BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH VŨ THỊ BÍCH PHƯỢNG SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG TRONG DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC LỚP 4 ĐỂ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH Chuyên ngành: Giáo dục học
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
VŨ THỊ BÍCH PHƯỢNG
SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG TRONG DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC LỚP 4 ĐỂ PHÁT
HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH
Chuyên ngành: Giáo dục học (bậc tiểu học)
Mã số: 60.14.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS PHẠM MINH HÙNG
Trang 2NGHỆ AN - 7/2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài: “Sử dụng bài tập tình huống trong dạy học môn
Đạo đức lớp 4 để phát huy tính tích cực của học sinh” để nghiên cứu, tôi xin
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS Phạm Minh Hùng, người đã
tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn tới tập thể giáo viên khoa Giáo dục tiểu học,khoa đào tạo sau đại học, các thầy cô giáo phản biện cùng các bạn học viên lớpcao học K 23 Giáo dục bậc tiểu học, các thầy cô giáo ở trường tiểu học đã tậntình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Xin gửi lời cảm ơn đến tất cả bạn bè và đồng nghiệp, những người luônđộng viên, khích lệ tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Đóng góp của luận văn 4
8 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG TRONG DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC LỚP 4 ĐỂ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 6
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước 7
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 9
1.2.1 Tính tích cực của học sinh 9
1.2.2 Bài tập tình huống 12
1.2.3 Sử dụng bài tập tình huống 13
1.3 Bài tập tình huống trong môn đạo đức lớp 4 15
1.3.1 Khái quát về môn Đạo đức lớp 4 và chủ đề mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, xã hội trong môn Đạo đức lớp 4 15
1.3.2 Bài tập tình huống thuộc chủ đề mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, xã hội trong môn Đạo đức lớp 4 18
1.4 Sử dụng bài tập tình huống trong môn đạo đức lớp 4 để phát huy tính tích cực của học sinh 23
Trang 51.4.1 Đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh lớp 4 23
1.4.2 Mục đích, yêu cầu sử dụng bài tập tình huống trong môn Đạo đức lớp 4 để phát huy tính tích cực của học sinh 24
1.4.3 Phương thức sử dụng bài tập tình huống trong môn Đạo đức lớp 4 để phát huy tính tích cực của học sinh 25
Kết luận chương 1 31
Chương 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG TRONG DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC LỚP 4 ĐỂ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH 32
2.1 Quá trình khảo sát thực trạng 32
2.1.1 Mục đích khảo sát thực trạng 32
2.1.2 Nội dung khảo sát thực trạng 32
2.1.3 Đối tượng và địa bàn khảo sát thực trạng 32
2.1.4 Phương pháp khảo sát thực trạng 32
2.1.5 Xử lý kết quả khảo sát thực trạng 34
2.2 Phân tích kết quả khảo sát thực trạng 34
2.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về bài tập tình huống trong dạy học môn Đạo đức lớp 4 34
2.2.2 Thực trạng sử dụng bài tập tình huống trong dạy học môn Đạo đức lớp 4 để phát huy tính tích cực của học sinh 37
2.2.3 Kết quả khảo sát các GV trong việc dạy loại bài tập XLTH trong môn ĐĐ ở lớp 4 hiện nay 39
2.3 Nguyên nhân của thực trạng 45
2.3.1 Nguyên nhân thành công 47
2.3.2 Nguyên nhân hạn chế, thiếu sót 48
Kết luận chương 2 50
Trang 6Chương 3 CÁCH THỨC SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG TRONG DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC LỚP 4 ĐỂ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC
CỦA HỌC SINH 51
3.1 Xây dựng các loại bài tập xử lý tình huống để phát huy tính tích cực của học sinh khi học chủ đề mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, xã hội 52
3.2 Đề xuất quy trình, biện pháp vận dụng các loại bài tập xử lý tình huống để phát huy tính tích cực của học sinh khi học chủ đề mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, xã hội 53
3.3 Thực nghiệm sư phạm 63
3.3.1 Mục đích, nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 63
3.3.2 Địa bàn, đối tượng, thời gian thực nghiệm sư phạm 63
3.3.3 Kế hoạch thực nghiệm 65
3.3.4 Triển khai thực nghiệm 65
3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 69
Kết luận chương 3 72
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75 PHỤ LỤC
Trang 8Bảng 2.2: Kết quả khảo sát về việc giới thiệu tình huống của GV khi
dạy loại bài tập XLTH 40 Bảng 2.3: Kết quả khảo sát về việc dạy học loại bài tập XLTH của GV
41
Bảng 2.4: Kết quả khảo sát mức độ sử dụng các PP dạy học loại bài
tập XLTH của GV 42 Bảng 2.5: Kết quả khảo sát thái độ của GV về dạy học loại bài tập
XLTH 43 Bảng 3.1: Giới tính, học lực của HS 2 lớp Bốn 1 và lớp Bốn 2 trường
tiểu học Nguyễn Trọng Tuyển năm học 2016 - 2017 64 Bảng 3.2: Kết quả kiểm tra thực nghiệm 69 Hình:
Hình 3.1: Biểu đồ kết quả học lực Học Kì I của lớp Bốn 1 và lớp Bốn 2
65
Hình 3.2: Biểu đồ kết quả kiểm tra thực nghiệm ở lớp Bốn 1 và lớp Bốn 2
70Hình 3.3: Biểu đồ tỉ lệ phần trăm kết quả kiểm tra thực nghiệm 70
Trang 9vậy mà “Giới trẻ “được lấy làm chủ đề của ngày dân số thế giới năm 2009 Đây
cũng chính là lời cảnh báo và nhắc nhở xã hội cần quan tâm và chú ý nhiều hơnnữa đến thế hệ trẻ, đặc biệt là lứa tuổi tiểu học Các em ở lứa tuổi này rất dễ haybắt chước, làm theo Đối với nhà trường tiểu học giáo dục đạo đức là một mặtquan trọng của hoạt động giáo dục nhằm hình thành những con người có đầy đủphẩm chất: Đức, trí, thể, mỹ nhằm xây dựng những tính cách nhất định và đốivới mọi người trong xã hội Nó là nền tảng của giáo dục toàn diện Vì vậy côngtác giáo dục trước tiên là phải chăm lo bồi dưỡng đạo đức cho học sinh, coi đó làcăn bản, cái gốc cho sự phát triển nhân cách, chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy:
“Bây giờ phải học, học để yêu tổ quốc, yêu nhân dân, yêu khoa học và yêu đạođức” Và trường tiểu học là nơi hình thành nhân cách đầu tiên cho trẻ Nhàtrường là nơi không những dạy chữ mà còn dạy về nhân cách, lẽ sống ở đời chohọc sinh để làm chủ tương lai của đất nước sau này Bác Hồ đã từng nói “Vì lợiích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” Vì thế trong nền giáodục từ trước cho đến nay việc giáo dục nói chung và giáo dục cho trẻ em nóiriêng luôn đòi hỏi phải có sự quan tâm rất lớn từ nhiều phía Do đó các em cầnphải có một nền tảng giáo dục vững chắc, hiểu được những việc nào nên làm,những việc nào không nên làm, tránh những tác động xấu ảnh hưởng đến các
em Muốn thế chúng ta cần phải cho các em hiểu và tiếp cận với những tìnhhuống thường xảy ra trong cuộc sống, để các em biết được mình cần phải ứng
Trang 10xử sao cho hợp lý, đúng với chuẩn mực đạo đức Quan niệm của nhân dân ta từ
xưa đến nay là “Tiên học lễ, hậu học văn”, trước hết cần phải cung cấp cho các
em biết thế nào là lễ nghĩa, kính trên nhường dưới, sau đó mới dạy cho các emnhững kiến thức cần thiết trong cuộc sống Do đó mà bộ môn Đạo đức luôn giữmột nhiệm vụ quan trọng trong nhà trường
Hiện nay việc đổi mới phương pháp dạy học là trọng tâm của đổi mớigiáo dục Định hướng đổi mới phương pháp được thể chế tại điều 28 của Luật
Giáo dục chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm trong lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [6, tr 22]
Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân
Mục tiêu giáo dục tiểu học được xác định tại điều 27 của Luật Giáo dục: “Giáo
dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở” [6, tr 20] Như vậy, Đạo đức trở thành
một mặt quan trọng của nhân cách, là cái gốc của con người cần phải được giáodục ngay từ khi còn nhỏ
Trong cuộc sống hằng ngày, trẻ luôn tiếp xúc với nhiều tình huống, đặcbiệt khi trẻ đến trường được tiếp xúc với thầy cô, bạn bè là những tình huốngmới lạ đối với các em Do đó, loại bài tập xử lý tình huống trong môn Đạo đức
sẽ giúp các em biết cách ứng xử không chỉ ở gia đình, hàng xóm mà còn trongnhà trường Nói tóm lại thông qua loại bài tập xử lý huống sẽ bước đầu hìnhthành cho các em năng lực định hướng giá trị đạo đức, biết phân biệt cái đúng,cái sai, làm theo cái đúng, ủng hộ cái đúng, tránh cái sai, đấu tranh với nhữngbiểu hiện sai trái, xấu xa, tội ác để trở thành một công dân tốt giúp phát triển đất
Trang 11nước mai sau Từ các lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Sử dụng bài tập tình
huống trong dạy học môn Đạo đức lớp 4 để phát huy tính tích cực của học sinh “để nghiên cứu.
