Đối tượng nghiên cứu Chủ nghĩa duy vật lịch sử không nghiên cứu những mặt riêng biệt của sinh hoạt xã hội, mà nghiên cứu toàn bộ xã hội như một thể thống nhất với tất cả các mặt, các qua
Trang 1CHUYÊN ĐỀ 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ
————-Giảng viên: TS Phạm Bá Khoa – ————-Giảng viên cao cấp
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Khái niệm chủ nghĩa duy vật lịch sử
Chủ nghĩa duy vật lịch sử là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về xã hội của triết
học Mác-Lênin, là kết quả của sự vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật vào việc nghiên cứu đời sống xã hội và lịch sử nhân loại
Chủ nghĩa duy vật lịch sử lý giải sự tiến hóa của xã hội loài người bằng sự phát triển của trình độ sản xuất Trình độ sản xuất thay đổi khiến quan hệ sản xuất cũng thay đổi dẫn đến những mối quan hệ xã hội thích ứng với những quan hệ sản xuất đó cùng với những
tư tưởng nảy sinh ra từ những quan hệ xã hội đó cũng thay đổi kéo theo sự thay đổi hệ thống pháp lý và chính trị
Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Marx trở thành phương pháp luận của nhiều nhà nghiên cứu trong các bộ môn như sử học, xã hội học…
1.2 Đối tượng nghiên cứu
Chủ nghĩa duy vật lịch sử không nghiên cứu những mặt riêng biệt của sinh hoạt xã hội,
mà nghiên cứu toàn bộ xã hội như một thể thống nhất với tất cả các mặt, các quan hệ xã hội, các quá trình có liên hệ nội tại và tác động lẫn nhau của xã hội; nghiên cứu những quy luật chung nhất phổ biến nhất của sự phát triển xã hội
Chủ nghĩa duy vật lịch sử nghiên cứu xã hội với tư cách là một chỉnh thể thống nhất để vạch ra những nét chung của sự phát triển xã hội, những động lực, những nguyên nhân cơ bản của sự chuyển biến từ một hình thái kinh tế – xã hội này sang một hình thái kinh tế –
xã hội khác, mối liên hệ qua lại và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những hiện tượng khác nhau của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, tư tưởng v.v…
Chủ nghĩa duy vật lịch sử vạch ra những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển xã hội, chỉ ra vị trí và vai trò của mỗi mặt của đời sống xã hội, trong hệ thống xã hội nói chung, vạch ra những nét cơ bản của các giai đoạn phát triển của xã hội loài người
1.3 Nội dung cơ bản
– Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội
– Cốt lõi của chủ nghĩa duy vật lịch sử là học thuyết hình thái kinh tế – xã hội, theo đó, trong các quan hệ xã hội, các quan hệ sản xuất là cơ sở hiện thực của mỗi xã hội nhất định, cấu trúc hạ tầng, trên đó xây dựng lên kiến trúc thượng tầng: chính trị, pháp luật và các hình thái ý thức xã hội khác, với những thiết chế của chúng Mỗi hệ thống quan hệ sản xuất của một xã hội nhất định, phụ thuộc vào tính chất và trình độ phát triển của các lực lượng sản xuất
– Các lực lượng sản xuất luôn luôn phát triển không ngừng, đến một giai đoạn nhất định
sẽ mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất cũ đã lỗi thời và đòi hỏi phải thay đổi các quan
Trang 2hệ sản xuất ấy bằng những quan hệ sản xuất mới, tiến bộ hơn Trong xã hội có giai cấp,
sự thay đổi ấy được thực hiện bằng cách mạng xã hội
– Một khi cơ sở hạ tầng đã thay đổi, thì toàn bộ cấu trúc thượng tầng sớm muộn cũng thay đổi theo Hình thái kinh tế – xã hội cũ được thay thế bằng một hình thái kinh tế – xã hội mới tiến bộ hơn Như vậy, lịch sử loài người là lịch sử thay thế của những hình thái kinh tế – xã hội khác nhau
– Chủ nghĩa duy vật lịch sử nhằm phát hiện ra những quy luật chung nhất của sự vận động phát triển của lịch sử, là nguyên nhân dẫn đến sự thay thế các hình thái kinh tế – xã hội thấp đến trình độ cao hơn, vận động theo hình xoáy ốc và đỉnh cao của nó là xã hội cộng sản chủ nghĩa, một xã hội công bằng, tiến bộ, văn minh
2 VAI TRÒ CỦA SẢN XUẤT VẬT CHẤT VÀ QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
2.1 Sản xuất vật chất và vai trò của sản xuất vật chất
2.1.1 Sản xuất vật chất và vai trò của sản xuất
2.1.1.1 Sản xuất vật chất – nền tảng của xã hội
Sản xuất là hoạt động đặc trưng riêng có của con người và xã hội loài người Đó là
hoạt động có mục đích và không ngừng sáng tạo của con người Khẳng định điều đó, Ph.Awngghen viết: “Điểm khách biệt căn bản giữa xã hội loài người với xã hội loài vật là
ở chỗ: loài vật may lắm chỉ hái lượm, trong khi con người lại sản xuất”[1].
