1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình khai phá vùng đất nam bộ thời chúa nguyễn dưới tác động của những yếu tố quốc tế

236 33 15

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quá Trình Khai Phá Vùng Đất Nam Bộ Thời Chúa Nguyễn Dưới Tác Động Của Những Yếu Tố Quốc Tế
Tác giả Nguyễn Đình Cơ
Người hướng dẫn PGS. TS. Ngô Minh Oanh, PGS. TS. Trần Thị Mai
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận Án Tiến Sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 236
Dung lượng 6,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, nghiên cứu về thời kỳ các chúa Nguyễn cũng như công cuộc mở đất ở Nam Bộ trong các thế kỷ XVII – XVIII đặt trong giác độ khu vực học, trong sự vận động và tác động của những n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: HD1: PGS TS NGÔ MINH OANH HD2: PGS.TS TRẦN THỊ MAI

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2021

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 2

2.1 Cơ sở phương pháp luận 2

2.2 Phương pháp nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4

3.1 Đối tượng nghiên cứu 4

3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4.1 Mục đích nghiên cứu 5

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Đóng góp mới của Luận án 5

6 Ngu n tài liệu nghiên cứu 5

7 Một số thuật ngữ sử dụng trong luận án 6

7.1 Về thuật ngữ “Đàng Trong” 6

7.2 Về thuật ngữ “Nam Bộ” 7

7.3 Về thuật ngữ “Người Hoa” 8

7.4 Về thuật ngữ “Đông Nam Á” 9

8 Bố cục Luận án 11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 12

1.1 Tình hình nghiên cứu về công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ 12

1.2 Những công trình viết về yếu tố quốc tế tác động đến công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ 22

1.2.1 Những công trình viết về dòng thương mại biển Đông 22

1.2.2 Những công trình viết về tác động của quan hệ giữa Đàng Trong với các vương quốc Đông Nam Á 29

Trang 4

1.2.3 Những công trình viết về tác động của dòng di dân người Hoa 32

1.3 Những kết quả đạt được từ những công trình đã công bố 37

1.4 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án 41

1.4.1 Nghiên cứu về tác động của quan hệ giữa chính quyền Đàng Trong với các nước trong khu vực tới công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ 41

1.4.2 Nghiên cứu về tác động của hoạt động thương mại trên biển Đông tới công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ thế kỷ XVII-XVIII 42

1.4.3 Nghiên cứu về dòng di dân người Hoa và tác động của nó tới công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ thế kỷ XVII-XVIII 42

CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TRÊN BIỂN ĐÔNG VỚI CÔNG CUỘC KHAI PHÁ VÙNG ĐẤT NAM BỘ THẾ KỶ XVII-XVIII 44

2.1 Các nền thương mại lớn của Châu Âu tham gia vào hoạt động thương mại trên biển Đông 44

2.1.1 Sự thâm nhập của Chủ nghĩa Tư bản Phương Tây vào khu vực Đông Nam Á 44

2.1.2 Các công ty Đông Ấn và hoạt động thương mại trên biển Đông 46

2.2 Quá trình hội nhập của Đàng Trong vào hoạt động thương mại quốc tế trên biển Đông 51

2.3 Sự phát triển của ngoại thương ở Nam Bộ thế kỷ XVII – XVIII 56

2.3.1 Sự phát triển của kinh tế hàng hóa ở Nam Bộ thế kỷ XVII-XVIII 58

2.3.2 Thương nhân đến buôn bán ở Nam Bộ 61

2.3.3 Trao đổi hàng hóa ở khu vực Nam Bộ ở thế kỷ XVII-XVIII 64

2.3.4 Các loại hàng hoá trao đổi 67

2.4 Những tác động của hoạt động thương mại trên biển Đông đến công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ 71

2.4.1 Tạo nên quá trình giao lưu tiếp xúc kinh tế - văn hóa 71

2.4.2 Hình thành các trung tâm kinh tế 80

2.4.3 Thay đổi diện mạo của vùng đất Nam Bộ 92

Trang 5

2.4.4 Thúc đẩy quá trình mở rộng khai phá các vùng đất mới, xác lập chủ

quyền ở vùng đất Nam Bộ 94

Tiểu kết chương 2 97

CHƯƠNG 3: QUAN HỆ GIỮA ĐÀNG TRONG VÀ CÁC NƯỚC 99

TRONG KHU VỰC ĐÔNG NAM Á VỚI CÔNG CUỘC KHAI PHÁ 99

VÙNG ĐẤT NAM BỘ THỜI CHÚA NGUYỄN (THẾ KỶ XVII-XVIII) 99

3.1 Tình hình khu vực Đông Nam Á thế kỷ XVII-XVIII 99

3.1.1 Sự khủng hoảng của Chân Lạp 99

3.1.2 Vương quốc Ayuthaya (Xiêm) thế kỷ XVII-XVIII 100

3.1.3 Tình hình các nước Đông Nam Á khác ở thế kỷ XVII-XVIII 104

3.2 Quan hệ Đàng Trong – Chân Lạp - Xiêm thế kỷ XVII-XVIII 106

3.2.1 Quan hệ tay ba trong vấn đề tranh chấp vùng đất Hà Tiên 106

3.2.2 Tranh chấp ảnh hưởng giữa Xiêm và Đàng Trong ở Chân Lạp 114

3.3 Quan hệ giữa Đàng Trong với các nước trong khu vực Đông Nam Á tác động tới công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ 123

3.3.1 Quá trình khai phá vùng đất Nam Bộ của chúa Nguyễn diễn ra thuận lợi và nhanh chóng 123

3.3.2 Tương tác quyền lực trong khu vực với việc khẳng định chủ quyền của chúa Nguyễn ở Nam Bộ 128

Tiểu kết chương 3 132

CHƯƠNG 4: DI DÂN NGƯỜI HOA VỚI CÔNG CUỘC KHAI PHÁ 134

VÙNG ĐẤT NAM BỘ THỜI CHÚA NGUYỄN (THẾ KỶ XVII-XVIII) 134 4.1 Tình hình Trung Quốc ở thế kỷ XVII và quá trình người Hoa di cư xuống Đông Nam Á 134

4.1.1 Tình hình chính trị - xã hội của Trung Quốc ở thế kỷ XVII 134

4.1.2 Người Hoa di cư đến các nước Đông Nam Á 138

4.2 Những điều kiện thu hút lực lượng người Hoa đến vùng đất Nam Bộ 143

4.2.1 Tính mở của kinh tế - xã hội Đàng Trong 143

4.2.2 Nhu cầu nhân lực cho công cuộc khẩn hoang 150

Trang 6

4.3 Di dân người Hoa và tác động tới quá trình khai phá vùng đất Nam Bộ 1524.3.1 Các nhóm người Hoa di dân vào Nam Bộ 1524.3.2 Sự tham gia của di dân người Hoa trong hoạt động khai phá đất đai, thành lập thôn ấp ở Nam bộ 1614.3.3 Người Hoa tham gia bảo vệ vùng đất mới khai phá 1714.3.4.Đóng góp của người Hoa trong việc hình thành nên các trung tâm buôn bán sầm uất 176Tiểu kết chương 4 184KẾT LUẬN 186DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 194TÀI LIỆU THAM KHẢO 196PHỤ LỤC 209

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Mở rộng lãnh thổ, xác lập chủ quyền ở Nam Bộ là đóng góp lớn của các chúa Nguyễn đối với Việt Nam trong các thế kỷ XVII-XVIII Vấn đề khai phá vùng đất Nam Bộ thời chúa Nguyễn đã thu hút sự chú ý của rất nhiều học giả, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước với nhiều nhận thức, nhiều kết luận, nhiều cách tiếp cận khác nhau, cung cấp nhận thức ngày càng khoa học và tiệm cận hơn với thực tiễn vận động, phát triển của vùng đất Nam Bộ Tuy nhiên, nghiên cứu về thời kỳ các chúa Nguyễn cũng như công cuộc mở đất ở Nam Bộ trong các thế kỷ XVII – XVIII đặt trong giác độ khu vực học, trong sự vận động và tác động của những nhân tố quốc tế, nhân tố thời đại để có một cái nhìn toàn diện hơn thì chưa

có nhiều công trình triển khai

Trong công cuộc mở cõi về phương Nam, các chúa Nguyễn không chỉ phát huy mạnh mẽ thế mạnh từ yếu tố nội lực (thế và lực đang hưng thịnh của chính quyền, tiềm lực kinh tế - quốc phòng, vai trò năng động của các cộng đ ng dân cư), mà còn khéo léo tận dụng thành công những yếu tố khu vực, quốc tế (chuyển biến tương quan thế và lực giữa các quốc gia Đông Nam Á lục địa, làn sóng di dân

ạt của các nhóm người Hoa xuống Đông Nam Á, lu ng thương mại biển Đông sôi động gắn với sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân phương Tây) Nhãn quan chính trị nhạy bén, cùng kinh nghiệm tích lũy được trong quá trình khai mở vùng đất Nam Trung bộ đã được các chúa Nguyễn triển khai thận trọng nhưng không kém hiệu quả vào thực tiễn tận dụng các yếu tố khu vực, quốc tế trong công cuộc

mở đất Nam Bộ Từ đó, biến các thách thức thành cơ hội, biến những yếu tố ngoại sinh thành sức mạnh nội sinh Thực tế chứng minh những yếu tố khu vực, quốc tế

đã có tác động thúc đẩy nhanh quá trình khai phá, thiết lập thôn xóm của lưu dân

và quá trình sáp nhập lãnh thổ của chính quyền chúa Nguyễn

Có nhiều ý kiến cho rằng: thế kỷ XVI-XVIII là giai đoạn khủng hoảng của chế độ phong kiến Việt Nam Thực tế có phải như vậy không? Tuy thời kỳ này đất nước bị chia cắt về chính trị và lãnh thổ, nhưng ngược lại kinh tế đã có những sự khởi sắc, đặc biệt là kinh tế ngoại thương Trong các thế kỷ XVI-XVIII do nhiều

Trang 8

yếu tố, cả chính quyền Đàng Ngoài và Đàng Trong đều có những chính sách để thu hút thương nhân ngoại quốc (phương Đông và phương Tây) đến buôn bán Hầu hết các nền hải thương lớn của thế giới đều tiếp xúc, buôn bán và đặt thương điếm ở Đại Việt Đặc biệt Đàng Trong là vùng đất mới khai phá và đang không ngừng mở rộng, các chúa Nguyễn đã thực thi những chính sách tương đối khoáng đạt, với mục tiêu nhanh chóng nâng cao tiềm lực của mình trong thế đối sánh với Đàng Ngoài Trong quan hệ với các nước lân bang tuy về danh nghĩa là một vùng lãnh thổ thuộc quốc gia Đại Việt, nhưng chính quyền Đàng Trong đã kế thừa thế và lực trong quan hệ đối ngoại của Đại Việt để có những chính sách tự cường cao, tạo vị thế lớn trong khu vực

Việc nghiên cứu những yếu tố khu vực và quốc tế tác động đến công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ sẽ được đặt trong cái nhìn đa chiều nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về công cuộc mở cõi về phía Nam ở các thế kỷ XVII-XVIII Công cuộc khai phá, mở rộng đất đai thời chúa Nguyễn sẽ được soi chiếu dưới một cái nhìn toàn diện khi kết hợp giữa phương pháp tiếp cận lịch sử với phương pháp tiếp cận liên ngành và phương pháp khu vực học

Về mặt thực tiễn, Luận án cung cấp một cái nhìn toàn diện trong nghiên cứu, góp phần phục vụ cho mục tiêu phát triển Nam Bộ trong giai đoạn hiện nay

Vì những lí do trên, tôi quyết định chọn vấn đề “Quá trình khai phá

vùng đất Nam Bộ thời chúa Nguyễn dưới tác động của những yếu tố quốc tế”

làm đề tài luận án Tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, mã số 62 22 03 13 tại

trường ĐHSP Thành Phố H Chí Minh

2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

2.1 Cơ sở phương pháp luận

Luận án nghiên cứu vấn đề dựa trên phương pháp luận của sử học Mác xít,

cụ thể là chủ nghĩa Duy vật biện chứng và chủ nghĩa Duy vật lịch sử để phân tích, làm rõ mối quan hệ và tác động của những yếu tố quốc tế đến quá trình khẩn hoang vùng đất Nam Bộ trong các thế kỷ XVII-XVIII

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án nghiên cứu dựa trên hai phương pháp chủ yếu được sử dụng trong

