1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ths quản lý kinh tế ứNG DụNG CÔNG NGHệ THÔNG TIN trong các cơ quan quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh ở sơn la

131 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 712 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

më ®Çu 1. Tính cấp thiết của đề tài Nhân loại đang bước vào thời đại của xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức trong đó kết cấu hạ tầng thông tin, tri thức được coi là tài nguyên có ý nghĩa quyết định, là nền tảng phát triển. Trong quá trình chuyển dịch này, công nghệ thông tin (CNTT) đóng vai trò trung tâm, là một trong những động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại 8. Nhận thức được tầm quan trọng của CNTT, nhiều quốc gia trên thế giới đã quan tâm đầu tư ứng dụng và phát triển CNTT, đặc biệt là các nước phát triển. Một trong các nội dung của việc ứng dụng CNTT trong quản lí hành chính nhà nước (QLHCNN) đó là xây dựng và phát triển Chính Phủ điện tử (CPĐT). Chính Phủ của nhiều quốc gia đã coi việc ứng dụng CNTT trong QLHCNN là công cụ hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội (KTXH) của đất nước. Chính vì CNTT có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển KTXH, bảo đảm an ninh, quốc phòng của quốc gia. Ở Việt nam, Đảng và Nhà nước ta cũng sớm xác định “Ứng dụng và phát triển CNTT ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH)” 7. Thời gian qua, việc ứng dụng CNTT ở nước ta đã được chú trọng và không ngừng phát triển trong nhiều lĩnh vực, từ kinh doanh đến quản lý nhà nước (QLNN). Trong lĩnh vực QLNN, ngay khi dự án CNTT giai đoạn 1998 – 2000 kết thúc, Chính Phủ đã chỉ đạo xây dựng Đề án tin học hoá QLHCNN giai đoạn 2001 2005 (Đề án 112). Song song với Chính phủ, Đề án 47 (giai đoạn 2000 – 2005) và Đề án 06 (giai đoạn 2006 – 2010) của Đảng cũng được xây dựng và triển khai. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công của Đề án 47 và Đề án 06, trên thực tế Đề án 112 đã chưa thu được kết quả như mong đợi. Để khắp phục tình trạng này, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 642007NĐCP ngày 1042007 về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước (CQNN). Nghị định 642007NĐCP được ban hành cùng với việc thay đổi cơ quan chủ quản quản lý về CNTT (từ Bộ khoa học công nghệ và Văn phòng Chính Phủ về Bộ thông tin và truyền thông ở Trung ương; Sở khoa học công nghệ và Văn phòng UBND tỉnh về Sở thông tin và truyền thông (Sở TTTT) ở cấp tỉnh), bước đầu đã có những tín hiệu đáng mừng cho việc tiếp tục ứng dụng CNTT trong các cơ quan QLHCNN sau 3 năm ngắt quãng (giai đoạn 2005 – 2007). Tuy nhiên, cho đến nay nhiều tỉnh, thành phố cũng chưa đồng nhất trong việc bàn giao cơ sở hạ tầng cũng như Trung tâm tin học từ Văn phòng UBND tỉnh, hoặc Sở khoa học và công nghệ về Sở TTTT, do vậy việc ổn định về mặt tổ chức, địa điểm làm việc, cơ sở hạ tầng, cũng như xây dựng, triển khai kế hoạch ứng dụng CNTT giai đoạn 2009 – 2010, chiến lược phát triển và ứng dụng CNTT giai đoạn 2010 – 2015 còn chưa được xây dựng, hoặc xây dựng nhưng chưa thực sự đưa vào triển khai. Là một tỉnh miền núi, Sơn La không những chỉ gặp những khó khăn trong phát triển KTXH, mà còn gặp phải không ít vướng mắc trong việc ứng dụng CNTT trong các cơ quan QLHCNN. Những năm qua, được sự quan tâm của Chính Phủ, nhằm đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong các cơ quan QLHCNN, tỉnh Sơn La đã bước đầu quan tâm đầu tư về đào tạo con người, trang bị máy móc, thiết bị, phần mềm ứng dụng và cũng đã thu được một số kết quả đáng khích lệ, góp phần vào đẩy mạnh công cuộc phát triến KTXH của tỉnh. Tuy nhiên, trước tình hình chung của cả nước, khi Đề án 112 kết thúc, Sơn La cũng ngừng triển khai ứng dụng CNTT, việc ứng dụng CNTT rơi vào tình trạng “mạnh ai nấy làm”, Trung tâm tin học – đơn vị được coi là bộ phận tham mưu đắc lực nhất cho tỉnh trong giai đoạn 2000 – 2005 thì rơi vào tình trạng chông chênh về đơn vị phụ trách, giữa Văn phòng UBND tỉnh và Sở TTTT. Tỉnh thì rơi vào tình trạng không có kinh phí để triển khai, các phần mềm ứng dụng và hạ tầng đã được triển khai giai đoạn trước thì bị xuống cấp, mạnh ngành nào ngành đó ứng dụng, không có đơn vị đôn đốc, kiểm tra… Mặc dù vậy, hiện nay tỉnh Sơn La cũng đã bước đầu chuyển được Trung tâm tin học về Sở TTTT vào tháng 52009 và đã xây dựng kế hoạch cũng như chiến lược phát triển CNTT giai đoạn 2011 2015, tuy nhiên tiến độ vẫn còn chậm. Đứng trước tình hình đó, cũng như trong bối cảnh hiện nay của đất nước, với việc đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế, cải cách hành chính (CCHC) mà đặc biệt là thực hiện Đề án 30 của Chính Phủ về CCHC, việc tăng cường ứng dụng CNTT trong các CQNN nói chung và các cơ quan QLHCNN trên địa bàn tỉnh Sơn La đang đặt ra cấp thiết. Việc tiếp tục nhanh chóng kiện toàn, ổn định tổ chức của cơ quan quản lý nhà nước (QLNN) về CNTT; xây dựng và tìm giải pháp thực hiện các kế hoạch ứng dụng CNTT trong các cơ quan QLHCNN nhằm đáp ứng hiệu lực, hiệu quả của công tác chỉ đạo, điều hành, đồng thời phục vụ tốt công tác chuyên môn là vấn đề cấp bách hiện nay cũng như lâu dài của tỉnh Sơn La. Là một cán bộ công tác trong lĩnh vực CNTT của tỉnh từ những ngày đầu Sơn La triển khai ứng dụng CNTT trong các cơ quan QLHCNN, bản thân nhận thức rõ được tầm quan trọng cũng như sự cấp bách trong việc tìm giải pháp cho việc ứng dụng CNTT trong các cơ quan QLHCNN tại tỉnh nhà. Đó cũng chính là lý do cho việc chọn đề tài: Ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan quản lí hành chính nhà nước cấp tỉnh ở Sơn La làm luận văn thạc sĩ.

Trang 1

CÁC CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN

CBCC cán bộ, công chức

CCHC cải cách hành chính

CNH, HĐH công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNTT công nghệ thông tin (Information Technology)

CPĐT chính phủ điện tử (E-Government)

CSDL cơ sở dữ liệu (Database)

CQNN cơ quan nhà nước

Trang 3

më ®Çu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhân loại đang bước vào thời đại của xã hội thông tin và nền kinh tế trithức trong đó kết cấu hạ tầng thông tin, tri thức được coi là tài nguyên có ýnghĩa quyết định, là nền tảng phát triển Trong quá trình chuyển dịch này,công nghệ thông tin (CNTT) đóng vai trò trung tâm, là một trong những độnglực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ caokhác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giớihiện đại [8]

Nhận thức được tầm quan trọng của CNTT, nhiều quốc gia trên thếgiới đã quan tâm đầu tư ứng dụng và phát triển CNTT, đặc biệt là các nướcphát triển Một trong các nội dung của việc ứng dụng CNTT trong quản líhành chính nhà nước (QLHCNN) đó là xây dựng và phát triển Chính Phủđiện tử (CPĐT) Chính Phủ của nhiều quốc gia đã coi việc ứng dụng CNTTtrong QLHCNN là công cụ hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xãhội (KT-XH) của đất nước

Chính vì CNTT có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển KT-XH,bảo đảm an ninh, quốc phòng của quốc gia Ở Việt nam, Đảng và Nhà nước

ta cũng sớm xác định “Ứng dụng và phát triển CNTT ở nước ta nhằm gópphần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúcđẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế,tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quátrình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhândân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiệnthắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH)” [7]

Thời gian qua, việc ứng dụng CNTT ở nước ta đã được chú trọng vàkhông ngừng phát triển trong nhiều lĩnh vực, từ kinh doanh đến quản lý nhànước (QLNN) Trong lĩnh vực QLNN, ngay khi dự án CNTT giai đoạn 1998

Trang 4

– 2000 kết thúc, Chính Phủ đã chỉ đạo xây dựng Đề án tin học hoá QLHCNNgiai đoạn 2001 - 2005 (Đề án 112) Song song với Chính phủ, Đề án 47 (giaiđoạn 2000 – 2005) và Đề án 06 (giai đoạn 2006 – 2010) của Đảng cũng đượcxây dựng và triển khai Tuy nhiên, bên cạnh những thành công của Đề án 47

và Đề án 06, trên thực tế Đề án 112 đã chưa thu được kết quả như mong đợi

Để khắp phục tình trạng này, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơquan nhà nước (CQNN) Nghị định 64/2007/NĐ-CP được ban hành cùng vớiviệc thay đổi cơ quan chủ quản quản lý về CNTT (từ Bộ khoa học công nghệ

và Văn phòng Chính Phủ về Bộ thông tin và truyền thông ở Trung ương; Sởkhoa học công nghệ và Văn phòng UBND tỉnh về Sở thông tin và truyềnthông (Sở TT&TT) ở cấp tỉnh), bước đầu đã có những tín hiệu đáng mừngcho việc tiếp tục ứng dụng CNTT trong các cơ quan QLHCNN sau 3 nămngắt quãng (giai đoạn 2005 – 2007)

Tuy nhiên, cho đến nay nhiều tỉnh, thành phố cũng chưa đồng nhấttrong việc bàn giao cơ sở hạ tầng cũng như Trung tâm tin học từ Văn phòngUBND tỉnh, hoặc Sở khoa học và công nghệ về Sở TT&TT, do vậy việc ổnđịnh về mặt tổ chức, địa điểm làm việc, cơ sở hạ tầng, cũng như xây dựng,triển khai kế hoạch ứng dụng CNTT giai đoạn 2009 – 2010, chiến lược pháttriển và ứng dụng CNTT giai đoạn 2010 – 2015 còn chưa được xây dựng,hoặc xây dựng nhưng chưa thực sự đưa vào triển khai

Là một tỉnh miền núi, Sơn La không những chỉ gặp những khó khăn trongphát triển KT-XH, mà còn gặp phải không ít vướng mắc trong việc ứng dụngCNTT trong các cơ quan QLHCNN Những năm qua, được sự quan tâm củaChính Phủ, nhằm đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong các cơ quan QLHCNN, tỉnhSơn La đã bước đầu quan tâm đầu tư về đào tạo con người, trang bị máy móc,thiết bị, phần mềm ứng dụng và cũng đã thu được một số kết quả đáng khích lệ,góp phần vào đẩy mạnh công cuộc phát triến KT-XH của tỉnh

Tuy nhiên, trước tình hình chung của cả nước, khi Đề án 112 kết thúc,

Trang 5

Sơn La cũng ngừng triển khai ứng dụng CNTT, việc ứng dụng CNTT rơi vàotình trạng “mạnh ai nấy làm”, Trung tâm tin học – đơn vị được coi là bộ phậntham mưu đắc lực nhất cho tỉnh trong giai đoạn 2000 – 2005 thì rơi vào tìnhtrạng chông chênh về đơn vị phụ trách, giữa Văn phòng UBND tỉnh và SởTT&TT Tỉnh thì rơi vào tình trạng không có kinh phí để triển khai, các phầnmềm ứng dụng và hạ tầng đã được triển khai giai đoạn trước thì bị xuốngcấp, mạnh ngành nào ngành đó ứng dụng, không có đơn vị đôn đốc, kiểmtra… Mặc dù vậy, hiện nay tỉnh Sơn La cũng đã bước đầu chuyển đượcTrung tâm tin học về Sở TT&TT vào tháng 5/2009 và đã xây dựng kế hoạchcũng như chiến lược phát triển CNTT giai đoạn 2011- 2015, tuy nhiên tiến độvẫn còn chậm.