Sự sản xuất xã hội bao gồm: Sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất bản than con người Trong sản xuất xã hội, sản xuất vật chất giữ vai trò nền tảng Sản xuất vật chất
là quá trình lao động của con người
2.1.1.2 Vai trò của sản xuất vật chất
Thể hiện ở những điểm sau:
– Lao động sản xuất vật chất là một trong những nguồn gốc dẫn đến sự xuất hiện của loài người
– Hoạt động sản xuất vật chất là nguồn gốc của mọi cái thỏa mãn nhu cầu phong phú của con người, tạo ra tư liệu sinh hoạt nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của từng cá thể con người nói riêng, của con người nói chung
– Con người thông qua việc sản xuất ra của cải vật chất đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất và tinh thần của xã hội với tất cả tính phong phú và phức tạp của nó Nói cách khác, trong quá trình sản xuất vật chất, con người đã tạo ra và biến đổi các quan hệ
xã hội cũng như bản thân con người
– Xã hội tồn tại và phát triển được trước hết là nhờ sản xuất vật chất Do vậy, lịch sử của
xã hội trước hết là lịch sử phát triển của sản xuất vật chất
2.2 Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
2.2.1 Một số khái niệm cơ bản
2.2.1.1 Khái niệm phương thức sản xuất
Trang 3Phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất trong
từng giai đoạn lịch sử nhất định Ở mỗi một giai đoạn lịch sử, một hình thái kinh tế – xã hội nhất định có một phương thức sản xuất riêng
Phương thức sản xuất bao gồm hai mặt quan hệ mật thiết với nhau là lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất
2.2.1.2 Khái niệm lực lượng sản xuất
Trong qúa trình thực hiện sản xuất vật chất, con người tác động vào giới tự nhiên, chinh phục giới tự nhiên bằng tổng hợp các sức mạnh hiện thực của mình, sức mạnh đó được khái quát trong khái niệm lực lượng sản xuất
– Lực lượng sản xuất là sự thống nhất hữu cơ giữa người lao động với tư liệu sản xuất,
trước hết là công cụ lao động
Lực lượng sản xuất là sức sản xuất của xã hội, lực lượng sản xuất bao gồm: Người lao động và tư liệu sản xuất: VD: công nhân, máy móc…
+ Người lao động gồm sức khoẻ, kỹ năng và tri thức VD: công nhân, nông dân
+ Tư liệu sản xuất gồm công cụ lao động và đối tượng lao động VD : đất đai, cày cuốc – Công cụ lao động : Công cụ sản xuất và phương tiện vật chất khác VD: máy móc, cày bừa…
– Đối tượng lao động: có 2 loại một loại có sẵn trong tự nhiên, một loại do lao động con người tạo ra VD : kim loại, than đá…
Trong lực lượng sản xuất, chủ nghĩa duy vật lịch sử đánh giá cao vai trò của người lao động và công cụ lao động Người lao động là nhân tố hàng đầu của lực lượng sản xuất
Khẳng định điều đó, V.I.Lênin viết: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động”[2].
