Tình trạng giải pháp đã biết - Đa số các em học sinh trường chưa có được nhận thức đúng đắn về vai trò, tầm quan trọng và ý nghĩa của việc học lịch sử vì vậy ít có hứng thú trong giờ
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số: ………
I Tên sáng kiến: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả dạy và học môn
Lịch sử cấp Trung học cơ sở
II Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giảng dạy.
III Mô tả bản chất của sáng kiến
1 Tình trạng giải pháp đã biết
- Đa số các em học sinh trường chưa có được nhận thức đúng đắn về vai trò, tầm quan trọng và ý nghĩa của việc học lịch sử vì vậy ít có hứng thú trong giờ học lịch sử Thêm vào đó, các em chưa có một phương pháp học tập lịch sử đúng đắn: phần lớn các em chỉ học bài khi hôm sau có tiết, có kiểm tra, thời gian
mà các em dành cho học môn sử cũng tương đối khiêm tốn…
- Việc dạy và học lịch sử đã và đang là vấn đề nóng bỏng được xã hội đặc biệt quan tâm Những lổ hỏng lớn về kiến thức lịch sử của giới trẻ đang rung lên hồi chuông cảnh báo nguy cơ lịch sử dân tộc sẽ bị chôn vùi trong làn sóng kinh
tế thị trường Các nhà giáo dục và những người có tâm huyết đối với môn Lịch
sử trong những năm gần đây đã không ngừng tìm hiểu nguyên nhân để đưa ra những giải pháp hòng vực dậy môn Lịch sử
- Giáo viên lịch sử trong các trường Trung học cơ sở cũng gặp không ít những khó khăn về lĩnh vực chuyên môn như nội dung chương trình sách giáo khoa, phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá…
2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến
2.1 Mục đích của giải pháp
Những giải pháp trong sáng kiến này nhằm mục đích giúp học sinh thấy được tầm quan trọng của lịch sử, yêu lịch sử Từ đó, tạo được hứng thú trong
Trang 2học tập lịch sử cho học sinh, làm cho học sinh chủ động tìm tòi, khám phá tìm hiểu về lịch sử dân tộc, tự hình thành hiểu biết, năng lực, phẩm chất, học để đáp ứng những yêu cầu của hiện tại và tương lai Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học lịch sử ở trường Trung học cơ sở ngày càng đi lên
2.2 Điểm mới của giải pháp
- Kể chuyện lịch sử trong giờ dạy
- Cung cấp tư liệu cho học sinh
- Cách nói và viết
2.3 Các biện pháp thực hiện
Giải pháp 1: Kể chuyện lịch sử trong giờ dạy
Có thể nói rằng, bất cứ nơi nào, ở đâu những câu chuyện kể luôn luôn mang lại hiệu quả Đặc biệt là tính giáo dục của các câu chuyện, môn lịch sử cũng không là ngoại lệ Điều quan trọng là ta phải biết sử dụng đúng lúc, đúng chỗ để nó phát huy giá trị và không làm mất thời gian của tiết học
Khi sử dụng giáo viên phải biết chắt lọc, kể gọn và sau mỗi câu chuyện phải biết đặt những câu hỏi hoặc gợi ý cho học sinh nêu lên suy nghĩ của mình,
từ đó giáo dục tư tưởng cho HS
Ví dụ 1: Khi dạy bài 9 – Lịch sử 7 – Nước Đại Cồ Việt thời Đinh – Tiền
Lê, ở mục I giáo viên có thể kể về thái hậu Dương Vân Nga:
Khi tình hình đất nước đang nguy cấp: Bên ngoài phong kiến phương bắc sửa soạn đại binh xâm lược Bên trong, các triều thần phân biệt tranh chấp ngay gắt có nguy cơ xảy ra nội chiến lớn Là người có tầm nhìn xa thấy rộng, Dương Vân Nga nhận thấy chỉ có Thập đạo tướng quân Lê Hoàn là người có khả năng giải quyết tình hình nghiêm trọng ấy Nếu Dương Vân Nga không biết đặt lợi ích của đất nước lên trên lợi ích của dòng họ, bà có thể dựa vào một quyền thần
để chống lại một quyền thần khác, ngoan cố bảo vệ ngai vàng cho đứa con nhỏ của mình, sẽ gây ra nạn bè đảng tranh chấp, đẩy đất nước vào thảm cảnh rối loạn Vậy mà chỉ vì Dương Vân Nga lây chiếc áo bào choàng lên vai Lê Hoàn,
Trang 3về sau lại tở thành vợ của Lê Hoàn mà sử sách phong kiến đã xoá sạch công lao của bà Ngược lại với cách nhìn nhận trên, nhân dân ta có thái độ rộng lượng và đúng đắn Sử cũ chép: “Tục dân lập đền thờ tô ba pho tượng Tiên Hoàng, Đại Hành và Dương Vân Nga cùng ngồi” Vùng Hoa Lư còn lưu nhiều truyền thuyết đẹp về Dương Vân Nga nhằm ghi nhận công lao của bà
Kể chuyện này giáo viên chú ý bỏ qua những đoạn đánh giá nhận xét mà tập trung vào đoạn Dương Vân Nga lấy áo bào khoác lên người Lê Hoàn, cách đối xử của mọi người đối với bà Từ đó đặt câu hỏi để HS thể hiện ý kiến của mình đối với thái hậu Dương Vân Nga, qua đó giáo dục tư tưởng cho HS
Ví dụ 2 Khi dạy bài 14- Lịch sử 7 – Ba lần kháng chiến chống quan xâm lược Mông – Nguyên, ở mục IV – Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử, có thể kể về Trần Hưng Đạo
Trần Quốc Tuấn (1228 – 1300) là một anh hùng kiệt xuất của dân tộc ta đồng thời là danh nhân quân sự cổ kim của thế giới
Người dung mạo hùng vĩ, thông minh hơn người, đủ tài văn võ, chuyên tâm nghiên cứu lục tam thao lược của người xưa và dành cả tâm huyết, hiểu biết của mình để viết: Binh thư yếu lược, Hịch tướng sĩ để dạy các tướng cầm quân đánh giặc, khích lệ lòng yêu nước của quân dân Đại Việt
Trong cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên lần hai, thấy rõ nếu để ngành trưởng và ngành thứ xích mích, nghi kị lẫn nhau thì chỉ có lợi cho kẻ thù Người đã chủ động giao lưu hoà hiếu với Trần Quang Khải, tạo nên sự đoàn kết nhất trí trong Vương triều, bảo đảm đánh thắng quân thù
Trong kháng chiến ông luôn hộ giá bên vua, tay chống gậy bịt sắt, dư luận xì xào sợ ông giết vua Ông liền bỏ luôn phần bịt sắt, chỉ chống gậy để tránh hiềm nghi, làm yêu lòng dân quân
Trong đó tập trung vào những việc làm của Trần Quốc Tuấn để làm rõ việc ông chủ động giải quyết các bất hòa trong nội bộ: bỏ bịt sắt ở cây gậy của
Trang 4mình, hòa hiếu với Trần Quang Khải Từ đó giáo dục cho HS về tinh thần đoàn kết là sức mạnh vô địch, sự vĩ đại của Trần Hưng Đạo, …
Ví dụ 3 Khi dạy bài 3 – Lịch sử 8 – Chủ nghĩa tư bản được xác lập trên phạm vi thế giới kể chuyện về các nhà khoa học, đặc biệt là Giêm-oát giúp HS thấy được tài năng của ông, giáo dục ý chí học tập, vượt qua khó khăn để đạt được ước mơ của mình:
Giêm-oát là người Scotlen sinh năm 1736, cha là thợ đóng thuyền, lúc nhỏ ông là thợ học việc Năm 20 tuổi làm việc trong trường Đại học Glaxgo, chuyên làm và sửa chữa đồ dung dạy học Trong quá trình làm việc tại trường ông đã tận dụng máy móc ở đó, tìm tòi và nghiên cứu, cuối cùng đã phát minh thành công máy hơi nước