Đứng trước tình hình đó, cũng như trong bối cảnh hiện nay của đấtnước, với việc đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế, cải cáchhành chính (CCHC) mà đặc biệt là thực hiện Đề án 30 của Chính Phủ vềCCHC, việc tăng cường ứng dụng CNTT trong các CQNN nói chung và các

cơ quan QLHCNN trên địa bàn tỉnh Sơn La đang đặt ra cấp thiết Việc tiếptục nhanh chóng kiện toàn, ổn định tổ chức của cơ quan quản lý nhà nước(QLNN) về CNTT; xây dựng và tìm giải pháp thực hiện các kế hoạch ứngdụng CNTT trong các cơ quan QLHCNN nhằm đáp ứng hiệu lực, hiệu quảcủa công tác chỉ đạo, điều hành, đồng thời phục vụ tốt công tác chuyên môn

là vấn đề cấp bách hiện nay cũng như lâu dài của tỉnh Sơn La

Là một cán bộ công tác trong lĩnh vực CNTT của tỉnh từ những ngàyđầu Sơn La triển khai ứng dụng CNTT trong các cơ quan QLHCNN, bảnthân nhận thức rõ được tầm quan trọng cũng như sự cấp bách trong việc tìmgiải pháp cho việc ứng dụng CNTT trong các cơ quan QLHCNN tại tỉnh nhà

Đó cũng chính là lý do cho việc chọn đề tài: "Ứng dụng công nghệ thông tin

trong các cơ quan quản lí hành chính nhà nước cấp tỉnh ở Sơn La" làm luận

văn thạc sĩ

Trang 6

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Việc ứng dụng CNTT trong QLNN đã trở nên phổ biến, được nhiều cơquan, tổ chức quan tâm nên thời gian qua đã có một số tác giả có công trìnhnghiên cứu trong lĩnh vực này

Dưới đây là một số công trình có liên quan đến đề tài:

- Ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước,

của tác giả Đặng Hữu, NXB Chính trị Quốc gia, năm 2001

- Đề án tin học hóa hoạt động các cơ quan Đảng giai đoạn 2001-2005 (Đề án 47), Đề án tin học hóa hoạt động các cơ quan Đảng giai đoạn 2006-

quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2008

Nhìn chung, phần lớn các nghiên cứu trên chỉ mang tính chất khái quátchung, chủ yếu đề cập đến một khía cạnh nhỏ trong việc ứng dụng CNTT(quản lý kinh tế, QLNN, ), chưa đề cập đến việc giải quyết các bài toán cụ

thể của việc ứng dụng CNTT trong các cơ quan QLHCNN Đề án Tin học hoá QLHCNN giai đoạn 2001 - 2005 có đề cập đến việc ứng dụng CNTT

trong các cơ quan QLHCNN nhưng phạm vi triển khai lại quá rộng (mục tiêuđặt ra triển khai đến tận cấp xã); nội dung triển khai tương đối nhiều (sốlượng phần mềm dùng chung và cơ sở dữ liệu (CSDL)); mô hình triển khaiphần mềm dùng chung được thống nhất từ Chính Phủ tới các địa phương nên

Trang 7

còn mang tính “áp đặt”, chưa phù hợp với đặc thù của các ngành, địaphương…, do đó Đề án không đạt được hiệu quả như mong muốn

Luận văn của tác giả Lê Quốc Cường đã đề cập tương đối đầy đủ cácnội dung của ứng dụng CNTT nhưng phạm vi lại tương đối rộng (toàn bộ các

cơ quan chính quyền của tỉnh An Giang) Tác giả đã đề cập chi tiết các đặc điểmcủa CNTT; vai trò của CNTT, đi sâu vào nghiên cứu CPĐT vì tác giả cho rằngcốt lõi của ứng dụng CNTT trong hoạt động của các CQNN chính là CPĐT

Cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách bàibản ứng dụng CNTT riêng trong các cơ quan QLHCNN cấp tỉnh trên địa bàntỉnh Sơn La Vì vậy, luận văn tiếp cận theo hướng tập trung làm rõ vai trò củaCNTT đối với công tác quản lý điều hành, công tác chuyên môn nghiệp vụ vàCCHC, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của CNTT đối với công tác CCHC Cốtlõi của ứng dụng CNTT trong QLHCNN là CPĐT, nhưng trong điều kiệnhiện nay, cả trên thế giới và Việt Nam, việc tìm giải pháp cho một CPĐT, đặcbiệt là ở cấp tỉnh, không phải là dễ Vì vậy với giai đoạn hiện nay, luận văn chỉtiếp cập một mảng thiết thực nhất trong giai đoạn 2000 – 2015 là ứng dụngCNTT phục vụ công tác quản lý điều hành, chuyên môn nghiệp vụ và CCHC tạicác cơ quan QLHCNN cấp tỉnh mà không đi sâu vào phân tích việc đánh giá,tìm phương hướng, giải pháp cho việc xây dựng CPĐT tại tỉnh

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở làm rõ những vấn đề líluận và thực tiễn việc ứng dụng CNTT trong các cơ quan QLHCNN cấp tỉnhnói chung và các cơ quan QLHCNN cấp tỉnh ở Sơn La nói riêng, để tìm giải phápđẩy mạnh ứng dụng CNTT trong các cơ quan QLHCNN cấp tỉnh ở Sơn La

Từ mục đích, yêu cầu đặt ra, nhiệm vụ của luận văn gồm:

- Hệ thống hoá các vấn đề lí luận về ứng dụng CNTT trong các cơquan QLHCNN cấp tỉnh

- Đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT tại các cơ quan QLHCNN cấp tỉnh

ở Sơn La, làm rõ những kết quả đã đạt được, những hạn chế và nguyên nhân

Trang 8

- Đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong các cơ quanQLHCNN cấp tỉnh ở Sơn La.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là ứng dụng CNTT trong các cơquan QLHCNN cấp tỉnh

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu ứng dụng CNTT trongcác cơ quan QLHCNN cấp tỉnh gồm Văn phòng UBND tỉnh và cơ quanchuyên môn trực thuộc UBND tỉnh, chủ yếu tập trung trong giai đoạn 2000đến nay và giải pháp đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong các cơ quan QLHCNNcấp tỉnh ở Sơn La từ nay đến năm 2015

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: việc nghiên cứu luận văn dựa trên cơ sở phương phápluận duy vật biện chứng, các văn bản thể hiện quan điểm đường lối của Đảng ta

Cụ thể là dựa vào các văn bản sau đây:

Luật CNTT ngày 29/6/2006;

Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 01/8/2007 của Hội nghị lần thứ nămcủa Ban chấp Trung ương khóa X, về đẩy mạnh CCHC, nâng cao hiệu lực,hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước

Quyết định số 246/2005/QĐ-TTg ngày 06/10/2005 của Thủ tướng Chínhphủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển CNTT và truyền thông Việt Namđến năm 2010 và định hướng đến năm 2020;

Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về “Ứngdụng CNTT trong hoạt động của CQNN”;

Quyết định số 43/2008/QĐ-TTg ngày 24/3/2008 của Thủ tướng chínhphủ về việc phê duyệt kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNNnăm 2008;

Quyết định số 48/2009/QĐ-TTg ngày 31/3/2009 của Thủ tướng Chính

Trang 9

phủ về việc phê duyệt kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động CQNN giaiđoạn 2009-2010;

Nghị quyết số 178/NQ-HĐND, ngày 10/12/2007 của HĐND tỉnh Sơn Laphê chuẩn Quy hoạch BCVT-CNTT đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020;

Kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm, 2011 - 2015 của tỉnh Sơn La

Kế hoạch số 54/KH-UBND, ngày 04/7/2008 của UBND tỉnh Sơn Laphê duyệt ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN tỉnh Sơn La giai đoạn2009-2010;

- Phương pháp nghiên cứu: tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp,phân tích, so sánh, mô hình hóa, khảo sát thực tế,

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

Luận văn phân tích và làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về ứng dụngCNTT và ứng dụng CNTT trong các cơ quan QLHCNN; thực trạng của việcứng dụng CNTT trong các cơ quan QLHCNN cấp tỉnh ở Sơn La Đi sâu vàophân tích ứng dụng CNTT đối với công tác quản lí điều hành, chuyên mônnghiệp vụ và CCHC, từ đó đề ra các giải pháp nhằm khắc phục và đẩy mạnhứng dụng CNTT trong các cơ quan QLHCNN cấp tỉnh ở Sơn La

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan QLNN trên địabàn tỉnh Sơn La xây dựng kế hoạch và triển khai ứng dụng CNTT có hiệu quả.Giúp cho các cơ quan QLHCNN về CNTT của tỉnh, nghiên cứu, tham mưu chotỉnh hoạch định chiến lược phát triển và ứng dụng CNTT trong thời gian tới

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung chínhcủa luận văn kết cấu thành 3 chương, 8 tiết

Trang 10

Chương 1

C¬ së lÝ luËn vµ thùc tiÔn cña viÖc øng dông c«ng nghÖ th«ng tin trong c¸c c¬ quan qu¶n lÝ hµnh chÝnh

nhµ níc cÊp tØnh hiÖn nay

1.1 C«ng nghÖ th«ng tin vµ øng dông c«ng nghÖ th«ng tin trong c¸c c¬ quan qu¶n lý hµnh chÝnh nhµ níc cÊp tØnh

1.1.1 Khái quát về công nghệ thông tin

1.1.1.1 Khái niệm công nghệ thông tin

CNTT (Information Technology) được hình thành từ Khoa học Máytính (Computer Science) Đây là một khái niệm khá rộng, nó bao hàm bêntrong nhiều khái niệm khác nhau

Để hiểu rõ hơn về CNTT, ta tìm hiểu một số khái niệm CNTT phổ biếnhiện nay:

- CNTT bao gồm các phương pháp khoa học, các phương tiện và công

cụ kỹ thuật và các giải pháp công nghệ… nhằm giúp con người nhận thứcđúng đắn về thông tin và các hệ thống thông tin (HTTT), tổ chức và khai tháccác HTTT trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người Theo một nghĩa trựctiếp hơn, CNTT là ngành công nghệ về xử lí thông tin bằng các phương tiệnđiện tử, trong đó nội dung “xử lý” thông tin bao gồm các khâu cơ bản nhưthu thập, lưu trữ, chế biến và nhận thông tin [2]

- Theo Nghị quyết 49/NQ-CP, CNTT là tập hợp các phương pháp khoahọc, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là máy tính điện

tử và các mạng viễn thông - nhằm cung cấp các giải pháp cho việc tổ chức,khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin phong phú

và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội [35]

- Theo GS, Phan Đình Diệu, CNTT là ngành công nghệ về xử lý

thông tin bằng các phương tiện điện tử, trong đó nội dung xử lý thông tin

Trang 11

bao gồm các khâu cơ bản như thu thập, lưu trữ, chế biến và truyền nhận

thông tin [15, tr.17]

- Theo Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính trị, CNTT là thuật ngữ dùng

để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và các quátrình xử 1ý thông tin Theo quan niệm này thì CNTT là hệ thống các phươngpháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, bao gồm chủ yếu là cácmáy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưutrữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong

mọi lĩnh vực hoạt động KT-XH, văn hoá của con người [7].