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất cách thức sử dụng bàitập TH trong dạy học môn ĐĐ lớp 4 để phát huy tính tích cực của học sinh, gópphần nâng cao chất lượng dạy học
3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học môn ĐĐ lớp 4
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Cách thức sử dụng bài tập TH trong dạy học môn ĐĐ lớp 4 theo hướngtích cực hóa hoạt động của học sinh
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và thực hiện được các cách thức sử dụng bài tập TH trongdạy học môn ĐĐ lớp 4 có cơ sở khoa học, có tính khả thi thì có thể phát huy tínhtích cực của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn để sử dụng TH trong dạy họcmôn ĐĐ lớp 4 để phát huy tính tích cực của học sinh
5.1.2 Khảo sát thực trạng sử dụng TH trong dạy học môn ĐĐ lớp 4 đểphát huy tính tích cực của học sinh
5.1.3 Đề xuất cách thức sử dụng và thiết kế các bài TH trong dạy họcmôn ĐĐ lớp 4 để phát huy tính tích cực của học sinh
Trang 125.2 Phạm vi nghiên cứu
- Một số bài tập TH khi dạy chủ đề về mối quan hệ giữa cá nhân với CĐ,
XH trong môn ĐĐ lớp 4
- Các trường tiểu học quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây dựng
cơ sở lý luận của đề tài Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận có cácphương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu;
- Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xâydựng cơ sở thực tiễn của đề tài Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận cócác phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
+) Phương pháp điều tra;
+) Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục;
+) Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động;
+) Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia;
+) Phương pháp thực nghiệm sư phạm
6.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các phương pháp toán thống kê với sự trợ giúp của chương trìnhphần mềm SPSS
7 Đóng góp của luận văn
7.1 Đóng góp về mặt lý luận
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về sử dụng TH trong môn ĐĐ lớp 4
để phát huy tính tích cực của học sinh khi học chủ đề mối quan hệ giữa cá nhânvới CĐ, XH
Trang 137.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Làm rõ thực trạng sử dụng TH trong môn ĐĐ lớp 4 để phát huy tính tíchcực của học sinh khi học chủ đề mối quan hệ giữa cá nhân với CĐ, XH, từ đó đềxuất quy trình, biện pháp sử dụng TH trong môn ĐĐ lớp 4 để phát huy tính tíchcực của học sinh khi học chủ đề mối quan hệ giữa cá nhân với CĐ, XH
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận vạ kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo,phụ lục luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề sử dụng bài tập tình huống trong dạyhọc môn Đạo đức lớp 4 để phát huy tính tích cực của học sinh
- Chương 2: Thực trạng sử dụng tình huống trong dạy học môn Đạo đức lớp
4 để phát huy tính tích cực của học sinh
- Chương 3: Cách thức sử dụng bài tập tình huống trong dạy học môn Đạodức lớp 4 để phát huy tính tích cực của học sinh
Trang 141.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Từ thời cổ đại ở phương Đông, Khổng Tử (551-479-TCN); nhà triết họcnổi tiếng của Trung Quốc, nhà đạo đức học khai sinh Nho giáo Ông coi trọngvai trò của GDĐĐ và quan niệm có tính hệ thống về phương pháp giáo dục cũngnhư về tâm lý học Nội dung và mục tiêu chủ yếu của GD được ghi trong Tứ thư
và Ngũ Kinh Nhưng cụ thể và tập trung nhất trong các tác phẩm: “Dịch, Thi,Thư, Lễ, Nhạc, Xuân, Thu “rất xem trọng việc giáo dục đạo đức Ông xây dựnghọc thuyết “Nhân - Trí - Dũng”, trong đó “Nhân “là lòng thương người, là yếu
tố hạt nhân, là đạo đức cơ bản nhất của con người Đứng trên lập trường coitrọng GDĐĐ, có chủ trương nổi tiếng truyền lại cho đến nay “Lễ trị”, lấy “Lễ
“để xử ở đời Muốn vậy mọi người phải biết tu thân làm gốc [5] triết họcphương Tây Socrates (470 - 399 TCN) đã cho rằng đạo đức sự hiểu biết quyđịnh lẫn nhau Có được đạo đức là nhờ ở sự hiểu biết, do vậy chỉ khi có hiểu biếtmới trở thành có đạo đức Komensky (1592 - 1670) nhà giáo dục vĩ đại của TiệpKhắc, ông luôn nhấn mạnh việc tôn trọng con người phải bắt đầu từ ý thức tôntrọng trẻ em, bởi trẻ em cũng như những cây no trong vườn ươm; “Để cây cólớn một cách lành mạnh, nhất thiết phải được quan tâm, chăm sóc, tưới bón, tỉatót ” Ông kêu gọi các bậc cha, mẹ, các nhà giáo và tất cả những ai là nghềnuôi dạy trẻ; “Hãy mãi mãi là một tấm gương trong đời sống, trong mọi sinhhoạt để trẻ em noi theo và bắt chước mà vào đời một cách chân chính “[19]
Trang 151.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Bác Hồ, vị cha già muôn vàn kính yêu của dân tộc ta đã luôn quan tâmđến việc rèn luyện nhân cách cho thế hệ trẻ, đặc biệt là lứa tuổi học sinh Bác đãdạy: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làmviệc gì cũng khó", khó chứ không phải là không làm được, cũng nghĩa là kháckhác hẳn với vô dụng Qua đó mới thấy tài tuy quan trọng nhưng đức còn cầnthiết hơn bởi lẽ người có tài mà sống vị kỉ, chỉ biết dùng tài năng để phục vụ chobản thân mình không thôi thì chẳng có ý nghĩa gì, thậm chí với lối sống và làmviệc cá nhân như vậcó thể gây hại cho tập thể, cho xã hội Tuy nhiên, coi trọngđức cũng không có nghĩa là Bác xem nhẹ tài mà theo Người giữa chúng khôngthể có mặt này mà thiếu mặt kia, đức và tài phải song hành cùng nhau, thốngnhất hữu cơ với nhau mới giúp cho con người hoàn thiện nhân cách bản thân
Ngày nay, trong bối cảnh nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, bên cạnh những truyền thống tốt đẹp củadân tộc cũng còn không ít những vấn đề bức xúc về đạo đức cần phải nghiêncứu giải quyết, đạo đức đang bị suy thoái rất nhiều và đã thấy xuất hiện bêncạnh những mặt tích cực tốt đẹp của nó không biết bao nhiêu hiện tượng thahóa, lừa đảo, buôn bán gian lận, chạy theo cuộc sống đồng tiền, làm ăn phi pháp
mà quên đi cái lương tâm đạo đức vốn có của mình
Đối với nhà trường tiểu học giáo dục đạo đức là một mặt quan trọng củahoạt động giáo dục nhằm hình thành những con người có đầy đủ phẩm chất:Đức, trí, thể, mỹ nhằm xây dựng những tính cách nhất định và đối với mọingười trong xã hội Nó là nền tảng của giáo dục toàn diện Vì vậy công tác giáodục trước tiên là phải chăm lo bồi dưỡng đạo đức cho học sinh, coi đó là cănbản, cái gốc cho sự phát triển nhân cách, chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Bây giờphải học, học để yêu tổ quốc, yêu nhân dân, yêu khoa học và yêu đạo đức”
