quả điều tra, truy tố để đưa

ra phán quyết nhưng kết quả điều tra truy tố không phải lúc nào cũng kháchquan, trung thực do đó có những bị cáo bị xét xử oan, phải chịu những hậuquả nặng nề, thiệt hại về vật chất và tinh thần

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã có những quy định mới, theo đótạo điều kiện hơn cho việc tranh tụng giữa các bên Tại Điều 50 đã ghi nhận

bị cáo có quyền trình bày ý kiến và tranh luận tại phiên toà, được giải thích vềquyền và nghĩa vụ và để thực hiện quyền đó thì Bộ luật cũng đã mở rộng hơncác quyền của người bào chữa, tạo điều kiện cho họ hoàn thành tốt nhiệm vụbào chữa, gỡ tội

Với những quy định mới, BLTTHS năm 2003 đã tạo điều kiện choToà án, mà trực tiếp là Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo phápluật trong hoạt động xét xử, đưa ra phán quyết của Toà án có căn cứ pháp luật

và dựa vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàndiện các chứng cứ và ý kiến của các bên tham gia tranh tụng

Trang 29

d Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của toà án phải tuân theo những quy định chặt chẽ về trình tự thủ tục do BLTTHS quy định

Việc ADPL của toà án tuân theo các trình tự thủ tục trong xét xử baogiờ cũng được các quy phạm pháp luật luật hình thức quy định đầy đủ Tuynhiên, ở các dạng ADPL của nhiều ngành luật khác các quy định về hình thứcADPL thường được chứa đựng trong cùng một đạo luật với quy phạm phápluật nội dung Ngược lại ADPL trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự củaToà án được quy định trong một đạo luật riêng - BLTTHS do đó tính chặtchẽ và lô gíc của các quy phạm pháp luật thường ở mức độ cao

Các hoạt động ADPL trong xét xử các vụ án hình sự phải đảm bảotính chặt chẽ và có căn cứ pháp luật, mọi hành vi của người tiến hành tố tụng

và tham gia tố tụng trong quá trình xét xử từ khi thụ lý hồ sơ vụ án đến khibản án có hiệu lực pháp luật đều được BLTTHS quy định chặt chẽ

Các quan hệ phát sinh trong quá trình xét xử đều được BLTTHS dựliệu trước để quy định các quyền, nghĩa vụ của các chủ thể, chẳng hạn: quyềnhạn, nhiệm vụ của người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của nhữngngười tham gia tố tụng; việc thay đổi người tiến hành tố tụng trong trườnghợp cần thiết

Xét cả quá trình ADPL của hoạt động xét xử các vụ án hình sự thìviệc những người tiến hành tố tụng tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụnghình sự cũng chính là thực hiện việc ADPL nhưng ở đây là áp dụng các quyphạm pháp luật hình thức, chẳng hạn áp dụng các quy phạm pháp luật tố tụnghình sự trong áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn hay căn

cứ các quy định của BLTTHS để tiến hành các hoạt động tố tụng khác nhưviệc quyết định đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án, triệu tập những người cần xéthỏi đến phiên toà hay thực hiện các hoạt động tại phiên toà như Hội đồng xét

xử xem xét trực tiếp địa điểm xảy ra tội phạm Việc Toà án áp dụng các quy

Trang 30

định của BLTTHS là điều kiện bắt buộc và là tiền đề cho việc áp dụng cácquy phạm pháp luật nội dung (quy phạm pháp luật hình sự) để đi đến việc ravăn bản ADPL cuối cùng là bản án hình sự Bộ luật tố tụng hình sự 2003 đãquy định rõ ràng từng bước tiến hành trong quá trình xét xử một vụ án hình sựgồm các giai đoạn trong mỗi thủ tục: xét xử sơ thẩm; xét xử phúc thẩm; thihành án; xét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật (giám đốc thẩm và tái thẩm) Những quy định chặt chẽ phải tiến hành trong thủ tục tố tụng nói chung vàtrong xét xử các vụ án hình sự nói riêng của BLTTHS 2003 là rất quan trọng

và cần thiết thể hiện sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật nhằm đảm bảo choviệc áp dụng pháp luật đúng đắn, chính xác có cơ sở thực tế và cơ sở pháp lý,các quyết định ADPL của Toà án phải đảm bảo khách quan, đúng người, đúngtội