Lúc kể những câu chuyện lịch sử chính là lúc HS tập trung chú ý lắng nghe, đó là cơ hội tốt để giáo dục tư tưởng cho HS, làm cho HS càng thêm yêu dân tộc mình, biết thêm những điều mà trong SGK chưa cung cấp nhưng lại rất cần thiết trong cuộc sống, trong quá trình học tập của mỗi con người
Có một điều chắc chắn rằng HS sẽ nhớ nội dung của mỗi bài nhiều hơn nhờ những câu chuyện này Đặc biệt HS sẽ biết nhiều hơn về triều đại, nhân vật lịch sử hơn Từ đó môn lịch sử có giá trị cao hơn trong lòng các em
Nguyên tắc khi kể chuyện trong giờ học lịch sử là không kể tràn lan và phải thông qua câu chuyện để làm nổi bật nội dung bài, giáo dục tư tưởng cho
HS
Giải pháp 2: Cung cấp tư liệu cho học sinh
SGK thường cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản nhưng theo từng bài mỗi bài một ít đôi khi HS khó hệ thống và sẽ dễ quên trong quá trình học tập Vì thế giáo viên sẽ hệ thống và cung cấp tư liệu cho học sinh Đó là một việc làm hết sức cần thiết trong việc hệ thống kiến thức cho các em
Trang 5Ví dụ 1: Khi dạy bài 8 – Nước ta buổi đầu độc lập, giáo viên có thể hỏi:
Từ trước đến nay nước ta có những tên gọi nào? HS sẽ trả lời và giáo viên có thể cung cấp cho HS tư liệu về Quốc hiệu Việt Nam qua các thời kì:
QUỐC HIỆU VIỆT NAM
1 Văn Lang: là quốc hiệu đầu tiên của Việt Nam Quốc gia này có kinh
đô đặt ở Phong Châu nay thuộc tỉnh Phú Thọ
2 Âu Lạc: Năm 257 TCN, nước Âu Lạc được dựng lên, từ liên kết các bộ lạc Lạc Việt (Văn Lang) và Tây Âu
3 Vạn Xuân: là quốc hiệu của Việt Nam trong một thời kỳ độc lập ngắn ngủi Quốc hiệu này tồn tại từ năm 544 đến năm 602
4 Đại Cồ Việt: là quốc hiệu của Việt Nam từ thời nhà Đinh đến đầu thời nhà Lý, do Đinh Tiên Hoàng đặt năm 968 Quốc hiệu này tồn tại 86 năm đến năm 1054, đời vua Lý Thánh Tông đổi sang quốc hiệu khác
5 Đại Việt: là quốc hiệu của Việt Nam từ thời nhà Lý, bắt đầu từ năm
1054, khi vua Lý Thánh Tông lên ngôi Quốc hiệu này tồn tại không liên tục (gián đoạn 7 năm thời nhà Hồ và 20 năm thời thuộc Minh), đến năm 1804, trải qua các vương triều Lý, Trần, Lê, Mạc và Tây Sơn, khoảng 743 năm
6 Đại Ngu: là quốc hiệu của Việt Nam thời nhà Hồ Quốc hiệu Đại Việt được đổi thành Đại Ngu năm 1400 khi Hồ Quý Ly lên nắm quyền Sau khi nhà
Hồ bị thất bại trước nhà Minh, và nhà Hậu Lê giành lại độc lập cho Việt Nam, quốc hiệu của Việt Nam đổi lại thành Đại Việt
7 Việt Nam: Quốc hiệu Việt Nam chính thức xuất hiện vào thời nhà Nguyễn Vua Gia Long sử dụng từ năm 1804
8 Đại Nam: Năm 1820, vua Minh Mạng lên ngôi đổi quốc hiệu Việt Nam thành Đại Nam, ngụ ý một nước Nam rộng lớn Quốc hiệu này tồn tại đến năm
1945
Trang 69 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: là tên gọi của cả nước Việt Nam từ 1945
đến đến 1976 Nhà nước được thành lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 (ngày Quốc khánh của Việt Nam ta ngày nay)
