1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

THIẾT kế hệ THỐNG bài tập môn TOÁN lớp 4 THEO HƯỚNG vận DỤNG TOÁN học

76 177 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 2,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò của việc vận dụng toán học vào thực tiễn [4] a Rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng kiến thức toán học vào thực tiễn là phù hợp với xu hướng phát triển chung của thế giới và

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂN TRÀO KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

TÊN ĐỀ TÀI: THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP MÔN TOÁN LỚP 4 THEO HƯỚNG VẬN DỤNG

TOÁN HỌC VÀO GIẢI QUYẾT CÁC

TÌNH HUỐNG THỰC TIỄN

Trang 2

Tuyên Quang, 2022

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂN TRÀO KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

TÊN ĐỀ TÀI: THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP MÔN TOÁN LỚP 4 THEO HƯỚNG VẬN DỤNG

TOÁN HỌC VÀO GIẢI QUYẾT CÁC

Trang 3

Tuyên Quang, 2022

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan đề tài được tiến hành một cách công khai và minhbạch, dựa trên sự cố gắng và nỗ lực của bản thân em, cùng với sự giúp đỡ,hướng dẫn tận tình của cô giáo Nguyễn Hương Lan

Trong quá trình nghiên cứu, em có sử dụng tài liệu của một số nhà nghiên cứu và một số tác giả khác Tuy nhiên, đó chỉ là cơ sở để em rút ra những vấn đề cần tìm hiểu ở đề tài của mình

Khóa luận này là kết quả của riêng cá nhân em, đảm bảo tính trung thực, không sao chép hay sử dụng kết quả của bất kỳ công trình nào đã được công bố trước đây Những điều em nói trên là hoàn toàn đúng với sự thật Nếu phát hiện có sự sao chép, em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm và kỷ luật từphía nhà trường

Tuyên Quang, ngày tháng năm 2022

Sinh viên

Nguyễn Thị Kiều Linh

Lớp đại học Tiểu học K5 (khóa 2018 – 2022)

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới các thầy, cô giáo trường Đại học Tân Trào và Khoa Giáo dục Tiểu học đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy cho em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, rèn luyện tại đây

Em xin chân thành cảm ơn ThS Nguyễn Hương Lan - người đã tận tìnhhướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận để em có thể hoàn thành một cách tốt nhất

Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu và các thầy cô trường Tiểu học An Tường, Tiểu học Phan Thiết, tại thành phố Tuyên Quang; trườngTiểu học Phú Lâm – phường Mỹ Lâm – thành phố Tuyên Quang và trường Tiểu học Hợp Thành – Sơn Dương; trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và THCS Quý Quân – Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang đã tạo điều kiện giúp

đỡ em trong thời gian thực hiện đề tài này

Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn đồng hành và tiếp sức cho con trong suốt quá trình làm khóa luận để đạt được kết quả ngày hôm nay

Em xin chân thành cảm ơn!

Tuyên Quang, ngày tháng năm 2022

Sinh viên

Trang 5

Nguyễn Thị Kiều Linh

Lớp đại học Tiểu học K5 (khóa 2018 – 2022)

Trang 7

MỤC LỤC CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 VẤN ĐỀ BÀI TOÁN THỰC TIỄN VÀ VẬN DỤNG TOÁN HỌC VÀOTHỰC TIỄN ………

1.1.1 Một số khái niệm

1.1.2 Nguồn gốc thực tiễn của toán học [15]

1.1.3 Vai trò của việc vận dụng toán học vào thực tiễn [4]

a) Rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng kiến thức toán học vào thực tiễn là phù hợp với xu hướng phát triển chung của thế giới và thực tiễn Việt Nam

b) Rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng toán học vào thực tiễn là một yêu cầu có tính nguyên tắc góp phần phản ánh được tinh thần và sự phát triển theo hướng ứng dụng của toán học hiện đại

c) Rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng toán học vào thực tiễn đáp ứng yêucầu mục tiêu bộ môn Toán và có tác dụng tích cực trong việc dạy học Toán1.2 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ GIÁO DỤC Ở TIỂU HỌC

1.2.1 Định hướng chính trong đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học [3] 1.2.2 Định hướng đổi mới đánh giá kết quả giáo dục tiểu học [11]

1.3 MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG MÔN TOÁN Ở TIỂU HỌC

1.3.1 Mục tiêu chương trình môn Toán

1.3.2 Nội dung chương trình môn Toán ở tiểu học

1.3.3 Nội dung môn Toán lớp 5

1.4 ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ CỦA HỌC SINH CUỐI CẤP TIỂU HỌC

1.5 PHÂN TÍCH YẾU TỐ THỰC TIỄN TRONG SGK TOÁN 5

Trang 8

1.6 THỰC TRẠNG VIỆC LIÊN HỆ TOÁN HỌC VỚI THỰC TIỄN

TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC HIỆN NAY

1.6.1 Mục đích khảo sát

1.6.2 Đối tượng khảo sát

1.6.3 Nội dung khảo sát

1.6.4 Phương pháp điều tra

1.6.5 Kết quả khảo sát

Tiểu kết chương 1

CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ BÀI TẬP TOÁN LỚP 5 THEO

HƯỚNG VẬN DỤNG TOÁN HỌC VÀO GIẢI QUYẾT

CÁC TÌNH HUỐNG THỰC TIỄN

2.1 NGUYÊN TẮC THIẾT KẾ BÀI TẬP VẬN DỤNG TOÁN HỌC VÀO GIẢI QUYẾT CÁC TÌNH HUỐNG THỰC TIỄN

2.2 QUY TRÌNH THIẾT KẾ BÀI TẬP MÔN TOÁN LỚP 5 THEO HƯỚNG VẬN DỤNG TOÁN HỌC VÀO GIẢI QUYẾT CÁC TÌNH HUỐNG THỰC TIỄN

2.3 THIẾT KẾ BÀI TẬP MÔN TOÁN LỚP 5 THEO HƯỚNG VẬN DỤNGTOÁN HỌC VÀO GIẢI QUYẾT CÁC TÌNH HUỐNG THỰC TIỄN

2.3.1.Số học

2.3.2 Đại lượng và đo đại lượng

Tiểu kết chương 2

3.1 KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH KHẢO NGHIỆM

3.1.1 Mục đích khảo nghiệm

3.1.2 Đối tượng khảo nghiệm

Trang 9

3.1.3 Thời gian khảo nghiệm

3.1.4 Phương pháp khảo nghiệm

3.2 KẾT QUẢ KHẢO NGHIỆM

3.3 NHẬN XÉT CHUNG

Bảng 1.1: Nội dung môn Toán lớp 5

Bảng 1.2: Yếu tố thực tiến trong phần hình thành kiến thức mới

của sách giáo khoa Toán 5

Bảng 1.3 Sự cần thiết của việc thiết kế hệ thống bài tập môn Toán lớp 5 theo hướng vận dụng toán học vào giải quyết các tình huống thực tiễn

Bảng 1.4 Mức độ sử dụng hệ thống bài tập môn Toán lớp 5 theo hướng vận dụng toán học vào giải quyết các tình huống thực tiễn

Bảng 1.5 Ứng dụng nội dung các bài toán khi thiết kế thiết kế hệ thống bài tập môn Toán lớp 5 theo hướng vận dụng toán học vào giải quyết các tình huống thực tiễn

Bảng 1.6 Những khó khăn để thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập môn Toán lớp 5 theo hướng vận dụng toán học vào giải quyết các tình huống thực tiễn

Bảng 3.1 Sự hợp lý của việc thiết kế hệ thống bài tập được phân theo các mạch nội dung kiến thức

Trang 10

Bảng 3.2 Mức độ phù hợp của quy trình 4 bước thiết kế hệ thống bài tậpvận dụng toán học vào giải quyết các tình huống thực tiễn.