đ Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của toà án là quá trình cá biệt hoá những quy phạm pháp luật hình sự, pháp luật dân sự đối với bị cáo để xác định họ có hay không có tội và trách nhiệm dân

sự (nếu có)

Để ra quyết định cuối cùng, Toà án cần phải áp dụng những quy phạmpháp luật hình sự để xem xét bị cáo bị có tội đúng như cáo trạng của Việnkiểm sát truy tố hay không Bước tiếp theo trong quá trình áp dụng những quyphạm pháp luật nội dung là việc xem xét trách nhiệm dân sự, trong một sốtrường hợp theo quy định của pháp luật dân sự, buộc bị cáo có trách nhiệmbồi thường cho người bị hại hoặc nguyên đơn dân sự Đó là những chủ thể bịgây thiệt hại có thể là bị hại hoặc nguyên đơn dân sự Những thiệt hại về vậtchất có thể tính toán quy giá trị bằng tiền hoặc những thiệt hại về tinh thần.Như vậy, những quy phạm pháp luật nội dung được Toà án áp dụng để xácđịnh trách nhiệm pháp lý cho bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụliên quan có thể bao gồm hai loại đó là:

Trang 31

+ Những quy phạm pháp luật hình sự (nguồn là BLHS).

+ Những quy phạm pháp luật Dân sự (nguồn là BLDS và những vănbản pháp luật khác)

Áp dụng quy phạm pháp luật hình sự được xác định là nội dung chínhcủa quá trình ADPL trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của Toà án, nógiải quyết được mối quan hệ giữa nhà nước mà người đại diện là Toà án vàcác cơ quan tiến hành tố tụng với bị cáo Khi áp dụng pháp luật hình sự Toà

án sẽ đối chiếu hành vi của bị cáo đã thực hiện với các yếu tố cấu thành tộiphạm cụ thể để xác định bị cáo có phạm tội hay không, được gọi là quá trìnhđịnh tội, việc định tội trong quá trình xét xử được chủ thể áp dụng pháp luật,trực tiếp là Hội đồng xét xử, tiến hành một cách độc lập Định tội danh chínhxác phải đáp ứng được những yêu cầu sau:

- Xác định đầy đủ, chính xác, khách quan các tình tiết cụ thể của hành

vi phạm tội được thực hiện trên thực tế thông qua các hoạt động chứng minh

và thực hiện các biện pháp tố tụng khác theo quy định của BLTTHS

- Nhận thức đúng đắn quy định của BLHS về cấu thành tội phạmtương ứng Để thực hiện được yêu cầu này chủ thể định tội danh (các thànhviên của Hội đồng xét xử) ngoài việc có kiến thức pháp lý, có kinh nghiệmthực tiễn còn phải có những hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau của đời sống

xã hội

- Xác định được sự phù hợp giữa hành vi phạm tội cụ thể được thựchiện với những mô tả trong cấu thành tội phạm tương ứng

Khi xác định được đầy đủ, chính xác khách quan các tình tiết của hành

vi phạm tội thông qua những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đượckiểm tra công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử có thể xác định được bị cáo

có phạm tội hay không với một tội danh cụ thể trong Bộ luật hình sự Sau khi

đã định được tội danh đối với bị cáo, Hội đồng xét xử phải quyết định tráchnhiệm hình sự được quy phạm pháp luật hình sự quy định ở phần chế tài của

Trang 32

quy phạm đó, đây cũng là bước tiếp theo của quá trình ADPL trong hoạt độngxét xử các vụ án hình sự Quyết định trách nhiệm hình sự được thực hiện ngaysau khi định tội danh, bao gồm các bước cơ bản sau:

- Xem xét việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Tráchnhiệm hình sự là hậu quả pháp lý tất yếu của việc thực hiện tội phạm Vềnguyên tắc người thực hiện tội phạm phải chịu trách nhiệm hình sự, tuy nhiên,với nguyên tắc nhân đạo và cá thể hoá trách nhiệm hình sự có tính đến nhữngtình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, cũng quy định những trường hợp miễntrách nhiệm hình sự (Điều 25 BLHS)

- Xác định việc áp dụng hình phạt với bị cáo khi xác định bị cáo đãthực hiện hành vi phạm tội thì Hội đồng xét xử phải quyết định việc áp dụnghình phạt tương ứng với chính chất và hậu quả của hành vi phạm tội Ngoàihình phạt chính, Hội đồng xét xử còn phải xem xét việc áp dụng các hình phạt

bổ sung, các biện pháp tư pháp như: bắt buộc chữa bệnh (Điều 43 BLHS);giáo dục tại xã phường, đưa vào trường giáo dưỡng (Điều 70 BLHS) Tuynhiên, Toà án cũng cần xem xét có miễn hình phạt cho bị cáo theo Điều 54BLHS không

- Khi ADPL, Toà án sẽ lựa chọn một trong những hình phạt cụ thểđược quy định trong chế tài của quy phạm pháp luật quy định về tội phạm đó

để áp dụng với bị cáo trên cơ sở quy định của Điều 45 và Điều 47 BLHS Nếu

bị cáo phạm nhiều tội, Hội đồng xét xử phải áp dụng pháp luật để tổng hợphình phạt

Bên cạnh việc quyết định trách nhiệm hình sự đối với bị cáo trong xét

xử các vụ án hình sự, Toà án còn phải ADPL dân sự để quyết định tráchnhiệm dân sự đối với bị cáo và bị đơn dân sự Trách nhiệm dân sự của bị cáo

có thể là trả lại tài sản cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc bồithường những thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Điều 42 khoản 1 BLHSquy định “Người phạm tội phải trả lại tài sản đó chiếm đoạt cho chủ sở hữu

Trang 33

hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất

đó được xác định do hành vi phạm tội gây ra” Để xác định mức bồi thườngthiệt hại Hội đồng xét xử phải căn cứ vào những quy định về bồi thường thiệthại ngoài hợp đồng của Bộ luật dân sự để tính mức bồi thường thiệt hại theocác điều luật (từ Điều 612 đến Điều 616 BLDS)

Đối với những thiệt hại về tinh thần tuy không thể khắc phục đượcnhưng khoản 2 Điều 42 BLHS quy định về việc buộc người phạm tội côngkhai xin lỗi “Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Toà ánbuộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bịhại” Pháp luật còn cho phép Toà án xem xét những thiệt hại về tinh thần đểbuộc người gây thiệt hại phải bù đắp bằng giá trị vật chất Như vậy, bên cạnhviệc quyết định trách nhiệm hình sự đối với bị cáo trong một vụ án hình sự, Toà

án còn phải quyết định cả trách nhiệm dân sự để giải quyết toàn diện vụ án

Qua phân tích những đặc điểm của việc áp dụng pháp luật trong hoạtđộng xét xử các vụ án hình sự, có thể đưa ra một khái niệm chung là: ADPLtrong hoạt động xét xử các vụ án hình sự là hoạt động nhân danh quyền lựcnhà nước của Toà án, được Hội đồng xét xử trên cơ sở tuân thủ những quyđịnh chặt chẽ về trình tự thủ tục của pháp luật tố tụng hình sự và căn cứ vàocác tài liệu chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố, nhằm ápdụng những quy phạm pháp luật hình sự , pháp luật tố tụng dân sự vào việcgiải quyết vụ án hình sự cụ thể với bị cáo, xác định bị cáo có tội hay không cótội, quyết định trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và trách nhiệm dân sự nếu

có vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

Nghiên cứu về áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ ánhình sự, có thể phân loại ADPL thành những dạng cơ bản dựa trên một số tiêuchí nhất định:

Trang 34

Dựa trên tiêu chí về loại các quy phạm pháp luật áp dụng trong hoạt độngxét xử các vụ án hình sự, có thể phân chia áp dụng pháp luật thành hai dạng:

+ Áp dụng pháp luật nội dung (quy phạm pháp luật hình sự)

+ Áp dụng pháp luật hình thức (quy phạm pháp luật tố tụng hình sự).Dựa trên tiêu chí về trình tự thủ tục trong cả quá trình xét xử các vụ ánhình sự có thể phân chia ADPL thành các giai đoạn:

+ Áp dụng pháp luật trong thủ tục xét xử sơ thẩm án hình sự

Trước tiên, ADPL trong hoạt động xét xử của Tòa án có vai trò to lớntrong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật hình sựnói riêng; là nơi kích thích sự ra đời của những tư duy pháp lý mới Thật vậy,thực tiễn ADPL trong hoạt động xét xử của Tòa án đã chứng minh rằng, cácquy phạm pháp luật nói chung và các quy phạm pháp luật hình sự nói riêngđều được kiểm nghiệm qua công tác xét xử của Tòa án về tính phù hợp haychưa phù hợp với yêu cầu của đời sống xã hội; về tính đầy đủ, toàn diện haychưa đầy đủ, còn phiến diện, còn "lỗ hổng" của quy phạm pháp luật so vớiyêu cầu cần điều chỉnh bằng pháp luật của các mối quan hệ xã hội Qua thựctiễn xét xử các vụ án hình sự của Tòa án, chủ thể ADPL phát hiện ra những

Trang 35

quy phạm pháp luật vì quá chung chung làm cho việc hiểu và áp dụng khácnhau, tạo nên sự tùy tiện trong việc áp dụng pháp luật và dẫn đến sự vi phạmtính thống nhất của pháp chế xã hội chủ nghĩa Cũng qua áp dụng pháp luậttrong hoạt động xét xử các vụ án hình sự, Tòa án phát hiện ra những dạnghành vi mới, những quan hệ xã hội cần phải có quy phạm pháp luật điều chỉnh

và cả những quy phạm pháp luật lỗi thời, lạc hậu, không còn phù hợp với thựctiễn đời sống xã hội Như vậy, áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử củaTòa án là mảnh đất thực tiễn kích thích sự ra đời của những tư duy pháp lýmới, sinh động và phù hợp với đời sống xã hội Cũng qua việc ADPL tronghoạt động xét xử các vụ án hình sự của Tòa án, các chất liệu đầy tính thực tiễnđược phát hiện phục vụ cho việc kiến nghị xây dựng, hoàn thiện các quyphạm pháp luật nói chung và các quy phạm pháp luật hình sự nói riêng

Mặt khác, ADPL trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của Tòa án

là việc thực thi trên thực tế nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo

vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền tự do, dân chủ của công dân; bảo vệ tínhmạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người dưới chế độ xã hội chủnghĩa Do đó, ADPL trong hoạt động xét xử của Tòa án có vai trò to lớn trongviệc bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; gìn giữ "kỷ cương, phépnước" trong các lĩnh vực của đời sống xã hội Những hành vi xâm phạmnghiêm trọng đến các quan hệ xã hội xã hội chủ nghĩa mà pháp luật bảo vệđều được xem xét, xử lý nghiêm minh, kịp thời, đúng pháp luật qua hoạt độngxét xử các vụ án hình sự của Tòa án

Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của Tòa

án có vai trò khắc phục và chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật, khôi phục lạitrật tự pháp luật trong các lĩnh vực bị hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm,truy cứu trách nhiệm pháp lý các chủ thể đã có hành vi vi phạm theo đúng cácquy định của pháp luật tố tụng hình sự