Trang 9

nghiên cứu lịch sử là phương pháp Lịch sử và phương pháp Logic

Phương pháp Lịch sử là phương pháp tái hiện trung thực bức tranh quá khứ của sự vật, hiện tượng theo đúng trình tự thời gian và không gian như nó đã từng diễn ra (quá trình ra đời, phát triển, tiêu vong) Bằng phương pháp lịch sử, Luận án trình bày các yếu tố quốc tế và khu vực ở thế kỷ XVII-XVIII cùng những sự tác động của nó tới công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ Tác giả Luận án dựa trên những sự kiện lịch sử được các sử gia phong kiến ghi lại, đối sánh với các tư liệu của các nhà truyền giáo phương Tây thời kỳ này, cũng như biên niên sử của một số nước khu vực và cả những tác phẩm sử học hiện đại để phục dựng 3 yếu tố quốc tế một cách chân thực, tiệm cận với lịch sử nhất Luận án cũng sử dụng phương pháp phân kỳ lịch sử trong nghiên cứu phác họa quá trình khai phá vùng đất Nam Bộ theo diễn tiến thời gian, đ ng thời cũng làm rõ sự hình thành, xâm nhập và tác động của các yếu tố quốc tế đối với quá trình này

Phương pháp Logic là phương pháp nghiên cứu tổng quát, giúp Luận án có thể rút ra được bản chất của hiện tượng Những tư liệu ghi chép về các yếu tố quốc

tế tác động đến quá trình khai phá vùng đất Nam Bộ giai đoạn này không nhiều và nhiều chỗ cũng không có sự đ ng nhất, bằng sự phân tích logic, dựa vào bối cảnh lúc bấy giờ, trên cơ sở đối sánh các tư liệu với nhau, tác giả sẽ có sự đánh giá một cách khách quan

Khu vực học khi tiếp cận vấn đề, cụ thể phương pháp Liên ngành giúp cho tác giả có thể sử dụng kết quả nghiên cứu của các ngành khác (ngoại giao, kinh tế,

văn hóa ) phục vụ cho công việc của mình Phương pháp Khu vực học đặt không gian văn hóa – xã hội Đàng Trong trong bối cảnh không gian văn hóa –

xã hội Đông Nam Á với những đặc điểm tương đ ng về tự nhiên, lịch sử, chính

trị, kinh tế, văn hóa,… cùng những mối quan hệ tác động qua lại xuất phát từ những nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài khu vực Từ đó xem xét, đánh giá những tác động của khu vực đến Đàng Trong nói chung, Nam Bộ nói riêng Phương pháp Khu vực học giúp tác giả đặt quá trình khai phá vùng đất Nam Bộ trong tác động của khu vực, với những quy luật chung, cũng như quy luật đặc

Trang 10

thù, để nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận án là những yếu tố quốc tế tác động đến quá trình khai phá và xác lập chủ quyền của chúa Nguyễn (thế kỷ XVII-XVIII) Tác giả sẽ tập trung nghiên cứu về tác động của 3 yếu tố khu vực và quốc tế: người Hoa, quan hệ giữa Đàng Trong với các nước khu vực Đông Nam Á, dòng thương mại biển Đông đến công cuộc khai phá, xác lập chủ quyền ở khu vực Nam Bộ

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian, luận án nghiên cứu tác động của yếu tố quốc tế đến công cuộc khai phá và xác lập chủ quyền của vùng đất ngày nay là Nam Bộ (bao g m cả vùng đất liền và vùng biển đảo thuộc Nam Bộ hiện nay) Trong thế kỷ XVII-XVIII, vùng đất Nam Bộ mới chỉ là phủ Gia Định (được thành lập vào năm Mậu Dần, 1698) bao g m 2 dinh Trấn Biên và Phiên Trấn, đến năm 1708 sáp nhập thêm trấn Hà Tiên Năm 1732, chúa Nguyễn sáp nhập thêm châu Định Viễn vào phủ Gia Định Năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát chia lại địa giới hành chính, Nam Bộ

có 3 dinh (Trấn Biên dinh, Phiên Trấn dinh và Long H dinh) và 1 trấn là Hà Tiên

Về thời gian, Luận án giới hạn nghiên cứu trong thời kỳ chúa Nguyễn từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII Đầu thế kỷ XVII đã có những người Việt tìm đến vùng Nam

Bộ khai phá đất đai một cách tự phát Dần dần từng bước, các chúa Nguyễn đã sáp nhập và xác lập chủ quyền ở các vùng đất thuộc Nam Bộ vào lãnh thổ quản lý của mình Đến năm 1757, triều đình Chân Lạp rối loạn do tranh giành quyền lực Vua Nặc Tôn của Chân Lạp dựa vào thế lực của chúa Nguyễn để lên ngôi Chân Lạp đã dâng vùng đất Tầm Phong Long cho chính quyền Đàng Trong để trả ơn và được

chúa Nguyễn Phúc Khoát sáp nhập vào dinh Long H , đánh dấu quá trình “mở

đất” của chúa Nguyễn ở Nam Bộ về cơ bản đã hoàn thành

các yếu tố quốc tế và tác động của các yếu tố đó đến công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ ở thế kỷ XVII – XVIII

Trang 11

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án làm rõ quá trình xâm nhập và tác động của những yếu tố quốc tế qua đó sẽ có cái nhìn toàn diện hơn về công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ thời chúa Nguyễn nói riêng và công cuộc mở cõi về phía Nam nói chung

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Luận án tìm hiểu một số yếu tố từ bên ngoài (khu vực Đông Nam Á, Đông Á

và thế giới) để làm rõ thêm về một công cuộc kiến tạo kỳ vĩ được các cộng đ ng cư dân nơi đây và chính quyền Đàng Trong tiến hành trong suốt hai thế kỷ XVII-XVIII

- Luận án làm rõ quá trình chuyển biến từ những yếu tố “ngoại sinh” dần dần trở thành những yếu tố “nội sinh”, một bộ phận trong sức mạnh của toàn dân

- Luận án đánh giá tương đối toàn diện về công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ thời chúa Nguyễn nói riêng và lịch sử Nam Bộ nói chung khi đặt dưới góc nhìn khu vực và quốc tế

5 Đóng góp mới của Luận án

Về mặt lý luận, luận án góp phần làm rõ thêm quan điểm lịch sử cụ thể, tính khách quan và cái nhìn toàn diện khi đặt công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ thời chúa Nguyễn trong sự vận động chung của bối cảnh khu vực, quốc tế, làm rõ tính tương tác của những yếu tố quốc tế và chính sách mở cõi của các chúa Nguyễn Qua đó cung cấp thêm những nhận định đánh giá khách quan về vai trò của các chúa Nguyễn nói riêng và lịch sử Nam Bộ nói chung trong dòng chảy lịch sử Việt Nam

Về mặt thực tiễn, Luận án cung cấp một cái nhìn toàn diện trong nghiên cứu phục vụ mục tiêu phát triển Nam Bộ trong giai đoạn hiện nay

Luận án tập hợp, hệ thống tư liệu về những yếu tố khu vực quốc tế tác động đến công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ, bổ sung vào những tư liệu về công cuộc khai phá Nam Bộ, cũng như lịch sử Nam Bộ và lịch sử dân tộc

6 Ngu n tài liệu nghiên cứu

Luận án khai thác, kế thừa các ngu n tư liệu chủ yếu sau:

Trang 12

- Những bộ sử của triều Lê -Trịnh và triều Nguyễn; Những du kí, ghi chép của các nhà truyền giáo, các thương nhân phương Tây có mặt ở Đại Việt ở thế kỷ XVI-XVIII; Một số gia phả, bi kí và minh chung tại các đền chùa, nhà thờ,… là ngu n tài liệu cần thiết được khai thác Đây là ngu n tư liệu cấp 1 quan trọng để chúng tôi khai thác

- Sách chuyên khảo, các công trình nghiên cứu cũng như báo cáo, tham luận khoa học từ các hội thảo khoa học được tổ chức ở trong và ngoài nước liên quan đến đề tài này; Các bài viết đăng trên các tạp chí như: Nghiên cứu lịch sử; Xưa &

Nay, Nghiên cứu Trung Quốc; Nghiên cứu Đông Nam Á; Khoa học xã hội, đề

cập hoặc liên quan đến đề tài nghiên cứu

Ngoài ra luận án còn kế thừa những Luận Án, Luận văn đã bảo vệ thành

7 Một số thuật ngữ sử dụng trong luận án

7.1 Về thuật ngữ “Đàng Trong”

Đàng Trong là khái niệm dùng để chỉ vùng đất thuộc quản lý của chúa Nguyễn, đối nghịch với Đàng Ngoài của chúa Trịnh Theo Đỗ Bang (2020): các nước dùng tên gọi “Đàng Trong” để chỉ vùng đất cai trị của chúa Nguyễn ở thế kỷ XVII-XVIII, mà sử sách người Việt đương thời gọi là Nam Hà (tr.20)

Về tên gọi “Đàng Trong”, hầu như không thấy công trình nào đề cập tên gọi này xuất hiện từ khi nào Ở thế kỷ XVII vùng đất từ Thuận Hóa trở vào Nam được gọi với nhiều tên gọi khác nhau Các giáo sĩ Phương Tây khi qua lại truyền đạo buôn bán với vùng đất này thường gọi nhiều tên gọi: Cochinchine, Cochinchina, Cauchy China Theo Aurousseau những tên gọi đó bắt ngu n từ cách gọi của người B Đào Nha: Cochin Nhưng họ sợ bị nhầm lẫn với vùng đất Cochin thuộc

Ấn Độ là thuộc địa của họ, nên người B đã thêm vào thành tố Chine (hoặc China, gần Trung Quốc) để phân biệt Một số nhà nghiên cứu khác thì cho rằng từ Cochin

có thể là do cách người Nhật đọc từ Giao Chỉ của tiếng Hán Tuy nhiên, Li Tana (1999) cho rằng ở đầu thế kỷ XVI người Nhật chưa buôn bán nhiều với Đàng Trong nên giả thuyết này khó đứng vững (tr 19) Ngoài ra thời kì này các thương nhân khu vực và quốc tế đến buôn bán với Đàng Trong còn dùng các tên gọi khác

Trang 13

như: Quảng Nam quốc, An Nam Quốc Chúa Nguyễn trong các văn bản ngoại giao, gửi cho chính phủ Nhật, đại diện công ty Đông Ấn, các thương nhân lúc thì xưng quốc vương An Nam, lúc thì lấy tước hiệu của vua Lê phong (Đô nguyên soái, Quốc công)

Tóm lại, dù nhiều tên gọi khác nhau thì tất cả đều để chỉ vùng đất từ Thuận Hóa (nam sông Gianh) trở vào Nam (cực Nam của trấn Hà Tiên lúc bấy giờ) thuộc quyền quản lí của chúa Nguyễn ở thế kỷ XVII-XVIII Tác giả Luận án không tập trung làm rõ về các tên gọi mà dùng tên gọi Đàng Trong để chỉ vùng đất này cho

cơ sở đó văn hóa Óc Eo đã nảy sinh và phát triển rực rỡ ở Nam Bộ Từ nền văn hóa Óc Eo đã hình thành nên vương quốc cổ Phù Nam với địa bàn chính là khu vực Nam Bộ (Việt Nam) và lan tỏa ra hạ lưu sông Mekong, kinh đô đặt ở vùng Angkor Borei (Nguyễn Quang Ngọc, 2017, tr.26) Từ thế kỷ VII do nhiều nguyên nhân, vương quốc Phù Nam suy yếu và bị Chân Lạp (Tchenla, vốn là thuộc quốc) thôn tính Theo sử Trung Quốc, đến thế kỷ VIII, Chân lạp bị chia làm hai nước: Lục Chân Lạp (lãnh thổ Camphuchia hiện nay, một phần nước Lào) và Thủy Chân Lạp (Nam

Trang 14

nhập vào (nhưng có tính tự trị tương đối cao) Năm 1732, chúa Nguyễn sáp nhập thêm châu Định Viễn vào phủ Gia Định mở rộng thêm vùng đất Nam Bộ Năm

1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng vương chia lại địa giới hành chính Đàng Trong có 12 dinh, thì khu vực nay là Nam Bộ có 3 dinh (Trấn Biên dinh, Phiên Trấn dinh và Long H dinh) và 1 trấn là Hà Tiên1

Như vậy có thể thấy dưới thời kỳ chúa Nguyễn (thế kỷ XVII-XVIII), Nam

Bộ là một vùng đất vừa mới khai phá, tên gọi chưa có sự thống nhất: lúc gọi là phủ Gia Định, có lúc gọi là xứ Đ ng Nai Thật khó để lấy một tên gọi có thể bao trùm hết cả vùng đất này ở thế kỷ XVII-XVIII, vì vậy tác giả lấy tên gọi Nam Bộ (dù xuất hiện sau) nhưng có tính chất bao trùm được cả vùng đất Phương Nam để sử dụng trong Luận án của mình