Trang 16Và trường tiểu học là nơi hình thành nhân cách đầu tiên cho trẻ Nhàtrường là nơi không những dạy chữ mà còn dạy về nhân cách, lẽ sống ở đời chohọc sinh để làm chủ tương lai của đất nước sau này Bác Hồ đã từng nói “Vì lợiích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” Vì thế trong nền giáodục từ trước cho đến nay việc giáo dục nói chung và giáo dục cho trẻ em nóiriêng luôn đòi hỏi phải có sự quan tâm rất lớn từ nhiều phía Đó là suy nghĩ sailầm cho là chỉ cần có tài vì có tài thì bỏ đâu cũng sống được, làm kinh tế khôngcần đến đạo đức, do đó vô hình chung đã khuyến khích lối sống thực dụng đềcao giá trị vật chất và làm cho con người quên đi những chuẩn mực đạo đức tốtđẹp Chính vì vậy mà nhiều tác giả trong và ngoài nước với cách nhìn từ nhiềugóc độ khác nhau đã có những công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức nóichung cũng như giáo dục đạo đức cho học sinh nói riêng như: Tác giả PhạmKhắc Chương, Hà Nhật Thăng trong cuốn sách “Đạo đức học” (Nhà xuất bảngiáo dục, 1998) đã đề cập đến các vấn đề giáo dục đạo đức nhằm giúp giáo viên
có một cơ sở vững chắc để dạy học cho học sinh Các tác giả đã bàn nhiều vềcác vấn đề giáo dục đạo đức như phạm trù giáo dục trong đạo đức gia đình, đạođức trong tình bạn, tình yêu từ đó các tác giả đưa ra những nhận định và đềxuất một số phương pháp giảng dạy và giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhàtrường phổ thông Khi nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo đức các tác giả đă đềcập đến mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục đạo đức và một số vấn đề vềquản lý công tác giáo dục đạo đức hiện nay
Trong cuốn “Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa,hiện đại hóa “tác giả Phạm Minh Hạc cùng một số tác giả khác đã bàn vềnguyên nhân dẫn đến thực trạng đạo đức học sinh hiện nay, đồng thời nêu lênnhững mục tiêu và đưa ra những giải pháp giáo dục đạo đức cho con người ViệtNam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [17]Tác giả ĐặngQuốc Bảo trong bài viết “Rèn luyện lòng tự trọng trong giáo dục hiện nay “trên
Trang 17báo Giáo dục và thời đại số đặc biệt cuối tháng 5/2012 đã khẳng định: “Các giađình, các nhà trường, các đoàn thể trong xã hội ta thời gian qua đã có rất nhiều
cố gắng giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ, cho các thành viên Tuy nhiên ta mớichú ý đến giáo dục đạo đức hướng ngoại, mà chưa coi trọng đúng mức giáo dụchướng nội là giáo dục biết hổ thẹn, xấu hổ, lòng chân chính tự ái, tự trọng.Chiến lược giáo dục của đất nước ta trong thời kỳ đổi mới, mục tiêu Nhân cách -Nhân lực của nền giáo dục nước ta trong thời kỳ đổi mới rất cần có sự nhấnmạnh chủ đề này trong các bài học về đạo làm người cho thế hệ trẻ
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
Như vậy, tích cực là một trạng thái của hành động trí óc hoặc chân tay củangười có mong muốn hoàn thành tốt một công việc nào đó Tính tích cực họctập là một phẩm chất, nhân cách của người học, được thể hiện ở tình cảm, ý chíquyết tâm giải quyết các vấn đề mà tình huống học tập đặt ra để có tri thức mới,
kĩ năng mới
Trang 18- Các hình thức biểu hiện.
- Xúc cảm học tập: Thể hiện ở niềm vui, sẵn sàng thực hiện yêu cầu của
GV, hăng hái trả lời các câu hỏi của GV đưa ra, thích phát biểu ý kiến của mìnhtrước vấn đề nêu ra, hay thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa
đủ rõ chưa hiểu, chưa thông
- Chú ý: Thể hiện ở việc tập trung chú ý học tập, lắng nghe, theo dõi mọihành động của GV
- Sự nỗ lực của ý chí: Thể hiện ở sự kiên nhẫn, nhẫn nại, vượt khó khănkhi giải quyết nhiệm vụ nhận thức Kiên trì hoàn thành các bài tập, không nảnlòng trước những tình huống khó khăn Có ý chí quyết tâm, không ngại vượt khóvươn lên trong học tập
- Hành vi: Hăng hái tham gia vào mọi hình thức của hoạt động học tập,hay giơ tay phát biểu ý kiến, bổ sung câu trả lời của bạn, ghi chép cẩn thận, đầy
đủ, cử chỉ khẩn trương khi thực hiện các hành động tư duy
- Kết quả lĩnh hội: Nhanh, đúng, tái hiện được khi cần, chủ động vận dụngđược kiến thức, kỹ năng khi gặp tình huống mới để nhận thức những vấn đềmới
Tính tích cực của HS có mặt tự phát và mặt tự giác:
Trang 19Mặt tự phát: là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò, hiếu
kì, hiếu động, linh hoạt và sôi nổi trong hành vi mà trẻ đều có ở những mức độkhác nhau Cần coi trọng những yếu tố tự phát này, nuôi dỡng, phát triển chúngtrong DH
Mặt tự giác: là trạng thái tâm lí có mục đích và đối tượng rõ rệt, do đó cóhoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó Tính tích cực tự giác thể hiện ở óc quansát, tình phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học
Tính tích cực nhận thức phát sinh không chỉ từ nhu cầu nhận thức mà còn
từ nhu cầu sinh học, nhu cầu đạo đức thẩm mỹ, nhu cầu giao lưu văn hóa Hạtnhân cơ bản của tính tích cực nhận thức là hoạt động tư duy của cá nhân đượctạo nên do sự thúc đẩy của hệ thống nhu cầu đa dạng
Tính tích cực nhận thức và tính tích cực học tập có liên quan chặt chẽ vớinhau nhưng không phải là một Có một số trờng hợp, tính tích cực trong học tậpthể hiện ở hành động bên ngoài, mà không phải là tính tích cực trong tư duy
Tính tích cực của học sinh phù hợp với nguyên tắc “tính tự giác, tíchcực", vì nó khiêu gợi được họat động học tập đã được hướng đích, gợi động cơtrong quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề Dạy học theo hướng tích cực hóahoạt động học tập của học sinh là biểu hiện sự thống nhất giữa giáo dưỡng vàgiáo dục Tác dụng của giáo dục kiểu dạy học này là ở chổ nó dạy cho học sinhkhám phá, tức là rèn luyện cho học sinh cách phát hiện, tiếp cận và giải quyếtvấn đề một cách khoa học Đồng thời nó góp phần bồi dưởng cho học sinhnhững đức tính cần thiết cùa người lao động sáng tạo như tính chủ động, tự giác,tích cực, tính kiên trì vượt khó, thói quen tự kiểm tra
Tính tích cực học tập thể hiện ở cả hai mặt: tính chuyên cần trong hànhđộng và tính sâu sắc trong hoạt động các hoạt động trí tuệ Cách học tích cực thểhiện trong việc tìm kiếm, xử lý thông tin và vận dụng chúng vào giải quyết cácnhiệm vụ học tập và thực tiễn cuộc sống, thể hiện sự tìm tòi, khám phá vấn đế
Trang 20mới bằng phương pháp mới, không phải là sao chép, mà là sự sáng tạo của mỗi
Tình huống cũng có thể được hiểu là sự mô tả hay trình bày một trường hợp
có thật trong thực tế hoặc mô phỏng nhằm đưa ra một vấn đề chưa được giải quyết
và qua đó đòi hỏi người đọc (người nghe) phải giải quyết vấn đề đó
Ở góc độ Tâm lý học tình huống là hệ thống các sự kiện bên ngoài cóquan hệ với chủ thể, có tác dụng thúc đẩy chủ thể đó Trong quan hệ không gian,tình huống xảy ra bên ngoài nhận thức của chủ thể Trong quan hệ thời gian,tình huống xảy ra trước so với hành động của chủ thể Trong quan hệ chức năng,tình huống là sự độc lập của các sự kiện đối với chủ thể ở thời điểm mà người
đó thực hiện hành động [Từ điển Tâm lý học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội2000]
- Theo Nguyễn Bá Kim: “Tình huống có vấn đề là tình huống gợi cho học
sinh những khó khăn về lí luận hay thực tiễn mà học sinh cảm thấy cần thiết và
có khả năng vượt qua, nhưng không phải ngay tức khắc nhờ một thuật giải mà phải trải qua một quá trình tích cực suy nghĩ, hoạt động để biến đổi đối tượng hoạt động hoặc điều chỉnh kiến thức sẵn có” [20, tr 196].