Trang 36

Ngoài ra, ADPL trong hoạt động xét xử của Tòa án còn có vai trò rấtquan trọng trong việc góp phần phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật;nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân bằng những vụ việc cụ thể, đặc biệt

là thông qua các phiên tòa xét xử công khai Để nâng cao ý thức tôn trọngpháp luật, sống và làm việc theo pháp luật, cần có rất nhiều "kênh" để chuyểntải kiến thức pháp luật đến quần chúng nhân dân Hầu hết hoạt động xét xửcác vụ án hình sự của Tòa án đều phải thực hiện qua phiên tòa công khai, việcphân tích, giải thích pháp luật trực tiếp của Thẩm phán và Hội thẩm Tòa ánnhân dân qua các phiên tòa; những căn cứ pháp luật và những nhận định vềhành vi phạm tội của bị cáo trong các bản án và quyết định của Tòa án lànhững "kênh" chuyển tải kiến thức pháp luật mang tính cụ thể đến với quầnchúng nhân dân Do đó, việc không ngừng mở rộng tranh tụng tại phiên tòa,

tổ chức tốt các phiên tòa xét xử, nhất là xét xử lưu động không chỉ đơn thuần

là việc nâng cao chất lượng xét xử mà còn có tác dụng rất tốt đến việc giáodục, nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật trong nhân dân

Tóm lại, hoạt động ADPL của TAND là hoạt động pháp lý nhân danhNhà nước nhằm bảo vệ nền pháp chế XHCN, có vai trò quan trọng trong hệthống chính trị, là công cụ chuyên chính đấu tranh phòng chống tội phạm, bảođảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh và thống nhất

1.2 CÁC GIAI ĐOẠN ÁP DỤNG PHÁP KUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT

XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN

Theo lý luận, ADPL được tiến hành theo một cơ chế nhất định bao gồmnhững khâu, những hành vi pháp lý và điều kiện pháp lý bảo đảm cho phápluật được thi hành đúng đắn ADPL trải qua các khâu phân tích đánh giá đúngtình tiết, hoàn cảnh, điều kiện của sự việc như thực tế đã xẩy ra; chọn các quyphạm pháp luật phù hợp và giải thích chúng đã làm sáng tỏ nội dung và ý

Trang 37

nghĩa của quy phạm pháp luật; ra văn bản ADPL; tổ chức thực hiện và kiểmtra việc thực hiện văn bản ADPL đó trên thực tế.

Có nhiều cách tiếp cận các giai đoạn ADPL trong giải quyết các vụ ánhình sự của TAND, như cách tiếp cận theo trình tự thủ tục tố tụng, cách tiếpcận theo thẩm quyền áp dụng, nhưng nói chung các cách tiếp cận đó đều cónhững hạn chế nhất định Phân chia các giai đoạn ADPL trong giải quyết ánhình sự dựa vào tiêu chí áp dụng quy phạm pháp luật nói chung là có tính cơbản toàn diện hơn vì nó phù hợp với mục đích của quá trình giải quyết các vụ

án hình sự

Dựa vào tiêu chí áp dụng quy phạm pháp luật nội dung, có thể chiaADPL trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của TAND thành các giaiđoạn sau:

1.2.1 Nghiên cứu, phân tích, đánh giá các tình tiết, tài liệu, chứng

cứ có liên quan đến vụ án

Đây là giai đoạn đầu tiên có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tạo cơ

sở pháp lý cho việc thực hiện giai đoạn sau của toàn bộ quá trình ADPL khixét xử các vụ án Về lý luận, đây là khâu phân tích, đánh giá đúng tình tiết,điều kiện, hoàn cảnh của sự việc như thực tế đã xẩy ra, nhưng trong thực tiễnquá trình này xuyên suốt trong toàn bộ quá trình giải quyết án của Toà án