7.3 Về thuật ngữ “Người Hoa”

Theo cách gọi của các tư liệu thành văn thời phong kiến: thường gọi tên người Hoa theo tên của triều đại cầm quyền, triều Hán thì tương ứng là người Hán, triều Đường thì gọi là người Đường, triều Tống thì có người Tống, triều Minh, Thanh thì gọi là người Minh, người Thanh (Châu Hải, 2006, tr.31)

Ở thế kỷ XVII-XVIII, những người Hoa di cư vào vùng đất Nam Bộ gắn với hai tên gọi đặc trưng: Minh Hương và Thanh Hà Hai tên gọi này xuất phát từ những biến động của tình hình chính trị Trung Quốc ở thế kỷ XVII Nhà Minh bị lật đổ, nhà Thanh thành lập (năm 1644) Làn sóng di dân của lực lượng người Hoa “phản Thanh phục Minh” đến Đàng Trong và Nam Bộ diễn ra một cách ạt Tên gọi Minh Hương (明香) có nghĩa là “những người gìn giữ hương hỏa nhà Minh” và theo Gustave Hue ghi trong Dictionnaire Annamite - Chinois - Francais, Minh Hương

có nghĩa là những người trung thành với triều Minh chạy trốn sang Việt Nam tránh

1 “Buổi quốc sơ, bờ cõi một ngày một mở mang, chia đặt cả cõi làm 12 dinh : ở Ái Tử gọi là Cựu dinh, ở An

Trạch gọi là Quảng Bình dinh, ở Võ Xá gọi là Lưu Đồn dinh, ở Thổ Ngõa gọi là Bố Chính dinh, ở Quảng Nam gọi là Diên Khánh, Bình Khang gọi là Bình Khang dinh, ở Bình Thuận gọi là Bình Thuận dinh, ở Phước Long gọi là Trấn Biên dinh, ở Tân Bình gọi là Phiên Trấn dinh, ở Định Viễn gọi là Long Hồ dinh Các dinh đều đặt trấn thủ, cai bạ và ký lục để cai trị Duy hai phủ Quảng Ngãi và Quy Nhơn lệ thuộc vào dinh Quảng Nam, thì đặt riêng chức tuần phủ và chức khám lý để cai trị Hà Tiên lại biệt làm một trấn, thuộc chức đô đốc Phú Xuân thì gọi là Chính dinh, nay chúa đã lên ngôi vương, mới đổi làm đô thành như thế” (Quốc sử quán nhà Nguyễn, 2002, tr.134 - 135)

Trang 15

sự chiếm đóng của nhà Thanh Còn “Thanh Hà” (青 河) chỉ những người Hoa đến sau khi nhà Thanh thi hành chính sách “Triển hải lệnh” cho phép dân chúng được

tự do đi ra hải ngoại (1685) Một bộ phận lớn người Hoa đã đến Đàng Trong và Nam Bộ thời kỳ này, đã họp thành những khu phố sầm uất ở Thuận Hóa, Hội An, Gia Định Tên gọi Thanh Hà không còn bao hàm nội dung liên quan đến chính trị (phản Thanh) như người Minh Hương nữa

Có thể thấy mỗi thời kỳ tên gọi dùng để chỉ người Trung Quốc di cư tới nước ngoài (chủ yếu là Đông Nam Á) có sự khác nhau Thuật ngữ “người Hoa” mới xuất hiện sau, nhưng có tính chất đại diện hơn cả

Theo Châu Thị Hải, người Hoa là: “Những người có nguồn gốc Hán di cư

từ đất nước Trung Hoa kể cả các dân tộc ở phía Nam Trung Quốc đã bị Hán hóa đến các nước trong khu vực Đông Nam Á và con cháu của họ sinh ra và lớn lên tại khu vực này, họ đã mang quốc tịch bản địa và trở thành công dân của nước này, nhưng vẫn còn lưu giữ những giá trị văn hóa Trung Hoa truyền thống như tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán, luôn tự nhận mình là người Hoa” (Châu Hải,

2006, tr.39)

Như vậy từ định nghĩa trên có thể rút ra những đặc điểm cơ bản của người Hoa như sau:

- Có ngu n gốc Hán hoặc đã bị Hán hóa;

- Sống ổn định và thường xuyên ngoài lãnh thổ Trung Hoa;

- Đã nhập quốc tịch và trở thành công dân nước sở tại;

- Vẫn còn bảo lưu được những đặc trưng văn hóa Trung Hoa truyền thống;

- Vẫn tự nhận mình là người Hoa

Trong Luận án của mình, tác giả sử dụng thuật ngữ người Hoa để chỉ những

người từ lãnh thổ Trung Quốc di cư sang Việt Nam cho có sự thống nhất, tuy nhiên

ở từng thời điểm cụ thể sẽ có sự linh hoạt các tên gọi để có sự phù hợp với từng thời gian và đặc trưng của người Hoa trong giai đoạn đó

7.4 Về thuật ngữ “Đông Nam Á”

Ý niệm về Đông Nam Á như là một khu vực địa lý - lịch sử riêng biệt đã có

từ lâu Tuy nhiên cùng với thời gian, khái niệm này ngày càng được hoàn thiện

Trang 16

một cách đầy đủ và chính xác Người Trung Quốc dùng từ “Nam Dương” để chỉ những vương quốc nằm ở vùng biển phía Nam của mình (Đông Nam Á hải đảo) Người Nhật thì gọi là “Nan Yo” Những thương nhân Ả Rập khi đến buôn bán ở vùng này thì gọi là “Qumr” có khi thì gọi là “Waq-Waq” hay “Zabag” Còn người

Ấn Độ từ thời kỳ cổ xưa đã giao thiệp buôn bán và truyền giáo với vùng đất này thì gọi là “Suvarnabhumi” (đất vàng) hay "Suvarnadvipa" (đảo vàng) Tuy nhiên đối với các lái buôn thời bấy giờ, Đông Nam Á được nhìn nhận là một vùng thần bí, nơi sản xuất hương liệu gia vị và những sản vật quí hiếm khác, nơi có những con người can đảm và thành thạo nghề đi biển (Donald G.Mc.Cloud, 1986, tr.10) Đông Nam Á một khu vực vừa có sự đa dạng ở từng quốc gia dân tộc, nhưng vừa

có sự thống nhất trong một chỉnh thể chung

Tên gọi Đông Nam Á được các nhà nghiên cứu chính trị, quân sự Đông Nam

Á đưa ra từ những năm đầu khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ 1942).Tuy nhiên tên gọi này chính thức đi vào lịch sử với tư cách là một khu vực địa chính trị - quân sự được bắt đầu từ khi Tổng thống Mỹ Franhlin D.Roosevelt và Thủ tướng Anh Winston Churchill tại hội nghị Quebec lần thứ nhất vào tháng 8 năm

(1939-1943 nhất trí thành lập Bộ chỉ huy tối cao quân Đ ng Minh ở Đông Nam Á Lúc bấy giờ cũng có sự khác nhau về cách viết từ Đông Nam Á bằng tiếng Anh Một số nhà

nghiên cứu như Victor Purcell, E.G.H Dobby, dùng từ Southeast thay cho South

East hay South-East, vốn được dùng từ lâu Bộ tư lệnh tối cao Đông Nam Á (SEAC)

vẫn dùng từ Southeast (D.G.E.Hall, 1997, tr 19) Như thế có thể thấy rằng từ sau

Chiến tranh thế giới thứ hai, thuật ngữ "Đông Nam Á" mới xuất hiện trên bản đ chính trị thế giới như một khu vực riêng biệt và có tầm quan trọng đặc biệt Song nếu như trước đây, người ta mới chỉ nhìn thấy tính chất khu vực Đông Nam Á thể hiện ở vị trí địa lý - chính trị và quân sự của nó thì đến nay nhiều người đã khẳng định rằng ít nhất cho đến thế kỉ XVI, Đông Nam Á đã nổi lên như một trong những

khu vực địa lý - chính trị

7.5 Về thuật ngữ khai phá

Theo từ điển Tiếng Việt phổ thong: “khai phá” có nghĩa đầy đủ là làm cho

Trang 17

“vùng đất hoàng vu trở thành đất đai sử dụng được vào sản xuất” (Hoàng Phê, 2003, tr.490) Như vậy khai phá đ ng nghĩa với từ khai khẩn Tuy nhiên trong thực tế, chính quyền Đàng Trong và các lưu dân người Việt không chỉ: làm cho vùng đất hoang vu ở Nam Bộ thành đất đai sử dụng được vào sản xuất Người Việt ở Nam Bộ

đã khai mở đất đai, lập thôn xóm, phát triển toàn diện kinh tế, văn hóa, xã hội đ ng thời sớm tiến hành thục đắc lãnh thổ, xác lập và công bố chủ quyền, đ ng thời tổ chức quản lý, bảo vệ khai thác các tiềm năng của vùng đất Nam Bộ

Như vậy có thể thấy từ “khai phá” không bao hàm hết những nội dung trình bày trong Luận án về tác động của những yếu tố quốc tế đến công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ thời chúa Nguyễn Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một đề tài Luận án tác giả vẫn dùng từ “khai phá” nhưng mở rộng nội hàm của nó, không chỉ khai khẩn đất đai mà bao g m cả việc phát triển vùng đất, xác lập, khẳng định chủ quyền ở vùng đất mới (Nam Bộ) dưới thời chúa Nguyễn (thế kỷ XVII-XVIII)

8 Bố cục Luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của Luận

án được trình bày trong 4 chương:

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Hoạt động thương mại quốc tế trên biển Đông với công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ thế kỷ XVII-XVIII

Chương 3: Quan hệ giữa Đàng Trong và các nước trong khu vực Đông Nam

Á với công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ thời chúa Nguyễn thế kỷ XVII-XVIII

Chương 4: Di dân người Hoa với công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ thời chúa Nguyễn thế kỷ XVII-XVIII

Trang 18

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu về công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ

Vấn đề khai phá vùng đất Nam Bộ thời chúa Nguyễn thế kỷ XVII – XVIII đã có nhiều tác phẩm sử học thời phong kiến đề cập đến ở những khía cạnh khác nhau

Tác phẩm đầu tiên có đề cập đến vùng đất Nam Bộ là: “Chân Lạp phong

thổ ký” của Chu Đạt Quan vào thế kỷ XIII Chu Đạt Quan (1266-1346) là sứ giả

thời Nguyên Thành Tông Năm 1296, ông được cử đi sứ sang Chân Lạp và ở lại

Cao Miên hơn 1 năm, ông đã ghi lại những điều mắt thấy tai nghe về cuộc du hành

đi qua vùng đất Nam Bộ ngày nay và mọi phương diện sinh hoạt của người bản xứ Năm thứ nhất niên hiệu Đại Đức nhà Minh (1297), ông trở về và hoàn thành tác

phẩm này trước năm 1312 “Chân Lạp phong thổ ký” là một tư liệu quý đối với

những nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu về lịch sử Cao Miên trong giai đoạn này

Đ ng thời qua ghi chép của Chu Đạt Quan giúp chúng ta phần nào có thể nắm bắt được cảnh quan và con người vùng đất Nam Bộ ngày nay trước khi người Việt đặt chân đến khai phá, một vùng đất còn hoang sơ, quản lý lỏng lẻo, gần như “vô chủ” khi chính quyền Angkor không thể với tay tới quản lý

Công trình có nhiều tư liệu về quá trình khai phá đất đai, thiết lập thôn ấp ở

vùng đất Đ ng Nai - Gia Định ở cuối thế kỷ XVIII là “Phủ biên tạp lục” (được viết

vào khoảng năm 1776) Kế thừa kho tư liệu của chúa Nguyễn ở Đàng Trong, Lê

Quý Đôn đã biên soạn bộ “Phủ biên tạp lục”, với nhiều tư liệu về công cuộc Nam

tiến ở thế kỷ XVI-XVIII Dù nội dung chủ yếu Lê Quý Đôn đề cập là vùng đất

Thuận - Quảng, nhưng trong “Phủ Biên tạp lục” vẫn ghi chép khá nhiều về các sự

kiện, các nhân vật, tên đất, tên làng, về quá trình hình thành của nhiều vùng đất ở Trấn Biên và Phiên Trấn Đây là những tư liệu quý giúp chúng ta phần nào có thể khảo cứu chính xác hơn về quá trình khai phá vùng đất Nam Bộ giai đoạn này

“Đại Nam thực lục” là bộ chính sử lớn nhất và quan trọng nhất của nhà

Nguyễn, do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn trong hơn 80 năm tính từ lúc bắt đầu (Minh Mạng năm thứ 2, 1821) cho tới khi hoàn thành và khắc in xong (Duy