1.2.2.2 Bài tập tình huống
- Khái niệm: Bài tập tình huống là những bài tập chứa đựng những sự kiện,
hoàn cảnh có mâu thuẫn nảy sinh trong hoạt động và quan hệ giữa con người với tựnhiên, với xã hội và giữa con người với con người, buộc ta phải giải quyết, ứngphó, xử lý kịp thời nhằm đưa các hoạt động và quan hệ có chứa đựng trạng thái cóvấn đề bức xúc đó trở lại ổn định và tiếp tục phát triển
Trang 21- Đặc điểm của bài tập tình huống.
- Đưa ra những tình huống đa dạng, gần gũi phù hợp với lứa tuổi HS lớp 4
- Các bài tập tình huống đưa ra được lồng ghép vào các câu chuyện phùhợp với nội dung của bài học
1.2.3 Sử dụng bài tập tình huống
Vận dụng loại bài tập XLTH trong dạy học môn ĐĐ thực hiện đồng thời 3nhiệm vụ của giáo dục ĐĐ là tri thức, kĩ năng và thái độ.Thông qua việc vậndụng loại bài tập XLTH, HS đạt được mục tiêu về mặt tri thức Bởi vì các emđược phân tích, đánh giá những hành vi, việc làm, thái độ, cách ứng xử của cácnhân vật trong bài tập tình huống nêu ra để thấy được ý nghĩa của việc làmđúng, cách cư xử đúng chuẩn mực ĐĐ đã được học hay những hành vi, việc làmsai trái, không phù hợp, từ đó lựa chọn cách ứng xử đúng đắn, lý giải về hành viứng xử đó
Ví dụ: Trong SGK ĐĐ lớp 4, bài 12 (tiết 1) trang 37, khi dạy cho HS
bài“Tích cực tham gia các hoạt động nhân đạo”, GV cần cho các em biết thế nào là“hoạt động nhân đạo”, tại sao cần phải “Tích cực tham gia các hoạt động
nhân đạo “và thực hiện việc “Tích cực tham gia các hoạt động nhân đạo “như
thế nào ? Đó chính là GV đã cung cấp cho HS hiểu biết về mặt tri thức của mẫu
hành vi, khi ấy các em sẽ có niềm tin và tình cảm tích cực với chuẩn mực“Tích
cực tham gia các hoạt động nhân đạo”, HS tin rằng chuẩn mực này là đúng, có
ý nghĩa và mong muốn được thực hiện trong cuộc sống, các em sẽ tỏ thái độkhông đồng tình, phản đối với những người thờ ơ, ích kỉ không tham gia cáchoạt động nhân đạo Cụ thể là ở bài tập 3- SGK ĐĐ lớp 4 trang 39, các em đượctrao đổi, phân tích, đánh giá những hành vi, việc làm nào là đúng qua việc bày tỏ
ý kiến:
Trong những ý kiến dưới đây, ý kiến nào em cho là đúng?
a) Tham gia vào các hoạt động nhân đạo là việc làm cao cả
b) Chỉ cần tham gia vào những hoạt động nhân đạo do nhà trường tổ chức
Trang 22c) Điều quan trọng nhất khi tham gia vào các hoạt động nhân đạo là đểmọi người khỏi chê mình ích kỉ.
d) Cần giúp đỡ nhân đạo không chỉ với người ở địa phương mình mà còn
cả với người ở địa phương khác, nước khác
Sang tiết 2, sau khi các em đã có tri thức và niềm tin với chuẩn mực hành
vi “Tích cực tham gia các hoạt động nhân đạo”, các em sẽ hiểu được ý nghĩa của việc “Tích cực tham gia các hoạt động nhân đạo” Để từ đó các em biết lựa
chọn cách ứng xử phù hợp trong các tình huống mà bài tập nêu ra qua việc thảoluận với các bạn về tình huống đó Cụ thể là bài tập 2- SGK ĐĐ lớp 4 trang 38:
2 Em hãy cùng với các bạn thảo luận về cách ứng xử trong tình huống sau:a) Nếu trong lớp em có bạn khuyết tật
b) Nếu gần nơi em ở có cụ già sống cô đơn, không nơi nương tựa
- Đồng thời việc vận dụng loại bài tập XLTH cũng giúp HS khắc sâu kiếnthức của bài học qua các bài tập tình huống mà các em được thảo luận và đóng vai,góp phần hình thành kĩ năng ĐĐ, tạo được môi trường thuận lợi để HS trải nghiệm,
áp dụng những tri thức, thái độ vào việc giải quyết các tình huống, vấn đề gần gũivới cuộc sống đặc biệt là trong mối quan hệ với CĐ và XH
- Bên cạnh đó còn giúp HS biết cách ứng xử phù hợp trong từng tìnhhuống cụ thể trong mối quan hệ giữa cá nhân với CĐ, XH Điều này có ý nghĩasâu sắc trong sự phát triển nhân cách của trẻ Mặt khác việc vận dụng loại bàitập XLTH không chỉ giúp HS nắm vững tri thức, hình thành kĩ năng mới mà còncủng cố những tri thức và kĩ năng đã được học trước đó Bởi vì, trong quá trìnhhọc tập các em phải huy động những tri thức, kĩ năng, kinh nghiệm tích lũyđược để tìm ra cách ứng xử phù hợp trong các bài tập cần XLTH
- Thông qua việc vận dụng các bài tập cho các em cách làm việc nhóm,tính mạnh dạn tự tin khi đóng vai XLTH theo yêu cầu của bài tập Qua đó nhằm
Trang 23rèn luyện cho các em những đức tính tốt và nhanh nhẹn Nói chung đa số độingũ giáo viên trong trường đều có các biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh
1.3 Bài tập tình huống trong môn Đạo đức lớp 4
1.3.1 Khái quát về môn Đạo đức lớp 4 và chủ đề “mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, xã hội” trong môn Đạo đức lớp 4
1.3.1.1 Khái quát về môn Đạo đức lớp 4
Chương trình môn đạo đức lớp 4 gồm 14 bài, đề cập đến các chuẩn mựchành vi trong các mối quan hệ (quan hệ với bản thân; quan hệ với gia đình; quan
hệ với nhà trường; quan hệ với cộng đồng xã hội; quan hệ với môi trường tựnhiên)
- Mỗi bài học được cấu trúc như sau:
+ Thông tin/ sự kiện / tình huống để đặt vấn đề cho học sinh suy nghĩ.Câu hỏi: Mỗi bài có từ 2 đến 3 câu hỏi nhằm hướng dẫn học sinh khaithác, phân tích các thông tin, sự kiện, tình huống để giải quyết, rút ra bài họcđạo đức
Bài tập: Mỗi bài gồm 5 đến 7 bài tập các dạng bài tập rất phong phú và đadạng để giúp học sinh củng cố lại kiến thức, hình thành thái độ, kỉ năng và hành
vi tích cực: Đóng vai, quan sát tranh và kể chuyện tranh, xây dựng phần kết củacâu truyện có kết cục mở, thảo luận, phân tích tình huống, tranh tình huống, tròchơi có liên quan đến bài học, xứ lí tình huống, điền từ thích hợp vào chỗ trống,bày tỏ ý kiến, thái độ, hát múa, kể chuyện, đọc thơ, đọc cao dao, tục ngữ hoặc vẽtranh về chủ đề đạo đức
Thực hành: Mục đích để hướng dẫn học sinh thực hành bài học trong cuộcsống thực tiễn và chuẩn bị bài tiếp theo
b) Về tổng thời lượng dành cho môn đạo đức lớp 4:
1 tiết/ tuần x 35 tuần = 35 tiết
Là 35 tiết/năm học được phân bổ như sau:
Trang 24- 14 bài dạy trong 28 tiết.