10 Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Ngày 2 tháng 7 năm 1976,
Quốc hội khóa 6 nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà đã quyết định đổi tên nước thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hiệu này được sử dụng từ đó đến nay
Ví dụ 2: Khi dạy bài 13 – Nước Đại Việt ở thế kỉ XIII, giáo viên có thể đặt câu hỏi: Nhà Lý tồn tại bao nhiêu năm? Trải qua mấy đời vua? Với câu hỏi này chắc chắn sẽ có nhiều HS không thể trả lời vì các em không có tư liệu tham khảo Bây giờ giáo viên có thể cung cấp tư liệu cho HS:
CÁC TRIỀU ĐẠI VIỆT NAM
Triều Ngô (939 - 965), kinh đô Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội)
Triều Đinh (968 – 980), quốc hiệu Đại Cồ Việt, kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình)
Triều Tiền Lê (980 – 1009), kinh đô Hoa Lư
Triều Lý (1010 – 1225) ,quốc hiệu Đại Cồ Việt, kinh đô Hoa Lư Năm
1010 dời đô về Thăng Long, từ năm 1054 đổi quốc hiệu là Đại Việt Triều Lý tồn tại 216 năm thì tan rã Trải qua 9 đời vua
Triều Trần (1225 – 1400), quốc hiệu Đại Việt, kinh đô Thăng Long Triều Trần kể từ Thái Tông Trần Cảnh đến Trần Thiếu Đế, là 12 ông vua, trị vì được 175 năm
Triều Hồ (1400 – 1407) quốc hiệu Đại Ngu, kinh đô Tây Đô
Triều Lê Sơ (1428 – 1527), quốc hiệu Đại Việt, kinh đô Đông Anh (Hà Nội) Triều Lê Sơ kể từ Lê Thái Tổ lên ngôi (1428) đến Cung Hoàng (1527) gồm
10 đời vua, cả thảy đúng 100 năm Nếu kể cả thời gian Lê Lợi dấy quân xưng là Bình Định Vương năm Mậu Tuất (1418) là 110 năm Các nhà sử học gọi là thời
Lê Sơ để phân biệt với Lê Trung Hưng về sau
Trang 7Triều Mạc (1527 – 1592), kinh đô Đông Anh (Hà Nội)
Triều Hậu Lê (Lê Trung Hưng )
Nam Bắc triều (1533 - 1548)
Vua Lê – Chúa Trịnh
Trịnh – Nguyễn phân tranh
Dòng dõi chúa Trịnh (1545 – 1786)
Dòng dõi chúa Nguyễn (1600 – 1802)
Triều Tây Sơn (1778 – 1802), kinh đô Phú Xuân (Huế)
Triều Nguyễn (1802 – 1945), quốc hiệu Việt Nam từ Minh Mạng(1838)là Đại Nam, kinh đô Huế (Thừa – Thiên )
Yêu cầu của giải pháp này là cung cấp tư liệu phải phục vụ cho việc học của học sinh, tư liệu đó HS có thể sử dụng lâu dài trong cuộc sống Khi cung cấp
tư liệu giáo viên không được bắt ép HS phải có nó mà phải để cho HS hoàn toàn
tự nguyện sử dụng Giáo viên chỉ cố gắng động viên cho HS có được nó và sử dụng
Giải pháp 3: Cách nói và viết
Cách nói: Không có một phương pháp dạy học hoặc phương tiện dạy học nào được sử dụng mà không kèm theo lời nói Diễn đạt rõ ràng, dễ hiểu không chỉ giúp học sinh khôi phục được quá khứ lịch sử như nó đã tồn tại mà còn giúp học sinh biết cách suy nghĩ, tìm tòi rút ra kết luận, hình thành khái niệm và có tác động lớn đến tâm tư, tình cảm của học sinh một cách tích cực
Vì vậy, người giáo viên cần phải có lời nói giản dị, rõ ràng, lời lẽ dễ hiểu,
bỏ lối nói nặng nề dùng quá nhiều thuật ngữ của các nhà thông thái, những từ nước ngoài khó hiểu, khẩu hiệu hay những định nghĩa xa lạ Mặt khác, người thầy nên nói ít hơn, trò nói nhiều hơn trong quá trình dạy - học để tăng cường tính tích cực hoạt động của trò và cũng là rèn luyện cách nói, lối diễn đạt của trò khi trả lời câu hỏi