- Theo Luật CNTT (2007), CNTT là tập hợp các phương pháp khoa

học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập,

xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số [38, tr.2]

Nhìn chung, các quan điểm còn lại cũng đều đồng ý rằng CNTT làngành nghiên cứu, sản xuất phần mềm và phần cứng máy tính, đồng thờicũng là ngành khoa học và công nghệ về thông tin và xử lý thông tin, sử dụngcông cụ, phương tiện chủ yếu là máy tính điện tử

Có thể nói khái niệm về CNTT của Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chínhtrị đưa ra là hoàn chỉnh nhất và phù hợp với mục đích nghiên cứu của luậnvăn Vì vậy, thuật ngữ CNTT trong luận văn sẽ được hiểu theo quan điểmnày Điểm cần lưu ý là CNTT bao gồm cả Ngành công nghệ, công nghiệpCNTT và việc ứng dụng CNTT (thường gắn liền với một hệ thống tổ chứchay hệ thống thông tin nào đó) [14] Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn

sẽ tập trung vào nội dung của ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quanQLHCNN cấp tỉnh

1.1.1.2 Vai trò của công nghệ thông tin

Từ những năm 80 của thế kỉ XX, các nước phát triển đã bắt đầu bướcvào một nền văn minh mới được gọi là Văn minh tri thức (hay Văn minhthông tin), lấy tri thức làm nguồn lực phát triển, khoa học kỹ thuật là lực

Trang 12

lượng sản xuất trực tiếp Các nước sớm bước vào nền Văn minh tri thức đãxác định bốn trụ cột của nền văn minh này đó là: CNTT, công nghệ nguyênliệu mới, công nghệ năng lượng mới và công nghệ sinh học Trong đó, CNTTđược xác định là nhân tố quan trọng nhất cho sự phát triển và tạo dựng nềnVăn minh tri thức CNTT đóng vai trò là công nghệ chìa khoá trong hệ thốngcác công nghệ khác, vừa là tác nhân gắn kết các công nghệ lại với nhau, vừa

là động lực phát triển chúng

Đối với các nước đang phát triển, nền Văn minh tri thức tạo ra những

cơ hội mới nhưng đồng thời cũng có những thách thức không nhỏ Các nướcđang phát triển đã nhận định rằng, khoảng cách phát triển chính là do khoảngcách về tri thức, rút ngắn được khoảng cách về tri thức sẽ rút ngắn đượckhoảng cách về phát triển Vì vậy, nhiều nước đã đề ra chiến lược đi tắt vàonền Văn minh tri thức, lấy ứng dụng và phát triển CNTT làm giải pháp hàngđầu để rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển, tăng tính cạnh tranh củaquốc gia trước sự hội nhập kinh tế

Hiện nay, CNTT đã mang lại hiệu quả cho nền kinh tế của nhiều quốcgia Tiềm năng của CNTT đối với việc kích thích phát triển kinh tế là rất lớn.CNTT là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kích thích năng lực đổimới đối với nền kinh tế toàn cầu nói chung và nền kinh tế quốc dân của mỗinước nói riêng Sự phát triển của CNTT đã tạo ra hàng loạt ngành nghề mới

có giá trị gia tăng cao, đã đào tạo được hàng triệu nhân công CNTT có taynghề cao; tạo ra nguồn thu rất lớn cho ngân sách Nhà nước, từ thu thuế(nhiều chục tỷ USD mỗi năm) [25]

CNTT đóng một vai trò rất quan trọng trong việc phát triển KT-XH, anninh, quốc phòng và đặc biệt là hoạt động QLNN CNTT rất gần hay thậmchí là một phần nghiệp vụ cốt lõi trong nhiều tổ chức Đây là trường hợp củacác tổ chức dịch vụ (ngân hàng, bảo hiểm, xuất bản, Chính Phủ ) những nơi

mà sản phẩm vật chất không thể tồn tại nếu thiếu CNTT [8]

Trang 13

Vai trò của CNTT đối với phát triển xã hội loài người vô cùng quantrọng, nó không chỉ thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, chuyển dịchnhanh cơ cấu kinh tế theo hướng kinh tế dựa vào tri thức, phát triển bềnvững, mà quan trọng hơn là thúc đẩy phát triển con người, phát triển văn hoá,phát triển xã hội Mạng thông tin là môi trường lý tưởng cho sự sáng tạo, làphương tiện quan trọng để quảng bá và nhân nhanh vốn tri thức – động lựccủa sự phát triển, thúc đẩy phát triẻn dân chủ trong xã hội, phát triển năng lựccon người

Nhận thức được rất rõ vai trò của CNTT đối với phát triển bền vững,hầu hết các quốc gia đều xây dựng cho mình chiến lược quốc gia về CNTT.CNTT có thể được coi là một ngành kinh tế - kỹ thuật Theo đó các ngànhkinh tế được tập trung phát triển thường gắn CNTT như công nghiệp phầncứng, phần mềm, công nghệ nội dung, dịch vụ, viễn thông, điện tử, xâydựng tiềm năng quốc gia, thị trường nội địa hoặc tập trung xuất khẩu thịtrường quốc tế Tuy nhiên, CNTT không chỉ là một ngành kinh tế kỹ thuật

mà còn là động lực phát triển, cải thiện vị thế toàn cầu, tiếp cận các mục tiêuphát triển [8]

Để thấy rõ hơn vai trò của CNTT đối với sự phát triển của mỗi quốcgia, ta tìm hiểu sâu hơn vai trò của CNTT đối với một số lĩnh vực quan trọngdưới đây:

Thứ nhất, CNTT đối với hoạt động của cơ quan QLHCNN.

Trên phương diện của Chính phủ, CNTT cùng với sự phát triển của hệthống interrnet sẽ giúp cho Chính phủ xóa bỏ rào cản về mặt vật lý giữa các

hệ thống thông tin dựa trên giấy tờ truyền thống, giải phóng các luồng dichuyển thông tin trong hệ thống, rút ngắn các qui trình thủ tục, cung cấp cácdịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp, lắng nghe người dân và cộngđồng cũng như trong việc tổ chức và cung cấp thông tin;

Theo mô hình “bốn thành phần, ba chủ thể” của Viện Chiến lược

Trang 14

BCVT và CNTT thuộc Bộ Bưu chính Viễn Thông (nay là Bộ TT&TT):

Hình 1.1: Bốn thành phần, ba chủ thể

Nguồn: Viện chiến lược BCVT và CNTT

CNTT với bốn thành phần: ứng dụng CNTT, cơ sở hạ tầng CNTT,nguồn nhân lực và công nghiệp CNTT sẽ giúp cho Chính phủ cải tiến mối tácđộng qua lại giữa ba chủ thể: Chính phủ, người dân và doanh nghiệp nhằm thúcđẩy tiến trình chính trị, KT-XH, tiến đến xây dựng CPĐT

Đối với các cơ quan QLHCNN, nhờ vào khả năng số hóa, xử lý và táitạo thông tin một cách tự động, CNTT giúp cho việc tự động hóa hoặc vi tínhhóa các qui trình, thủ tục giấy tờ hiện hành Từ đó, sẽ đơn giản hóa các thủtục hành chính, tạo ra phong cách lãnh đạo mới, các cách thức mới trong việcxây dựng và quyết định chiến lược, cải tiến các hình thức cung cấp dịch vụcông Kết quả làm tăng tính hiệu quả của quá trình phê duyệt và cung cấpdịch vụ công một cách hiệu quả và kịp thời cho người dân, doanh nghiệp và

cả trong hệ thống các cơ quan QLHCNN

Mặt khác, tính minh bạch của thông tin trong môi trường số sẽ giúpcho việc nâng cao tính minh bạch và tin cậy của thông tin trong quản lý điều

Ứng dụngNhân lực Hạ tầngCông nghiệp

Chính phủ Doanh nghiệp

Người sử dụng Môi trường hỗ trợ và

thúc đẩy phát triển

Trang 15

hành, cũng như mở ra các cơ hội mới cho người dân được chủ động tham giagóp ý vào các vấn đề về điều hành và hoạch định chính sách Thông quainternet và một số phương tiện truyền thông khác, việc phổ biến rộng rãi thôngtin sẽ hỗ trợ việc trao quyền cho người dân cũng như quá trình đưa ra quyết địnhcủa cơ quan QLHCNN Tính minh bạch của thông tin không chỉ thể hiện sự dânchủ mà còn gây dựng nên sự tin cậy giữa những nhà lãnh đạo và tính hiệu quảtrong điều hành; Đồng thời cũng góp phần chống quan liêu và tham nhũng trong

bộ máy cơ quan QLHCNN

Như vậy, đối với Chính phủ nói chung và cơ quan QLHCNN nói riêng,CNTT chính là công cụ, phương tiện để nâng cao vai trò, hiệu quả và chấtlượng quản lý của mình bằng cách cải tiến việc tiếp cận và cung cấp các dịchcông nhằm đem lại lợi ích tốt nhất cho người dân; CNTT còn tăng cườngnăng lực quản lý, điều hành có hiệu quả và nâng cao tính minh bạch trong các

cơ quan QLHCNN nhằm quản lý tốt hơn các nguồn lực KT-XH

Việc ứng dụng CNTT là sử dụng những kết quả của CNTT để hỗ trợcho các cá nhân, tổ chức hoạt động xứ lý thông tin, hỗ trợ các khâu công việccần thiết và cuối cùng, ở mức cao nhất là hỗ trợ cho các tổ chức hoạt động vàcác cá nhân tự động trao đổi, khai thác thông tin trong môi trường CNTT; cảitiến, đổi mới qui cách làm việc, đạt hiệu quả công việc cao hơn, đáp ứngnhững thay đổi dang diễn ra [23]

Thứ hai, CNTT đối với công tác lãnh đạo quản lí.