Trang 19

Tân năm thứ 3, 1909) Tác phẩm ghi chép các sự kiện từ lúc Nguyễn Hoàng lên đường đi trấn thủ xứ Thuận Hóa (1558) cho đến thời trị vì của vua Đ ng Khánh

(1888) “Đại Nam thực lục” bao g m 2 phần: Tiền biên và Chính biên Phần đầu

“Đại Nam thực lục tiền biên” (còn gọi là: Liệt thánh thực lục tiền biên) ghi chép về

sự nghiệp của 9 chúa Nguyễn, bắt đầu từ khi chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa cho đến khi chúa Nguyễn Phúc Thuần băng hà (1777) Trong đó các sử gia triều Nguyễn đã phác họa tương đối rõ nét về quá trình Nam tiến nói chung cũng như quá trình khai phá và xác lập chủ quyền ở Nam Bộ nói riêng của các chúa Nguyễn

“Đại Nam nhất thống chí” là bộ dư địa chí (địa lý lịch sử) viết bằng chữ

Hán do Quốc sử quán biên soạn dưới triều vua Tự Đức Các triều đại sau tiếp tục

bổ sung, hoàn thiện Nguyên bản bộ sách được biên soạn dưới triều Tự Đức, có 28 tập với 31 quyển, mỗi quyển chép 1 tỉnh, bao g m: Kinh sư, phủ Thừa Thiên, Hà Nội, Hưng Yên, Sơn Tây, Hưng Hóa, Bắc Ninh, Quảng Yên, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lặng Sơn, Thái Nguyên, Ninh Bình, Hải Dương, Nam Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định, Vĩnh Long, Gia Định, Biên Hòa, An Giang, Định Tường, Hà Tuyên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Phú Yên Cuốn sách đã được các sử gia nhà Nguyễn ghi chép khá đầy đủ về địa lý, lịch sử hình thành, các di tích…ở các tỉnh, trong đó có các tỉnh ở Nam Bộ Tuy nhiên nhìn chung các sử gia chỉ nói về thời kỳ nhà Nguyễn là chủ yếu, thời kỳ các chúa Nguyễn

ít được nhắc đến

“Đại Nam liệt truyện” là một bộ sách có quy mô khá đ sộ trong kho tàng

thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam, do Quốc sử quán triều Nguyễn biên

soạn vào giữa thế kỷ XIX dưới thời trị vì của vua Tự Đức “Đại Nam liệt truyện”

chia làm 2 phần: Tiền biên và Chính biên, ghi chép khá đầy đủ về sự tích công trạng các công thần, liệt nữ, danh tăng…, gia phả nhà Nguyễn trước và sau khi

“Gia Long lập quốc” Bộ sách được Viện Sử học phối hợp với nhà xuất bản Thuận Hóa nghiên cứu biên dịch và sắp xếp lại thành 4 tập: Tập 1: Tiền biên, từ cuốn đầu tiên đến cuốn 6; Tập 2: Chính biên (Sơ tập), từ cuốn đầu đến cuốn 25; Tập 3: Chính biên (Nhị tập), từ cuốn đầu đến cuốn 25; Tập 4: Chính biên (Nhị tập), từ cuốn 26

Trang 20

đến cuốn 46 Trong đó Tập 1: Tiền biên (từ cuốn 1 đến cuốn 6) ghi chép gia phả của

các chúa Nguyễn, cũng như chép truyện của một số bề tôi đã cung cấp nhiều trang

sử liệu quý về lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ thế kỷ XVII-XVIII Một số công trạng của các chúa Nguyễn cũng như một số bề tôi trong công cuộc Nam tiến ở Nam

Bộ đã được bộ sử của nhà Nguyễn ghi chép là ngu n tư liệu quý phục vụ cho quá trình nghiên cứu

Kế tục Lê Quý Đôn, đầu thế kỷ XIX, Trịnh Hoài Đức đã tập hợp tư liệu và bằng tình yêu đối với vùng đất quê hương, cho ra đời một tác phẩm địa phương chí, viết về vùng đất Gia Định (Nam Bộ ngày nay) từ khi Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh lập nên dinh Trấn Biên, Phiên Trấn (1698) cho đến những năm đầu thế

kỷ XIX Bộ “Gia Định thành thông chí” là một công trình có giá trị cao về lịch sử,

địa lý và văn hóa của vùng đất Lục tỉnh Nội dung tập sách ghi chép khá đầy đủ và

tỉ mỉ về núi sông, khí hậu, việc thành lập các trấn, thành trì, cũng như về phong tục tập quán, tính cách và sinh hoạt của người dân Nam Bộ Cho đến nay bộ sách vẫn được xem là một trong những sử liệu quan trọng nhất đối với những nhà nghiên cứu và những ai muốn tìm hiểu về lịch sử vùng đất phương Nam Về lịch sử khai

phá vùng đất Nam Bộ, “Gia Định thành thông chí” cũng có thể coi là tác phẩm có

giá trị lớn cung cấp một cái nhìn khá đầy đủ về lịch sử hình thành của các địa danh, các vùng đất ở Nam Bộ thời chúa Nguyễn ở thế kỷ XVII-XVIII Tuy nhiên nhìn chung Trịnh Hoài Đức vẫn chú trọng nhiều về lịch sử vùng đất này trong giai đoạn vương triều Nguyễn (thế kỷ XIX) hơn là thời các chúa Nguyễn (thế kỷ XVII – XVIII)

Tác phẩm đầu tiên thời Cận đại có đề cập đến công cuộc khai phá vùng đất

Nam Bộ là cuốn “Việt Nam sử lược” của sử gia Trần Trọng Kim (1882-1953),

được soạn xong vào năm 1919 và ấn hành lần đầu vào năm 1920 Cuốn sách là tác phẩm đầu tiên viết về lịch sử Việt Nam bằng chữ Quốc ngữ, hệ thống lại toàn bộ lịch sử nước Việt từ năm 1902 trở về trước Tuy có một số hạn chế về quan điểm, nhưng nhìn chung đây là một cuốn sử có phong cách ngắn gọn, súc tích và dễ hiểu,

là một ngu n tài liệu bổ ích cho những người muốn tìm hiểu, nghiên cứu về Lịch

sử Việt Nam Trần Trọng Kim đã chia lịch sử Việt Nam làm 5 thời đại: Thượng cổ

Trang 21

thời đại, Bắc thuộc thời đại, Tự chủ thời đại, Nam Bắc phân tranh, Cận Kim thời

đại Trong đó ở thời kỳ Nam Bắc phân tranh, có 2 chương: Chương VI Công việc

họ Nguyễn làm ở Miền Nam và Chương VII người Châu Âu sang nước Nam, học

giả Trần Trọng Kim đã trình bày và có những đánh giá khá sắc sảo về “công việc”

mở đất của chúa Nguyễn ở đất Nam Bộ ở các thế kỷ XVII-XVIII

“Việt sử xứ Đàng Trong” của nhà nghiên cứu Phan Khoang xuất bản lần đầu

năm 1967 là một bộ sử tương đối đầy đủ về lịch sử Đàng Trong từ giữa thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII Với ngu n tư liệu tương đối phong phú, cách nhìn khá toàn diện, tác giả đã làm rõ nhiều khía cạnh của vùng đất mới: bối cảnh vùng đất Thuận Quảng trước khi Nguyễn Hoàng vào Nam; thành quả mà chúa Nguyễn đạt được trong hơn 2 thế kỷ (chiến tranh với họ Trịnh bảo vệ vùng đất, Nam tiến mở rộng lãnh thổ, tổ chức chính quyền, giao thiệp với lân bang); và cuối cùng là phác họa đời sống nhân dân Đàng Trong (kinh tế, xã hội, văn hóa) Trong bức tranh chung

đó, nhà nghiên cứu Phan Khoang cũng đã nhắc tới và làm rõ nhiều vấn đề về công cuộc mở đất Nam Bộ: từ lúc Chúa Nguyễn gây ảnh hưởng trên đất Chân Lạp, đến khi những lớp cư dân Việt đến đây khai khẩn, r i xác lập dần vùng đất đó vào lãnh thổ Đàng Trong Tác giả cũng đã phần nào đề cập đến một số yếu tố quốc tế tác động đến công cuộc khai phá vùng đất Đàng Trong thời kỳ này đó là: các nhóm di dân người Hoa và đóng góp của họ (Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên, Mạc Cửu); quan hệ của chính quyền Đàng Trong với một số quốc gia trong khu vực (Xiêm, Nhật Bản, Trung Quốc) và hoạt động buôn bán với các nước Châu Âu Tuy nhiên do phạm vi của cuốn sách đề cập là cả vùng đất Đàng Trong nên tác giả chỉ nói chung và chủ yếu trình bày làm rõ các yếu tố chứ ít nói đến tác động của nó tới vấn đề khai phá như thế nào

Tiếp theo là một biên khảo của Sơn Nam “Lịch sử khẩn hoang Miền Nam” được xuất bản lần đầu vào năm 1973 khai mở cho việc nghiên cứu chuyên sâu về

công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ Nhiều sự kiện, tên đất, tên người cũng như quá trình hình thành của nhiều vùng đất ở Nam Bộ thời chúa Nguyễn đã được nhà văn Sơn Nam phục dựng lại là những sử liệu quý cho độc giả và những nhà nghiên cứu Tuy nhiên như lời trần tình của tác giả do là người khai mở, trong điều kiện

Trang 22

ngu n tư liệu chưa thật sự đầy đủ vì vậy tác phẩm mới chỉ dừng lại là một “bản

khởi thảo” về lịch sử khẩn hoang Miền Nam nói chung, đặc biệt công cuộc khai

phá vùng đất này trong giai đoạn chúa Nguyễn (thế kỷ XVII-XVIII) chưa được tác

giả chú trọng nhiều Ở phần thứ nhất: Nhu cầu phát triển xứ Đàng Trong phục

quốc và củng cố quốc gia nhà văn Sơn Nam có đề cập đến một số thành quả khẩn

hoang vùng đất Nam Bộ thời chúa Nguyễn tuy nhiên chưa thật đầy đủ và hệ thống

Ngoài ra nhà nghiên cứu Sơn Nam còn có một số tác phẩm biên khảo khác

có đề cập đến công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ thời chúa Nguyễn, như: “Đất

Gia Định xưa” xuất bản năm 1993, “Đất Gia Định Bến Nghé xưa & Người Sài Gòn” xuất bản năm 1999, “Tìm hiểu đất Hậu Giang và lịch sử đất An Giang” xuất

bản năm 2005… tuy nhiên những biên khảo này mang đậm tính văn hóa nhiều hơn

là tính lịch sử, quá trình khai phá Nam Bộ đặc biệt là giai đoạn thế kỷ XVII-XVIII

ít được nhà văn nhắc đến

Tiếp nối Sơn Nam, nhóm nghiên cứu do Huỳnh Lứa chủ biên đã tập hợp tư

liệu, khảo sát thực tế ở địa phương và cho ra một cuốn sách chuyên khảo “Lịch sử

khai phá vùng đất Nam bộ” xuất bản năm 1987 Cuốn sách chia ra làm 4 chương,

trong đó Chương hai: Công cuộc khai phá trong các thế kỷ XVII, XVIII được các

tác giả tập trung làm rõ về quá trình khai phá vùng đất Nam Bộ thời các chúa Nguyễn: từ các lớp cư dân tới định cư, phân bố dân cư, đến phương thức khai phá, các khu vực khai phá, thành quả khai phá… Nhìn chung so với cuốn biên khảo của

nhà văn Sơn Nam, “Lịch sử khai phá vùng đất Nam bộ” đã có sự dày dặn hơn về

mặt sử liệu và bố cục cũng khoa học hơn Tuy nhiên, cuốn sách trên cũng chỉ mới

là bước đầu khai mở một số vấn đề về công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ nói chung, nhất là trong thời gian thế kỷ XVII-XVIII nói riêng Những yếu tố ngoại sinh tác động đến quá trình khai phá các tác giả đề cập còn rất hạn chế

Công trình “Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam bộ thế kỷ XVII, XVIII, XIX”

của Huỳnh Lứa là một trong những công trình hiếm hoi có đề cập về sự phát triển của bức tranh kinh tế - xã hội Nam Bộ trong thời chúa Nguyễn Tác phẩm đã đề cập đến công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ dưới nhiều khía cạnh: cuộc di chuyển dân cư và khai thác vùng đất mới ở Đ ng Nai – Gia Định, sự hình thành

Trang 23

làng xã thôn ấp, sự ra đời của các đô thị và vai trò của nó, một số nhân vật có công với sự nghiệp mở mang vùng đất Nam Bộ…

Vào thập niên cuối của thế kỷ XX và những thập niên đầu thế kỉ XXI, trong

xu thế đổi mới cách đánh giá về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong giới Sử học Việt Nam, vấn đề khai phá vùng đất Nam Bộ được thúc đẩy nghiên cứu trên nhiều phương diện, với nhiều phát hiện mới