Bảng 3.3 Sự phù hợp của hệ thống bài tập với nội dung chương trình Toán 5

Bảng 3.4 : Sự hợp lý của nguyên tắc mà chúng tôi đề ra khi thiết kế hệ thống bài tập

Bảng 3.5 : Sự phù hợp của hệ thống bài tập với nguyên tắc đề ra

Bảng 3.6 : Mức độ hợp lý của việc áp dụng các tình huống vào các nội dung kiến thức

Bảng 3.7 : Sự hợp lý trong ngôn ngữ sử dụng khi thiết kế bài tập

Bảng 3.8 : Tính khả thi của hệ thống bài tập

DANH MỤC VIẾT TẮT

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Toán học có liên hệ mật thiết với thực tiễn và có ứng dụng rộng rãi trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học, công nghệ cũng như trong sản xuất và đời sống Với vai trò đặc biệt, Toán học trở nên thiết yếu đối với mọi ngành khoa học, góp phần làm cho đời sống xã hội ngày càng hiện đại vàvăn minh hơn Bởi vậy, việc rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng kiến thức Toán học vào thực tiễn là điều cần thiết đối với sự phát triển của xã hội

và phù hợp với mục tiêu của giáo dục Toán học

Việc vận dụng toán học vào thực tiễn là vấn đề luôn được các nhà giáodục quan tâm, nghiên cứu Tại một số quốc gia trên thế giới như Phần Lan,Thụy Điển,… luôn chú trọng dạy toán học trong thực tiễn, tức là đưa ra yêucầu vận dụng toán học vào thực tiễn để xây dựng và lựa chọn hệ thống kiếnthức cần giáo dục Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay, vấn đề ứng dụng toán họcvào giải quyết các tình huống thực tiễn vẫn chưa được đề cao, chương trìnhcòn nghiêng về dạy học lý thuyết là chủ yếu và khả năng vận dụng vào thựctiễn thì chưa được chú trọng làm nổi bật

Trang 12

Nghị quyết số 29 – NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã xác định quanđiểm định hướng : “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lí luận gắn liền với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” [1] Điều cần nhìn nhận ở

định hướng này là quan điểm giáo dục phát triển năng lực, đây là định hướngmang tính lí luận dạy học hiện đại, phù hợp với quan điểm định hướng đổimới giáo dục ở Việt Nam Điều này cho thấy nền giáo dục Việt Nam đã vàđang từng bước học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm từ các quốc gia trên thế giới để

có những chuyển biến tốt đẹp trong sự ngiệp đổi mới giáo dục

Ở bậc tiểu học, môn Toán là một môn học đóng vai trò hết sức quan trọng Các kiến thức, kỹ năng mà môn Toán cung cấp là cần thiết đối với mỗi người trong cuộc sống hằng ngày; là công cụ để hỗ trợ các em học những môn học khác ở tiểu học và chuẩn bị cho việc học tốt môn Toán ở bậc trung học Môn học này còn giúp học sinh nhận biết các mối quan hệ về số lượng

và hình dạng không gian của thế giới hiện thực, nhờ đó mà học sinh có

phương pháp nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh; biết cách hoạt động có hiệu quả trong đời sống và góp phần rất lớn trong việc rèn luyện tư duy, suy luận để giải quyết vấn đề Chính vì vậy, khi học, mỗi cá nhân cần phải vận dụng các tri thức toán học vào thực tiễn và luôn trau rồi năng lực vậndụng và thực hành vào cuộc sống phục vụ tương lai

Ở bậc tiểu học, môn Toán giúp học sinh hiểu được một cách có hệ thống những khái niệm, nguyên lí, quy tắc toán học cần thiết nhất cho tất cả mọi người, làm nền tảng cho việc học tập ở các trình độ học tập tiếp theo hoặc

có thể sử dụng trong cuộc sống hằng ngày Tuy nhiên, vẫn chưa thực sự có hoạt động dạy học tập trung vào khả năng ứng dụng này Thực tế dạy học toán ở tiểu học hiện nay còn nặng về kiến thức và kĩ năng, chưa có nhiều các bài tập vận dụng vào cuộc sống để HS vận dụng môn học này vào giải quyết các vấn đề thực tiễn HS được học các kiến thức về số học, đại lượng và đo đại lượng, các yếu tố hình học, giải toán có lời văn, được thực hành - luyện

Trang 13

tập các kỹ năng xoay quanh các mặt kiến thức toán học đã học nhưng khi áp dụng vào các tình huống trong thực tiễn cuộc sống thì các em rất lúng túng

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này Một trong những nguyên nhân

đó là GV và HS chưa được trang bị những phương tiện hỗ trợ hiệu quả cho việc dạy và học ứng dụng tri thức toán vào cuộc sống Vì vậy tôi chọn đề tài: “Thiết kế hệ thống bài tập môn Toán lớp 4 theo hướng vận dụng toán học vào giải quyết các tình huống thực tiễn”.

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề từ đó đề xuất một số biện pháp giúp GV Tiểu học xây dựng hệ thống bài tập môn toán lớp 4 theo hướng vận dụng toán học vào giải quyết các tình huống thực tiễn, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn toán cho học sinh lớp 4

3 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình vận dụng toán học vào giải quyết các tình huống thực tiễn môn Toán lớp 4

4 Phạm vi nghiên cứu

Những bài tập môn toán theo hướng vận dụng toán học trong giải quyếtcác tình huống thực tiễn, thuộc phạm vi chương trình môn toán lớp 4 ở bậc Tiểu học

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu và những vấn

đề có liên quan nhằm xác lập cơ sở lý luận của đề tài

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: quan sát, điều tra, trao đổi, lấy ý kiến chuyên gia, nghiên cứu sản phẩm giáo dục, thực nghiệm sư phạm nhằm chứng minh cho giả thuyết khoa học và tính đúng đắn của đề tài

- Phương pháp phỏng vấn, điều tra dùng để phỏng vấn giáo viên Tiểu học về vấn đề vận dụng toán học vào thực tiễn

Trang 14

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 VẤN ĐỀ BÀI TOÁN THỰC TIỄN VÀ VẬN DỤNG TOÁN HỌC VÀO THỰC TIỄN

1.1.1 Một số khái niệm

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Thực tiễn” là “những hoạt động của con người, trước hết là lao động sản xuất, nhằm tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của xã hội”

Từ đó suy ra thực tiễn trong toán học là toàn bộ những hoạt động của con người cần vận dụng toán học để tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của xã hội trước hết là bao gồm hoạt động sản xuất

Từ thực tiễn trong toán học ta có tạo ra bài toán thực tiễn thông qua các tình huống thực tiễn cụ thể

Theo Nguyễn Bá Kim [10, tr.183]: một tình huống là một hệ thống phức tạp bao gồm chủ thế và khách thể, trong đó chủ thể có thể là người còn khách thể là một hệ thống nào đó Một tình huống mà khách thể tồn tại ít nhất một phần tử chưa biết, được gọi là tình huống bài toán đối với chủ thể Đứng trướcmột tình huống, chủ thể đặt ra mục đích tìm phần tử chưa biết, dựa vào các phần tử khác của khách thể thì có một bài toán đối với chủ thể