Công cụ lao động là khí quan vật chất “nối dài”, “nhân lên” sức mạng của con người trong quá trình biến đổi giới tự nhiên Nó là yếu tố quyết định trong tư liệu sản xuất trình
độ phát triển của công cụ lao động vừa là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người, vừa là tiêu chuẩn phân biệt sự khác nhau giữa thời đại kinh tế – kỹ thuật trong lịch
sử C.Mác viết: “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ, chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào”[3]
2.2.1.3 Khái niệm quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong sản xuất vật chất.
Quan hệ sản xuất được cấu thành từ: Các quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất (giữ vai trò quyết định); quan hệ tổ chức quản lý và trao đổi hoạt động với nhau; quan hệ phân phối sản phẩm lao động
2.2.2 Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Trong mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thì lực lượng sản xuất giữ vai trò quyết định Lực lượng sản xuất phát triển đến một mức độ nhất định làm cho
quan hệ sản xuất phải biến đổi theo phù hợp với nó
Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là sự phù hợp biện chứng, sự phù hợp bao hàm mâu thuẫn Đây là sự phù hợp giữa một yếu tố động
Trang 4(lực lượng sản xuất luôn biến đổi) với một yếu tố mang tính ổn định tương đối (quan hệ sản xuất ổn định hơn, ít biến đổi hơn)
Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Quan hệ sản xuất quy định: Mục đích xã hội của sản xuất, hình thức tổ chức, quản lý sản xuất, quy định khuynh hướng phát triển các nhu cầu lợi ích vật chất và tinh thần từ đó hình thành hệ thống những yếu tố tác động trở lại đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất
Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lục lượng sản xuất nó sẽ tạo địa bàn cho lực lượng sản xuất trở thành một trong những động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Ngược lại, thì sẽ là sự trì trệ, níu kéo và kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất
Vận dụng lí luận trong thực tiễn đổi mới ở nước ta:
Ở nước ta, trong những năm trước đổi mới, do nhiều nguyên nhân khác nhau, đặc biệt là những sai lầm chủ quan, chúng ta đã xác lập một quan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Do vậy, nó đã tác động tiêu cực, kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, là một trong những nguyên nhân của cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng ở nước ta vào cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ XX Trước tình hình đó, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm với nội dung cốt lõi là đổi mới quan hệ sản xuất Việc đổi mới quan hệ sản xuất đúng đắn đã làm cho quan hệ sản xuất ngày càng phù hợp với lực lượng sản xuất Do vậy, nó đã tác động tích cực, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của lực lượng sản xuất, nhờ đó nền kinh tế nước ta đã dần thoát khỏi khủng hoảng
và luôn giữ được tăng trưởng đều đặn ở mức cao
3 BIỆN CHỨNG CỦA CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG 3.1 Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
3.1.1 Khái niệm cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng là tổng hợp những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã
hội nhất định Kết cấu của cơ sở hạ tầng của một xã hội thong thường được cấu thành bởi quan hệ sản xuất tàn dư của xã hội cũ, quan hệ sản xuất thống trị trong xã hội ấy và quan
hệ sản xuất mầm mống của xã hội tương lai Cơ sở hạ tầng là tổng hợp những quan hệ
sản xuất đó, trong đó quan hệ sản xuất thống trị là quan hệ sản xuất chi phối các quan hệ sản xuất khác
3.1.2 Khái niệm kiến trúc thượng tầng
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp luật, triết học, đạo đức,
tôn giáo, nghệ thuật với những thể chế tương ứng (nhà nước, đảng phái, giáo gội, các đoàn thể…) được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định
Trong xã hội có giai cấp, nhà nước – cơ quan quyền lực của một giai cấp có vai trò đặc biệt quan trọng trong kiến trúc thượng tầng, tiêu biểu cho chế độ chính trị hiện tồn
3.2 Quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Trang 5Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai mặt thống nhất biện chứng trong một hình
thái kinh tế – xã hội
3.2.1 Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng
Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định: Quan hệ kinh tế, quan hệ sản xuất là những quan
hệ vật chất quyết định các quan hệ chính trị, tinh thần và các quan hệ xã hội khác
Trong sự tác động biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng thì cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng và quyết định tính chất của kiến trúc thượng tầng.