Ngày nay, lĩnh vực lãnh đạo quản lý cũng như các lĩnh vực khác đềuđang chịu sự tác động của CNTT CNTT có thể hỗ trợ công tác quản lý nângcao hiệu quả hoạt động của nó Đồng thời, hoạt động lãnh đạo quản lý cũng

có tác động lớn đến sự phát triển và ứng dụng CNTT;

Chúng ta đang chứng kiến một thời đại với nhiều biến động do các tiến

bộ của khoa học và công nghệ đem tới, tạo động lực thúc đẩy, buộc các tổchức phải biến đổi chính mình để thích ứng với hoàn cảnh mới Sự phát triển

Trang 16

nhanh chóng của CNTT và truyền thông đã đưa nhiều khái niệm, quan niệm

và cách tổ chức làm việc mới vào trong một tổ chức

Nói riêng CNTT cho lãnh đạo không phải chỉ là việc họ phải đi họccách dùng công cụ xử lí thông tin, máy tính, chương trình, hệ thống thông tin,

mà chính là việc họ có tri thức về tác động và ảnh hưởng của CNTT trongthực tế, họ biết cách tổ chức các nhân viên của mình làm việc trên nền tảng

cơ sở hạ tầng CNTT để đạt tới mục tiêu của tổ chức

Điều cần nhấn mạnh là người lãnh đạo trong thời đại công nghệ và trithức cần có con mắt toàn diện, hệ thống để xem xét các vấn đề, đặc biệt để ýtới khía cạnh công nghệ và con người, để lập kế hoạch phát triển tổ chức trênnền công nghệ mới, phát triển đội ngũ chuyên viên mới

Đòi hỏi này bao gồm: thay đổi tư duy cục bộ thành tư duy chiến lược,toàn diện Thay đổi cách quản lí truyền thống trên quan hệ con người thànhcách quản lí dựa trên nền tảng CNTT, cách quản lí theo dự án, cách quản lídựa trên tri thức, và hướng tới quản lí các hình thức tổ chức mới Quản lí theo

tổ dự án đang ngày trở thành phổ cập trên thế giới trong khi quản lí quan liêuđang thu hẹp phạm vi của nó [43]

Thứ ba, CNTT đối với CCHC.

Có thể nói, tác nhân giải phóng CCHC chính là CNTT, CNTT có vaitrò hết sức quan trọng trong việc CCHC và hiện đại hóa nền hành chính,hướng đến Chính phủ hiện đại Tuy nhiên, cần lưu ý CNTT chỉ là công cụ,phương tiện cho Chính phủ thực hiện tốt vai trò, chức năng của mình Cầntránh tư tưởng tuyệt đối hóa CNTT dẫn đến những định hướng sai lầm, làmsai lệch đi mục tiêu, chức năng của Chính phủ

Một xu thế chung mà các nhà cải cách trên thế giới chú trọng là việctìm hiểu bản chất vận động của nhiều nền hành chính khác nhau để thông qua

đó tham khảo, bổ khuyết cho luận cứ của mình Ngày nay, việc đó chỉ có thểlàm thông qua internet Chắc chắn các nhà cải cách để tâm nghiên cứu các

Trang 17

mô hình QLNN tiên tiến hiện nay mà nhiều quốc gia đang theo đuổi là “côngnghệ quản trị quốc gia” (government technology) và “chính phủ điện tử” (e-goverment) và trăn trở về con đường nào đưa nền QLHC nước ta từ trạng tháihiện nay đến trình độ tiên tiến đó phù hợp với điều kiện và đặc điểm riêngcủa mình Nhân sự của một bộ máy QLNN hiện đại cần có những kỹ năng gì

và hệ thống thông tin quản lý hiện đại gồm những thành phần gì và chúnghoạt động như thế nào? Tất cả, trực tiếp hay gián tiếp, đều có trên internet vàchỉ có CNTT mới giúp khám phá mọi vấn đề Từ phân tích này, chúng ta cóthể nêu nhận xét rằng để CCHC đạt kết quả mong đợi thì phải giúp các nhàcải cách hiểu rõ những gì mà CNTT có thể mang lại cho họ và trao vào tay

họ những công cụ, phương tiện CNTT cần thiết cho việc nghiên cứu và thựcthi các kết quả CCHC chứ không thể làm thay họ Chỉ khi nào các nhà CCHCnắm vững được CNTT như phương tiện làm việc không thể thiếu được thìchính họ sẽ giải quyết mọi vấn đề một cách suôn sẻ và hiệu quả

Thứ tư, CNTT đối với các lĩnh vực khác.

CNTT là động lực phát triển xã hội Điều này chỉ đúng khi CNTT

“ngấm sâu” vào từng lĩnh vực hoạt động của xã hội, nghĩa là khi CNTT biếnthành bản chất của các hoạt động đó Nếu quan điểm đó đúng thì hiển nhiênnhững người hoạt động trong lĩnh vực nào sẽ quyết định vận mệnh của lĩnhvực đó và chỉ khi những người này nắm được CNTT như phương tiện làmviệc của mình thì lĩnh vực đó mới có cơ hội phát triển thật sự trong thời đạingày nay Với các ứng dụng CNTT trong mọi lĩnh vực, các chuyên gia tin

học chỉ đóng vai trò bà đỡ (tư vấn, cung cấp giải pháp, phục vụ) chứ không

thể làm thay Và, các nhà tin học luôn luôn phải là những người đi trước: làmcho người khác ngành hiểu được CNTT và ứng dụng nó thành công tronglĩnh vực của mình [21]

1.1.1.3 Xu hướng phát triển công nghệ thông tin

- Xu hướng phát triển CNTT trên thế giới.

Trang 18

CNTT - truyền thông (CNTT-TT), mạng Internet đã làm cho khoảngcách trên thế giới ngày càng trở nên nhỏ bé Tri thức và thông tin không biêngiới sẽ đưa hoạt động kinh tế vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và trở thành hoạtđộng mang tính toàn cầu Sự hội tụ công nghệ viễn thông - tin học - truyềnthông quảng bá đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu và dẫn đến sựhình thành những loại hình dịch vụ mới, tạo ra khả năng mới và cách tiếp cậnmới đối với phát triển kinh tế - xã hội (KTXH).

Cuộc cách mạng thông tin cùng với quá trình toàn cầu hóa đang ảnhhưởng sâu sắc đến mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội, đưa

xã hội loài người chuyển mạnh từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin,

từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức, ở đó năng lực cạnh tranh phụ thuộcchủ yếu vào năng lực sáng tạo, thu thập, lưu trữ, xử lý và trao đổi thông tin

CNTT - TT phải trở thành nhân tố chủ chốt góp phần giải phóng tiềmnăng của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức tạo ra năng suất và hiệu quả trong cácdoanh nghiệp, làm giầu những ý tưởng mới và phát triển ngày càng nhiều cácgiá trị mới [42]

Từ đầu những năm 1980 của thế kỷ XX, nhiều quốc gia đã nhanhchóng xây dựng và tích cực thực hiện chiến lược, chính sách quốc gia về ứngdụng, phát triển CNTT và đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể

Chiến lược, chính sách của các quốc gia rất khác nhau về mục tiêu, kếhoạch, phương thức triển khai Nhìn chung, có 2 cách tiếp cận đối với chiếnlược ứng dụng, phát triển CNTT

Một là, CNTT được coi là ngành kinh tế kỹ thuật Các chính sách tập

trung cho phát triển các ngành kinh tế gắn liền với CNTT như phần cứng,phần mềm, thiết bị viễn thông và dịch vụ Theo đó, các quốc gia này tậptrung vào thị trường nội địa, xuất khẩu; nâng cao năng lực quốc gia

Hai là, CNTT được coi là động lực phát triển KTXH, đóng vai trò

quan trọng trong tiến trình thực hiện các mục tiêu phát triển và cải thiện vị

Trang 19

thế toàn cầu Với cách tiếp cận này, CNTT đem lại lợi ích to lớn hơn nhiều,thúc đẩy phát triển con người, phát triển văn hoá, phát triển xã hội.

Một số nước tiêu biểu trong khu vực và trên thế giới về ứng dụng vàphát triển CNTT là Phần Lan, Trung Quốc, Malaysia, Xingapo, Ấn Độ.Trong đó điển hình phải kể đến Xingapo – quốc gia đã xây dựng chươngtrình CNTT của Chính Phủ từ những năm 1990 của thế kỷ XX [8]

Nhưng tựu trung lại, theo đánh giá của các nhà khoa học và các

tổ chức về CNTT trên thế giới thì xu hướng phát triển CNTT ngày càng đadạng, đòi hỏi công nghệ cao, đáp ứng được các yêu cầu của cuộc sống, dướiđây là một số xu hướng chính:

+ Nhu cầu đa dạng hoá thông tin

Trước khoảng 15 năm người ta mới chỉ quan tâm tới xử lý số cho cácthông tin chữ và số vì khả năng các thiết bị tin học mới chỉ xử lý được cácloại thông tin này Nhu cầu đã đòi hỏi con người phải xử lý thông tin đa dạnghơn như thông tin đồ hoạ, hình ảnh động, âm thanh Đến nay, các thể loạithông tin mà con người có thể cảm nhận được đều đã xử lý ở dạng số; đáng

kể là các thông tin đồ hoạ ở dạng raster và vector, các thông tin multimedia ởdạng âm thanh, hình ảnh động v v Trong các dạng thông tin trên người tarất cần quan tâm tới các thông tin về không gian mà trên đó con người đangsống: các thông tin địa lý Các thông tin này có liên quan trực tiếp tới hoạtđộng của con người và giúp chúng ta những quyết định chính xác về hànhđộng của mình tác động vào môi trường

+ Nhu cầu chính xác hoá thông tin

Thông tin cần được thu nhập chính xác là một nhu cầu đương nhiêncủa con người Đối với các thông tin chữ - số cần phải đảm bảo thu nhậnchính xác Điều quan trọng cần quan tâm hơn là tính chính xác đối với cácthông tin địa lý Đó là tính chính xác của các vị trí địa lý trong không gian vàcác thông tin khác gắn lên vị trí địa lý đó

Trang 20

+ Xu hướng phát triển phần cứng và phần mềm hệ thống.