Trang 15

1.1.2 Nguồn gốc thực tiễn của toán học [15]

Toán học có nguồn gốc từ các hoạt động thực tiễn hàng ngày Với sự xuất hiện của phép biện chứng duy vật, Max và Ph.Ăngghen đã chứng minh rằng khoa học, trong đó có toán học, không những phát minh mà còn luôn phát triển liên tục dựa trên một nền tảng vật chất xác định; đó là thực tiễn của đời sống, của những hoạt động sản xuất, là cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội và những vấn đề của khoa học Khẳng định này hoàn toàn được kiểm chứng bởi lịch sử và sự phát triển của toán học Các bằng chứng khảo cổ học cho thấy, ngoài việc biết đếm những vật thể vật lý, con người thời tiền sử có thể cũng đã biết đếm những đại lượng trừu tượng như thời gian - ngày, mùa,

và năm Đến khoảng năm 3000 trước Tây lịch thì toán học phức tạp hơn mới xuất hiện, khi người Babylon và người Ai Cập bắt đầu sử dụng số học, đại số,

và hình học trong việc tính thuế và những tính toán tài chính khác, trong xây dựng, và trong quan sát thiên văn Hệ thống số của Babylon và Ai Cập cổ đại

là kết quả của quá trình đếm những sự vật khi họ xây kim tự tháp, xây dựng

hệ thống số, v.v Các phép tính số học căn bản trong toán học

Babylon (cộng, trừ, nhân, và chia) xuất hiện đầu tiên trong các tài liệu khảo

cổ Giữa năm 600 đến 300 trước Tây lịch, người Hy Lạp cổ đã bắt đầu nghiêncứu một cách có hệ thống về toán học như một ngành học riêng, hình thành nên toán học Hy Lạp Sau hàng nghìn năm trôi qua kể từ khi toán học ra đời,

có một số giai đoạn quan trọng như ở Ý thế kỷ 16, nơi đại số được sử dụng để

mô tả chuyển động và tốc độ; hoặc ở Anh thế kỷ 17, với phát minh của

Newton về phép tính vi phân, đơn giản hóa các phương trình liên quan đến các biểu thức như dy / dx trong đó y biểu diễn một hàm chưa biết thành một phương trình duy nhất theo x;…

Thời kỳ Phục hưng, sự phát triển mạnh mẽ của kỹ nghệ và sự hình thành quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đòi hỏi phải phát triển cơ học và ngành này đã thúc đẩy phải hoàn chỉnh phép tính vi phân và tích phân Trong thế kỷ XVIII toán học chủ yếu nhằm giải quyết yêu cầu của cơ học Từ nửa đầu thế kỷ XIX kỹ thuật cơ khí phát triển dựa vào động cơ hơi nước Vấn đề nâng cao năng suất của máy đưa vật lý lên hàng đầu Toán học cần phát triển

để giải quyết những vấn đề về nhiệt, điện động, quang, đàn hồi, từ trường của trái đất Nhờ đó kho tàng toán học được bổ sung nhiều kết quả quan trọng

về giải tích, phương trình vi phân, phương trình đạo hàm riêng, hàm phức, đại

số Kể từ đó toán học đã phát triển vượt bậc; sự tương tác giữa toán học và khoa học đã đem lại nhiều thành quả và lợi ích cho cả hai

Ngày nay, những phát minh toán học mới vẫn tiếp tục xuất hiện làm cho toán học ngày càng đa dạng hơn Chúng ta biết rằng những kiến thức toánhọc đầu tiên của loài người về số học, hình học, tam giác lượng v.v đều bắt nguồn từ nhu cầu của thực tiễn Toán học lấy thực tiễn là nguồn động lực mạnh mẽ và mục tiêu phục vụ cuối cùng Xã hội càng phát triển, nhu cầu tính toán càng phức tạp hơn Toán học là nền tảng cho tất cả các ngành khoa học

tự nhiên khác Có thể nói mỗi cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đều gây nên

Trang 16

những biến đổi sâu sắc trong toán học và ngược lại những biến đổi này cũng tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của khoa học kỹ thuật.

1.1.3 Vai trò của việc vận dụng toán học vào thực tiễn [4]

a) Rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng kiến thức toán học vào thực tiễn là phù hợp với xu hướng phát triển chung của thế giới và thực tiễn Việt Nam

Có tầm nhìn rõ ràng về việc ứng dụng tri thức toán học vào thực tế cuộc sống, học để áp dụng kiến thức toán học vào thực tế là phù hợp với xu thế phát triển của toàn cầu và Việt Nam Thế giới hiện đã bước vào nền kinh tế tri thức, chuyển đổi số và kết nối toàn cầu Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học côngnghệ, người lao động buộc phải ham tư duy, sẵn sàng hành động, linh hoạt trong công việc và thích ứng với cộng đồng; đặc biệt là các em học sinh, nên học hỏi, nghiên cứu thường xuyên để có cơ sở lý luận khi đối mặt với các vấn đề thực tiễn Vì vậy, trong giáo dục phải giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực thích ứng, năng lực hành động, năng lực sống và làm việc theo nhóm, năng lực

tự học

Với mục tiêu đưa việc dạy Toán ngày càng hiệu quả, tăng hứng thú học Toán của học sinh và coi Toán học là môn học nền tảng chính, đề cao tính ứng dụng của môn Toán, Bộ giáo dục và đào tạo Việt Nam đã thực hiện và điều chỉnh cải cách giáo dục - trên cơ sở xuất phát từ yêu cầu cụ thể của đất nước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phù hợp với xu hướng đổi mới môn Toán trong trường phổ thông trên thế giới và những điều kiện cụthể của giáo dục Việt Nam - Chương trình môn Toán đã có nhiều đổi mới,

trong đó đặc biệt chú ý tới việc tăng cường và làm rõ mạch Toán ứng dụng và

ứng dụng toán học.

Trong những quan điểm được đưa ra làm căn cứ xác định mục tiêu môn Toán, có nêu: "Phải lựa chọn những nội dung kiến thức toán học cốt lõi, giàu tính ứng dụng, đặc biệt là ứng dụng vào thực tiễn Việt Nam"

Toán học có liên hệ mật thiết với thực tiễn và có ứng dụng rộng rãi trongrất nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học, công nghệ cũng như trong sản xuất và đời sống Với vai trò đặc biệt, Toán học trở nên thiết yếu đối với mọi

Trang 17

ngành khoa học, góp phần làm cho đời sống xã hội ngày càng hiện đại và văn minh hơn Bởi vậy, việc rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng kiến thức Toán học vào thực tiễn là điều cần thiết đối với sự phát triển của xã hội và phù hợp với mục tiêu của giáo dục Toán học.