Mâu thẫn trong đời sống kinh tế quy định tính chất mâu thuẫn trong lĩnh vực chính trị, tư tưởng Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào chiếm địa vị thống trị về kinh tế thì cũng chiếm địa vị thống trị trong đời sống chính trị, tinh thần
Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng còn thể hiện ở chỗ: Sự biến đổi căn bản trong cơ sở hạ tầng sớm hay muộn sẽ dẫn đến sự biến đổi căn bản của kiến trúc thượng tầng
3.2.2 Vai trò tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng
Kiến trúc thượng tầng có tính độc lập tương đối, có quy luật vận động riêng của nó trong
sự phát triển Sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các bộ phận của kiến trúc thượng tầng cũng có ảnh hưởng đến sự tồn tại, vận động và phát triển của kiến trúc thượng tầng
Kiến trúc thượng tầng còn có sự tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng Các bộ phận của
kiến trúc thượng tầng tác động đến cơ sở hạ tầng ở những mức độ khác nhau, bằng nhiều hình thức khác nhau theo những cơ chế khác nhau Trong đó nhà nước (là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, nhưng là một lực lượng vật chất có sức mạnh kinh tế) giữ vai trò đặc biệt quan trọng Nói về điều này, Ph.Ăngghen viết: “Bạo lực (tức là quyền lực nhà nước) – cũng là một sức mạnh kinh tế”[4]
Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng theo hai hướng:
1 Sự tác động phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan sẽ thúc đẩy kinh tế, cơ sở
hạ tầng phát triển
2 Ngược lại, sự tác động không phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế, thậm chí đẩy nền kinh tế vào khủng hoảng
3 TỒN TẠI XÃ HỘI QUYẾT ĐỊNH Ý THỨC XÃ HỘI VÀ TÍNH ĐỘC LẬP TƯƠNG ĐỐI CỦA Ý THỨC XÃ HỘI
4.1 Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội
4.1.1 Khái niệm và kết cấu của tồn tại xã hội
4.1.1.1 Khái niệm tồn tại xã hội
Tồn tại xã hội dùng để chỉ toàn bộ sinh hoạt vật chất, điều kiện sinh hoạt vật chất và quan
hệ vật chất của mỗi cộng đồng người trong những điều
kiện lịch sử xác định
4.1.1.2 Kết cấu của tồn tại xã hội
Các yếu tố cơ bản của đời sống vật chất và điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội bao gồm:
– Phương thức sản xuất ra của cải vật chất (yếu tố cơ bản nhất); điều kiện tự nhiên – hoàn cảnh địa lý; dân số và mật độ dân số
Trang 6– Trong các quan hệ vật chất của xã hội thì quan hệ giữa người với tự nhiên và quan hệ vật chất giữa người với nhau là cơ bản
– Ngoài những yếu tố cơ bản trên, những yếu tố khác như: Quan hệ quốc tế, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc, quan hệ gia đình… cũng đóng vai trò quan trọng trong tồn tại xã hội
Các yếu tố đó tồn tại trong mối quan hệ thống nhất biện chứng, tác động lẫn nhau tạo thành điều kiện sinh tồn và phát triển của xã hội, trong đó phương thức sản xuất vật chất
là yếu tố cơ bản nhất
4.1.2 Khái niệm và kết cấu của ý thức xã hội
4.1.2.1 Khái niệm ý thức xã hội
Ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội bao gồm toàn bộ những quan điểm, tư
tưởng cùng tình cảm, tâm trạng… của những cộng đồng xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội của họ và phản ánh tồn tại xã hội đó trong những giai đoạn lịch sử cụ thể nhất định
4.1.2.2 Kết cấu của ý thức xã hội.
Có thể phân tích từ những góc độ khác nhau:
Một là, theo nội dung và lĩnh vực phản ánh đời sống xã hội, ý thức xã hội bao gồm các hình thái khác nhau, đó là ý thức chính trị, ý thức pháp quvền, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo, ý thức thẩm mỹ, ý thức khoa học,…
Hai là, theo trình độ phản ánh, người ta chia ý thức xã hội thành ý thức thông thường và
ý thức lý luận.