Thiết kế phần cứng và phần mềm hệ thống cho các máy tính là mộtquá trình phát triển rất sinh động Trong những năm 1950 và 1960 nhữngngười thiết kế máy tính đã đi theo tư tưởng tập trung, một máy tính sẽ thiết

kế để đủ thực hiện mọi nhiệm vụ của một cơ sở xử lý thông tin Vì vậy người

ta đã thiết kế và sản xuất các loại máy tính cỡ lớn Tất nhiên công nghệ điện

tử trong giai đoạn này chưa đạt được trình độ cao nên dung tích các loại máytính lại càng lớn Phần mềm hệ thống cơ bản là OS và UNIX

Từ những năm 1970 khi các bộ vi xử lý ra đời những người thiết kếmáy tính đã đưa ra các loại máy tính cá nhân gọi là PC với phần mềm hệthống DOS Các máy tính PC lúc này góp phần quyết định trong việc xã hộihoá công nghệ thông tin Sau đó trong thập kỷ này hãng Microsoft đã có cônglớn trong việc hình thành phần mềm hệ thống WINDOWS với các phiên bản3.1xWorgroup, NT.95 Đặc biệt WINDOWS NT đã có phiên bản chạy trênmáy tính cỡ trung bình Cho tới nay hai loại máy tính vẫn đang song song tồntại; máy tính cỡ lớn (mainframe) và trung bình (workstation) với phần mềm

hệ thống UNIX là máy tính PC với phần mềm hệ thống WINDOWS Cuộcchạy đua giữa hai dòng máy tính này sẽ dẫn tới một sự hoà nhập nào đó trongtương lai khi các bộ vi xử lý đạt được tốc độ xử lý thông tin ngang cỡ với các

bộ xử lý của các máy tính trung bình

Khoảng từ những năm 1980, người ta đã đưa ra ý tưởng hình thành hệthống mạng máy tính Đây là một ý tưởng có tính cách mạng trong CNTTvà

đã làm thay đổi hướng phát triển Đầu tiên người ta giải quyết mạng cục bộ(LAN) nhằm nối các máy nhỏ lại với nhau để giải quyết các bài toán lớn hơn

Hệ mạng này làm cho máy tính PC có thể tìm kiếm được một vị trí cao hơntrong ứng dụng thực tế Sau đó người ta đã tổ chức hệ thống thông tin toàncầu (Intermet) làm cho thông tin được xã hội hoá mạnh hơn và các máy tính

PC càng phát huy khả năng lớn hơn Từ việc triển khai hệ thống internet cho

Trang 21

từng ngành hoặc cho từng khu vực và hệ thống extranet cho liên ngành hoặcliên khu vực Khi các mạng thông tin được hình thành người ta lại đưa ra một

mô hình máy tính mới là NC- máy tính mạng Đây là loại máy tính rất đơngiản có nhiều phần cứng được sử dụng chung trên mạng

+ Sự phát triển của kỹ thuật xử lý thông tin

Tốc độ xử lý thông tin với các bộ xử lý (CPU) hiện nay đã tănglên hàng nghìn lần so với 10 năm trước Tốc độ xử lý cao là điều kiện để cácnhà thiết kế phần mềm thực hiện các ý tưởng về định hướng đối tượng(object- oriented), kỹ thuật liên kết OLE nhúng và nối (linking andembeding), kỹ thuật xử lý đa nhiệm vụ (multitasking) và kỹ thuật liên kếtmạng (networking) Các kỹ thuật xử lý này có tác động mạnh tới việc tổ chức

cơ sở dữ liệu, xử lý khối lượng dữ liệu lớn và các thông tin phức tạp như địalý

+ Sự phát triển trong xây dựng các CSDL

Trước đây máy tính được thiết kế theo quan điểm tập trung(centralized data - base) Thiết kế này tỏ ra lúng túng khi phải quản lý mộtkhối lượng thông tin lớn và đa dạng Từ khi mạng máy tính ra đời người ta đãđưa ra quan niệm về hệ thống cơ sở dữ liệu phân tán (dicentralized database) Hệ CSDL phân tán vừa cho phép giải quyết tốt bài toán với khối lượng

dữ liệu lớn, vừa tạo được khả năng tương thích giữa hệ thống thông tin với hệthống quản lý vừa tạo điều kiện tốt cho quá trình xã hội hoá thông tin

+ Sự phát triển mạng thông tin và kỹ thuật truyền tin

Quá trình phát triển mạng thông tin từ mạng cục bộ (LAN) tới cácmạng diện rộng (WAN) bao gồm intranet, extranet, hay internet Các xa lộthông tin với đường truyền tốc độ cao được hình thành để nối các máy lại vớinhau Thiết kế cụ thể các mạng là một kỹ thuật đơn thuần, ít điều cần nói đến.Vấn đề quan trọng ở đây là cần giải quyết tốc độ truyền tin, tính an toàn khitruyền tin và đảm bảo bí mật khi truyền tin Các vấn đề này đang được giải

Trang 22

quyết từng bước.

+ Sự phát triển trong kỹ thuật thu nhận và cung cấp thông tin.Cho đến nay người ta đã đạt được thành tựu khá lớn trong tốc độ xử lýthông tin nhưng chưa đạt được kết quả như mong muốn trong kỹ thuật thuthập thông tin Mặc dù vậy, việc thu thập thông tin địa lý đã đạt được nhiềuthành tựu quan trọng Đó là kỹ thuật đo đạc số với các máy đo đạc điện tử tựđộng (electronic totalstation), máy định vị thu từ vệ tinh GPS (RTK GPS),máy chụp ảnh số (digital camera), máy đo sáu số (Digital echosounder) Điều cần quan tâm phát triển ở đây là kỹ thuật thu nhận các thông tin chữ- số

Vì cho đến nay vẫn chưa có gì nhanh hơn bàn phím máy tính Để tăng nhanhtốc độ cần có sự phối hợp tốt nhất giữa mạng lưới thu nhận thông tin với hệthống quản lý các ngành

Cung cấp thông tin đòi hỏi nâng cao kỹ thuật hiển thị thông tin Hiển thịtrên màn hình, trên các thiết bị nhớ đã được giải quyết tốt nhưng việc hiển thịtrên các máy vẽ và máy in vẫn chưa đạt được tốc độ và chất lượng cần thiết[31]

- Xu hướng phát triển CNTT tại Việt Nam.

Trong bối cảnh và xu thế biến của thế giới như vậy đang đặt ra chomọi quốc gia những cơ hội và thách thức hết sức to lớn Nắm bắt cơ hội, với

ý chí và quyết tâm cao, có sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng và Chính phủ chúng

ta có thể tận dụng tiềm năng CNTT-TT để chuyển dịch nhanh cơ cấu nhânlực và cơ cấu KTXH theo hướng xây dựng một xã hội thông tin, kinh tế dựatrên tri thức, góp phần quan trọng rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước

Về vấn đề này, GS.TSKH Seungtaik Yang - cố vấn CNTT-TT của BộBưu chính, Viễn thông cũng đã khuyến nghị Việt Nam: ''CNTT-TT phảiđược hiểu như một cơ sở hạ tầng (CSHT) của tất cả các công nghệ trong thế

kỷ 2l cũng như máy móc có vai trò như vậy trong thế kỷ 20 Trong thế kỷ 21,điều tất yếu là tất cả các ngành phải chấp nhận CNTT-TT như là phương tiện

Trang 23

chính để đảm bảo hiệu quả, năng suất và tính cạnh tranh Do đó, ứng dụngCNTT vào các ngành là điều cốt yếu và là vấn đề cấp bách phải làm càngsớm càng tốt Không có bất kỳ một lý do nào để trì hoãn '' [42].

Thời gian qua, ứng dụng và phát triển CNTT của nước ta đã có nhữngtiến bộ rõ rệt, góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH, CCHC, chuyển dịch cơ cấukinh tế, nâng cao chất lượng và hiệu quả phục vụ của các ngành và các lĩnhvực, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, cung cấp thông tin phục

vụ cộng đồng, góp phần hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, nhìn chung ứngdụng và phát triển CNTT của nước ta vẫn còn tụt hậu khá xa và khoảng cáchđang ngày một lớn với nhiều nước trong khu vực

CNTT trong khu vực và thế giới phát triển như vũ bão, mang đến chođất nước ta nhiều thời cơ và không ít thách thức Đảng và Nhà nước ta đãnhận thức rất rõ về ý nghĩa, vị trí, vai trò, tác động của CNTT trong thời đạimới, quyết tâm đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu củatiến trình CNH, HĐH Trong thời gian qua, với chính sách mở cửa, ổn định

về chính trị, tăng trưởng kinh tế của đất nước, việc thu hút đầu tư, hợp tácquốc tế trong CNTT đạt được nhiều kết quả tích cực Thị trường CNTT trongnước và đặc biệt là thị trường khu vực và thế giới gia tăng nhanh Xu thế toàncầu hoá, quan hệ hợp tác đa dạng của các nước trong khu vực ngày càng pháttriển cũng là lợi thế hỗ trợ cho ứng dụng, phát triển CNTT của chúng ta Đây

có thể là những thời cơ quý báu cho ứng dụng và phát triển CNTT nước nhà

Hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là gia nhập Tổ chức thương mạiquốc tế (WTO) đem đến nhiều cơ hội, nhưng công tác chuẩn bị để chủ độnghội nhập của chúng ta như đổi mới quy trình hoạt động, nâng cao năng lựccạnh tranh, cải thiện môi trường pháp lý, cơ chế, chính sách, đối với CNTTchưa thực hiện được nhiều và gặp không ít khó khăn Đất nước ta còn nghèo,khả năng đầu tư cho CNTT còn rất hạn chế Mục tiêu đến năm 2010, trình độCNTT của nước ta đạt trình độ tiên tiến trong khu vực là một thách thức rất

Trang 24

lớn, nếu chúng ta không có quyết tâm rất cao, xây dựng chiến lược rõ ràng và

tổ chức triển khai có hiệu quả

Ngày 06/10/2005, Thủ tướng Chính Phủ đã ban hành Quyết định số246/2005/QĐ-TTg về phê duyệt Chiến lược phát triển CNTT và TT ViệtNam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Nội dung cơ bản củaChiến lược tập trung 4 vấn đề lớn: phát triển ứng dụng, phát triển côngnghiệp CNTT, phát triển hạ tầng và đào tạo nguồn nhân lực

Đối với phát triển ứng dụng CNTT- TT, xây dựng và phát triển côngdân điện tử, CPĐT, doanh nghiệp điện tử, thương mại điện tử

Đối với phát triển công nghiệp CNTT-TT, tập trung phát triển côngnghiệp phần mềm và công nghiệp nội dung thông tin đồng bộ với mở rộng,phát triển mạng truyền thông Phấn đấu để Việt Nam trở thành một trung tâmcủa khu vực về lắp ráp thiết bị điện tử, máy tính và viễn thông, sản xuất một

số chủng loại linh kiện, phụ kiện và thiết kế chế tạo thiết bị mới Máy tính cánhân, điện thoại di động và phần mềm mang thương hiệu Việt Nam chiếmlĩnh được tối đa thị phần trong nước và xuất khẩu không ít hơn 1 tỷ USD

Đối với hạ tầng thông tin và truyền thông, đi thẳng vào công nghệ hiệnđại, phát triển nhanh, đa dạng hoá, đảm bảo chất lượng dịch vụ, giá cước thấphơn hoặc tương đương mức bình quân của các nước trong khu vựcASEAN+3 Các thành phần kinh tế có thể tham gia cung cấp dịch vụ viễnthông và Internet và phấn đấu năm 2010 các doanh nghiệp mới chiếm 40-50% thị phần dịch vụ viễn thông và Internet Các bộ, ngành, cơ quan HCNN,chính quyền cấp tỉnh và huyện được kết nối Internet băng thông rộng và kếtnối với mạng diện rộng của Chính Phủ 100% các điểm bưu điện văn hoá xã

và các trung tâm giáo dục cộng đồng được kết nối Internet 100% viện nghiêncứu, trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và trung học phổthông có truy nhập Internet tốc độ cao; trên 90% các trường trung học cơ sở,bệnh viện được kết nối Internet