- Ôn tập và kiểm tra học kỳ 1, cuối năm 4 tiết
- Đặc biệt có 3 tiết để sử dụng dạy những vấn đề cần thiết của lớp, trường,địa phương (phần mềm)
Chương trình môn ĐĐ lớp 4 gồm một hệ thống các chuẩn mực hành vi
ĐĐ và pháp luật, thẩm mĩ cơ bản nhất, phù hợp với lứa tuổi HS tiểu học trongcác mối quan hệ của các em với bản thân, gia đình, nhà trường, cộng đồng và tựnhiên Hệ thống các chuẩn mực đó cung cấp cho HS dưới dạng tri thức sơ đẳng
Cụ thể đó là các chuẩn mực về:
+ Mối quan hệ của các em với thiên nhiên
Ví dụ: Đó là mối quan hệ với cây trồng, động vật có lợi,
+ Mối quan hệ của các em với xã hội
Ví dụ: Mối quan hệ với Tổ quốc, Bác Hồ, bộ đội, thương binh, gia đìnhliệt sĩ,
+ Mối quan hệ của các em với những người xung quanh
Ví dụ: Mối quan hệ với thầy cô, ông bà, cha mẹ, những người lớn tuổi,những em bé
+ Mối quan hệ của các em với tài sản xã hội và các di sản văn hóa
Ví dụ: Mối quan hệ với công viên, di tích lịch sử, trường học, bàn ghế.+ Mối quan hệ của các em với bản thân
Ví dụ: tính tự phục vụ, tính thật thà, tính tự kiềm chế,
Các mối quan hệ của các em nêu trên được thiết lập, duy trì và củng cốtrong các môi trường thống nhất giữa nhà trường, gia đình và xã hội
Quan hệ với bản thân
- Trung thực, biết vượt khó khăn trong học tập và trong công việc
- Có ý kiến riêng và biết trình bày, bảo vệ ý kiến của mình về những vấn
đề có liên quan đến trẻ em
- Biết sử dụng tiết kiệm tiền của, thời gian
Trang 25Quan hệ với gia đình
- Hiếu thảo với ông bà, cha mẹ
Quan hệ với nhà trường
- Kính trọng, biết ơn thầy, cô giáo; tích cực tham gia xây dựng trường, lớp.Quan hệ với cộng đổng, xã hội
- Hiểu được giá trị của lao động; yêu lao động, sẵn sàng tham gia laođộng; kính trọng, biết ơn người lao động
- Biết cư xử chân thành, lịch sự, nhã nhặn với mọi người
- Có ý thức bảo vệ của công, bảo vệ các di sản văn hóa
- Tích cực tham gia các hoạt động nhân đạo
- Tôn trọng luật lệ an toàn giao thông
Quan hệ với môi trường tự nhiên
- Biết bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
- Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học
- Đánh giá kết quả dạy học
1.3.1.2 Chủ đề mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, xã hội trong môn Đạo đức lớp 4
Chủ đề mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, xã hội trong môn Đạođức lớp 4 không những cung cấp cho HS những kiến thức cần thiết về cách ứng
xử trong các quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, xã hội mà còn tác động đếntình cảm,thái độ và niềm tin trong cuộc sống
- Cá nhân: là một khái niệm cụ thể chỉ để chỉ một con người trong xã hội
Cá nhân là cá thể người có nhân cách phát triển đầy đủ và hoàn chỉnh Mỗi cánhân có những đặc trưng riêng để phân biệt với cá nhân khác Người ta gọi đó làtính đơn nhất và tính phổ biến của cá nhân
Ví dụ: trong xã hội có người cao, người thấp; có người béo, người gầy; cóngười thế này, người thế kia Chính sự khác nhau đó giúp ta phân biệt người
này với người kia Vì vậy có thể nói cá nhân chính là một “khác với những con
người khác” Mỗi cá nhân có đời sống riêng, có quan hệ xã hội riêng, có nhu
Trang 26cầu, nguyện vọng và lợi ích riêng Nhưng các cá nhân đều có tính chung làthành viên XH và mang bản chất XH.
- Cộng đồng: Một cộng đồng là một nhóm người có một số điểm chung và
họ biết cũng như nhận thức được những điểm chung đó Sử dụng một khái niệmrộng như vậy thì một cộng đồng có thể tồn tại ở nhiều dạng khác nhau Nhữngcộng đồng về địa lý có thể bao gồm một vùng, một thị trấn, hoặc một nhómnông trại trải dài trên nhiều dặm Một cộng đồng đồng nhất là một nhóm người
có những mối quan tâm chung dựa trên tính tương tự về nghề nghiệp, văn hóa,hiểu biết, tôn giáo hoặc các hoạt động giải trí
- Xã hội: là một cộng đồng người có quan hệ gắn bó mật thiết với nhautrong sản xuất, trong đời sống và cùng sống chung trong một phạm vi điều kiệnnhất định
- Ý nghĩa của mối quan hệ giữa cá nhân với CĐ, XH
- Mối quan hệ giữa cá nhân với CĐ là mối quan hệ biện chứng trong đó cánhân là một bộ phận của cộng đồng Cá nhân thể hiện bản sắc riêng biệt củamình thông qua CĐ nhưng không hòa tan vào CĐ
- Mối quan hệ giữa cá nhân và XH là mối quan hệ biện chứng mà nềntảng là quan hệ lợi ích XH là điều kiện, là môi trường và phương thức để mỗi cánhân thực hiện lợi ích của mình XH càng phát triển thì mỗi cá nhân càng thỏamãn lợi ích vật chất và tinh thần Thỏa mãn nhu cầu chính đáng của mỗi cá nhân
là động lực và mục đích liên kết mọi thành viên trong XH Đồng thời, mỗi cánhân càng phát triển về thể lực và tài năng, trí tuệ thì càng có điều kiện để đónggóp phần mình vào sự thúc đẩy XH phát triển Sự tác động của cá nhân tới XHtùy thuộc vào trình độ phát triển của nhân cách cá nhân
1.3.2 Bài tập tình huống thuộc chủ đề mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, xã hội trong môn Đạo đức lớp 4
1.3.2.1 Đặc trưng của bài tập tình huống trong chủ đề mối quan hệ giữa
cá nhân với cộng đồng, xã hội trong môn Đạo đức lớp 4
Trang 27Nếu nói một cách khái quát thì tuổi học sinh Tiểu học là tuổi nhận thứccảm tính còn chiếm ưu thế Tư duy của trẻ còn mang nặng tính chất trực quan,chú ý thiếu bền vững Tri giác của các em hầu như hời hợt, trí nhớ logic chưaphát triển, ghi nhớ không chủ định còn đóng một vai trò đáng kể, khó tiếp nhậnnhiệm vụ, nội dung học tập Học sinh lứa tuổi này lúc nào cũng tìm chỗ dựa ởkinh nghiệm cảm tính, ở những biểu tượng và ấn tượng của bản thân, những trithức gần gũi với cuộc sống của các em Trẻ dễ đãng trí trong những công việccác em chưa hứng thú, khó tập trung chú ý đối với những tài liệu thiếu hấp dẫn
về mặt xúc cảm trực tiếp GVsẽ cung cấp cho HS tình huống HS tìm hiểu,phân tích và hành động trong tình huống đó Kết quả là HS thu nhận được các trithức khoa học, thái độ và các kĩ năng hành động (tri óc và thực tiễn) sau khi giảiquyết tình huống đã cho Thông qua việc giải quyết tình huống, HS hiểu kĩ hơncác khái niệm, củng cố kiến thức một cách thường xuyên và hệ thống hóa kiếnthức; mở rộng sự hiểu biết một cách sinh động, phong phú mà không làm nặng
nề khối lượng kiến thức của HS Bên cạnh đó, những tình huống thực tiễn giúp
HS thêm hiểu biết về thiên nhiên, môi trường sống, ngành sản xuất hóa học,những vấn đề mang tính thời sự trong nước và quốc tế Tình huống thực tiễn còngiúp HS bước đầu biết vận dụng kiến thức để lý giải và cải tạo thực tiễn nhằmnâng cao chất lượng cuộc sống Đối với các em học sinh lớp 4 nhận thức của các
em phần nào mang tính khái quát hơn nhưng vẫn chưa thoát ly những nhữngtình huống cụ thể Chính vì thế khi các em học và vận dụng các bài tập tìnhhuống các em sẽ nhận biết được rõ các hành vi đạo đức, giúp các em biết giảiquyết, ứng xử theo cách của mình, xử lý khi gặp tính huống đó trong cuộc sốnghang ngày của các em Nếu hành vi đó là đúng thì cho kết quả tích cực là nhữngđiều tốt đẹp, nếu hành vi đó sai sẽ dẫn đến hậu quả xấu, có hại => HS rút ra kếtluận tương ứng về chuẩn mực cần thực hiện
Việc vận dụng loại bài tập XLTH sẽ hình thành cho HS tính tích cựctrong học tập Bởi vì nguồn gốc của tính tích cực là nhu cầu Khi trẻ có nhu cầuthì trẻ sẽ tự giác tìm kiếm tri thức Khi phát hiện các tình huống mâu thuẫn của
Trang 28lý thuyết hay thực tế mà bằng kiến thức cũ không thể giải quyết được, HS buộcphải tìm con đường khám phá mới Đối với HS, tính tích cực bên trong thườngnảy sinh do những tác động bên ngoài Do đó loại bài tập XLTH sẽ tạo ra hàngloạt mâu thuẫn, khéo léo lôi cuốn, hấp dẫn HS để các em tự ý thức tiếp nhận vàtìm tòi, suy nghĩ tìm các giải pháp hợp lý, phù hợp với chuẩn mực ĐĐ đã học đểXLTH mà bài tập nêu ra.