Rõ ràng rằng, việc rèn luyện kỹ năng vận dụng toán học vào thực tiễn hoàn toàn phù hợp và có tác dụng tích cực trong hoàn cảnh giáo dục của nước ta

b) Rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng toán học vào thực tiễn là một yêu cầu có tính nguyên tắc góp phần phản ánh được tinh thần và sự phát triển theo hướng ứng dụng của toán học hiện đại

Đại hội đại biểu toàn Quốc lần thứ IV của Đảng đã nêu ra nguyên lý

"Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội" Hồ Chủ Tịch đã nhiều lần nhấn mạnh: "Các cháu học sinh không nên học gạo, không nên học vẹt Học phải suy nghĩ, phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành Học và hành phải kết hợp với nhau",

"phương châm, phương pháp học tập là lí luận liên hệ với thực tế" Đồng chí Trường Chinh cũng đã nêu: "Dạy tốt là khi giảng bài phải liên hệ với thực tiễn, làm cho học sinh dễ hiểu, dễ nhớ và có thể áp dụng điều mình đã học vàocông tác thực tiễn được Bằng đồ dùng để dạy, chỉ cho học sinh thấy tận mắt,

sờ tận tay ", "Học tốt là học sinh phải gắn liền với hành, với lao động".Trong dạy học Toán, để thực hiện nguyên tắc kết hợp lí luận với thực tiễn, cần:

+) Đảm bảo cho học sinh nắm vững kiến thức toán học để có thể vận dụng chúng vào thực tiễn

+) Chú trọng nêu các ứng dụng của toán học vào thực tiễn

+) Chú trọng đến các kiến thức toán học có nhiều ứng dụng trong thực tiễn.+) Chú trọng rèn luyện cho học sinh có những kỹ năng toán học vững chắc

+) Chú trọng công tác thực hành toán học trong nội khóa cũng như ngoại khóa

Trang 18

Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng, giảng dạy toán học không nên xa rời với thực tiễn.

Tăng cường và làm rõ mạch Toán ứng dụng và ứng dụng toán học là gópphần thực hiện Nguyên tắc kết hợp lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với đời sống

Trong thư gửi các bạn trẻ yêu toán, thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhấn mạnh: “Dù các bạn phục vụ ở ngành nào, trong công tác nào, thì các kiến thức

và phương pháp toán cũng cần cho các bạn” “Toán học có vai trò quan trọng trong khoa học công nghệ cũng như trong đời sống”

Theo Ngô Hữu Dũng: Ứng dụng toán học vào thực tế là một trong những năng lực toán học cơ bản, cần phải rèn luyện cho học sinh

V V Firsôv khẳng định: "Việc giảng dạy Toán ở trường phổ thông không thể không chú ý đến sự cần thiết phải phản ánh khía cạnh ứng dụng củakhoa học toán học, điều đó phải được thực hiện bằng việc dạy cho học sinh ứng dụng toán học để giải quyết các bài toán có nội dung thực tế"

c) Rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng toán học vào thực tiễn đáp ứng yêu cầu mục tiêu bộ môn Toán và có tác dụng tích cực trong việc dạy học Toán

Đặc điểm Toán học ngày càng có nhiều ứng dụng trong cuộc sống,

những kiến thức và kĩ năng toán học cơ bản đã giúp con người giải quyết các vấn đề trong thực tế cuộc sống một cách có hệ thống và chính xác, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển Môn Toán ở trường phổ thông góp phần hình thành

và phát triển các phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và năng lực toán học chohọc sinh; phát triển kiến thức, kĩ năng then chốt và tạo cơ hội để học sinh được trải nghiệm, vận dụng toán học vào thực tiễn; tạo lập sự kết nối giữa các

ý tưởng toán học, giữa Toán học với thực tiễn, giữa Toán học với các môn học và hoạt động giáo dục khác Nội dung môn Toán thường mang tính logic, trừu tượng, khái quát Do đó, để hiểu và học được Toán, dạy học Toán ở trường phổ thông nói chung cần bảo đảm sự cân đối giữa “học” kiến thức và

“vận dụng” kiến thức vào giải quyết vấn đề cụ thể

Thực tế ngày nay, mục tiêu và chương trình dạy học bộ môn Toán đã có những thay đổi Đại hội đại biểu toàn Quốc lần thứ IV của Đảng đã nêu rõ:

"Mục tiêu của cải cách giáo dục là đào tạo có chất lượng những người lao động

Trang 19

mới, trên cơ sở đó đào tạo và bồi dưỡng với quy mô ngày càng lớn đội ngũ công nhân kỹ thuật và cán bộ quản lí, cán bộ khoa học, kỹ thuật và nghiệp vụ" Trong báo cáo chính trị của Trung ương Đảng đọc tại Đại hội cũng đã phân tích nội dung tổng quát của chất lượng đào tạo thế hệ trẻ: "Đào tạo có chất lượng những người lao động mới có ý thức và đạo đức xã hội chủ nghĩa, có trình độ văn hóa phổ thông và hiểu biết kỹ thuật, có kỹ năng lao động cần thiết, có óc thẩm mĩ, cósức khỏe tốt".

Trong thực tế dạy học ở trường phổ thông, một vấn đề nổi lên là giáo viên chỉ quan tâm, chú trọng việc hoàn thành những kiến thức lí thuyết quy định trong Chương trình và Sách giáo khoa; mà quên, sao nhãng việc thực hành, không chú tâm dạy bài tập Toán cho các em, đặc biệt những bài toán cónội dung thực tiễn, dẫn đến tình trạng học sinh thường lúng túng, thậm chí không làm hoàn chỉnh được những bài toán thực ra rất cơ bản và ở mức độ trung bình Học sinh gặp nhiều khó khăn trong việc vận dụng kiến thức toán học vào cuộc sống Theo Trần Kiều, việc dạy học Toán hiện nay ''đang rơi vào tình trạng coi nhẹ thực hành và ứng dụng toán học vào cuộc sống''

Trong thực tiễn lao động sản xuất, hoạt động xã hội, việc tính toán đo đạc với độ chính xác cần thiết thường xảy ra từng giờ, từng phút; phải biết vận dụng toán học như tính nhẩm, tính bằng bảng tính, thước tính, bảng đồ thị, toán đồ, máy tính một cách thành thạo và đúng đắn Ngoài ra, cần giải quyết nhiều vấn đề trong thực tiễn với phương pháp hợp lí, ngắn gọn, tiết kiệm tư duy, thời gian, tiền của và sức lao động Việc vận dụng toán học vào thực tiễn cũng như tập dượt nghiên cứu khoa học trong đó có các hoạt động như: thu thập tài liệu trong thực tế, mò mẫm, dùng quy nạp không hoàn toàn

để dự kiến quy luật, rồi dùng quy nạp toán học để chứng minh tính đúng đắn của các quy luật dự kiến; thu thập tài liệu thống kê trong sản xuất, quản lí kinh tế trong xã hội để tìm quy luật chung

Chính vì vậy, vấn đề rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng toán học vào thực tiễn có vai trò hết sức quan trọng và góp phần phát triển cho học

Trang 20

sinh những năng lực trí tuệ, những phẩm chất, tính cách, thái độ tốt, đáp ứng yêu cầu mới của xã hội lao động hiện đại.