Ba là, ngoài những cách phân chia trên, người ta còn phân chia ý thức xã hội theo hai cấp
độ: Tâm lý xã hội (toàn bộ những tình cảm, ước muốn, thói quen, phong tục, tập quán … của con người, của 1 bộ phận xã hội và của toàn bộ xã hội, được hình thành một cách tự phát trong cuộc sống hang ngày) và hệ tư tưởng
4.1.3 Vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội
Chủ nghĩa duy vật lịch sử chỉ rõ rằng tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, ý thức xã
hội là sự phản ánh của tồn tại xã hội, phụ thuộc vào tồn tại xã hội Sự quyết định của tồn
tại xã hội đối với ý thức xã hội thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất, tồn tại xã hội là nguồn gốc khách quan, cơ sở khách quan của sự hình thành, ra
đời của ý thức xã hội (nghệ thuật, tư tưởng, chính trị, pháp quyền)
Thứ hai, tồn tại xã hội quyết định nội dung, tính chất, đặc điểm của ý thức xã hội nói
chung, của các hình thái ý thức xã hội nói riêng
Thứ ba, tồn tại xã hội thay đổi sớm hay muộn sẽ kéo theo sự thay đổi của ý thức xã hội
Tất nhiên, mức độ, nhịp độ thay đổi của các bộ phận trong ý thức xã hội diễn ra khác nhau Có những bộ phận biến đổi nhanh hơn (ví dụ như chính trị, pháp luật), có bộ phận thay đổi chậm hơn (ví dụ như nghệ thuật, tôn giáo)
Thứ tư, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã họi không phải trực tiếp mà thông qua các
khâu trung gian Không phải bất cứ tư tưởng, quan niệm nào của hing=hf thái YTXH cũng phản ánh rõ rang và trực tiếp những QHKT của thời đại, mà chỉ khi xét đến cùng thì mới có thể thấy rõ các mối QHKT được phản ánh bằng cách này hay cách khác trong các
tư tưởng ấy
Thứ năm, trong xã hội có giai cấp thì ý thức xã hội cũng mang tính giai cấp.
Trang 7- Công lao to lớn của C.Mác và Ph.Ăngghen là phát triển chủ nghĩa duy vật đến đỉnh cao, xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử và lần đầu tiên giải quyết một cách khoa
học vấn đề sự hình thành và phát triển của ý thức xã hội
Các ông đã chứng minh rằng, đời sống tinh thần của xã hội hình thành và phát triển trên cơ sở của đời sống vật chất, rằng không thể tìm nguồn gốc của tư tưởng, tâm lý xã hội trong bản thân nó, nghĩa là không thể tìm trong đầu óc con người mà phải tìm trong hiện thực vật chất
Sự biến đổi của một thời đại nào đó cũng sẽ không thể giải thích được nếu chỉ căn cứ vào
ý thức của thời đại ấy C.Mác viết: “… không thể nhận định về một thời đại đảo lộn như thế căn cứ vào ý thức của thời đại ấy Trái lại, phải giải thích ý thức ấy bằng những mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sự xung đột hiện có giữa các lực lượng sản xuất xã hội
và những quan hệ sản xuất xã hội”[5]
4.2 Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội
Trong quá trình phát triển của mình, ý thức xã hội có tính độc lập tương đối so với tồn tại
xã hội Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội thể hiện ở các khía cạnh sau:
4.2.1 Ý thức xã hội thường lạc hậu so với tồn tại xã hội.