Năm 2006, Hội khoa học Lịch sử phối hợp với bộ Khoa học và công nghệ

tổ chức hội thảo: “Lịch sử vùng đất Nam bộ đến cuối thế kỷ XIX”, năm 2009, Nxb

Thế giới đã xuất bản kỷ yếu của hội thảo Các tham luận khoa học tại hội thảo

được chia làm 3 phần chính: Phần thứ nhất: Một số vấn đề về địa lý tự nhiên vùng

đất Nam bộ; Phần thứ hai: Vùng đất Nam bộ trước thế kỷ XVII; và nội dung trọng

tâm nằm ở Phần thứ ba: Vùng đất Nam bộ từ thế kỷ XVII đến nữa cuối thế kỷ XIX

Hội thảo đã phác dựng được bối cảnh của vùng đất Nam bộ trước thế kỷ XVII chuyển tiếp từ văn hóa Óc Eo – vương quốc Phù Nam đến Chân Lạp Ở nội dung trọng tâm phần ba, những bài tham luận của các nhà nghiên cứu đã dựng nên được bức tranh quá trình khai phá vùng đất Nam bộ từ khi người Việt đặt chân đến khẩn hoang, lập làng, hình thành các tụ điểm dân cư và từng bước chính quyền chúa Nguyễn đã xác lập chủ quyền và sáp nhập vào lãnh thổ Đàng Trong Một số yếu tố quốc tế tác động đến quá trình khai phá cũng được một số nhà nghiên cứu bước đầu đề cập: đó là mối quan hệ tương tác trong khu vực (bài của Nguyễn Văn Kim

“Xứ Đàng Trong trong các mối liên hệ và tương tác quyền lực khu vực”, Nguyễn

Sỹ Tuấn “Nam bộ trong mối quan hệ giữa chúa Nguyễn với Chân Lạp và Xiêm từ

thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX”), đó là yếu tố người Hoa (bài của Phan An “Vai trò của cộng đồng người Hoa trên vùng đất Nam bộ”) Tuy nhiên, những thành quả từ

sự tác động động này tới công cuộc khai phá vùng đất Nam bộ thời chúa Nguyễn chưa được các tác giả phân tích cụ thể

Năm 2008, Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa và hội Khoa học Lịch sử phối

hợp tổ chức một hội thảo khoa học quốc gia tại Thanh Hóa: “Chúa Nguyễn và

vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX” Với 91

bài báo cáo khoa học của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước (trong đó có 27

Trang 24

báo cáo về thời kỳ chúa Nguyễn) đã tạo ra một bước ngoặt lớn trong nhận thức về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử nói chung, cũng như công cuộc khai phá vùng đất Nam bộ thời chúa Nguyễn nói riêng Tuy nhiên, nhìn chung những tham luận trong hội thảo này vẫn chưa chú ý nhiều đến công cuộc khai phá vùng đất phương Nam ở các thế kỷ XVII-XVIII, ngu n sử liệu chưa nhiều, đặc biệt những yếu tố quốc tế tác động đến quá trình khai phá hầu như không được đề cập đến

Công trình do Vũ Minh Giang chủ biên, xuất bản năm 2008: “Lược sử vùng

đất Nam Bộ” trình bày khá hệ thống về các thời kỳ lịch sử của Nam Bộ Nhóm tác

giả biên soạn trên cơ sở tổng hợp các kết quả nghiên cứu của nhiều ngành khoa học liên quan như sử học, khảo cổ học, dân tộc học, văn hóa học…ở trong và ngoài nước về vùng đất Nam Bộ Tác phẩm khái quát sự hình thành và phát triển của vùng đất Nam Bộ thành 5 giai đoạn, trong đó 2 giai đoạn đầu: từ thế kỷ I đến thế

kỷ VII và từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVI cung cấp cho chúng ta một cái nhìn sơ lược

về vùng đất này trước khi người Việt đặt chân đến khai phá Giai đoạn từ đầu thế

kỷ XVII đến cuối thế kỷ XVIII đã khái lược những sự kiện cơ bản trong quá trình khai phá, xác lập chủ quyền ở Nam bộ Tuy nhiên giống như tên gọi của cuốn sách

“Lược sử”, tác phẩm chỉ đề cập đến công cuộc khai phá vùng đất này một cách rất

ngắn gọn, các yếu tố quốc tế và khu vực chưa được chú ý nhiều

Tác phẩm “Nguyễn Hoàng – Người mở cõi” do Phan Huy Lê và Đỗ Bang

đ ng chủ biên, Hội Khoa học Lịch sử Thừa Thiên Huế là cơ quan tổ chức bản thảo,

tập hợp gần 30 bài nghiên cứu được lựa chọn từ hội thảo khoa học: “Quảng Trị -

Đất dựng nghiệp của chúa Nguyễn Hoàng (1558 – 1613)” và một số bài viết đăng

trên tạp chí Huế - Xưa và nay Đây là một công trình khoa học cung cấp nhiều tư

liệu và nhận thức mới về chúa Tiên Nguyễn Hoàng Bên cạnh nội dung trọng tâm

là vai trò của Nguyễn Hoàng với tư cách là “người mở cõi” vùng đất Đàng Trong, cuốn sách đã đề cập nhiều nội dung liên quan đến quá trình khai phá vùng đất Đàng Trong nói chung, và vùng đất Nam Bộ nói riêng, nhiều vấn đề về quan hệ giữa chính quyền Đàng Trong và các nước trong khu vực, cũng như hoạt động buôn bán với các thương nhân nước ngoài của chính quyền chúa Nguyễn cũng

Trang 25

được tác phẩm đề cập Tuy nhiên do chỉ tập trung vào phác họa vai trò của vị chúa đầu tiên, địa bàn chủ yếu ở Thuận – Quảng, vì vậy những tư liệu liên quan đến vùng đất Nam Bộ không nhiều

H Chí Minh) làm chủ nhiệm đề tài: “Vai trò của cộng đồng người Việt trong công

cuộc khai phá vùng đất đồng bằng sông Cửu Long thế kỷ XVII-XIX” lại cung cấp

một góc nhìn khác, đó là quá trình lưu dân người Việt di cư tới vùng đ ng bằng sông Cửu Long khai phá đất đai, lập làng, thiết lập hệ thống hành chính… trong thời gian từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX Trên cơ sở viện dẫn rất nhiều tài liệu nghiên cứu trước đó, các tài liệu gia phả của địa phương, cũng như kết quả khảo sát, nhóm nghiên cứu đã làm rõ nhiều khía cạnh về quá trình khai phá của người Việt ở vùng đất màu mở này: từ nguyên nhân họ đặt chân lên vùng đất mới, các thành phần xã hội, cho đến phương tiện và cách thức di chuyển, cách thức khai phá, các tên đất tên làng… Tuy công trình nghiên cứu về nhân tố nội lực (vai trò người Việt) và chỉ tìm hiểu về đ ng bằng sông Cửu Long, nhưng những tư liệu đề

của mình

Công trình của Đỗ Quỳnh Nga: “Công cuộc mở đất Tây Nam bộ thời chúa

Nguyễn” tương đối dày dặn tư liệu về công cuộc khai phá vùng đất Tây Nam Bộ

dưới thời các chúa Nguyễn Trong tác phẩm này, tác giả đã trình bày khá công phu

về công cuộc khai phá vùng đất Tây Nam bộ với một ngu n sử liệu phong phú được sắp xếp một cách khoa học Cuốn sách đã làm rõ bối cảnh lịch sử, tiến trình

mở đất Tây Nam bộ thời chúa Nguyễn bắt đầu bằng những bước đi đầu tiên cho tới việc ra đời của Mỹ Tho đại phố, trấn Hà Tiên, Dinh Long H và cuối cùng là tổng kết phương thức tiến hành, hệ quả của công cuộc mở đất Tây Nam bộ thời chúa

Nguyễn “Công cuộc mở đất Tây Nam bộ thời chúa Nguyễn” là một công trình

tham khảo có giá trị đối với những nhà nghiên cứu cũng như những ai muốn tìm hiểu về công cuộc khai phá vùng đất Nam bộ ở thế kỷ XVII-XVIII Tuy nhiên, trong công trình của mình, Đỗ Quỳnh Nga chủ yếu tập trung làm rõ quá trình khai phá ở vùng đ ng bằng Sông Cửu Long (Tây Nam Bộ) và tập trung làm rõ vai trò

Trang 26

của những nhân tố nội lực (chính sách của chính quyền Đàng Trong, lực lượng người Việt…), các yếu tố quốc tế (trừ nhân tố người Hoa) còn ít được chú ý tới

Ngoài ra còn có những tác phẩm chuyên khảo về các vùng đất ở Nam bộ

của nhà nghiên cứu Huỳnh Minh, như: Bạc Liêu xưa, Cà Mau xưa, Cần Thơ xưa,

Định Tường (Mỹ Tho) xưa, Gò Công xưa, Gia Định xưa, Sa Đéc xưa, Tây Ninh xưa, Vũng Tàu xưa, cũng cung cấp nhiều ngu n tư liệu về công cuộc khai phá

vùng đất Nam bộ thời chúa Nguyễn… Bằng niềm đam mê với lịch sử và văn hóa của tiền nhân nhà nghiên cứu Huỳnh Minh đã rong ruổi khắp các nẻo đường của vùng đất phương Nam để góp nhặt những câu chuyện, những thần tích, những dấu tích lịch sử để ghi lại cho đời sau Đây là những ngu n tư liệu tương đối quý Tuy

về văn hóa nhiều hơn lịch sử, thời kỳ nhà Nguyễn hơn là chúa Nguyễn và một hạn chế là nhiều lúc chưa có sự rạch ròi giữa thần tích dân gian với lịch sử Những điều này đã phần nào làm hạn chế giá trị lịch sử của những tác phẩm

Năm 2014, nhóm tác giả Trần Đức Cường, Võ Sĩ Khải, Nguyễn Đức Nhuệ,

Lê Trung Dũng đã cho ra đời công trình mang tính tổng hợp về lịch sử thời Cổ,

Trung, Cận đại của Nam Bộ với tựa đề: “Lịch sử hình thành và phát triển vùng đất

Nam Bộ (từ khởi thủy đến năm 1945)” Với mục tiêu “cố gắng trình bày về quá trình khai phá, xác lập chủ quyền, xây dựng và phát triển cũng như quá trình bảo

vệ vùng đất Nam Bộ”, các tác giả đã tập hợp các ngu n tư liệu, các kết quả nghiên

cứu mới nhất về vùng đất phương Nam để có một cái nhìn tổng thể về công cuộc khai phá và xác lập chủ quyền của chúa Nguyễn ở Nam Bộ Từ những bước đi gây ảnh hưởng đầu tiên của chính quyền Đàng Trong lên vùng đất Nam Bộ với sự kiện hôn nhân chính trị giữa Chey chetta II và con gái chúa Nguyễn Phúc Nguyên (công

nữ Ngọc Vạn) năm 1620 nhằm thiết lập “một liên minh chống lại sự bành trướng

của vương quốc Xiêm” (tr.126); cho đến năm Đinh Sửu (1757), Nặc Tôn dâng đất

Tầm Phong Long để đền ơn chúa Nguyễn, toàn bộ vùng đất Nam Bộ đã thuộc quản

lý của chúa Nguyễn Trong công trình này các tác giả đã có khảo sát và nhận định

về công lao khai phá vùng đất Nam Bộ của lực lượng người Việt và người Hoa (tuy nhiên còn tương đối sơ lược) Điểm mới của cuốn sách là các tác giả đã cung

Trang 27

cấp được các minh chứng tương đối cụ thể, xác thực về việc tổ chức thu thuế của chính quyền chúa Nguyễn ở Trấn Biên, Phiên Trấn, Long H như là một biện pháp khẳng định chủ quyền