1.2 Đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả giáo dục ở tiểu học

Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và Cuộc cách mạng xã hội đã thôi thúc các quốc gia trên thế giới quan tâm đến việc đầu tư, xây dựng một nền giáo dục đáp ứng kịp thời các yêu cầu cấp thiết của chúng Để phát triển giáo dục, nhiều nước đã đề ra khẩu hiệu “hãy cứu lấy nền kinh tế bằng giáo dục” và giáo dục đã trở thành quốc sách hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới Chính vì vậy, nhu cầu đổi mới nền giáo dục ngày càng trở nên mạnh mẽ

1.2.1 Định hướng chính trong đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học [3]

a) Đổi mới PPDH theo hướng phát huy cao độ tính tích cực chủ động sáng tạo của HS trong quá trình lĩnh hội tri thức

Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ

và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học;phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức,

kỹ năng, phát triển năng lực” Trong các yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượnggiáo dục đào tạo có yếu tố tính tích cực của người học

Tính tích cực là một đặc điểm vốn có của con người Tính tích cực tronghọc tập là yếu tố ảnh hướng trực tiếp đến kết quả học tập của người học, cũng như kết quả giảng dạy của giáo viên Tính tích cực là ý thức tự giác, là

sự kiên trì vượt qua khó khăn trong học tập, là sự xác định đúng đắn mục đích, động cơ, thái độ trong học tập Tính tích cực là một hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả

Trang 21

học tập Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “lấy tự học làm cốt” Con người không chỉ là khách thể mà còn là chủ thế của các quan hệ xã hội, thể hiện ở chỗ tích cực tiếp thu có chọn lọc tất cả những tác động bên ngoài để sáng tạo

và xây dựng nhân cách riêng của mình Nguồn gốc của tính tích cực là nhu cầu Con người sinh ra cùng với một loạt nhu cầu bẩm sinh khác nhau, thí dụ nhu cầu ăn, uống và sau đó xuất hiện nhu cầu xã hội Những nhu cầu này không bao giờ cạn và luôn trở thành động cơ thúc đẩy con người hoạt động học tập

Do đó để phát huy tính tích cực của người học sẽ có sự thay đổi vai trò người dạy và người học nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học nhằmđáp ứng được yêu cầu dạy học trong giai đoạn phát triển mới

Tính tích cực của HS trong quá trình lĩnh hội kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo được thể hiện từ cấp độ thấp nhất đến cấp độ cao nhất như sau :

Bắt chước: Tính tích cực thể hiện ở sự cố gắng làm theo mẫu hành động,thao tác, cử chỉ hành vi hay nhắc lại những gì trải qua

Tìm hiểu và khám phá: tính tích cực thể hiện ở sự chủ động hoặc ý muốnhiểu thấu đáo vấn đề nào đó để sau đó có thể tự giải quyết vấn đề

Sáng tạo: tính tích cực thể hiện ở khả năng linh hoạt và hiệu quả trong giải quyết vấn đề

Trong quá trình dạy học, GV là chủ thể tổ chức, điều khiển và HS là chủ thể hoạt động học tích cực, chủ động và sáng tạo GV phải cải tiến không ngừng PPDH và giúp HS cải tiến phương pháp học Những tri thức đã học sẽ tạo ra một trình độ ở người học, GV phải dựa vào đó để hướng dẫn HS phát triển lên một trình độ mới

b) Đổi mới PPDH theo hướng tăng cường kĩ năng thực hành

Mục đích cuối cùng của quá trình dạy học là tạo ra năng lực thực tiễn cho người học Đổi mới theo hướng này có nghĩa là:

- HS được thao tác hành động thực tế

- HS học qua các tình huống thực tiễn cuộc sống

- HS giải thích được thực tiễn bằng các lý thuyết đã học

Trang 22

- HS được thực hành trao đổi, phối hợp, hợp tác trong nhóm.

- HS được rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong nói và viết

- HS được rèn kĩ năng cùng chung sống

- HS được đi vào cuộc sống thực để có kinh nghiệm thực tế

1.2.2 Định hướng đổi mới đánh giá kết quả giáo dục tiểu học [11]

Đánh giá kết quả giáo dục tiểu học cần phải thay đổi để đáp ứng mục tiêu giáo dục mới và tạo động lực cho sự thay đổi của toàn bộ quá trình giáo dục Đổi mới đánh giá kết quả giáo dục có thể theo những định hướng chính sau:

a) Kết hợp đánh giá quá trính và đánh giá tổng kết, trong đó lấy đánh giá quá trình là chính

Ở lứa tuổi tiểu học, học sinh vẫn trong giai đoạn học tập kết hợp vui chơi Khối lượng tri thức học không nhiều nhưng giai đoạn này lại giúp các

em hình thành nên những tri thức mới, cơ bản nhất, làm cơ sở vững chắc để học sinh học tập ở những cấp học cao hơn Đánh giá kết quả giáo dục của họcsinh thường được kết hợp cả đánh giá quá trình thường xuyên, đánh giá định

kỳ và đánh giá tổng kết

Đánh giá thường xuyên kết quả giáo dục của học sinh được thực hiện mọi lúc, mọi nơi (hàng giờ, hàng ngày, ở mọi thời điểm) trong đó mọi hoạt động học tập, sinh hoạt, vui chơi của học sinh nhằm giúp học sinh kịp thời cảithiện thành tích, đạt đến mục tiêu giáo dục đã đặt ra

Đánh giá kết quả giáo dục định kì được thực hiện sau một giai đoạn dạyhọc hoặc sau khi học sinh học xong một chủ đề, một phần của môn học nhằm xác định mức độ tổng hợp kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm của học sinh sau khi học xong một giai đoạn chủ đề, phần,… đó

Đánh giá tổng kết thường được thực hiện thông qua kiểm tra cuối học kì

và cuối năm học nhằm đánh giá mực độ tổng hợp kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm của học sinh sau một giai đoạn học tập Việc đánh giá vào một thời điểm với một số nội dung chọn lựa sẽ không thể đảm bảo bao hàm hết được

Trang 23

những gì mà học sinh có và không thể đưa ra kết luận chính xác về sự phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh.

Nhiệm vụ quan trọng của việc đánh giá kết quả giáo dục không chỉ dừng

ở việc xem học sinh đạt ở mức độ nào so với mục tiêu giáo dục mà còn để giáo viên thấy học sinh gặp khó khăn và có thể làm gì giúp các em phát triển, học tốt hơn và giúp học sinh tự thấy mức độ mình đã đạt được và cách khắc phục hạn chế nhằm cải thiện thành tích Nếu nhiều nội dung, dù là rất nhỏ, học sinh không thể nắm bắt tốt thì các em sẽ gặp khó khăn trong việc lĩnh hội những nội dung sau đó Để mất những nội dung nền tảng trong quá trình học chắc chắn khi đánh giá định kì và đánh giá tổng kết thì học sinh sẽ có khó có kết quả cao được

Do vậy, đánh giá kết quả giáo dục trong quá trình có tầm quan trọng cao hơn nhiều so với đánh giá định kì và đánh giá tổng kết

b) Kết hợp linh hoạt giữa đánh giá bằng điểm số và đánh giá bằng nhận xét

Theo thông tư 27/2020/TT-BGDĐT, nội dung đánh giá học sinh tiểuhọc bao gồm: đánh giá quá trình học tập, sự tiến bộ và kết quả học tập củahọc sinh đáp ứng yêu cầu cần đạt và biểu hiện cụ thể về các thành phần nănglực của từng môn học, hoạt động giáo dục theo chương trình giáo dục phổthông cấp tiểu học và đánh giá sự hình thành và phát triển phẩm chất, nănglực của học sinh thông qua những phẩm chất chủ yếu cùng những năng lựccốt lõi Để đánh giá được sự tiến bộ cũng như kết quả học tập của học sinhtrong cả quá trình học tập, người dạy phải kết hợp linh hoạt giữa đánh giábằng điểm số và đánh giá bằng nhận xét

Nhiều giáo viên cho rằng kết hợp đánh giá bằng điểm số và nhận xét sẽ phát huy năng lực, giúp thay đổi thái độ học tập của học sinh, nhất là đối với các môn học ít hấp dẫn người học Tuy nhiên đánh giá bằng điểm số và đánh giá bằng nhận xét đều có những mặt mạnh và mặt hạn chế Học sinh tiểu học chưa có đủ năng lực để tự nhận biết được những hạn chế là nguyên nhân dẫn đến những sai sót khi thực hiện các nhiệm vụ học tập Song, ở độ tuổi tiểu học, học sinh đang dần quen với các hoạt động học tập và đang tích cực tích