Theo quy định của pháp luật tố tụng nước ta thì việc nghiên cứu hồ sơ

vụ án là một công việc không thể thiếu được trước khi tiến hành xét xử một

vụ án Tùy theo tính chất phức tạp hay đơn giản các tình tiết của vụ việc.Trước hồ sơ một vụ án, người ADPL cần có phương pháp nghiên cứu phùhợp mới có thể nắm vững nội dung cơ bản cần giải quyết khi xét xử Khôngnắm được trọng tâm, yêu cầu cơ bản cần giải quyết của vụ án, người ADPL sẽkhông thể có phương hướng đúng đắn để xem xét, đánh giá các chứng cứ; cácthông tin thu nhận qua việc đọc hồ sơ sẽ rời rạc, không kết nối thành một thể

Trang 38

thống nhất để có sự đánh giá mang tính khách quan và toàn diện vụ án Nếu

có phương pháp nghiên cứu đúng đắn, người ADPL sẽ rất dễ dàng phát hiệncác thông tin, các tình tiết sự việc chính yếu của vụ án thông qua các tài liệu,các lời khai, các chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án Từ đó, việcphân loại đánh giá chứng cứ trực tiếp, chứng cứ gián tiếp, chứng cứ có ýnghĩa quyết định, chứng cứ có ý nghĩa bổ trợ, liên quan cũng sẽ rất dễ dàng

và thuận lợi

Đối với hồ sơ vụ án hình sự, xuất phát từ nguyên tắc Tòa án chỉ xét

xử những hành vi, những bị can theo tội danh mà cơ quan công tố đã truy tố

và Tòa án đã đưa ra xét xử, thông thường người ADPL phải ngay từ đầu nắmvững nội dung cáo trạng Bản cáo trạng trong hồ sơ vụ án hình sự như là mộtchiếc "chìa khóa" để mở hồ sơ vụ án chỉ rõ các vấn đề: ai đã thực hiện hành viphạm tội, đó là hành vi gì, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành

vi phạm tội, động cơ của hành vi phạm tội; người bị truy tố có lỗi hay không

có lỗi, nếu có lỗi thì lỗi cố ý hay vô ý; nhân thân người phạm tội có đặc điểm

gì cần lưu ý; hành vi bị truy tố xâm phạm đến quan hệ xã hội nào mà phápluật hình sự bảo vệ; điều luật mà bản cáo trạng viện dẫn để buộc tội bị cáo Trên cơ sở đó, người ADPL đối chiếu với bản kết luận điều tra của cơ quanđiều tra để tìm hiểu xem vì sao cáo trạng chấp nhận toàn bộ hoặc một phầnnội dung của bản kết luận điều tra Tiếp theo đó là việc xem xét lời khai của

bị can, bị cáo, người làm chứng, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, các tàiliệu giấy tờ liên quan, kết quả giám định, bản ảnh, biên bản khám nghiệm hiệntrường Trong trường hợp vụ án có đồng phạm thì cần lưu ý đến sự giống nhau

và khác nhau giữa các lời khai của các bị can, bị cáo, các biên bản đối chất vềnhững vấn đề khác nhau thể hiện qua các lời khai và chứng cứ của hồ sơ vụ án.Qua nghiên cứu hồ sơ, người áp dụng pháp luật cần hệ thống lại một cách logiccác chứng cứ gỡ tội, các chứng cứ buộc tội để đưa ra nhận định công tác điều tra,

Trang 39

thu thập chứng cứ, đã thu thập đủ các chứng cứ cần thiết để chứng minh việcbuộc tội và gỡ tội hay chưa; có những vấn đề gì đã rõ hoặc chưa rõ v.v

Cùng với việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, người áp dụng pháp luật đồngthời tiến hành việc phân tích, đánh giá, đối chiếu các chứng cứ, tài liệu đã cótrong hồ sơ nhằm làm sáng tỏ các luận cứ buộc tội của cơ quan công tố và cácchứng cứ lý lẽ gỡ tội cho bị can, bị cáo ngay cả trong trường hợp bị can khainhận tội và người nghiên cứu hồ sơ cảm thấy vụ án "suôn sẻ", đơn giản.Người nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án sẽ nắm rất vững diễn biến của vụ án và hiểuđược trong các chuỗi hành vi mà bị can, bị cáo đã thực hiện thì hành vi gì códấu hiệu tội phạm, hành vi gì không có dấu hiệu tội phạm, cơ quan công tố đãchọn đúng hành vi có dấu hiệu tội phạm hay chưa, v.v