Trang 25

Đối với phát triển nguồn nhân lực CNTT-TT: đào tạo CNTT-TT tạicác trường đại học trọng điểm đạt trình độ và chất lượng tiến tiến trong khuvực ASEAN cả về kiến thức, kỹ năng thực hành và ngoại ngữ, tham gia thịtrường lao động quốc tế Tăng cường chất lượng và số lượng giảng viênCNTT-TT ở các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp Đa sốcác bộ, ngành, tỉnh, thành phố có cán bộ lãnh đạo quản lý thông tin, được bổtúc, đào tạo các chương trình quản lý CNTT-TT với trình độ tương đươngtrong khu vực

Song song với chiến lược của Chính Phủ, Bộ Bưu chính, Viễn thôngcũng đã xác định những định hướng lớn sau đây:

Đến năm 2020, với CNTT-TT làm nòng cốt, Việt Nam chuyển đổinhanh cơ cấu KT-XH, cơ bản trở thành một nước công nghiệp Việt Nam trởthành một trong những nước tiên tiến trong khu vực ASEAN về phát triển vàứng dụng CNTT-TT Đến năm 2010, trên cơ sở phát triển và ứng dụng mạnh

mẽ CNTT-TT Việt Nam đạt trình độ trung bình khá trong khu vực ASEAN

về xã hội thông tin với một số mục tiêu cơ bản sau:

Về ứng dụng CNTT-TT: CNTT-TT được ứng dụng rộng rãi trong mọilĩnh vực, trong tất cả các ngành nhằm xây dựng và phát triển Việt Nam điện

tử với công dân điện tử, chính phủ điện tử, doanh nghiệp điện tử, giao dịch vàthương mại điện tử:

Về phát triển hạ tầng viễn thông và Internet: Cơ sở hạ tầng viễn thông

và Internet đi thẳng vào công nghệ băng rộng, phát triển nhanh, đa dạng hoá,cung cấp dịch vụ chất lượng cao, đảm bảo an toàn thông tin, giá cước thấp

Về Công nghiệp CNTT-TT: Việt Nam là địa điểm đầu tư hấp dẫn vàtin cậy của các đối tác quốc tế, đặc biệt là các tập đoàn CNTT-TT lớn ViệtNam trở thành một trung tâm của khu vực về lắp ráp thiết bị điện tử, máy tính

và viễn thông, sản xuất một số chủng loại linh, phụ kiện và thiết kế chế tạothiết bị mới

Trang 26

Về phát triển nguồn nhân lực cho CNTT-TT: Đào tạo và phát triểnnguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu phát triển và ứng dụng CNTT-TT củađất nước Đào tạo về CNTT-TT tại các trường đại học trọng điểm đạt trình độ

và chất lượng tiên tiến trong ASEAN cả về kiến thức, kĩ năng thực hành vàngoại ngữ Phát triển mạng giáo dục điện tử, hình thành cổng giáo dục điện

tử trên Internet và phát triển mạnh các khoá học từ xa và các trường đại họcON-LINE Đa số CBCC, viên chức, giáo viên tất cả các cấp, bác sĩ, y sĩ sinhviên đại học và cao đẳng, học sinh trung học chuyên nghiệp, trung học nghề

và trung học phổ thông, 50% học sinh trung học cơ sở và một bộ phận dân cư

có nhu cầu được đào tạo kiến thức ứng dụng CNTT-TT và khai thác Internet

Đa số các bộ, ngành, tỉnh, thành phố và các đơn vị tương đương có cán bộlãnh đạo quản lý thông tin, được bổ túc, đào tạo các chương trình quản lýCNTT-TT với trình độ tương đương trong khu vực

Năng suất lao động trong lĩnh vực CNTT-TT ngang với mức trungbình khá trong khu vực ASEAN; năng suất lao động phần mềm đạt mức tiêntiến so với các nước trong khu vực

Về định hướng nghiên cứu và phát triển CNTT-TT: Tăng cường hỗtrợ, nâng cao năng lực nghiên cứu triển khai cho các cơ sở nghiên cứu vềCNTT-TT Có chính sách trọng dụng cán bộ khoa học về CNTT-TT Cóchính sách ưu đãi đặc biệt nhằm thu hút các công ty quốc tế thiết lập cáctrung tâm nghiên cứu CNTT-TT ở Việt Nam Đẩy mạnh liên kết nghiên cứugiữa các doanh nghiệp CNTT-TT với các trường đại học, viện nghiên cứu

Có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu triểnkhai Tạo điều kiện cho các viện, trường hoạt động theo cơ chế doanh nghiệpnhằm hình thành một thị trường khoa học, công nghệ sôi động gắn nghiêncứu, đào tạo với sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực CNTT-TT

Triển khai các chương trình nghiên cứu khoa học công nghệ về

CNTT-TT nhằm giải quyết các vấn đề khoa học, công nghệ, các sản phẩm chủ chốt,

Trang 27

tạo tiềm lực và năng lực công nghệ quốc gia góp phần thúc đẩy, nâng caonăng lực cạnh tranh trong sản xuất và dịch vụ CNTT-TT.

Trong xã hội dựa trên tri thức, sự phát triển và năng lực cạnh tranhđược xác định không chỉ dựa trên đầu tư và lao động mà quan trọng hơn làtạo ra và truyền bá tri thức và thông tin Vì vậy, các cơ sở nghiên cứu cầnsớm xây dựng và triển khai thực hiện mạnh mẽ kế hoạch phát triển nền tảngcho CNTT-TT như Internet tốc độ cao, truyền thông vô tuyến, số hóa thôngtin đại chúng Làm sao cho các cơ sở nghiên cứu và triển khai (R&D) cũngchính là các viện nghiên cứu và sáng tạo (R&I - Research and Innovation)

Các cơ sở sản xuất kinh doanh phải năng động đổi mới sản phẩm, dịch

vụ quản lý và nghiên cứu triển khai cho phù hợp với nên kinh tế mới vànhững công nghệ hiện đại trong xu thế toàn cầu hóa Nước chúng ta nghèo,nguồn lực khan hiếm vì vậy cần phải đánh giá được những khoảng cách côngnghệ, những lợi thế của đất nước để đầu tư, tập trung nguồn lực giải quyếtthành công những vấn đề công nghệ mang tính nền tảng, cơ sở, có tính khảthi cao và nhiều hứa hẹn trong tương lai

Trong giai đoạn tới, các đơn vị nghiên cứu triển khai cần tập trungnghiên cứu các lĩnh vực sau:

- Các công nghệ mới trong lĩnh vực viễn thông và Internet: Mạng hội

tụ băng rộng (NGN, 3G, 4G, W-CDMA, IP Telephony ) và phát thanhtruyền hình số; Internet thế hệ sau IPv6; Các thiết bị đầu cuối thông minh cókhả năng nối mạng

Công nghệ phần mềm: Cơ sở dữ liệu; Công nghệ nội dung thông tin;

Công nghệ đa phương tiện; Hệ thống thông tin địa lí; Phát triển phần mềmtrên môi trường mạng; Phần mềm mã nguồn mở; Phần mềm nhúng; Qui trìnhđánh giá, kiểm chứng và nâng cao chất lượng phần mềm, Xây dựng các hệthống tin học ứng dụng

Trí tuệ nhân tạo: Xử lí ảnh, Nhận dạng chữ và tiếng Việt, Công nghệ

Trang 28

tri thức, Hệ chuyên gia, Dịch tự động.

Nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng: Cơ sở toán học của tin học,

Công nghệ Nanô, Linh kiện điện tử thế hệ mới [42]

- Xu hướng phát triển CNTT của các cơ quan QLHCNN cấp địa phương tại Việt Nam hiện nay

+ Đánh giá tình hình ứng dụng CNTT trong các cơ quan QLHCNN.

Cho đến nay, ứng dụng CNTT trong các cơ quan Đảng, Nhà nước vànhiều tổ chức chính trị - xã hội đã đạt được những tiến bộ rõ rệt, góp phần đổimới lề lối làm việc, cải cách nền hành chính

Đánh dấu là Đề án CNTT của các cơ quan Đảng giai đoạn 2001-2005(Đề án 47), Đề án CNTT của các cơ quan Đảng giai đoạn 2006 – 2010 (Đề

án 06) và Đề án CNTT của các CQNN (Đề án 112), Kế hoạch phát triểnCNTT giai đoạn 2011 – 2015 của Chính Phủ

Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Đề án Tin học hoá hoạt động

cơ quan Đảng giai đoạn 2001 – 2005 (gọi tắt là Đề án 47) Mục tiêu chungcủa Đề án 47 được xác định là “Đến năm 2005, về cơ bản xây dựng và đưavào hoạt động hệ thống thông tin điện tử của Đảng”

Để đồng bộ với Chương trình Cải cách HCNN giai đoạn 2001 – 2010,mục tiêu chung của Đề án 112 được quy định “đến năm 2005, xây dựng vàđưa vào hoạt động hệ thống thông tin điện tử của Đảng và Chính Phủ”,hướng tới nền hành chính điện tử, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả điềuhành của Chính Phủ, Thủ tướng Chính Phủ, lãnh đạo các Bộ, cơ quang ngang

Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, chính quyền địa phươngcác cấp và “đến năm 2010, xây dựng và đưa vào vận hành mạng điện tử - tinhọc thống nhất của Chính Phủ”

Trong quản lý nhà nước, ứng dụng CNTT cũng đã được đẩy mạnh Có

24 bộ, ngành và 62 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã có trang tin

Trang 29

điện tử (Website) chính thức trên mạng Internet Các Website này, cùng vớicổng thông tin điện tử của Chính Phủ - được chính thức phát hành tháng9/2005 – đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan, tổ chức, doanhnghiệp và mọi người dân có thể tìm hiểu thông tin đề xuất yêu cầu giải quyếtcông việc đối với các cơ quan công quyền [8]

Theo Báo cáo số 19/BC-BTTTT của Bộ TT&TT trình Chính phủ ngày26/4/2010 về đánh giá việc xây dựng và vận hành của CPĐT, đến nay ViệtNam đang có những bước tiến mạnh trong ứng dụng CNTT

Tính đến cuối tháng 4/2010, hệ thống tổ chức chỉ đạo, điều hành ứngdụng và phát triển CNTT đã được kiện toàn, bao gồm: Ban Chỉ đạo Quốc gia

về CNTT, Ban Điều hành triển khai công tác ứng dụng CNTT trong hoạtđộng của CQNN và Ban Chỉ đạo CNTT của các Bộ, tỉnh; Hệ thống các cơquan chuyên trách về CNTT các Bộ, Ngành, các Sở TT&TT địa phương

Cùng đó, hạ tầng kỹ thuật CNTT đã được xây dựng đảm bảo triển khaicác ứng dụng CNTT trong các CQNN Mạng truyền số liệu chuyên dùng của

cơ quan Đảng và Nhà nước dự kiến quý III/2010 sẽ kết nối tới tất cả các đơn

vị cấp huyện và các Sở, ban ngành Đến tháng 4/2010, có khoảng 85% CBCCtại các Bộ, cơ quan ngang Bộ và 55% CBCC tại các tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương đã được trang bị máy tính làm việc; 85% các cơ quan hànhchính nhà nước thuộc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, các tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương đã kết nối mạng nội bộ LAN, Internet

Hiện nay, 85% CBCC tại các Bộ và 78% tại các tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương có khả năng sử dụng máy tính phục vụ công việc Tỷ lệCBCC được cung cấp hộp thư điện tử sử dụng trong công việc tại các Bộ, cơquan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đạt trung bình từ 80 - 90%; các tỉnh,thành trực thuộc Trung ương là 70 – 80% Đáng lưu ý, việc ứng dụng phần mềmquản lý văn bản và điều hành được triển khai rộng khắp: các Bộ, cơ quan ngang

Bộ tính đến cấp đơn vị trực thuộc đạt tỷ lệ 90%; các tỉnh, thành trực thuộc Trung

Trang 30

ương tính đến cấp Sở, ban, ngành, quận huyện đạt 39%.