Nguyên nhân: - (1) Ý thức xã hội là cái phản ánh, tồn tại xã hội là cái được phản ánh Cái được phản ánh là cái có trước và biến đổi nhanh, còn cái phản ánh là cái có sau và thường biến đổi chậm hơn cái được phản ánh (2) Một số bộ phận của ý thức xã hội, đặc biệt
trong các hiện tượng tâm lý xã hội, đã ăn sâu vào tiềm thức con người, nên nó có tính bảo thủ, có sức ỳ rất lớn (3) Trong xã hội thường có lực lượng bảo thủ muốn duy trì những ý
thức xã hội lạc hậu theo hướng bảo vệ lợi ích của mình
Trong xã hội có giai cấp, ý thức xã hội luôn gắn với những lợi ích của những nhóm xã hội, tập đoàn xã hội, giai cấp xã hội khác nhau Do đó, những quan điểm, tâm lý cũ… thường được lực lượng bảo thủ lưu giữ, truyền bá nhằm chống lại quan điểm, tư tưởng tiến bộ
Khắc phục những biểu hiện lạc hậu của ý thức xã hội bằng con đường phát triển kinh tế –
xã hội, phát triển khoa học – kỹ thuật và tuyên truyền giáo dục ý thức tiến bộ, cũng như phải đấu tranh chống lại những lực lượng bảo thủ, phản tiến bộ
4.2.2 Ý thức xã hội có thể “vượt trước” tồn tại xã hội.
Ý thức xã hội thể hiện trong lý luận khoa học là sự khái quát dự báo khoa học sự vận
động và phát triển xã hội Với tính cách là lý luận khoa học, ý thức xã hội có vai trò dẫn đường, định hướng cho hoạt động thực tiễn của con người, nó tác động tích cực đối với tồn tại xã hội.
Do dựa trên cơ sở khoa học, những quan điểm tiến bộ có thể dự báo được khuynh hướng vận động, phát triển của xã hội Do vậy, ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội là vậy Tuy nhiên, ngay cả khi vượt trước, ý thức xã hội cũng vẫn bị chi phối bởi tồn tại xã hội Tính “vượt trước” ở đây là tính vượt trước của sự phản ánh chứ không phải vượt trước của bản thân ý thức xã hội
4.2.3 Ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển của mình.
Trang 8Ý thức xã hội một mặt phản ánh tồn tại xã hội, trong sự phát triển của nó với tính cách là một chỉnh thể, nó không nảy sinh đơn thuần chỉ từ tồn tại xã hội, phản ánh tồn tại xã hội
ấy mà luôn có sự kế thừa trong dòng chảy phát triển của mình Trong lịch sử nhân loại,
có những quốc gia kinh tế không phát triển so với các nước láng giềng nhưng tư tưởng triết học lại phát triển rực rỡ hơn các nước có kinh tế phát triển Ví dụ, nước Pháp thế kỷ XVIII, kinh tế không phát triển bằng nước Anh, nhưng triết học phát triển hơn nước Anh Nước Đức nửa đầu thế kỷ XIX kinh tế không phát triển bằng nước Anh, Pháp nhưng triết học Đức phát triển hơn triết học Anh, Pháp
Tính chất, nội dung kế thừa phụ thuộc vào địa vị và lợi ích giai cấp Các giai cấp khác nhau thì kế thừa những yếu tố khác nhau của ý thức xã hội
Vì vậy, chúng ta phải biết kế thừa những gia trị của nhân loại, của cha ông trước đây trong quá trình xây dựng đời sống văn hoá mới, tinh thần mới
4.2.4 Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội trong sự phát triển của chúng
Các hình thái ý thức xã hội có nhiều hình thái, tác động qua lại, ảnh hưởng chi phối lẫn nhau Ví dụ, ý thức chính trị và ý thức pháp luật tác động qua lại, trực tiếp lẫn nhau Ý thức đạo đức và ý thức pháp luật tác động, bổ sung cho nhau
Ở mỗi thời đại nhất định, có một số hình thái ý thức nổi lên, có vai trò chi phối ảnh hưởng đến các hình thái ý thức khác Ví dụ, triết học thời cổ đại, thần học thời trung cổ, chính trị trong thời cận hiện đại
Ở Việt Nam hiện nay, nếu xa rời đường lối chính trị đúng đắn của Đảng, nghệ thuật, pháp quyền, triết học… sẽ không tránh khỏi sai lầm trong quá trình phát triển của mình
4.2.5 Sự tác động trở lại của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội
Ý thức xã hội ra đời trên cơ sở tồn tại xã hội, nhưng sau khi ra đời trong hình thức hoàn chỉnh của nó, ý thức xã hội tác động trở lại đối với tồn tại xã hội
Sự tác động trở lại của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội là nhiều chiều, đan xen, phức tạp, nhưng nhìn chung theo hai hướng tích cực và tiêu cực.