- Việc vận dụng loại bài tập XLTH còn đáp ứng được ba nhiệm vụ củamôn ĐĐ ở tiểu học Đó là không chỉ cung cấp cho HS những tri thức sơ đẳngdưới dạng mẫu hành vi về các chuẩn mực ĐĐ, gắn liền với kinh nghiệm ĐĐ để
từ đó giúp các em bước đầu hình thành được năng lực định hướng giá trị ĐĐ,biết phân biệt cái đúng, cái sai, làm theo cái đúng, ủng hộ cái đúng, tránh cái sai,đấu tranh với những biểu hiện sai trái, xấu xa, tội ác mà việc vận dụng loại bàitập XLTH còn bồi dưỡng cho HS xúc cảm ĐĐ, biến những chuẩn mực ĐĐ sơgiản thành động cơ bên trong, thôi thúc các em hành động theo những chuẩnmực ĐĐ đã quy định Đặc biệt qua việc vận dụng loại bài tập XLTH sẽ giúp các
em rèn luyện hành vi và thói quen hành vi phù hợp với chuẩn mực ĐĐ đã học,tạo cho các em một nền tảng vững chắc cho sự hình thành và phát triển nhâncách về sau của trẻ
Ví dụ: Khi dạy cho HS học bài 9:“Kính trọng, biết ơn người lao động
“trong SGK ĐĐ lớp 4 trang 27 Để HS có thể làm được yêu cầu của bài tập 4
-trang 30 (Thảo luận và đóng vai theo những tình huống sau) ở tiết 2, thì trước
hết ở tiết 1 GV cần phải cung cấp cho HS hiểu thế nào là“người lao động”, tại sao cần phải“Kính trọng, biết ơn người lao động “và những hành động, việc làm nào thể hiện sự “Kính trọng, biết ơn người lao động” Đó là GV đã giúp
cho HS có những hiểu biết ban đầu và thấy được sự cần thiết, ý nghĩa của việccần phải kính trọng và biết ơn người lao động Khi đó các em sẽ biết phân biệtnhững hành động, việc làm nào là thể hiện sự kính trọng, biết ơn người lao động
và những việc làm nào là không tôn trọng, biết ơn đối với người lao động Từ đó
Trang 29các em sẽ biết vận dụng cách ứng xử nào là hợp lý trong các tình huống mà bàitập nêu ra Điều này sẽ thúc đẩy các em tự rèn luyện và thực hiện những hành vi
thể hiện sự “Kính trọng, biết ơn người lao động “trong thực tế cuộc sống.
- Bên cạnh đó khi vận dụng loại bài tập XLTH sẽ tạo nên tính hiệu quảtrong học tập Bởi vì qua việc dạy học loại bài tập này sẽ giúp cho người GVnắm bắt, kiểm tra được tri thức bài học mà HS đạt được đến mức độ nào khi chocác em làm loại bài tập này Để từ đó GV tự điều chỉnh lại cách truyền đạt kiếnthức của bài học, có cơ hội trao dồi những PP dạy học sao cho giúp HS nắmvững nội dung bài học để có vốn kiến thức vững chắc áp dụng thực hành làm bàitập Còn về phía HS, việc vận dụng loại bài tập XLTH sẽ giúp các em củng cố,khắc sâu kiến thức đã học qua việc thảo luận, đóng vai thể hiện cách XLTH màbài tập nêu ra Các em sẽ được trải nghiệm mình qua những tình huống khácnhau, biết cách ứng xử hợp lý trong mỗi tình huống Đó là vốn sống quý báo đểkhi ra ngoài XH, thực tế cuộc sống các em sẽ không bỡ ngỡ, lúng túng trướcnhững tình huống mà mình gặp phải Như vậy qua việc vận dụng loại bài tậpnày sẽ tạo nên sự tác động tích cực và gắn bó chặt chẽ hơn giữa người dạy vàngười học, khi đó hiệu quả của việc dạy học sẽ được nâng cao hơn
1.3.2.2 Các dạng bài tập tình huống thuộc chủ đề mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, xã hội trong môn Đạo đức lớp 4
- Đưa một câu chuyện kể có kết cục mở liên quan đến nội dung bài học,sau đó nêu câu hỏi nếu em là nhân vật trong câu chuyện trên, em sẽ làm gì ? Vìsao ?
- Đưa ra tình huống (mở) rồi cho HS thảo luận và đóng vai theo các tìnhhuống đó
- Đưa tranh tình huống (mở) rồi cho HS thảo luận và đóng vai theo cáctình huống đó
- Cho HS xem một đoạn phim ngắn giới thiệu về tình huống (mở) rồi cho
HS thảo luận và đóng vai theo các tình huống đó
Trang 301.3.2.3 Vai trò của bài tập tình huống thuộc chủ đề mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, xã hội trong môn Đạo đức lớp 4 đối với việc phát huy tính tích cực của học sinh
- Giúp cho HS có hiểu biết ban đầu về một số chuẩn mực hành vi ĐĐ phùhợp với lứa tuổi khi học chủ đề mối quan hệ giữa cá nhân với CĐ, XH và ýnghĩa của việc thực hiện theo các chuẩn mực hành vi đó
Ví dụ: Trong SGK ĐĐ lớp 4 ở bài 11 (tiết 1) trang 34, các em được học
bài “Giữ gìn các công trình công cộng”, trước hết GV cho các em biết thế nào là
“công trình công cộng ?”, tại sao cần “Giữ gìn các công trình công cộng “và thực hiện “Giữ gìn các công trình công cộng như thế nào”?.
- Giúp cho HS từng bước hình thành kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vicủa bản thân và những người xung quanh theo chuẩn mực hành vi đã học; kĩnăng lựa chọn và thực hiện hành vi ứng xử phù hợp trong mối quan hệ giữa cánhân với CĐ, XH; biết nhắc nhở bạn cùng thực hiện
Ví dụ: Trong SGK ĐĐ lớp 4 ở bài 11 (tiết 2) “Giữ gìn các công trình
công cộng” trang 34, sau khi các em đã có tri thức về mẫu hành vi, các em sẽ có
niềm tin và tình cảm tích cực với chuẩn mực“Giữ gìn các công trình công cộng”
được hình thành, nghĩa là HS tin chắc rằng chuẩn mực này là cần, là đúng là có
ý nghĩa và mong muốn thực hiện trong cuộc sống, hoặc có thể HS tỏ thái độkhông đồng tình với những người có hành vi phá hoại, không tôn trọng, gìn giữ,bảo vệ các công trình công cộng
- Giúp cho HS từng bước rèn luyện hành vi và thói quen hành vi phù hợpvới chuẩn mực ĐĐ đã học
Ví dụ: Cũng với ví dụ trên, một khi HS đã có tri thức và niềm tin với
chuẩn mực hành vi“Giữ gìn các công trình công cộng” thì các em sẽ tự ý thức
rèn luyện hành vi theo mẫu hành vi, nghĩa là HS có kĩ năng chăm sóc, bảo vệ,gìn giữ các công trình công cộng và qua trải nghiệm cuộc sống thì hành vi đó sẽđược củng cố và phát triển
Trang 311.4 Sử dụng bài tập tình huống trong dạy học môn đạo đức lớp 4 để phát huy tính tích cực của học sinh
1.4.1 Đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh lớp 4
1.4.1.1 Đặc điểm bộ não của học sinh tiểu học
- Các nhà khoa học đã xác định rằng: ở trẻ 7 tuổi, trọng lượng não bộbằng 1250g, ở trẻ 9 tuổi 1300g, ở người lớn khoảng 1360g Như vậy, trọnglượng não bộ của trẻ em từ 7 đến 11 tuổi đã đạt được 90% trọng lượng não củangười lớn Đặc điểm sinh học đó cho thấy bộ não HS tiểu học khá phát triển, các
em có thể phát hiện và giải quyết, xử lý các tình huống có vấn đề để tìm thấy trithức mới trong học tập Lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi từ 7 đến 11 tuổi.Đây là lứa tuổi các em trở thành một học sinh ở trường phổ thông, chứ khôngcòn là một em bé mấu giáo “học mà chơi, chơi mà học “nữa Đó là một chuyểnbiến rất quan trọng trong sự phát triển của trẻ em, một đặc trưng quan trọng củalứa tuổi này
1.4.1.2 Nhu cầu nhận thức
Khi trở thành một học sinh Tiểu học thì nhu cầu nhận thức của trẻ pháttriển và thể hiện rõ nét, đặc biệt là nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh, khátvọng hiểu biết mọi thứ có liên quan.Nhu cầu nhận thức của học sinh Tiểu học là
nhu cầu tinh thần Nó có ý nghĩa đăc biệt đối với sự phát triển của các em.