Có thể nói rằng, việc nghiên cứu hồ sơ vụ án có một ý nghĩa rất quantrọng cho việc xét xử các vụ án Nghiên cứu hồ sơ kỹ, nắm vững các tình tiết,diễn biến của một vụ án, hiểu được nội dung vụ việc sẽ giúp cho người Thẩmphán và Hội thẩm tòa án nhân dân xét hỏi đúng trọng tâm vụ án và giải quyếtnhững vấn đề đặt ra của vụ án một cách triệt để đúng pháp luật, có lý, có tình.Nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án sẽ giúp cho người Thẩm phán và Hội thẩm tòa ánnhân dân có được sự tự tin và tính chủ động hơn khi tiến hành thẩm tra lại cácchứng cứ, tài liệu tại phiên tòa công khai Và, cũng chính vì vậy, việc ADPLtrong hoạt động xét xử của Tòa án chắc chắn sẽ có chất lượng tốt hơn khingười Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân đã nắm vững các tình tiết của

vụ án thông qua việc nghiên cứu hồ sơ, tình tiết sự việc của từng vụ án màmình xét xử

1.2.2 Tìm, lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp với các vấn đề cần giải quyết của vụ án hình sự

Giai đoạn này dựa trên ý thức pháp luật, trình độ hiểu biết, tích lũykiến thức pháp luật gần như đã có sẵn trong tư duy của người áp dụng pháp

Trang 40

luật Tìm và chọn quy phạm pháp luật là đối chiếu tình tiết sự việc xảy ra vớiquy phạm pháp luật điều chỉnh phù hợp Có hay không có quy phạm pháp luậtđiều chỉnh? Nếu có thì quy phạm pháp luật ấy có còn hiệu lực không? Cácquy phạm pháp luật giải thích như thế nào? Tìm, lựa chọn sai quy phạm phápluật tất yếu dẫn đến hậu quả sai lầm của việc ADPL trong hoạt động xét xử.

Trong hoạt động xét xử của Tòa án, việc tìm và lựa chọn quy phạmpháp luật để áp dụng là một thao tác bắt buộc và có ý nghĩa quan trọng trongviệc bảo đảm tính đúng đắn và hợp pháp của bản án và quyết định khi banhành Thực hiện nguyên tắc hiến định Nhà nước quản lý xã hội bằng phápluật và phấn đấu xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ViệtNam, trong thời gian vừa qua, số lượng văn bản quy phạm pháp luật đượcNhà nước ta ban hành là rất lớn để đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý các lĩnhvực của đời sống xã hội Bên cạnh việc ban hành mới, Nhà nước ta cũng đãrất quan tâm xem xét, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ các văn bản quy phạm phápluật không đáp ứng được yêu cầu thực tiễn và không được đời sống xã hộichấp nhận Do đó, số lượng văn bản chứa đựng quy phạm pháp luật là rất lớn

và luôn mang tính "thời sự" Người ADPL cần có sự tích lũy và cập nhật vănbản quy phạm pháp luật có liên quan đến lĩnh vực xét xử nhằm phục vụ tốtnhất cho việc tra cứu, tìm và lựa chọn quy phạm pháp luật khi xét xử

Trong xét xử các vụ án hình sự, do xuất phát từ nguyên tắc mọi hành

vi bị coi là tội phạm phải được quy định trong Bộ luật hình sự nên việc tìmquy phạm pháp luật có phần thuận lợi hơn Một trong những vấn đề khó khănnhất trong lĩnh vực xét xử các vụ án hình sự là lựa chọn đúng quy phạm phápluật phù hợp với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà bị can, bị cáo đã thực hiện:Hành vi bị truy tố có dấu hiệu tội phạm hay không? Nếu đã có dấu hiệu tộiphạm thì đã đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa? Hành vicấu thành tội gì và theo điểm nào, khoản nào, điều luật nào của Bộ luật hình