Hướng tích cực tức là thúc đẩy tồn tại phát triển, hướng tiêu cực là kìm hãm tồn tại xã hội phát triển
Mức độ tác động và hiệu quả tác động của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội tùy thuộc vào các yếu tố sau:
– Tính tiến bộ, cách mạng hay lạc hậu, phản động của chủ thể mang ý thức xã hội (địa vị lịch sử của giai cấp – chủ thể của ý thức xã hội)
– Tính khoa học (hay không) của ý thức xã hội
– Mức độ thâm nhập vào đời sống xã hội, vào quần chúng nhân dân của ý thức xã hội
Vận dụng lí luận YTXH và TTXH trong thực tiễn:
Quán triệt nguyên tắc phương pháp luận đó trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa
ở nước ta ,một măt phải coi trọng cuộc cách mang tư tưởng văn hóa ,phát huy vai trò tác động tích cực của đời sống tinh thần xã hội đối với quá trình phát triển kinh tế và công
Trang 9nghiệp hóa ,hiện đại hóa đất nước; mặt khác phải tránh tái phạm sai lầm chủ quan duy ý chí trong việc xây dưng văn hóa ,xây dựng con người mới Cần thấy rằng chỉ có thể thực
sự tạo dựng được đời sống tinh thần của xã hội XHCN trên cơ sở cải tạo triệt để phương thức sinh hoạt vật chất tiểu nông truyền thống và xác lập ,phát triển được phương thức sản xuất mới trên cơ sở thực hiện thành công sự công nghiệp hóa ,hiện đại hóa
5 HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI
5.1 Khái niệm, cấu trúc hình thái kinh tế – xã hội
5.1.1 Khái niệm hình thái kinh tế – xã hội
Với tư cách là một phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, khái niệm hình thái kinh tế – xã hội dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan
hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ
sản xuất ấy
Kết cấu:
5.1.2 Các yếu tố hợp thành một hình thái kinh tế – xã hội
Một hình thái kinh tế – xã hội có 3 yếu tố cơ bản cấu thành:
Một là, các lực lượng sản xuất của xã hội ở một trình độ phát triển nhất định, đóng vai trò
quyết định quan hệ sản xuất
Hai là, hệ thống quan hệ sản xuất được hình thành trên cơ sở thực trạng phát triển của
lực lượng sản xuất, đóng vai trò quyết định kiến trúc thượng tầng và các quan hệ xã hội khác
Ba là, hệ thống kiến trúc thượng tầng được xác lập trên cơ sở hạ tầng kinh tế, đóng vai
trò là các hình thức chính trị, pháp luật, đạo đức, văn hoá… của các quan hệ sản xuất của
xã hội
Ngoài những yếu tố cơ bản trên, mỗi hình thái kinh tế – xã hội còn có các yếu tố khác như: Quan hệ dân tộc, quan hệ giai cấp, quan hệ gia đình…
5.2 Quá trình lịch sử – tự nhiên của sự phát triển các hình thái kinh tế – xã hội
Xã hội phát triển qua nhiều giai đoạn kế tiếp nhau, ứng với một giai đoạn của sự phát triển là một hình thái kinh tế – xã hội Đứng trên lập trường duy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định: “Sự phát triển của những hình thái kinh tế – xã hội là một quá trình lịch sử – tự nhiên”[6]
Luận điểm đó được phân tích ở các nội dung chủ yếu sau dây:
Một là, sản xuất vật chất là cơ sở, nền tảng của sự tồn tại, vận động và phát triển của các
hình thái kinh tế – xã hội
Sự vận động và phát triển của xã hội không tuân theo ý chí chủ quan của con người mà tuân theo các quy luật khách quan, đó là các quy luật của chính bản thân cấu trúc hình thái kinh tế – xã hội Nói cách khác, con người không được tự do lựa chọn hình thái kinh