- Các em có đặc điểm tò mò, ham hiểu biết, thích khám phá hiện thực Đó
là tiền đề để xây dựng hứng thú nhận thức, lòng ham học
1.4.1.3 Khả năng nhận thức
Khả năng nhận thức phát triển nhanh chóng nhờ hoạt động học tập
- HS có khả năng chiếm lĩnh tri thức các môn học và khả năng thực hiệncác hoạt động khác
- Thông qua thực hiện hoạt động học, các em hình thành ðýợc cách học.Bằng hoạt động học của mình các em phát hiện và chiếm lĩnh tri thức mới thôngqua sự hướng dẫn của GV
Trang 32- Nhờ hoạt động học mà tư duy và ngôn ngữ các em ngày càng phát triển.Các em biết sử dụng các thao tác tư duy để nhận thức, biết sử dụng ngôn ngữ đểghi lại kết quả tư duy.
- Hoạt động tư duy của HS tiểu học thể hiện ở chỗ vạch ra những đặcđiểm bản chất của những sự vật và hiện tượng được nhận thức, đồng thời gạt bỏnhững đặc điểm thứ yếu và không bản chất
1.4.1.4 Vốn tri thức, kinh nghiệm
- HS tích lũy được vốn tri thức, kinh nghiệm sống nhờ tiếp thu nội dungcác môn học, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như: đài, báo, tivi cùng với sự giáo dục của gia đình
1.4.1.5 Khả năng hoạt động và giao lưu
- HS thích tham gia các hoạt động trong lớp và các hoạt động ngoài giờlên lớp như hoạt động Đội, hoạt động xã hội
- Các em thích giao lưu với bạn bè trong tổ, nhóm tạo điều kiện để xâydựng tình cảm, quen dần với việc sống và làm việc tập thể
Tóm lại, trong hoạt động học tập và các hoạt động khác HS được hìnhthành và phát triển đạt trình độ mới Đó là các quá trình có chủ định như: chú ý
có chủ định, ghi nhớ có chủ định, tư duy logic Đặc biệt là nhờ hoạt động họcđược tổ chức một cách khoa học mà HS tiểu học hình thành được cơ sở ban đầukiểu tư duy mới là tư duy lý luận mà trước khi đến trường các em không có
1.4.2 Mục đích, yêu cầu sử dụng bài tập tình huống trong dạy học môn Đạo đức lớp 4 để phát huy tính tích cực của học sinh
Có hiểu biết ban đầu về một số chuẩn mực hành vi đạo đức và pháp luật
cơ bản, phù hợp với lứa tuổi trong mối quan hệ giữa các em với bản thân, giađình, nhà trường, cộng đồng, xã hội Môi trường tự nhiên và ý nghĩa của việcthực hiện theo các chuẩn mực đó
Trang 33- Từng bước hình thành kỹ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân vànhững người xung quanh theo chuẩn mực đã học; kỹ năng lựa chọn và thực hiệncác hành vi ứng xử phù hợp chuẩn mực trong các mối quan hệ và tình huống đơngiản, cụ thể của cuộc sống; biết nhắc nhở bạn bè cùng thực hiện
- Từng bước hình thành thái độ tự trọng, tự tin và khả năng của bản thân, cótrách nhiệm với hành động của mình; yêu thương tôn trọng con người; yêu cáithiện, cái đúng, cái tốt; không đồng tình với cái ác, cái sai, cái xấu thông qua cácbài đạo đức, nhằm từng bước hình thành cho học sinh một số kĩ năng sống cơ bảnnhư: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng xác định giá trị; kỹ năng raquyết định; kỹ năng kiên định; kỹ năng đặt mục tiêu
- Hằng ngày các em có thói quen học tập tốt, biết giữ im lặng khi nghethầy cô giảng bài, biết giúp bạn bè trong học tập, Áp dụng các bài tập tìnhhuống làm vốn kiến thức hiểu biết để cư xử đúng, tôn trọng, lịch sự trong giaotiếp, áp dụng tốt các hành vi chuẩn mực của lứa tuổi học sinh tiểu học
1.4.3 Phương thức sử dụng bài tập tình huống trong môn Đạo đức lớp
4 để phát huy tính tích cực của học sinh
1.4.3.1 PP thảo luận nhóm kết hợp với PP đóng vai
Khái niệm
- PP thảo luận nhóm: Thảo luận nhóm là PP tổ chức để học sinh tham giamột cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em chia sẻ kiếnthức, kinh nghiệm, ý kiến trong nhóm với nhau nhằm giải quyết các vấn đề cóliên quan đến nội dung bài học
- PP đóng vai: là PP làm cho học sinh lĩnh hội chuẩn mực hành vi đạo đứcbằng cách thực hành, “làm thử “một số cách ứng xử nào đó trong một tình huốnggiả định Đây là PP giảng dạy nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đềbằng cách tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các em quan sát được
Cách tiến hành
Trang 34- Cho HS nêu yêu cầu nội dung tình huống cần thảo luận và đóng vai, GVchia nhóm, quy định thời gian thảo luận và đóng vai cho các nhóm.
- Các nhóm thảo luận cách XLTH, phân chia vai diễn theo tình huốngtrong bài tập
Cách tiến hành:
- GV cho 2 HS đọc yêu cầu bài tập 4
- GV cho lớp thảo luận và đóng vai tình huống trên theo nhóm 6 trong 5 phút
Ưu, nhược điểm
- PP thảo luận nhóm:
+ Ưu điểm :
- Phát huy được vốn kinh nghiệm ĐĐ của HS Nhờ đó mà kiến thức củacác em giảm bớt phần chủ quan, phiến diện
Trang 35- Kiến thức trở nên sâu sắc, bền vững, dễ nhớ và nhớ nhanh hơn do đượcgiao lưu học tập giữa các thành viên trong nhóm.
- Lớp học sôi nổi, hào hứng
- Giúp HS bày tỏ được nhiều ý kiến và tự tin hơn trong học tập và sinhhoạt, đặc biệt những em nhút nhát trở nên bạo dạn, các em được bày tỏ ý kiếnriêng của mình, biết lắng nghe có phê phán ý kiến của bạn
- Từng thành viên trong nhóm được khích lệ đặc biệt khi tiếp thu các vấn
- Truyền thụ chuẩn mực hành vi ĐĐ một cách sinh động, thực tế
- Thu hút sự chú ý, tập trung của HS
- Lớp học sôi nổi, hào hứng
- Tạo sự gắn bó, phối hợp giữa các HS
- HS phải tích cực hoạt động nhận thức, đánh giá
+ Nhược điểm:
- Khó có điều kiện đi sâu vào chuẩn mực hành vi ĐĐ
- Khó thực hiện với bài giảng có nội dung phức tạp, nhiều vấn đề hoặc lớpquá đông
- Tốn thời gian, công sức chuẩn bị
- Tổ chức lớp học phức tạp
Yêu cầu sư phạm
- PP thảo luận nhóm:
Trang 36- Có thể chia nhóm theo nhiều cách: theo bàn, số điểm danh, màu sắc, giớitính, địa bàn, vị trí chỗ ngồi, biểu tượng, Chú ý thời gian chia nhóm để khôngảnh hưởng đến nội dung khác.