Trang 24

lũy các khái niệm cơ bản về sự vật, hiện tượng và các mối quan hệ giữa

chúng Vì vậy, việc giúp học sinh biết về những nội dung chưa chính xác và đưa ra những chỉ dẫn cần thiết để học sinh hiểu rõ hơn, thấy được sự logic củavấn đề là điều quan trọng Với thời gian và kinh nghiệm tích lũy được, học sinh có thể tự xem xét và đánh giá được về những nội dung đúng, những nội dung chưa đúng do chính mình đã thực hiện

c) Thay đổi trong vấn đề đánh giá về học lực

Kết quả học lực không nói được gì nhiều về những năng lực vượt trội hoặc những khó khăn mà học sinh gặp phải Mặt khác, khi nhận được kết luận

về mức độ học lực sẽ làm cho học sinh, phụ huynh, cũng như là giáo viên các lớp tiếp nhận học sinh dễ có mặc định về mức độ mà học sinh có thể đạt được

ở mọi lĩnh vực giáo dục trong cả quá trình học tập

Thay đổi trong vấn đề đánh giá về học lực được đánh giá là điểm tiến bộ,theo hướng phát triển năng lực, ghi nhận những năng lực vượt trội của người học ở từng môn học Bởi quy trình đánh giá này sẽ giúp từng học sinh phát huy được thế mạnh của riêng mình

Trong thực tế, rất nhiều nguời khi trưởng thành đã làm việc và cống hiếnnhiều cho xã hội nhưng khi đi học lại “bị” đánh giá có học lực ở mức rất khiêm tốn Khi được đánh giá đúng mặt mạnh, học sinh sẽ thấy tự tin hơn và

có thể hãnh diện cùng các bạn, không tự ti nên sẽ tích cực tham gia học tập các lĩnh vực khác và có kết quả học tập chung tốt hơn Do đó, để đánh giá đúng những mặt mạnh của học sinh thì cần đánh giá khách quan, đúng kết quảgiáo dục mà học sinh đạt được trong mọi nội dung giáo dục

Bởi vậy, trong đánh giá kết quả giáo dục cần chú trọng nhiều hơn đến đánh giá kết quả của từng lĩnh vực giáo dục mà học sinh đạt được và không nên dựa vào trung bình cộng về điểm số để tính học lực

d) Thay đổi đánh giá về hạnh kiểm

Trong mỗi giai đoạn phát triển của con người, môi trường có một tác động riêng tới nhân cách, đạo đức và lối sống,… Ở lứa tuổi tiểu học, về cơ bản học sinh vẫn như tờ giấy trắng Môi trường gia đình, nhà trường và xã hội

Trang 25

có tác động lớn tới thái độ, hành vi của các em Việc HS tỏ thái độ tích cực hay tiêu cực, hành động tốt hay xấu phần lớn là do học được từ người lớn, thầy cô và bạn bè xung quanh Nếu môi trường xã hội nơi học sinh sống là trong sạch, lành mạnh thì chắc chắn đạo đức của các em sẽ tốt Tuy nhiên, môi trường xã hội bản chất rất phức tạp, không đồng nhất nên sự tác động lên học sinh cũng khác nhau Điều quan trọng là giáo dục phải tìm cách phát huy những điểm tốt và giảm thiểu, khắc phục những điểm tiêu cực tác động đến việc hình thành nhân cách học sinh Nhiệm vụ của đánh giá kết quả giáo dục

là phải chỉ ra được những điểm mạnh và hạn chế này để có hướng giáo dục tích cực, phù hợp

Việc đánh giá đạo đức con người chưa bao giờ là dễ dàng, đặc biệt là trong giai đoạn nhân cách chưa hoàn thiện của học sinh tiểu học lại càng khó khăn Do đó, trong mục tiêu giáo dục phổ thông giai đoạn hiện nay việc đánh giá về đạo đức học sinh sẽ được thực hiện thông qua đánh giá sự phát triển của phẩm chất Để đánh giá sự phát triển phẩm chất học sinh thì cần phải thựchiện đồng bộ việc đánh giá tất cả quá trình từ nhận thức, thái độ và hành động, trong đó chú trọng hành động của học sinh với tự nhiên, xã hội và bản thân Đó chính là những đổi mới căn bản của việc chuyển từ đánh giá hạnh kiểm sang đánh giá phẩm chất học sinh

e) Đổi mới về khen thưởng

Các nhà khoa học phát hiện ra rằng những lời khen ngợi thật sự có giá trị Có lẽ ai trong chúng ta cũng thích nhận những lời khen ngợi Chính vì vậy, khen thưởng luôn là một phần của đánh giá kết quả giáo dục Mục đích của việc khen thưởng là thể hiện sự ghi nhận về những cố gắng, nỗ lực học tập, lao động và rèn luyện của học sinh trong một giai đoạn giáo dục Việc được khen thưởng, ghi nhận kết quả học tập sẽ khiến học sinh có cảm giác tự hào về bản thân, nhờ đó các em sẽ có ý thức nỗ lực học tập và rèn luyện hơn nữa Khen thưởng đúng, khách quan sẽ tạo động lực phấn đấu cho học sinh Trước đây, học sinh sẽ được khen thưởng khi đạt học sinh giỏi (học lực đạt loại giỏi và hạnh kiểm tốt) ở cuối các học kì và cuối năm học hoặc có thành tích xuất sắc khác như đạt giải khi thi học sinh giỏi, thể thao, văn nghệ, tin học… Việc thay đổi cách đánh giá kết quả giáo dục từ việc tính học lực (điểm

số trung bình của tất cả các môn học) sang xem xét kết quả giáo dục ở từng lĩnh vực của học sinh và nhất là đánh giá giúp từng học sinh cải thiện thành tích cá nhân thì việc xét khen thưởng cũng cần thay đổi theo

Trang 26

Trước đây, giai đoạn trước năm 2016 thì học sinh cấp tiểu học đượckhen thưởng ở các danh hiệu: học sinh giỏi, học sinh tiên tiến,… Kể từ khi BộGiáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT có hiệu lực thihành từ 06/11/2016 sửa đổi, bổ sung Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT quy địnhđánh giá và xếp loại học sinh tiểu học thì ngành giáo dục đã chuyển từ việccho điểm sang đánh giá bằng nhận xét và việc khen thưởng cuối năm đượcchia thành 02 hạng mục đó là HS hoàn thành xuất sắc các nội dung học tập vàrèn luyện và HS có thành tích vượt trội hay tiến bộ vượt bậc về ít nhất mộtmôn học hoặc ít nhất một năng lực, phẩm chất được giáo viên giới thiệu vàtập thể lớp công nhận Theo đó, việc khen thưởng trong giấy khen đã khôngcòn các danh hiệu mà thay vào đó là những lời khen tặng, nhận xét dựa trên

sự tiến bộ của từng cá nhân học sinh Điều này dẫn đến việc thực tế hầu hếtcác em học sinh tiểu học đều nhận được giấy khen cuối năm với những nhậnxét như: “Nổi bật về phát triển phẩm chất”; “Hoàn thành tốt các môn tiểu học

và phát triển năng lực phẩm chất”; “Đạt thành tích nổi trội trong học tập”;