Cùng đó, 20/22 Bộ, cơ quan ngang Bộ đã có trang hoặc Cổng thông tinđiện tử (trừ 2 Bộ có tính chất đặc thù là Bộ Công an, Bộ Quốc phòng); 62/63tỉnh, thành phố đã có trang hoặc cổng thông tin điện tử (trừ Đắc Nông) vớikhoảng 5.700 thủ tục hành chính được công bố công khai…, cung cấp thôngtin và dịch vụ công trực tuyến cho người dân, doanh nghiệp Ngoài ra, môhình “một cửa điện tử” đã được triển khai thành công tại nhiều địa phươngcấp phường, huyện (như tại Hải Phòng, Hà Nội…), góp phần giải quyết hạnchế những bức xúc, vướng mắc của người dân trong quá trình thực hiện thủtục hành chính, đặc biệt là trong những vấn đề “nóng” như đất đai, xây dựng,đăng ký kinh doanh…

Về hệ thống thông tin chuyên ngành, hiện nay hệ thống có quy môquốc gia cũng đã được triển khai thành công như hệ thống thông tin liên ngânhàng, tài chính, hải quan, thuế (năm 2009 đã có tới 6 triệu mã số thuế thunhập cá nhân được cấp qua mạng trực tuyến); nhiều cuộc họp của Chính phủ,các Bộ ngành, địa phương đã được ứng dụng hội nghị truyền hình, dần tạonền tảng để hình thành CPĐT

Tuy nhiên, việc phát triển ứng dụng CNTT trong các CQNN cũng còngặp nhiều tồn tại cần được giải quyết cấp bách, như: Việc ứng dụng CNTTtrong nội bộ CQNN chủ yếu ở quy mô nhỏ, ứng dụng phục vụ người dân cònhạn chế, các trang thông tin điện tử chủ yếu mới cung cấp thông tin, chưa đưa

ra nhiều ứng dụng cho phép nộp hồ sơ xin cấp phép, đăng ký qua mạng…Nhìn nhận thẳng thắn, nguyên nhân của những hạn chế đó là việc ứng dụngtại nhiều nơi còn chạy theo phong trào, không bám sát nhu cầu thực tế, nhiềucán bộ lãnh đạo các cấp chưa thực sự gương mẫu, cán bộ công chức chưa cóthói quen sử dụng thư điện tử trong công việc…

Đáng lưu ý, cho đến nay các văn bản pháp lý quy định riêng cho quản

lý đầu tư ứng dụng CNTT còn rất thiếu trong thời gian dài, đặc biệt là quy

Trang 31

định về định mức kinh tế - kỹ thuật, gây cản trở trong việc triển khai các dự

vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn, góp phần xứng đáng vào sựnghiệp CNH, HĐH đất nước Đây là chủ trương đúng đắn của Đảng và nhànước, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, gắn liền với công cuộcCCHC của nước nhà trong thời kỳ đổi mới và hội nhập

Để hiện thực hoá mục tiêu này, góp phần đẩy nhanh ứng dụng CNTTtrong các CQNN, một loạt những chính sách, chiến lược đã được đề ra, nhằmđịnh hướng cho sự phát triển ứng dụng CNTT trong các cơ quan QLHCNN giaiđoạn tới Cụ thể:

Luật Giao dịch điện tử ngày 29/11/2005; Luật CNTTngày 29/6/2006; Quyết định số 246/2005/QĐ-TTg ngày 06/10/2005 của Thủ tướng Chínhphủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển CNTTvà truyền thông Việt Namđến năm 2010 và định hướng đến năm 2020;

Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về “Ứngdụng CNTT trong hoạt động của CQNN”;

Quyết định số 43/2008/QĐ-TTg ngày 24/3/2008 của Thủ tướng chínhphủ về việc phê duyệt kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNNnăm 2008;

Quyết định số 48/2009/QĐ-TTg ngày 31/3/2009 của Thủ tướng Chínhphủ về việc phê duyệt kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động CQNN giaiđoạn 2009-2010;

Nghị định số 102/2009/NĐ-CP ngày 6/11/2009, của Chính phủ về

Trang 32

quản lý ứng dụng CNTT sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước Và một sốvăn bản hướng dẫn của Bộ TT&TT (như Công văn số 3364/BTTTT-ƯDCNTT hướng dẫn xác định phần mềm) Tuy nhiên, việc xây dựng các vănbản hướng dẫn thực thi Nghị định số 102 vẫn chưa hoàn thành, đặc biệt làvấn đề xác định chi phí thuộc tổng mức đầu tư, tổng dự toán, hình thức quản

lý dự án và mức chi phí quản lý dự án, khiến việc đưa Nghị định vào cuộcsống còn gặp nhiều khó khăn

Nhìn chung, các văn bản trên đều thể hiện một số định hướng ứngdụng CNTT đối với các cơ quan QLNN đến năm 2015, trong đó Chính Phủtập trung vào ba nội dung cơ bản sau:

Một là, ứng dụng CNTT để đổi mới phương thức cung cấp thông tin vàdịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp Phấn đấu đến năm 2015 cungcấp hầu hết các dịch vụ công cơ bản trực tuyến mức độ 3 và hoặc 4, ngườidân và doanh nghiệp có thể trao đổi thông tin, gửi, nhận hồ sơ, thanh toán phídịch vụ, nhận kết quả dịch vụ qua mạng

Hai là ứng dụng CNTT để đổi mới phương thức quản lý tài nguyênthông tin trong các CQNN; phát triển các CSDL quốc gia về con người, đấtđai, tài chính, kinh tế, công nghiệp và thương mại tạo nền tảng triển khaiCPĐT; từng bước tích hợp các HTTT, tiếp tục xây dựng và mở rộng HTTT

và CSDL phục vụ cho hoạt động quản lý, điều hành chung của các CQNN vàphục vụ người dân, doanh nghiệp

Ba là ứng dụng CNTT trong các CQNN nhằm xây dựng môi trườnglàm việc điện tử giữa các CQNN trên phạm vi toàn quốc, tạo thói quen làmviệc của CBCC (CB,CC) trên môi trường mạng và HTTT trợ giúp, thay thếvăn bản giấy

1.1.2 Đặc thù ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan quản lí hành chính nhà nước cấp tỉnh

1.1.2.1 Khái quát về cơ quan quản lí hành chính nhà nước

Trang 33

- Quản lí hành chính nhà nước và đặc điểm.

+ Khái niệm QLHCNN:

QLHCNN là một hình thức hoạt động của Nhà nước được thực hiệntrước hết và chủ yếu bởi các cơ quan HCNN, có nội dung là bảo đảm sự chấphành pháp luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước,nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp và thường xuyên công cuộc xâydựng kinh tế, văn hóa – xã hội và hành chính – chính trị Nói cách khác,QLHCNN là một hoạt động chấp hành – điều hành của nhà nước

+ QLHCNN ở nước ta mang 5 đặc điểm sau:

Thứ nhất, QLHCNN là hoạt động mang quyền lực nhà nước.

Thứ hai, QLHCNN là hoạt động được tiến hành bởi những chủ thể có

quyền năng hành pháp

Thứ ba, QLHCNN là hoạt động có tính thống nhất, được tổ chức chặt chẽ Thứ tư, hoạt động QLHCNN có tính chấp hành và điều hành.

Thứ năm, QLHCNN là hoạt động mang tính liên tục [33].

- Cơ quan hành chính nhà nước và đặc điểm.

+ Khái niệm cơ quan HCNN:

Cơ quan HCNN là một loại cơ quan trong bộ máy nhà nước đượcthành lập theo hiến pháp và pháp luật, để thực hiện quyền lực nhà nước, cóchức năng QLHCNN trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

+ Đặc điểm của cơ quan HCNN:

Cơ quan HCNN là một loại CQNN, là một bộ phận cấu thành bộ máynhà nước Do vậy, cơ quan HCNN cũng mang đầy đủ các đặc điểm chungcủa các CQNN

Một là, cơ quan HCNN hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, được

Trang 34

tổ chức và hoạt động trên nguyên tắc tập trung dân chủ

Hai là, mỗi cơ quan HCNN đều hoạt động dựa trên những quy định

của pháp luật, có chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền nhất định và có nhữngmối quan hệ phối hợp trong thực thi công việc được giao

Ba là, về mặt thẩm quyền thì cơ quan HCNN được quyền đơn phương

ban hành văn bản quy phạm pháp luật hành chính và văn bản đó có hiệu lựcbắt buộc đối với các đối tượng có liên quan; cơ quan HCNN có quyền ápdụng các biện pháp cưỡng chế đối với các đối tượng chịu sự tác động, quản

lý của cơ quan HCNN

Ngoài những đặc điểm chung nói trên, cơ quan HCNN còn có nhữngđặc điểm riêng như sau:

Một là, cơ quan HCNN có chức năng QLHCNN, thực hiện hoạt động

chấp hành và điều hành trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong khi đócác CQNN khác chỉ tham gia vào hoạt động quản lý trong phạm vi, lĩnh vựcnhất định

Hai là, cơ quan HCNN nói chung là cơ quan chấp hành, điều hành của

cơ quan quyền lực nhà nước

Ba là, cơ quan HCNN là hệ thống cơ quan có mối liên hệ chặt chẽ,

thống nhất

Bốn là, hoạt động của cơ quan HCNN mang tính thường xuyên, liên

tục và tương đối ổn định, là cầu nối đưa đường lối, chính sách pháp luật vàocuộc sống

Năm là, cơ quan HCNN có chức năng QLNN dưới hai hình thức là ban

hành các văn bản quy phạm và văn bản cá biệt trên cơ sở hiến pháp, luật,pháp lệnh và các văn bản của các cơ quan HCNN cấp trên nhằm chấp hành,thực hiện các văn bản đó Mặt khác trực tiếp chỉ đạo, điều hành, kiểmtra hoạt động của các cơ quan HCNN dưới quyền và các đơn vị cơ sở trực

Trang 35

17 cơ quan (Sở Nội vụ, Sở Tư pháp, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính,

Sở Công thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Giao thôngVận tải, Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở TT&TT, Sở Laođộng – Thương binh và Xã hội, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Sở Khoahọc và Công nghệ, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Y tế, Thanh Tra tỉnh, Vănphòng UBND tỉnh)

+ Các cơ quan QLHCNN cấp tỉnh có vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn sau:

Một, về vị trí và chức năng: Các cơ quan QLHCNN cấp tỉnh tham

mưu, giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng QLNN về ngành, lĩnh vực ở địaphương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBNDcấp tỉnh và theo quy định của pháp luật; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức,biên chế và công tác của UBND tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướngdẫn chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan QLNN về ngành, lĩnh vực cấp trên

Hai, về nhiệm vụ và quyền hạn, Trình UBND tỉnh: Dự thảo quyết định,

chỉ thị; quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm; chương trình, biệnpháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách HCNN về các ngành, lĩnh vựcthuộc phạm vi QLNN được giao Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật quyđịnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chi cục trực thuộc Dự thảo vănbản quy phạm pháp luật quy định cụ thể điều kiện, tiêu chuẩn, chức danh đối

Trang 36

với Trưởng, Phó các đơn vị thuộc Sở; Trưởng, Phó phòng chuyên môn thuộcUBND huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi chung làUBND cấp huyện) trong phạm vi ngành, lĩnh vực quản lý.