Trên cơ sở những tư liệu của các công trình đi trước, một công trình đ sộ

về lịch sử Nam Bộ có tính chất tổng kết được xuất bản do Phan Huy Lê làm tổng chủ biên (năm 2017) Công trình g m 2 bộ: bộ tổng quan 2 tập và bộ chuyên sâu

g m 10 tập: trình bày về lịch sử nghiên cứu vùng đất Nam Bộ, những vấn đề về nghiên cứu và nhận thức; cho đến những đặc điểm về tự nhiên và sinh thái tác động đến tự nhiên và đặc trưng văn hóa của vùng Nam Bộ; tiếp đó là lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ từ cội ngu n cho đến hiện nay Ở bộ tổng quan, nội dung lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ thời chúa Nguyễn (thế kỷ XVII-XVIII) được công trình đề cập trong một phần của chương IV Tuy chỉ trình bày với số trang tương đối khiêm tốn, nhưng các tác giả đã làm nổi bật được công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ, từ quá trình khai mở vùng đất Mô Xoài - Đ ng Nai, đến khi phủ Gia Định được thành lập và trở thành trung tâm quy tụ, lan tỏa của làn sóng người Việt; cuối cùng chúa Nguyễn sáp nhập vùng Tây Nam Bộ vào lãnh thổ Đàng Trong hoàn thành công cuộc Nam tiến Điểm khác trong cách trình bày của công trình này so với các công trình trước đó là các tác giả đã đi vào các trung tâm điểm sau đó mở rộng ra cả khu vực: đầu tiên là Mô Xoài - Đ ng Nai, tiếp đó là Gia Định (mở ra cả khu vực Đông Nam Bộ) và cuối cùng là Hà Tiên (mở rộng ra cả miền Tây Nam Bộ) Tuy nhiên do dung lượng hạn chế, nên công trình trên không khai thác sâu và cũng không có nhiều mặt sử liệu mới về công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ ở thế kỷ XVI-XVIII

Ở bộ chuyên sâu g m 10 tập, trong đó nội dung đề cập đến công cuộc khai

phá vùng đất Nam Bộ thời chúa Nguyễn nằm ở tập IV: Vùng đất Nam Bộ từ đầu

thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX Công trình đã phản ánh khá đầy đủ những thành

tựu nghiên cứu mới nhất về vùng đất Nam Bộ Với phương pháp nghiên cứu từ các trung tâm điểm mở rộng ra cả khu vực, các tác giả đã làm rõ quá trình các cộng động cư dân đến định cư, khai phá ở từng trung tâm điểm: Mô Xoài, Đ ng Nai, Gia Định, Hà Tiên và chúa Nguyễn đã từng bước sáp nhập vùng đất đó vào lãnh

Trang 28

thổ của Đàng Trong Bên cạnh nhấn mạnh đến vai trò của các nhân tố nội lực (lưu dân người Việt, chính sách của chúa Nguyễn), các tác giả đã phần nào làm nổi bật vai trò của một số yếu tố ngoại lực, như lực lượng người Hoa khai phá Đ ng Nai,

Hà Tiên, hay tác động của quan hệ ngoại giao với Chân Lạp, Xiêm La đối với công

cuộc khai phá vùng Tây Nam Bộ Ở tập X: Tiến trình hội nhập khu vực và thế giới

đề cập quá trình hội nhập của Nam Bộ vào dòng chảy chung của khu vực và thế giới qua các thời kỳ lịch sử Trong phần III của chương I, các tác giả có đề cập

“Quan hệ giữa Nam Bộ thời chúa Nguyễn và Tây Sơn với khu vực và Thế giới” Trong đó những sự kiện liên quan đến quan hệ giữa Đàng Trong với các nước trong khu vực và thế giới diễn ra ở Nam Bộ được đề cập, phân tích phần nào: từ cuộc hôn nhân chính trị giữa Chey Chettha II với con gái chúa Nguyễn năm 1620 cho đến khi chúa Nguyễn Phúc Khoát sáp nhập vùng đất Tầm Phong Long vào năm 1757, cơ

bản thống nhất quá trình Nam tiến

Những công trình địa chí văn hóa của các địa phương Nam bộ như: địa chí văn hóa thành phố H Chí Minh, địa chí Bình Dương, địa chí Bà Rịa - Vũng Tàu, địa chí Tây Ninh, địa chí Long An, địa chí Đ ng Nai… có đề cập ít nhiều tới quá trình khai phá lập làng ở Nam bộ vào thời kỳ chúa Nguyễn Tuy nhiên, ngu n tư liệu của các cuốn địa chí này về giai đoạn thế kỷ XVII-XVIII còn hạn chế

1.2 Những công trình viết về yếu tố quốc tế tác động đến công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ

1.2.1 Những công trình viết về dòng thương mại biển Đông

Tác phẩm “Bức tranh kinh tế Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII” là cái nhìn toàn

diện của một nhà kinh tế - nhà sử học về tình hình Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII Nguyễn Thanh Nhã đã phác họa nên được một bức tranh sống động về kinh tế Đàng Trong, Đàng Ngoài trong thời gian này Ở “Phần hai: Sự biến chuyển của kiến trúc thượng tầng đô thị và thương mại”, nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Nhã

đã vẽ nên một bức tranh tươi sáng của nền thương nghiệp Việt Nam ở thế kỷ XVII-XVIII Trong đó nền thương nghiệp Đàng Trong được tác giả chú trọng khá nhiều, trên nhiều phương diện: sự phát triển của nội thương, sự hưng khởi của ngoại thương và các đô thị, cũng như hành trình và cách thức buôn bán của các

Trang 29

thương nhân nước ngoài (cả khu vực và phương Tây)… đều được tác giả miêu tả khá rõ nét

Tiếp theo là cuốn “Người Việt với biển” do Nguyễn Văn Kim chủ biên tập

hợp những bài nghiên cứu của nhóm Nghiên cứu thương mại Châu Á (khoa Lịch

sử trường Đại học KHXH & NV, đại học Quốc gia Hà Nội) xuất bản năm 2011

Nội dung chính của cuốn sách được chia thành 3 phần, g m: Truyền thống và tư

duy hướng biển của người Việt, Vị trí thương mại biển và quan hệ giao thương, Ý thức về chủ quyền và an ninh, kinh tế biển Với định hướng nghiên cứu hoàn toàn

mới, các nhà nghiên cứu đã cung cấp một góc nhìn khác về truyền thống hướng biển, cũng như bức tranh thương mại Việt Nam trong chiều dài lịch sử, đặc biệt là trong thế kỷ XVII-XVIII khi nền hải thương khu vực phát triển mạnh Một số bài viết đã làm rõ nhiều khía cạnh của hoạt động ngoại thương ở Đàng Trong thời kỳ này, như: hệ thống các thương cảng, hoạt động của các thương nhân phương Tây ở Đàng Trong, chính sách quản lý ngoại thương của chúa Nguyễn… Đây là ngu n

Tuy vậy, khi đề cập đến thương mại thế kỷ XVII- XVIII, “Người Việt với biển”

chủ yếu tập trung nghiên cứu hoạt động ở Đàng Ngoài, ngoại thương Đàng Trong, đặc biệt là ở vùng đất Nam Bộ được chú ý đến chưa nhiều

Một công trình khá đ sộ về biển Đông và các mối giao thương biển của Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử được Nguyễn Văn Kim xuất bản năm 2019 với tên

gọi: “Biển Việt Nam và các mối giao thương biển” Tác phẩm đề cập về: truyền

thống hải thương của Việt Nam trong thời kỳ cổ đại, vai trò và vị thế của biển trong giai đoạn thế kỷ XIII-XV, đặc biệt là quá trình Việt Nam hội nhập vào “thời đại hoàng kim” của hải thương Châu Á (ở thế kỷ XVI-XVIII) Với vốn tư liệu phong phú về ngoại thương Việt Nam, Nguyễn Văn Kim đã phác họa khá rõ nét quá trình phát triển của ngoại thương Đàng Trong và Đàng Ngoài trong bối cảnh bùng nổ mạnh mẽ của nền hải thương khu vực: từ sự hình thành của mạng lưới giao thương Đông Á; vai trò của thương nhân người Hoa, người Nhật; cho đến hoạt động giao lưu gốm sứ Việt - Nhật, một mặt hàng tiêu biểu cho quan hệ 2 nước ở thế kỷ XVI-XVIII… Tuy nhiên nhìn chung cũng giống các công trình khác của Nguyễn Văn

Trang 30

Kim, tư liệu chủ yếu đề cập đến Đàng Ngoài, ở Đàng Trong tác giả chủ yếu khai thác vùng Thuận – Quảng (nhất là đô thị Hội An)

Tác phẩm “Việt Nam trong quá khứ Tư liệu và nghiên cứu” của Nguyễn

Mạnh Dũng bao g m 13 chuyên luận, chia làm 3 phần với nhiều ngu n tư liệu và góc nhìn mới về lịch sử dân tộc Ở phần hai và phần ba tác giả có đề cập đến một

số khía cạnh của bức tranh kinh tế ngoại thương Đàng Trong ở thế kỷ XVII-XVIII, đặc biệt tác giả cố gắng khai thác mối quan hệ giữa Pháp và Việt Nam trong giai đoạn tiền thuộc địa Tuy vậy tư liệu về vùng đất Nam Bộ hầu như còn đang rất hạn chế

Một người đã có nhiều năm nghiên cứu về ngoại thương Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII là Hoàng Anh Tuấn Với lợi thế là khai thác được kho tư liệu lớn và quý giá của công ty Đông Ấn Hà Lan và công ty Đông Ấn Anh, Hoàng Anh Tuấn

đã liên tiếp cho xuất bản nhiều công trình về hoạt động của 2 công ty Đông Ấn Anh và Hà Lan ở Việt Nam trong thế kỷ XVI-XVIII, có thể liệt kê một loạt các

chuyên khảo: “Silk for Silver Dutch – Vietnammese Relations, 1637 -1700”;

“Early Modern Southeast Asia, 1350 – 1800; Tư liệu các công ty Đông Ấn Hà Lan

và Anh về Kẻ Chợ - Đàng Ngoài thế kỷ XVII”; “Thương điếm Anh ở Đàng Ngoài (1672-1697)”; “Công ty Đông Ấn Hà Lan ở Kẻ Chợ Đàng Ngoài”… Các công

trình trên đã cung cấp một ngu n tư liệu phong phú, khách quan về bức tranh hoạt động của các công ty Đông Ấn ở địa bàn Việt Nam thời kỳ này Tuy nhiên, đa phần những tư liệu mà Hoàng Anh Tuấn cung cấp nằm ở Đàng Ngoài, tư liệu về hoạt động của các công ty Đông Ấn ở Đàng Trong còn tương đối hạn hẹp Một

công trình mới xuất bản của Hoàng Anh Tuấn: “Thương mại Thế giới và hội nhập

của Việt Nam thế kỷ XVI-XVIII”, tuy tư liệu về Đàng Trong và Nam Bộ không

nhiều phục vụ cho Luận án, nhưng tác giả đã có cách tiếp cận vấn đề thương mại Việt Nam và Thế giới thế kỷ XVI-XVIII rất đáng chú ý

Công trình “Nam Bộ dưới thời chúa Nguyễn thế kỷ XVII-XVIII” của Trần

Nam Tiến là tập hợp những bài viết, tham luận hội thảo của tác giả được biên tập lại theo chủ đề khái quát về quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Nam Bộ

từ thời kỳ Cổ đại, đến thế kỷ XVIII Trong đó tác giả đã nhấn mạnh đến sự phát triển

Trang 31

của kinh tế hàng hóa và hình thành nên các cảng thị tấp nập ở khu vực Nam Bộ, tạo tiền đề cho sự hội nhập của Nam Bộ, cũng như Đàng Trong vào nền hải thương khu vực và thế giới đang rất phát triển (ở thế kỷ XVI-XVIII) Công trình đã cung cấp cho tác giả Luận án một số sử liệu phong phú hơn về quá trình hình thành và phát triển của các hải cảng ở Nam Bộ, tiêu biểu như: Cù Lao Phố, Sài Gòn, Hà Tiên, Bãi Xàu… làm sáng rõ hơn về bức tranh tươi sáng của thương mại Nam Bộ ở thế kỷ XVII-XVIII

Ngoài những công trình của các nhà nghiên cứu trong nước, hoạt động thương mại ở Đàng Trong thế kỷ XVI-XVIII là đề tài thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu ở nhiều quốc gia, qua nhiều thời kỳ

Tập du ký “Xứ Đàng Trong 1621” (Relatione della nuova missione delli PP

della Compagnia di Giesù al Regno della Cocincina) của giáo sĩ người Ý là

Christoforo Borri biên soạn là một tư liệu quý và quan trọng giúp chúng ta có thêm góc nhìn đầy đủ hơn về vùng đất Đàng Trong Dưới con mắt của nhà truyền giáo phương Tây, Ông đã tìm hiểu, quan sát và miêu tả khá kỹ lưỡng về vùng đất “xa lạ” này: từ lý giải tên gọi, khí hậu, đất đai thổ nhưỡng, cho tới sinh hoạt hàng ngày, cũng như tổ chức hành chính và dân chính… Đặc biệt, Borri cũng đã có nhiều dòng miêu tả, đánh giá về hoạt động thương mại của vùng đất Đàng Trong mà ông được tận mắt chứng kiến Là những trang viết của người cùng thời nên tập du ký của Borri càng có giá trị đối với những ai muốn tìm hiểu về vùng đất Đàng Trong