“Đạt thành tích trong rèn luyện và học tập”; “Đạt thành tích về phẩm chất,năng lực”;“Con hoàn thành tốt các môn về Mỹ thuật và Đạo đức”;…

Tuy nhiên, sau 4 năm áp dụng quy định thì hiện nay Bộ Giáo dục vàĐào tạo tiếp tục sửa đổi quy định về việc khen thưởng cho học sinhtheo Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT Cụ thể, Điều 13 quy định việc khen tặnggiấy khen cho học sinh cuối năm học đã nêu “Khen thưởng danh hiệu Họcsinh Xuất sắc cho những học sinh được đánh giá kết quả giáo dục đạt mứcHoàn thành xuất sắc; khen thưởng danh hiệu Học sinh Tiêu biểu hoàn thànhtốt trong học tập và rèn luyện cho những học sinh được đánh giá kết quả giáodục đạt mức Hoàn thành tốt, đồng thời có thành tích xuất sắc về ít nhất mộtmôn học hoặc có tiến bộ rõ rệt ít nhất một phẩm chất, năng lực; được tập thểlớp công nhận.” Như vậy, theo quy định hiện hành, việc khen tặng giấy khenchỉ còn 02 danh hiệu cho những em học sinh đạt những tiêu chí nhất định.Việc khen thưởng cuối năm được điều chỉnh nhằm giảm thiểu bệnh thành tích

mà vẫn đảm bảo khuyến khích, khích lệ tinh thần học tập của học sinh

Nhìn chung, việc khen thưởng sẽ phù hợp và toàn diện hơn, bảo đảm bình đẳng cho mọi học sinh khi có thành tích ở mọi lĩnh vực giáo dục Quan trọng nhất, khen thưởng phải gắn với mục tiêu tạo động lực để từng cá nhân học sinh phấn đấu tiến bộ hơn so với bản thân và tránh tạo sự ganh đua khônglành mạnh giữa các học sinh

1.3 Mục tiêu và nội dung môn Toán ở Tiểu học

1.3.1 Mục tiêu chương trình môn Toán

Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học được ban hành theo quy định số 16/2006/QĐ- Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng

Trang 27

bộ Giáo dục và Đào tạo Trong chương trình quy định rõ mục tiêu của môn Toán ở trường tiểu học:

- Có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học các số tự nhiên, phân số, số thập phân, các đại lượng thông dụng, một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản

- Hình thành các kĩ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống

- Góp phần bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp

lý và diễn đạt đúng bằng ngôn ngữ nói và viết, cách phát hiện và giải quyết những vấn đề đơn giản gần gũi trong cuộc sống, kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học tập toán, góp phần hình thành bước đầu phương pháp tự học

và làm việc có kế hoạch khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo

1.3.2 Nội dung chương trình môn Toán ở tiểu học

Chương trình môn Toán ở tiểu học gồm có 4 mạch nội dung :

- Số học

- Đại lượng và đo đại lượng

- Yếu tố hình học

- Giải toán có lời văn

Ngoài ra còn có một số yếu tố đại số và thống kê được tích hợp trong mạch nội dung số học

Nội dung chương trình môn Toán ở tiểu học được cấu trúc theo những đặc điểm sau :

- Môn Toán ở tiểu học là một môn học thống nhất, không chia thành các phân môn, trong đó nội dung trọng tâm là những kiến thức và kĩ năng về số học

Trang 28

- Hệ thống các kiến thức của môn Toán được chọn lọc và sắp xếp nhằm quán triệt những tư tưởng của toán học hiện đại vừa chú ý đến các đặc điểm phát triển tâm lý lứa tuổi học sinh tiểu học.

- Nội dung chương trình môn Toán ở tiểu học quán triệt tinh thần gắn lý thuyết với thực hành, rèn luyện kĩ năng vận dụng, quán triệt quan điểm dạy học phổ cập và phát triển, chú ý phát triển tư duy linh hoạt và sáng tạo

1.3.3 Nội dung môn Toán lớp 4

Bảng 1.1: Nội dung môn Toán lớp 4

Tuần Tiết

Nội dung điều chỉnh HỌC KÌ I: 18 Tuần = 90 tiết

05 Luyện tập

- Bài tập 1: Mỗi ý làm một trường hợp

Trang 30

32 Biểu thức có chứa hai chữ

33 Tính chất giao hoán của phép cộng

41 Hai đường thẳng vuông góc

42 Hai đường thẳng song song

43 Vẽ hai đường thẳng vuông góc

44 Vẽ hai đường thẳng song song

45 Thực hành vẽ hình chữ nhật; Thực

hành vẽ hình vuông

- Không làm bài tập2

Trang 32

72 Chia cho số có hai chữ số

73 Chia cho số có hai chữ số (tt)

79 Luyện tập

- Không làm cột b bài tập 1; bài tập 2; bài tập 3

80 Chia cho số có ba chữ số (tt) - Không làm bài tập

83 Dấu hiệu chia hết cho 2

84 Dấu hiệu chia hết cho 5

85 Luyện tập

18 86 Dấu hiệu chia hết cho 9

Trang 33

97 Phân số và phép chia số tự nhiên

98 Phân số và phép chia số tự nhiên (tt)

104 Qui đồng mẫu số các phân số (tt)

105 Luyện tập

Trang 35

149 Ứng dụng tỉ lệ bản đồ (tt)

Trang 36

164 Ôn tập về đại lượng

165 Ôn tập về đại lượng (tt)

34 166 Ôn tập về đại lượng (tt)

167 Ôn tập về hình học

Trang 37

170 Ôn tập về tìm hai số khi biết tổng và

hiệu của hai số đó

35

171 Ôn tập về tìm hai số khi biết tổng

hoặc hiệu và tỉ số của hai số đó

172 Luyện tập chung

173 Luyện tập chung (tt)

174 Luyện tập chung (tt)

175 Kiểm tra định kì (cuối học kì 2)

1.4 Đặc điểm tâm lý của học sinh cuối cấp Tiểu học

Quá trình phát triển tâm lý của con người ở mỗi giai đoạn đều chịu sự chi phối của những quy luật và các yếu tố Tuy nhiên ở mỗi giai đoạn lứa tuổi trong quá trình phát triển tâm lý của cá thể nói chung và của HS nói riêng lại

có những đặc trưng riêng của một trình độ phát triển Lứa tuổi học sinh cuối cấp tiểu học độ tuổi từ 9 đến 11 là một giai đoạn phát triển với những đặc trưng sau:

Trang 38

Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát.

Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn

sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học Việc này yêu cầu các nhà giáo dục phải luôn hiểu và hướng dẫn HS kịp lúc giúp HS luyện tập khả năng phân tích, tổng hợp Hoặc các nhà giáo dục có thể thông qua các tình huống bài tập không chỉ đơn thuần là kiến thức mà còn vận dụng vào thực tiễn để HS luyện tập và phát triển dần khả năng tư duy, phân tích, tự tổng hợp kiến thức

Trí tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn đặc biệt là ở cuối cấp tiểu học nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dặn Tuy nhiên, tưởng tượng của HS vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau: Tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ

đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ởgiai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn,

vẽ tranh, Đặc biệt, tưởng tượng của HS trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm

Chính vì vậy, các nhà giáo dục phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của HS bằng cách biến các kiến thức "khô khan" thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút HS vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể hay chính là đưa các kiến thức, bài họctrở thành các tình huống các nội dung gần gũi trong cuộc sống hằng ngày của

HS để HS có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện

b) Về nhận thức cảm tính

Cuối bậc tiểu học, tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, HS thích quan sát các sự vật, hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn, tri giác mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng – tri giác có chủ định bởi các cơ quan cảm

Ngày đăng: 13/03/2022, 22:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sách giáo khoa Toán lớp 4, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Toán lớp 4
Nhà XB: NXB Giáo dục
[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sách giáo viên Toán 4, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Toán 4
Nhà XB: NXB Giáo dục
[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án phát triển giáo viên Tiểu học, Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án phát triển giáo viên Tiểu học, Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học
Nhà XB: NXB Giáo dục
[4] Bùi Văn Nghị (2008), Vận dụng lý luận vào thực tiễn dạy học môn Toán ở trường phổ thông, NXB Đại học Sư Phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng lý luận vào thực tiễn dạy học môn Toán ở trường phổ thông
Tác giả: Bùi Văn Nghị
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm Hà Nội
Năm: 2008
[5] Đặng Vũ Hoạt, Phó Đức Hòa ( 2014), Giáo dục học tiểu học I, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học tiểu học I
Nhà XB: NXB Đại họcSư phạm
[6] Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Hữu Hợp (2009), Giáo dục học tiểu học II, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học tiểu học II
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Hữu Hợp
Nhà XB: NXB Đạihọc Sư phạm
Năm: 2009
[7] Đỗ Hồng Thanh (2014), Vừa đọc truyện vừa làm toán dành cho học sinh Tiểu học, trung học cơ sở, NXB Dân trí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vừa đọc truyện vừa làm toán dành cho học sinh Tiểu học, trung học cơ sở
Tác giả: Đỗ Hồng Thanh
Nhà XB: NXB Dân trí
Năm: 2014
[8] Hải Bình (2017), “Thiết kế các bài toán vận dụng toán học vào cuộc sống cho HS lớp 4”, bài viết của báo Giáo dục và thời đại, ngày 03/05/2017,https://giaoducthoidai.vn, truy cập ngày 01/03/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế các bài toán vận dụng toán học vào cuộc sống cho HS lớp 4
Tác giả: Hải Bình
Năm: 2017
[9] Lâm Thủy (2006), Toán vui luyện trí thông minh, NXB văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toán vui luyện trí thông minh
Tác giả: Lâm Thủy
Nhà XB: NXB văn hóa thông tin
Năm: 2006
[10] Nguyễn Bá Kim (2002), Phương pháp dạy học, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học
Tác giả: Nguyễn Bá Kim
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2002
[11] Nguyễn Danh Nam, Đào Thị Liễu (2013), Bồi dưỡng năng lực toán học hóa tình huống thực tiễn cho HS thông qua dạy học chủ đề xác suất thống kê, Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt 8/2013, tr. 104-106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Danh Nam, Đào Thị Liễu
Năm: 2013
[12] Nguyễn Danh Nam, Nguyễn Đức Thành (2015), Vận dụng PISA đánh giá chất lượng học tập môn Toán ở các trường phổ thông, Tạp chí Giáo dục, số 353, tr.42-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Danh Nam, Nguyễn Đức Thành
Năm: 2015
[13] Nguyễn Đức Minh (chủ biên), Dương Văn Hưng, Trần Hải Toàn (2015), Đổi mới đánh giá kết quả giáo dục học sinh tiểu học, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới đánh giá kết quả giáo dục học sinh tiểu học
Tác giả: Nguyễn Đức Minh (chủ biên), Dương Văn Hưng, Trần Hải Toàn
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2015
[14] Nguyễn Văn Bảo (2005), Góp phần rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng kiến thức toán học để giải quyết một số bài toán có nội dung thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học, Trường Đại học Vinh, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụngkiến thức toán học để giải quyết một số bài toán có nội dung thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Văn Bảo
Năm: 2005
[15] PGS.PTS NGƯT Đoàn Phan Tâm (1999), toán học và thực tiễn đời sống, Thông báo KH ĐHVH Sách, tạp chí
Tiêu đề: toán học và thực tiễn đời sống
Tác giả: PGS.PTS NGƯT Đoàn Phan Tâm
Năm: 1999
[16] PGS. Trần Trọng Thủy (2013), Giáo trình Tâm lý học Tiểu học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lý học Tiểu học
Tác giả: PGS. Trần Trọng Thủy
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2013
[20] Vũ Hữu Tuyên (2016), Thiết kế bài toán hình học gắn với thực tiễn trong dạy học hình học ở trường trung học phổ thông, Luận án Tiến sĩ khoa học giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.B. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài toán hình học gắn với thực tiễn trong dạy học hình học ở trường trung học phổ thông
Tác giả: Vũ Hữu Tuyên
Năm: 2016
[22] Willoughby, Bereiter, Hilton, Rubinsten, Real Math Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Nội dung môn Toán lớp 4 - THIẾT kế hệ THỐNG bài tập  môn TOÁN lớp 4 THEO HƯỚNG vận DỤNG TOÁN học
Bảng 1.1 Nội dung môn Toán lớp 4 (Trang 28)
Bảng 1.3. Sự cần thiết của việc thiết kế hệ thống bài tập môn Toán lớp - THIẾT kế hệ THỐNG bài tập  môn TOÁN lớp 4 THEO HƯỚNG vận DỤNG TOÁN học
Bảng 1.3. Sự cần thiết của việc thiết kế hệ thống bài tập môn Toán lớp (Trang 47)
Bảng 1.6. Những khó khăn khi thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập môn Toán lớp 4 theo hướng vận dụng toán học vào giải quyết các tình huống thực  tiễn - THIẾT kế hệ THỐNG bài tập  môn TOÁN lớp 4 THEO HƯỚNG vận DỤNG TOÁN học
Bảng 1.6. Những khó khăn khi thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập môn Toán lớp 4 theo hướng vận dụng toán học vào giải quyết các tình huống thực tiễn (Trang 49)
Bảng 3.1. Sự hợp lý của việc thiết kế hệ thống bài tập được phân theo  các mạch nội dung kiến thức - THIẾT kế hệ THỐNG bài tập  môn TOÁN lớp 4 THEO HƯỚNG vận DỤNG TOÁN học
Bảng 3.1. Sự hợp lý của việc thiết kế hệ thống bài tập được phân theo các mạch nội dung kiến thức (Trang 61)
Bảng 3.3. Sự phù hợp của hệ thống bài tập với nội dung chương  trình Toán 4 - THIẾT kế hệ THỐNG bài tập  môn TOÁN lớp 4 THEO HƯỚNG vận DỤNG TOÁN học
Bảng 3.3. Sự phù hợp của hệ thống bài tập với nội dung chương trình Toán 4 (Trang 62)
Bảng 3.5 : Sự phù hợp của hệ thống bài tập với nguyên tắc đề ra - THIẾT kế hệ THỐNG bài tập  môn TOÁN lớp 4 THEO HƯỚNG vận DỤNG TOÁN học
Bảng 3.5 Sự phù hợp của hệ thống bài tập với nguyên tắc đề ra (Trang 63)
Bảng 3.7 : Sự hợp lý trong ngôn ngữ sử dụng khi thiết kế bài tập - THIẾT kế hệ THỐNG bài tập  môn TOÁN lớp 4 THEO HƯỚNG vận DỤNG TOÁN học
Bảng 3.7 Sự hợp lý trong ngôn ngữ sử dụng khi thiết kế bài tập (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w