Trình Chủ tịch UBND tỉnh: Dự thảo quyết định thành lập, sát nhập,giải thể các đơn vị thuộc cơ quan chuyên môn cấp tỉnh theo quy định củapháp luật Dự thảo quyết định, chỉ thị cá biệt thuộc thẩm quyền ban hành củaChủ tịch UBND tỉnh

Tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch sau khiđược phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, hướng dẫn, phổ biến, giáo dục phápluật về các lĩnh vực thuộc phạm vi QLNN được giao

Tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về giám định, đăng ký, cấp giấyphép, văn bằng, chứng chỉ thuộc phạm vi trách nhiệm quản lý của cơ quanchuyên môn cấp tỉnh theo quy định của pháp luật, sự phân công hoặc ủyquyền của UBND tỉnh

Giúp UBND tỉnh QLNN đối với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế tậpthể, kinh tế tư nhân, các hội và các tổ chức phi Chính phủ thuộc các lĩnh vựcquản lý của cơ quan chuyên môn theo quy định của pháp luật

Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệmcủa đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật

Thực hiện hợp tác quốc tế về các lĩnh vực quản lý của sở theo quy địnhcủa pháp luật, sự phân công hoặc ủy quyền của UBND cấp tỉnh

Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ thuộc lĩnh vực quản lý đối với cơquan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện và chức danh chuyên môn thuộcUBND cấp xã

Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật; xây dựng hệthống thông tin, lưu trữ phục vụ công tác QLNN và chuyên môn nghiệp vụđược giao

Trang 37

Kiểm tra, thanh tra theo ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách đốivới tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các quy định của pháp luật; giảiquyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng theo quy định của phápluật hoặc phân công của UBND tỉnh.

Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của văn phòng, các phòngnghiệp vụ và các đơn vị sự nghiệp thuộc cơ quan chuyên môn cấp tỉnh; quản

lý biên chế, thực hiện chế độ tiền lương và chính sách, chế độ đãi ngộ, đàotạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật đối với CBCC, viên chức thuộc phạm viQLNN của cơ quan chuyên môn cấp tỉnh theo quy định của pháp luật và phâncấp của UBND tỉnh

Quản lý tài chính, tài sản của cơ quan chuyên môn cấp tỉnh theo quyđịnh của pháp luật và phân công của UBND tỉnh

Thực hiện công tác thông tin, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hìnhthực hiện nhiệm vụ được giao theo quy định của UBND tỉnh, các Bộ, cơ quanngang Bộ

Thực hiện một số nhiệm vụ khác do UBND tỉnh giao hoặc theo quyđịnh của pháp luật [11]

- Đặc thù về mô hình mạng máy tính trong các cơ quan QLHCNN.

Xuất phát chức năng, nhiệm vụ của cơ quan QLHCNN cấp tỉnh, môhình mạng máy tính được xây dựng như sau:

Mục tiêu của tin học hoá QLHCNN là xây dựng HTTT phục vụ quản

lý của các cơ quan HCNN; thúc đẩy mạnh mẽ việc HĐH công nghệ hànhchính, thực hiện tin học hoá các quy trình phục vụ nhân dân trong các lĩnh vựcdịch vụ công, nâng cao năng lực của các cơ quan HCNN trong việc cung cấpcác dịch vụ công cho nhân dân và doanh nghiệp được thuận tiện, nhanh gọn vàchất lượng cao Do vậy trước hết công tác đó cần phải tập trung thực hiện đồngthời hai nhiệm vụ là tin học hoá các hoạt động chỉ đạo điều hành, quản lý

Trang 38

(gọi tắt là tin học hoá hành chính công - THHHCC) và tin học hoá các quytrình phục vụ nhân dân như cách thức tiếp xúc, giải quyết công việc với dân;cung cấp và nhận thông tin phản hồi từ nhân dân; (gọi tắt là tin học hoáDịch vụ công -THHDVC) trong các cơ quan HCNN Vì thế việc xây dựngCSHT kỹ thuật mạng máy tính trong các cơ quan HCNN trước hết cũng cầnphải hỗ trợ, phục vụ được hoạt động triển khai thực hiện đồng thời hai nhiệm

vụ THHHCC và THHDVC đó

Mạng máy tính trong các cơ quan HCNN nên được thiết kế theonguyên tắc để không những đảm bảo được yêu cầu trên; đảm bảo được tínhhiệu quả trong của việc chia sẻ khai thác sử dụng thông tin dữ liệu trong một

Hệ thống vừa phục vụ công tác điều hành, quản lý, vừa phục vụ cung cấpdịch vụ cho người dân, đảm bảo được tính bảo mật, an ninh, an toàn của cácthông tin dữ liệu quan trọng trong các cơ quan HCNN

Mạng máy tính trong mỗi cơ quan HCNN cần được thiết kế, xây dựngsao cho có thể thực hiện tốt việc thu thập, lưu trữ, xử lý, chia sẻ, trao đổi,truyền gửi thông tin dữ liệu điện tử được hình thành trong quá trình thực hiệnhoạt động quản lý giữa các cơ quan HCNN có liên quan với nhau và với một

số tổ chức chính trị-xã hội khác; đồng thời có thể thực hiện được việc cungcấp phổ biến một số loại thông tin, dữ liệu được phép chiết xuất trong quá trìnhđiều hành, quản lý; thực hiện tốt việc hỗ trợ cải tiến phương thức tiếp xúc, giảiquyết công việc với nhân dân, với các tổ chức chính trị, KT-XH theo chức năng,nhiệm vụ và quyền hạn được quy định của cơ quan HCNN đó

Mạng máy tính cần có khả năng hỗ trợ tốt việc chiết xuất tự động cácthông tin dữ liệu được hình thành trong quá trình thực hiện các hoạt độngđiều hành, quản lý trong cơ quan HCNN để cập nhật vào các CSDL, kho dữliệu nhằm mục đích cung cấp phục vụ nhân dân và các tổ chức chính trị, KT-

XH khác Yêu cầu này chính là một trong những tiêu chuẩn quan trọng đểđánh giá hoạt động THHQLHCNN có đạt được hiệu quả đích thực hay

Trang 39

không Nó không chỉ là yêu cầu đối với việc thiết kế, xây dựng hạ tầng mạngmáy tính mà còn là yêu cầu bắt buộc đối với việc thiết kế, xây dựng cácCSDL, kho dữ liệu và phần mềm ứng dụng khi triển khai hoạt độngTHHQLHCNN.

Mạng máy tính phải được thiết kế sao cho có thể đảm bảo được tínhbảo mật, an ninh, an toàn thông tin dữ liệu được lưu trữ, xử lý và trao đổi trênmạng Yêu cầu này càng có ý nghĩa cấp thiết đối với các cấp cơ quanQLHCNN, nơi lưu trữ và xử lý nhiều loại thông tin dữ liệu quan trọng, liênquan đến chiến lược và kết hoạch phát triển KTCH của quốc gia, của địaphương; ảnh hưởng lớn đến an ninh quốc gia,

Mạng máy tính được thiết kế, sao cho CBCC trong các CQHC thamgia vào mạng này có thể truy cập và khai thác được các nguồn thông tin dữliệu trên Internet một cách thuận lợi, dễ dàng mà vẫn không để xảy ra tìnhtrạng có những truy cập từ bên ngoài nhằm phá hoại hoặc khai thác trái phépthông tin dữ liệu trên máy của mình, [45]

1.2 c¸c ®iÒu kiÖn cÇn thiÕt, néi dung vµ yªu cÇu cña viÖc øng dông c«ng nghÖ th«ng tin trong c¸c c¬ quan qu¶n lÝ hµnh chÝnh cÊp tØnh

1.2.1 Các điều kiện cần thiết của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan quản lí hành chính nhà nước cấp tỉnh

1.2.1.1 Khái niệm về ứng dụng công nghệ thông tin

- Ứng dụng CNTT được hiểu là một trong 4 yếu tố quan trọng củaCNTT Ứng dụng CNTT là quá trình đưa CNTT vào các lĩnh vực KTXHnhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của cácnguồn lực trong từng lĩnh vực, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh

và hiện đại hoá các ngành kinh tế, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ độnghội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân, tạo khảnăng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH Hay nói

Trang 40

một cách khác, ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt độngthuộc lĩnh vực KT-XH, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khácnhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này [8].

1.2.1.2 Các điều kiện cần thiết để ứng dụng công nghệ thông tin

Ngày nay, CNTT được ứng dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống

KT-XH Ứng dụng CNTT là một nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triểnKT-XH, là phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách pháttriển so với các nước đi trước

CNTT hiện nay ở Việt Nam vẫn đang ở tình trạng lạc hậu, phát triểnchậm, có nguy cơ tụt hậu xa hơn so với nhiều nước trên thế giới và khu vực.Việc ứng dụng CNTT chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc CNH, HĐH

và yêu cầu về hội nhập khu vực và quốc tế, vai trò động lực và tiềm năng tolớn của CNTT chưa được phát huy mạnh mẽ; việc phát triển nguồn nhân lựcCNTT chưa được chuẩn bị kịp thời cả về số lượng và chất lượng, về chuyênmôn cũng như về ngoại ngữ; viễn thông và Internet cũng chưa thuận lợi, chưađáp ứng các yêu cầu về tốc độ, chất lượng và giá cước cho ứng dụng và pháttriển CNTT; đầu tư cho CNTT chưa đủ mức cần thiết; QLNN về lĩnh vực nàyvẫn phân tán và chưa hiệu quả, ứng dụng CNTT ở một số nơi còn hình thức,chưa thiết thực và còn lãng phí

Để khắc phục những hạn chế trên và tạo điều kiện ứng dụng CNTTmột cách có hiệu quả, cần hoàn thiện một số điều kiện cơ bản sau: xây dựng

và ban hành cơ chế, chính sách cho lĩnh vực CNTT; tạo dựng CSHT cho lĩnhvực CNTT; đào tạo đội ngũ nhân lực cho lĩnh vực CNTT Sau đây sẽ phântích từng điều kiện

- Điều kiện về cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước.

Để đẩy nhanh việc ứng dụng CNTT, Đảng và Nhà nước đã ban hànhnhiều chính sách tạo điều kiện cho CNTT phát triển trong mọi ngành nghề vàmọi lĩnh vực Tuy nhiên, để quá trình này diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ

Ngày đăng: 13/03/2022, 23:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w