- Quy mô nhóm có thể lớn hoặc nhỏ, tùy theo vấn đề thảo luận
- Giúp đỡ học sinh trong việc thay đổi luân phiên các chức danh trongnhóm: nhóm trưởng, thư kí
- Cần rèn luyện cho học sinh kĩ năng trình bày ý kiến hay vấn đề trước lớp
- Động viên và tôn trọng tất cả các ý kiến của các thành viên trong lớp, nhóm
- Trong suốt thời gian thảo luận nhóm, GV cần đi vòng quanh các nhóm
để lắng nghe và quan sát nét mặt, bầu không khí, vai trò ảnh hưởng của cácthành viên trong nhóm
- Tình huống nên để mở, không cho trước “kịch bản”, lời thoại
- Có sự chuẩn bị chu đáo các thiết bị (nếu cần thiết)
- Hướng dẫn cụ thể, tỉ mỉ cho các vai diễn để người đóng vai của mìnhtrong bài tập không bị lạc đề
- Động viên HS tham gia sắm vai và nhận xét, đánh giá, đặc biệt đối với
HS nhút nhát
- Luôn có sự hướng dẫn, điều chỉnh phù hợp với chuẩn mực ĐĐ
- Tổng kết, nhấn mạnh trọng tâm chính của chuẩn mực hành vi ĐĐ
- Nêu rõ những sai lấm mắc phải trong vai diễn
Trang 371.3.4.2 PP kể chuyện kết hợp với PP thảo luận
Khái niệm PP kể chuyện
- Là PP dùng lời kể kết hợp với sử dụng điệu bộ, cử chỉ, tranh minh họa,con rối, để thuật lại nội dung một truyện nào đó Trong giờ ĐĐ, đó là cáctruyện kể về cách ứng xử của các nhân vật trong một tình huống có vấn đề vềĐĐ
Cách tiến hành
- GV giới thiệu về câu chuyện sẽ kể trong nội dung bài học
- GV kể chuyện
- Nêu câu hỏi
- GV chia nhóm, cho HS thảo luận nhóm, quy định thời gian thảo luậncủa các nhóm
- Đại diện các nhóm trình bày trả lời câu hỏi, các nhóm khác nhận xét bổ sung
- GV kết luận, rút ra nội dung câu chuyện và chốt lại cách ứng xử phù hợptrong câu chuyện
- Ví dụ: Bài 10: Lịch sự với mọi người (SGK ĐĐ lớp 4, trang 31)
- Truyện: “Chuyện ở tiệm may “
Cách tiến hành:
- GV giới thiệu câu chuyện: “Chuyện ở tiệm may “
- GV kể chuyện
- GV nêu câu hỏi: “Nếu em là bạn của Hà, em sẽ khuyên bạn điều gì ? Vì sao ?
- GV chia lớp thành nhóm 4, thảo luận trả lời câu hỏi trên trong 4 phút
- GV cho 2- 3 nhóm trình bày trả lời câu hỏi các nhóm khác nhận xét, bổ sung
- GV kết luận, rút ra nội dung câu chuyện
Ưu, nhược điểm
+ Ưu điểm:
- PP kể chuyện giúp cho bài học ĐĐ đến với HS một cách tự nhiên, nhẹnhàng, sống động
Trang 38- Hấp dẫn, thu hút được sự chú ý của HS.
Yêu cầu sư phạm của PP kể chuyện
- Nắm vững tư tưởng chủ đạo, yêu cầu giáo dục, nội dung cơ bản của truyện
- Ngôn ngữ khi kể phải giản dị, trong sáng, dễ hiểu, giàu hình ảnh Tránhdùng những từ tối nghĩa xa lạ với HS
- Người kể phải hòa nhập vào truyện, có xúc cảm với truyện, kể một cách
tự nhiên và sinh động, tránh lặp lại từng câu, từng chữ trong sách giáo khoa.Giọng nói phải khoan thai, rõ ràng, truyền cảm
- Có thể khi kể chuyện kết hợp giữa giọng nói, điệu bộ việc sử dụng tranhảnh, con rối (nếu có) để tăng thêm phần hấp dẫn, sinh động của truyện kể
- GV có thể kể một lần, sau đó yêu cầu 1 - 2 em HS có năng khiếu kểchuyện trong lớp kể lại lần thứ hai
Trang 39Kết luận chương 1
- Cơ sở lý luận của đề tài đã làm rõ các khái niệm xoay quanh việc “Sử
dụng loại bài tập xử lý tình huống để phát huy tính tích cực của học sinh khi học chủ đề mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, xã hội trong môn Đạo đức ở lớp 4” Điều đó có ý nghĩa giúp cho người GV nắm bắt được đặc điểm của loại
bài tập XLTH; đặc điểm tâm sinh lý của HS lớp 4; các hình thức biểu hiện củatính tích cực ở HS nhằm vận dụng, lựa chọn những loại bài tập XLTH nào làhợp lý, phù hợp với sự nhận thức, hiểu biết của HS lớp 4 để đạt đến mục đíchcuối cùng là làm sao phát huy tính tích cực của HS khi học chủ đề mối quan hệgiữa cá nhân với CĐ, XH Đặc biệt qua việc tìm hiểu ý nghĩa của mối quan hệgiữa cá nhân với CĐ, XH đã cho thấy tầm quan trọng, cần phải vận dụng loạibài tập XLTH trong mối quan hệ này vì nó gần gũi và cần thiết trong đời sốngcủa trẻ
- Ở cơ sở thực tiễn của đề tài đã giúp cho người GV có cái nhìn tổng quát,sâu hơn về việc vận dụng loại bài tập XLTH qua việc thống kê số lượng bài họctrong chủ đề mối quan hệ giữa cá nhân với CĐ, XH chiếm 6/14 bài trong SGK
ĐĐ lớp 4 Điều này cho thấy mối quan hệ giữa cá nhân với CĐ, XH là một trongnăm mối quan hệ giữ vai trò chính yếu trong các bài học SGK ĐĐ lớp 4 Bêncạnh đó, việc khảo sát về sự hiểu biết và vận dụng loại bài tập XLTH của các
GV ở trường tiểu học Nguyễn Trọng Tuyển đã rút ra được những kết luận thiếtthực về mức độ sử dụng, hình thức, áp dụng PP dạy học cho loại bài tập này nhưthế nào Đó là nền tảng giúp cho đề tài xem xét, tìm hiểu và sử dụng những PPdạy học như thế nào để phát huy tính tích cực cho HS khi học chủ đề mối quan
hệ giữa cá nhân với CĐ, XH nhằm đạt đến mục đích nghiên cứu mà đề tài đã đềra
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG TRONG DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC LỚP 4 ĐỂ PHÁT HUY TÍNH TÍCH
2.1.2 Nội dung khảo sát thực trạng
- Khảo sát thực trạng nhận thức của giáo viên về bài tập tình huống trongdạy học môn Đạo đức lớp 4
- Khảo sát thực trạng sử dụng bài tập tình huống trong dạy học môn Đạođức lớp 4 để phát huy tính tích cực của học sinh
2.1.3 Đối tượng và địa bàn khảo sát thực trạng
Tiến hành khảo sát 738 học sinh trường Tiểu học Nguyễn Trọng TuyểnPhường 21 Quận Bình Thạnh Thành phố Hồ Chí Minh với 10 cán bộ đoàn viên,
52 cán bộ, giáo viên nhà trường, 15 chuyên gia, 120 người thuộc lực lượng xã hộitại các trường để đánh giá thực trạng Những đối tượng chúng tôi tiến hành điềutra khảo sát trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia quản lý giáo dục và giáo dục đạo đứccho học sinh ở trường tiểu học
2.1.4 Phương pháp khảo sát thực trạng
Ngoài những phương pháp điều tra khảo sát bằng bộ phiếu hỏi là cơ sở đểđịnh lượng, thì chúng tôi dùng phương pháp phỏng vấn, quan sát, tham gia các hoạt động và nghiên cứu nhằm đánh giá định tính thực trạng