Trang 8Cách viết: Việc ghi bảng thường rơi vào hai trường hợp
Thứ nhất, chỉ ghi tên bài và các đề mục của bài Việc này làm cho học
sinh trở nên lúng túng trong việc ghi chép để nhớ, nhất là các địa danh, tên nhân vật, tên sự kiện, thời gian diễn ra sự kiện hay là những từ ngữ bằng tiếng nước ngoài…Do đó học sinh không tránh khỏi sai sót, không chuẩn về kiến thức
Thứ hai: ghi chi tiết cả bài giảng Trường hợp này sẽ làm cho giáo viên
không còn thời gian để phân tích, huy động học sinh tham gia vào bài học và học sinh cũng không thể xác định đâu là kiến thức cơ bản…
Để tránh rơi vào một trong hai trường hợp trên thì khi soạn giáo án về một bài nào đó giáo viên nên thiết kế thêm một giáo án ghi bảng Giáo án ghi bảng làm sao đảm bảo được: tên bài và các đề mục; thời gian và tên các sự kiện, hiện tượng tiêu biểu; từ mới và từ bằng ngôn ngữ nước ngoài
Giải pháp hỗ trợ
Các giải pháp trên muốn đạt hiệu quả cao cần có biện pháp hỗ trợ sau: Cần sử dụng nhiều hình thức kiểm tra đánh giá, đặc biệt là sử dụng các hình thức kiểm tra các kỹ năng của học sinh như: Viết thu hoạch – báo cáo về các chuyến tham quan di tích lịch sử - cách mạng, hội thảo; vẽ bản đồ lịch sử; sưu tầm tranh ảnh lịch sử…Nếu chỉ sử dụng hình thức kiểm tra trí nhớ đơn thuần sẽ không thể phát triển cho học sinh về mặt kỹ năng và sao lãng trong việc giáo dục tư tưởng tình cảm
Thế giới luôn vận động và thay đổi, công tác giáo dục cũng phải vận động theo sao cho phù hợp với yêu cầu của xã hội Do đó, công tác cải tiến trong giảng dạy và học tập phải là việc làm thường xuyên và liên tục Mặt khác, việc đổi mới không phải chỉ một hay hai cá nhân là có thể thực hiện thành công, mà
nó đòi hỏi phải có sự đồng thuận trong sự tham gia của nhiều khâu, nhiều việc
và nhiều người thì mới đạt kết quả mong muốn
2.4 Khả năng áp dụng của giải pháp
Trang 9Sáng kiến kinh nghiệm có thể áp dụng rộng rãi cho tất cả học sinh trung học cơ sở
2.5 Hiệu quả lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến
Sau quá trình giảng dạy và áp dụng một số phương pháp nên trên, đa số học sinh có nhiều thiện cảm đối với giáo viên lịch sử, đối với môn Lịch sử, có hứng thú học tập, tích cực xây dựng bài, giờ học Lịch sử không còn nhàm chán
mà trở nên sôi nổi, tìm hiểu về lịch sử thông qua internet, sách, báo, truyện tranh lịch sử tại thư viện
Trang 10Kết quả chất lượng bộ môn Lịch sử học kì I năm học 2016 – 2017 so với năm học 2015 – 2016 như sau:
TRUNG
2015 – 2016
HKI
(2016 – 2017 ) 120 85 70,8 26 21,7 8 6,7 1 0,8
2.6 Tài liệu kèm theo: Không
Trang 11
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BẾN TRE
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO MỎ CÀY NAM
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số: ………
Tên sáng kiến:
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả
dạy và học môn Lịch sử cấp Trung học cơ sở.
Đề tài thuộc lĩnh vực chuyên môn: Lịch sử