tế – xã hội của mình Mối quốc gia đều phải dựa trên cơ sở nền tảng sản xuất vật chất trong nước và thế giới mà xây dựng chọn hình thái kinh tế – xã hội cho phù hợp
Trang 10Hai là, nguồn gốc của mọi sự vận động, phát triển của xã hội, của lịch sử nhân loại, của
mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa,… của xã hội, suy đến cùng đều có nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp từ sự phát triển của lực lượng sản xuất của xã hội đó
Ba là, sự vận động, phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội, tức là quá trình thay thế
lẫn nhau của các hình thái kinh tế – xã hội trong lịch sử nhân loại và đó là sự phát triển của lịch sử xã hội loài người, có thể do sự tác động của nhiều nhân tố chủ quan, nhưng
nhân tố giữ vai trò quyết định chính là sự tác động của các quy luật khách quan.
Dưới sự tác động của quy luật khách quan mà lịch sử nhân loại, xét trong tính chất toàn
bộ của nó, là quá trình thay thế tuần tự của các hình thái kinh tế – xã hội: Nguyên thủy,
nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và tương lai nhất định thuộc về hình thái kinh tế – xã hội cộng sản chủ nghĩa
Sự vận dụng học thuyết hình thái KT-XH của ĐCSVN:
- Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng ta luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH Nhận thức của Đảng về con đường đi lên CNXH gày càng rõ hơn, đó là quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN (đó là sự phủ định biện chứng đối với chế TBCN)
- Vận dụng quy luật về sự phù hợp của QHSX đối cới trình độ phát triển của LLSX, Đảng ta chủ trương phát triển một nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN; cùng với đó là tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Không ngừng hoàn thiện, đối với hệ thống chính trị: Nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN; nâng cao vai trò phản biện xã hội của các tổ chức quần chúng
- Cùng với phát triển kinh tế, hoàn thiện hệ thống chính trị, Đảng ta cũng tập trung phát triển văn hóa, xã hội để âng cao đời sống mọi mặt của nhân dân
Nhân tố chủ quan đóng vai trò gì đối với tiến trình phát triển của lịch sử?
Trong khi khẳng định tính chất lịch sử – tự nhiên, tức tính quy luật khách quan của sự
vận động, phát triển xã hội, chủ nghĩa Mác – Lênin cũng đồng thời khẳng định vai trò của các nhân tố khác đối với tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại nói chung và lịch
sử mỗi cộng đồng người cụ thể nói riêng Đó là sự tác động của các nhân tố thuộc về điều kiện địa lý, tương quan lực lượng chính trị của các giai cấp, tầng lớp xã hội, truyền thống văn hóa của mỗi cộng đồng người, điều kiện tác động của tình hình quốc tế đối với
tiến trình phát triển của mỗi cộng đồng người trong lịch sử, V.V
Chính do sự tác động của các nhân tố này mà tiến trình phát triển của mỗi cộng đồng người có thể diễn ra với những con đường, hình thức và bước đi khác nhau, tạo nên tính phong phú đa dạng trong sự phát triển của lịch sử nhân loại Tính chất phong phú, đa
dạng trong tiến trình phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội có thể bao hàm những bước phát triển “bỏ qua” một hay một vài hình thái kinh tế – xã hội nhất định Tuy nhiên,
những sự “bỏ qua” như vậy đều phải có những điều kiện khách quan và chủ quan nhất định