Ngày đăng: 14/03/2022, 12:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Lê Cảm (2004), “Vai trò của thực tiễn xét xử trong việc phát triển pháp luật hình sự Việt Nam”, Toà án nhân dân (6), tr. 9-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của thực tiễn xét xử trong việc phát triển phápluật hình sự Việt Nam”, "Toà án nhân dân
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2004
4. Tô Xuân Dân - Nguyễn Thanh Bình (2004), “Xây dựng nhà nước pháp quyễn xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng”, Tạp chí Cộng sản, (4), tr. 17-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nhà nước phápquyễn xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo củaĐảng”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Tô Xuân Dân - Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2004
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tám BanChấp hành Trung ương khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín BanChấp hành Trung ương khoá IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm BanChấp hành Trung ương khoá X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
12. Đại học Quốc gia Hà Nội (2002), Nhà nước và pháp luật Việt Nam trước thềm thế kỷ XXI, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước và pháp luật Việt Nam trướcthềm thế kỷ XXI
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
13. Đại học Quốc gia Hà Nội (2003), Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận chung về nhà nướcvà pháp luật
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
14. PGS.TS Trần Ngọc Đường (chủ biên) (1998), Bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (tập 2), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ máy nhà nước Cộng hoàxã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: PGS.TS Trần Ngọc Đường (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
15. Phạm Hồng Hải (1999), “Chuẩn bị xét xử vụ án hình sự - một vài vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nhà nước và Pháp luật, (6), tr. 13-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn bị xét xử vụ án hình sự - một vài vấn đềlý luận và thực tiễn”, "Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Năm: 1999
16. Phạm Hồng Hải (2003), Mô hình lý luận Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình lý luận Bộ luật tố tụng hình sự ViệtNam
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2003
17. Hoàng Văn Hảo (2003), "Vấn đề dân chủ và các đặc trưng của mô hình tổng thể Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam", Nhà nước và pháp luật, (2), tr. 14-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dân chủ và các đặc trưng của mô hìnhtổng thể Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Văn Hảo
Năm: 2003
18. Nguyễn Văn Hiện (2001), "Nâng cao chất lượng soan thảo bản án hình sự - một yêu cầu cấp bách", Dân chủ và pháp luật, (4), tr. 2-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng soan thảo bản án hìnhsự - một yêu cầu cấp bách
Tác giả: Nguyễn Văn Hiện
Năm: 2001
19. Nguyễn Văn Hiện (2002), "Tăng cường năng lực xét xử của toà án cấp huyện - một số vấn đề cấp bách", Toà án nhân dân, (1), tr. 1-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường năng lực xét xử của toà án cấphuyện - một số vấn đề cấp bách
Tác giả: Nguyễn Văn Hiện
Năm: 2002
20. Nguyễn Đức Hiệp (2004), Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự của Toà án nhân dân ở tỉnh Ninh Bình, Luận văn thạc sĩ Luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử ánhình sự của Toà án nhân dân ở tỉnh Ninh Bình
Tác giả: Nguyễn Đức Hiệp
Năm: 2004
21. Nguyễn Văn Huyên (2003), "Mấy ý kiến về tăng thẩm quyền xét xử cho Toà án cấp huyện", Nhà nước và pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy ý kiến về tăng thẩm quyền xét xử choToà án cấp huyện
Tác giả: Nguyễn Văn Huyên
Năm: 2003
22. Nguyễn Mạnh Kháng (2003), "Cải cách tư pháp và vấn đề tranh tụng", Nhà nước và pháp luật, (10), tr. 32-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách tư pháp và vấn đề tranh tụng
Tác giả: Nguyễn Mạnh Kháng
Năm: 2003
23. Nguyễn Văn Luyện (2003), "Dư luận xã hội và pháp luật", Nhà nước và pháp luật, (3), tr. 8-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dư luận xã hội và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Văn Luyện
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w