ở thế kỷ XVII Tuy nhiên, những dòng h i ký của Borri chủ yếu chỉ ghi lại những điều ông tìm hiểu và ghi chép về những vùng đất ông đặt chân đến ở Quảng Nam

và Quy Nhơn, vùng đất Nam Bộ không được Christoforo Borri đề cập tới

Nhắc đến dòng thương mại biển Đông, cuốn sách “Những người Châu Âu ở

nước An Nam” do Nguyễn Thừa Hỷ dịch từ hai chương II, IV của chuyên luận:

“Histoire moderne du pays d’Annam” (Lịch sử cận đại xứ An Nam) và một số bài

viết của B.Maybon là một tài liệu tham khảo quan trọng Với điều kiện thuận lợi, B.Maybon đã tiếp cận, sưu tầm, xử lý một khối lượng thông tin đ sộ từ nhiều ngu n tư liệu khác nhau, bao g m những bản thảo gốc, thư từ, biên khảo, h sơ của các kho lưu trữ (thuộc bộ Thuộc địa, Bộ Ngoại giao, thư viện Quốc gia Paris, giáo

Trang 32

đoàn dòng Tên, Hội Truyền giáo ngoại quốc, công ty Đông Ấn Hà Lan, Pháp, Anh…), các du ký đương thời, cũng như các bộ sử của Quốc sử quán nhà Nguyễn,

để làm nên một bộ chuyên khảo về hoạt động của những người Châu Âu ở Đàng Ngoài và Đàng Trong thế kỷ XVII Thông qua những trang viết của Maybon đã cung cấp phần nào những tư liệu về quá trình buôn bán của các thương nhân phương Tây với chính quyền chúa Nguyễn: từ những nhân vật, đến mục đích buôn bán, quá trình và cách thức trao đổi hàng hóa…đều được khắc hoạ khá rõ nét

Một công trình cũng rất được chú ý khi tìm hiểu về vùng đất Đàng Trong,

đặc biệt là trong lĩnh vực thương nghiệp là “Xứ Đàng Trong, Lịch sử kinh tế - xã

hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18” (Nguyen Cochinchina, Sothern Vietnam in 17th and 18th Centuries) của Li Tana Đây là một cuốn sách có giá trị đối với những ai

muốn nghiên cứu về vùng đất Đàng Trong thế kỷ XVII-XVIII Được phát triển từ luận án Tiến sĩ của mình, lĩnh vực tác giả đề cập tới và tập trung nghiên cứu là lĩnh vực kinh tế xã hội Đặc biệt Li Tana đã đề cao vai trò của ngoại thương đối với sự

t n tại và phát triển của vùng đất mới Đàng Trong Thế kỷ XVII – XVIII, trong bối cảnh nền thương mại ở khu vực phát triển hưng khởi, với yêu cầu cần nhanh chóng

xây dựng vùng đất của mình trở nên hùng mạnh để đối phó với Đàng Ngoài (“có

tiềm lực nhiều gấp đôi gấp ba”), các chúa Nguyễn đã tìm mọi cách để phát triển

nền ngoại thương và đã đạt được thành công Như nhận định của Li Tana (2013):

“Chúng ta có thể nói một cách hoàn toàn bảo đảm rằng chính thương nghiệp đã

làm cho vương quốc mới của Việt Nam, chỉ trong vòng ít thập niên, trở nên giàu có

và đủ mạnh để duy trì được nền độc lập của mình đối với phía bắc và mở rộng về phía Nam” (tr.85) Với ngu n tài liệu tương đối phong phú từ nhiều ngu n khác

nhau, tác giả đã trình bày tương đối hệ Đàng Trong ở thế kỷ XVII-XVIII: từ việc giao thiệp, buôn bán với thương gia nước ngoài, tới hệ thống tiền tệ, thuế má của chính quyền Đàng Trong Nhiều vấn đề mới và lý thú về nền ngoại thương Đàng Trong được Li Tana khai mở Tuy nhiên, phạm vi của vấn đề mà tác phẩm đề cập

là cả lãnh thổ Đàng Trong nên bà nhấn mạnh chủ yếu nền ngoại thương ở xứ Thuận Quảng

Công trình “Lịch sử giao thương” của William J.Bernstein với những sử

Trang 33

liệu về quá trình hình thành, phát triển của nền hải thương thế giới và vai trò của

nó đối với sự định hình, phát triển của lịch sử loài người Trong chương 7 đến chương 10 của cuốn sách trình bày chi tiết về kỷ nguyên bùng nổ thương mại thế giới từ khi Vasco da Gama tìm ra được con đường để đi đến phương Đông Tiếp

đó là người B Đào Nha chiếm lĩnh những yếu điểm thương mại ở Ấn Độ Dương, qua Thái Bình Dương Một thế kỷ sau, người Hà Lan gạt B Đào Nha sang một bên, để r i đến lượt mình công ty Đông Ấn Hà Lan cũng bị người Anh làm cho lu

mờ Xuyên suốt cuốn sách William J.Bernstein đã cho thấy vai trò của thương mại trong việc trực tiếp thúc đẩy sự thịnh vương toàn cầu: nó cho phép các quốc gia sản xuất những hàng hóa mà mình có thế mạnh, r i sau đó đưa đi trao đổi với các quốc gia khác, tạo nên chuỗi cung ứng toàn cầu Sự phát triển đó đã tác động mạnh

mẽ đến khu vực và cộng hưởng với hoạt động hải thương cũng đang rất sôi động ở khu vực tạo nên một “kỷ nguyên thương mại Châu Á” ở thế kỷ XVI-XVIII

Ở một khía cạnh khác về thương mại khu vực Đông Á, công trình:

“Offshore Asia – Maritime interactions in eastern Asia before steamships” được

biên soạn bởi Fujta Kayoko – Momoki Shiro – Anthony Reid, tập hợp những bài viết của những nhà nghiên cứu hàng đầu Châu Á về lĩnh vực ngoại thương Các bài viết đã khắc họa bức tranh thương mại truyền thống của khu vực Châu Á (đặc biệt

là Đông Á) trên các lĩnh vực, như: xuất khẩu kim loại và nhập khẩu vải dưới thời Tokugawa (Nhật Bản) với các nước Nam Á; chính sách tỏa quốc (Sakoku) dưới thời Mạc phủ Tokugawa; buôn bán, trục vớt tàu đắm và h i hương người sống sót dưới thời nhà Thanh… là tư liệu quý để tác giả phác dựng về bức tranh hàng hải trong khu vực ở thế kỷ XVI-XVIII và phần nào liên hệ đến sự tương tác giữa thương mại khu vực với Đàng Trong thời kỳ này

Thế kỷ XVII-XVIII, là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của ngoại thương ở Đàng Trong, nhiều nhà nghiên cứu xem đây là kỷ nguyên đại thương khi chúa Nguyễn dự nhập mạnh mẽ vào hệ thương mại Châu Á và thế giới Hầu hết các nền thương mại lớn của thế giới giai đoạn này đều có các thương nhân đến hoạt động ở thị trường Đàng Trong Hệ thống thương cảng của vùng đất mà người phương Tây gọi là Cauchin-chine được mở rộng từ Thuận Quảng vào tới Nam bộ đón nhận

Trang 34

nhiều thương nhân không chỉ trong khu vực (Trung Hoa, Nhật Bản, Java, Xiêm…)

mà cả các nhà hàng hải từ châu Âu (B Đào Nha, Hà Lan, Pháp…) Sự tham gia của các thương nhân – giáo sĩ phương Tây vào hệ thống buôn bán ở Đàng Trong

đã làm thay đổi căn bản nền ngoại thương của vùng đất này, với tính cách của những nhà hàng hải, họ đã ghi chép khá đầy đủ về hành trình của mình trong quá trình tìm kiếm thị trường, tiến hành buôn bán ở vùng đất mới Những tập du ký đó

là những tư liệu quý cho chúng ta có thể hiểu được phần nào về quá trình tham gia vào dòng thương mại quốc tế ở thế kỷ XVII-XVIII, cũng như những tác động của

nó tới vùng đất của chúa Nguyễn Một số tác phẩm: “Mô tả lịch sử xứ Nam kỳ” của Jean Koffler, “Công ty Ấn Độ và Đông Dương” của Georges Taboulet, “Người

Pháp và An Nam – Bạn hay thù” của Philippe Devillers, “Đông Dương mô tả bởi các cha cố và cố và các nhà du lịch, những sự tiếp xúc đầu tiên về mặt kinh tế và chính trị giữa Đông Dương và nước Pháp” của Georges Taboulet… là những điều

mắt thấy tai nghe của các thương nhân, giáo sỹ phương Tây trên con đường buôn bán, truyền đạo ở Đàng Trong Nhiều khung cảnh của thiên nhiên và cuộc sống con người đàng Trong, đặc biệt là hoạt động thương mại ở vùng đất này được ghi chép khá sinh động Tuy nhiên, chủ yếu thời kỳ này các giáo sỹ và thương nhân phương Tây tìm đến vùng Thuận – Quảng nên những ghi chép của họ cũng chủ yếu là ở khu vực này, vùng đất Nam Bộ rất ít sử liệu

Đầu thế kỷ XVII, ở khu vực Châu Á, Nhật Bản là trung tâm buôn bán sôi động thu hút thương thuyền nhiều quốc gia trong khu vực và thế giới tới trao đổi hàng hóa Những ghi chép của hải quan ở cảng quốc tế Nagasaki thời kỳ Edo (1600-1868) là ngu n tư liệu quý giá khi nghiên cứu về ngoại thương Châu Á thời

kỳ này Yoneo Ishii đã chuyển dịch sang Anh ngữ, giới thiệu ngu n tư liệu này đến

độc giả và giới nghiên cứu quốc tế với tên gọi: “The Junk Trade from Southeast

Asia: Translations from the Tosen Fusetsu-gaki, 1674-1723” Những ghi chép của

các thuyền buôn trong cùng thời điểm có đề cập một số khía cạnh về sự phát triển của hoạt động thương mại ở biển Đông và hạ lưu sông Mekong Việt Nam, đã bổ sung một số tư liệu về hoạt động hải thương (và một số tư liệu mới về các nhóm người Hoa ở Nam Bộ) còn tương đối khuyết của chính sử Việt Nam

Trang 35

Ngoài ra, đề tài về nền ngoại thương của Đàng Trong ở thế kỷ XVII-XVIII, cũng thu hút được rất nhiều nhà nghiên cứu quốc tế đương đại Với thế mạnh là có thể tiếp cận được những kho tài liệu đ sộ của các thư viện, các trung tâm lưu trữ quốc tế (ở Pháp, Anh, Hà Lan,Trung Quốc ) mà người Việt khó tiếp cận hết được, những công trình nghiên cứu của các nhà Việt Nam học nước ngoài này, như: J

Cleinen, Bert van der Zwan, Hans Moors, Ton van Zeeland (2008), “Sư tử và

Rồng – Bốn thế kỷ quan hệ Hà Lan – Việt Nam”; hay: Yoshiharu Tsuboi (1999),

“Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa: 1847-1885”; Choi Byung Wook, “Vùng đất Nam bộ dưới triều vua Minh Mạng”… đã cung cấp một ngu n tư

liệu phong phú, đa dạng và có giá trị cao để có thể phục dựng đầy đủ hơn về một nền hải thương của Đàng Trong ở thế kỷ XVII-XVIII

1.2.2 Những công trình viết về tác động của quan hệ giữa Đàng Trong với các vương quốc Đông Nam Á

“Lịch sử văn hóa Đông Nam Á” do Phạm Đức Dương chủ biên tập hợp

thành quả nghiên cứu trong vòng 25 năm của các nhà khoa học thuộc Viện Đông Nam Á trên 2 lĩnh vực Lịch sử và Văn hóa Nhiều bài viết công phu trong cuốn sách đã cung cấp những tư liệu bổ ích về quan hệ giữa Việt Nam và quốc gia trong khu vực trong suốt chiều dài lịch sử, cũng như giai đoạn thế kỷ XVII-XVIII Tuy nhiên, trong phần lịch sử tác phẩm chỉ chú trọng đến giai đoạn tiền sử và sơ sử (trước khi có tác động của văn hóa Ấn Độ và Trung Hoa) Vì vậy quan hệ giữa Việt Nam và các nước trong khu vực ở thế kỷ XVII-XVIII không được các tác giả trình bày nhiều

Tác phẩm “Việt Nam trong thế giới Đông Á - Một cách tiếp cận liên ngành

và khu vực học” của Nguyễn Văn Kim xuất bản năm 2011, bao g m 2 phần: phần

1: truyền thống, lịch sử và nhận thức; phần II: Tiềm năng, dấu ấn và các mối quan

hệ khu vực Tác giả đã phác dựng lại mối quan hệ truyền thống giữa Việt Nam với khu vực Đông Á và Đông Nam Á trong suốt chiều dài lịch sử Đặc biệt ở phần II, tác giả đã phân tích về con đường phát triển của các quốc gia ở khu vực Đông Nam

Á trong dòng chảy chung Đông Á, về bối cảnh khu vực trong thế kỷ XVII-XVIII,

về ứng đối của chính quyền Đàng Trong với các mối quan hệ khu vực và với các

Trang 36

thế lực Phương Tây Tuy nhiên, tác động của mối quan hệ này tới công cuộc khai phá đất đai ở Nam Bộ thì không được đề cập

Công trình tiếp theo của Nguyễn Văn Kim: “Nhật Bản với Châu Á Những

mối liên hệ lịch sử và chuyển biến kinh tế - xã hội” xuất bản năm 2003 có đề cập

đến quan hệ khu vực trong thế kỷ XVII-XVIII Ở phần I Nhật Bản với Châu Á –

Những mối liên hệ truyền thống, tác giả trình bày về mối quan hệ truyền thống

giữa chính quyền của Nhật Bản với các nước Châu Á (chủ yếu là các nước Đông Á

và Đông Nam Á) từ thế kỷ XI đến thế kỷ XVII Đ ng thời Nguyễn Văn Kim đã đặt

sự chuyển biến của tình hình Việt Nam ở thế kỷ XVI-XVII trong bối cảnh chung của mối quan hệ ch ng chéo của khu vực

“Lịch sử bang giao Việt Nam - Đông Nam Á” của Trần Thị Mai là công

trình hiếm hoi chuyên khảo về quan hệ bang giao giữa Việt Nam và các quốc gia trong khu vực trong suốt quá trình lịch sử Ở chương II của cuốn sách, một số sự kiện về quan hệ giữa chính quyền Đàng Trong và các nước trong khu vực, đặc biệt

giữa Ngọc Vạn và Chey chettha II (1620), các cuộc dụng binh của chúa Nguyễn ở Chân Lạp vào các năm 1674, 1699, 1705, 1753… Tuy nhiên do nội dung của cuốn sách đề cập xuyên suốt thời gian dài và mang tính chất giáo trình tham khảo cho sinh viên vì vậy những tư liệu về quan hệ khu vực trong ở thế kỷ XVI-XVIII không nhiều

Trong công trình “Quan hệ Thái Lan - Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đầu thế

kỷ XIX”, Đặng Văn Chương đi vào một khía cạnh hẹp hơn là quan hệ giữa Thái

Lan – Việt Nam Về mặt thời gian, tác giả chỉ tập trung vào cuối thế kỷ XVIII - đến đầu thế kỷ XIX (từ sau khi chúa Nguyễn bị lật đổ cho đến đầu vương triều Nguyễn), giai đoạn thế kỷ XVII-XVIII ít được chú ý Tuy nhiên, ở phần khái quát

về quan hệ Xiêm – Việt Nam từ thế kỷ XII đến giữa thế kỷ XVIII, tác giả đã gợi

mở một số vấn đề giúp Luận án có thể tiếp tục phát triển thêm, như: sự tương đ ng

về mặt điều kiện tự nhiên giữa 2 nước, Việt Nam án ngữ trên con đường từ Xiêm sang Trung Quốc, tranh chấp của Xiêm và chúa Nguyễn ở Chân Lạp và vùng đất

Hà Tiên…

Trang 37

Ở thế kỷ XVI-XVIII, các cường quốc Phương Tây đẩy mạnh xâm nhập vào khu vực Đông Nam Á giàu tiềm năng Nhu cầu tìm hiểu về khu vực này thúc đẩy

sự phát triển của ngành Đông Nam Á học ở Châu Âu Các ngu n tư liệu được sưu tầm, những công trình có giá trị được xuất bản

“Lịch sử Đông Nam Á” của D.G.E.Hall là một cuốn sách được biên soạn

khá công phu với nhiều ngu n tư liệu về lịch sử khu vực Tác phẩm bao g m 4 phần là 4 giai đoạn hình thành và phát triển của các quốc gia Đông Nam Á Trong

đó phần II: Đông Nam Á từ đầu thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII đã trình bày về

quá trình các thương nhân phương Tây, trong đó người B Đào Nha và Tây Ban Nha đi tiên phong, xâm nhập vào khu vực làm biến đổi hoạt động thương mại truyền thống của khu vực Trong bối cảnh đó, tình hình các nước trong khu vực cũng có nhiều sự chuyển biến, đặc biệt là ở Việt Nam trong bối cảnh phân tranh Đàng Trong - Đàng Ngoài, chính quyền chúa Trịnh và Chúa Nguyễn đã có nhiều chính sách để tận dụng những yếu tố quốc tế, khu vực phục vụ cho quá trình phát triển vùng đất của mình

Nhà nghiên cứu Mary Somer Heidhues lại đi theo một hướng khác khi

nghiên cứu về Đông Nam Á Cuốn: “Lịch sử phát triển Đông Nam Á từ hình thành

đến hiện đại”, Huỳnh Kim Oanh, Phạm Viên Phương biên dịch, tuy sử liệu không

đ sộ như công trình của D.Hall nhưng có những đóng góp nhất định cho những người nghiên cứu đi sâu khi tìm hiểu vào khu vực Đông Nam Á Đó là nhân tố người Hoa trong quan hệ ở khu vực Đông Nam Á và nhân tố thương nhân phương Tây tác động đến các quốc gia Đông Nam Á ra sao ở thế kỷ XVI-XVIII…

Nghiên cứu về quan hệ giữa Đàng Trong và Đông Nam Á thời kỳ này đặc biệt không thể bỏ qua các công trình rất có giá trị viết về lược sử các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Campuchia và Thái Lan Có thể liệt kê một số công trình:

A.Lecler, “Historie du cambodge”; David P Chandler, “A history of Cambodia”; J.Moura, “Le Royaume du Cambobge”; W.A.R Wood, “A history of Siam”; …

Đây là những cuốn lược sử cung cấp nhiều tư liệu khách quan về mối quan hệ giữa các nước này với Đại Việt nói chung và Đàng Trong nói riêng, giúp tác giả có thể

so sánh đối chiếu lại với những tư liệu của sử Việt để có cái nhìn toàn diện hơn

Trang 38

Ngoài ra trong những nhà Việt Nam học đầu thế kỷ XX, Charles B.Maybon

là một người có quá trình tìm hiểu, khảo cứu công phu về Đàng Ngoài và Đàng Trong thế kỷ XVI-XVIII Đặc biệt những trang viết về Nam Bộ, rất có ý nghĩa đối với những ai muốn tìm hiểu về công cuộc khai phá vùng đất cực Nam Đàng Trong

ở thế kỷ XVII-XVIII Với điều kiện thuận lợi, B.Maybon đã tiếp cận, sưu tầm, xử

lý một khối lượng thông tin đ sộ từ nhiều ngu n tư liệu khác nhau, bao g m những bản thảo gốc, thư từ, biên khảo, h sơ của các kho lưu trữ, các du ký đương thời, cũng như các bộ sử của Quốc sử quán nhà Nguyễn… để cho ra đời nhiều tiểu

luận và công trình nổi tiếng, như: Une Factorerie anglaise au Tokin au XVII siècle

– BEFEO, 1910 (thương điếm Anh ở Đàng Ngoài thế kỷ XVII); Marchands européens en Cochinchine et au Tonkin – R.I.1916 (Các thương nhân người Âu ở

Đàng Trong và Đàng Ngoài); Histoire moderne du pays d’Annam-Paris, 1920 (Lịch sử cận đại xứ An Nam)… Trong những công trình ấy, Histoire moderne du

pays d’Annam có thể xem là một công trình hiếm của các nhà sử học nước ngoài

viết về quá trình khai phá vùng đất Nam Bộ Tác phẩm ấy được Nguyễn Thừa Hỷ

lựa chọn dịch 2 chương (chương II và chương IV) và xuất bản với tên gọi “Những

người Châu Âu ở nước An Nam”, tuy nhiên phần này hầu như rất ít đề cập tới vùng

lãnh thổ nay là Nam Bộ Những trang viết của B.Maybon ở chương III của cuốn

sách với nhiều sử liệu về vùng đất phương Nam với tên gọi: Le pays d’Annam de

1674 a 1775 – Les Trinh au Tokin les Nguyen au Cochinchine et au Cambodia

(nước An Nam từ 1674 đến 1775, nhà Trịnh ở Bắc Kỳ, nhà Nguyễn ở Nam Kỳ và Cao Miên) cung cấp nhiều tư liệu về quan hệ giữa Đàng Trong với Chân Lạp và Xiêm B.Maybon cung cấp nhiều tư liệu về quan hệ phức tạp giữa chính quyền chúa Nguyễn với các nước khu vực, đặc biệt là quan hệ tay ba giữa Đàng Trong - Chân Lạp - Xiêm Đây có thể xem là đóng góp lớn nhất của chương III công trình trên Chính sách đối ngoại khôn khéo của chính quyền chúa Nguyễn đã thúc đẩy nhanh hơn quá trình xác lập chủ quyền đối với Nam Bộ, không vấp phải sự phản đối của Chân Lạp và Xiêm

1.2.3 Những công trình viết về tác động của dòng di dân người Hoa

Thế kỷ XVII-XVIII là thời kỳ dòng di cư của người Hoa vào Nam Bộ đông

Trang 39

đảo nhất Những ghi chép về người Hoa ở Nam Bộ trong thời gian này tương đối phong phú

Bộ gia phả được xem là cổ nhất Nam Bộ, ghi chép về dòng họ Mạc ở Hà Tiên, cũng đ ng thời là công trình viết về một nhóm người Hoa di cư vào Nam Bộ

ở thế kỷ XVII “Mạc Thị gia phả” do Dinh Đức hầu Vũ Thế Dinh (con nuôi của

Mạc Thiên Tứ) biên soạn là một tư liệu rất quý bởi nó không chỉ là gia phả, thế thứ của một dòng họ nổi tiếng, có công lớn trong sự nghiệp mở đất ở Nam Bộ, mà với ghi chép của một người đương thời sẽ cung cấp cho thế hệ sau một cái nhìn khách quan hơn về quá trình hình thành và phát triển của vùng đất cực Nam của Tổ quốc

Như chia sẻ của dịch giả Nguyễn Khắc Thuần, Mạc Thị Gia phả “hàm chứa nhiều

nội dung đặc biệt” có thể bổ sung vào những bộ quốc sử của nhà Nguyễn giúp

chúng ta có một cái nhìn toàn diện hơn về dòng họ Mạc, về vai trò của người Hoa cũng như quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Hà Tiên trên bản đ Đàng Trong

“Định cư của người Hoa trên đất Nam bộ thế kỷ XVII đến năm 1945” của

Nguyễn Cẩm Thúy và Cao Tự Thanh (chủ biên) cung cấp nhiều tư liệu về quá trình định cư của người Hoa ở Nam Bộ trong bối cảnh biến động chính trị ở thế kỷ

XVII Ở “Phần thứ nhất: Một số vấn đề về định cư của người Hoa trên đất Nam

bộ từ thế kỷ XVII đến năm 1945”, các tác giả đã phác họa những nét khái quát về

quá trình di dân, định cư của người Hoa trên đất Nam bộ, tổ chức xã hội, cũng như đóng góp của lực lượng này đối với vùng đất phương Nam Từ những nhóm nhỏ người Hoa chạy loạn theo đường biển xuống phía Nam vào Đàng Trong sau những đợt cấm đoán và triệt đạo Thiên Chúa ở Trung Quốc; cho tới những đợt di cư ạt

ở thế kỷ XVII – XVIII do những biến động chính trị ở Trung Quốc; đến nửa đầu thế kỷ XIX, làn sóng di cư của người Hoa vào Nam Bộ vẫn tiếp tục diễn ra Những người Hoa di cư đã có đóng góp quan trọng trong việc khai phá và phát triển vùng đất Đông Nam bộ và sau đó là vùng đất Tây Nam bộ Tuy nhiên, những nội dung

về đóng góp của người Hoa đối với công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ ở thế kỷ XVII-XVIII, không được các tác giả khai thác nhiều mà chủ yếu chỉ nhắc đến các

sự kiện người Hoa đặt chân đến và tổ chức sinh hoạt của họ

Trang 40

Công trình “Chính sách của các vương triều Việt Nam đối với Người Hoa”

của Huỳnh Ngọc Đáng, trình bày về những chính sách của vương triều phong kiến Việt Nam độc lập đối với lưu dân người Hoa từ thế kỷ X tới giữa thế kỷ XIX Ở phần dẫn luận tác giả đã làm rõ một số khái niệm trong đó đặc biệt là khái niệm người Hoa một cách khá sâu sắc và tương đối đầy đủ làm tiền đề cho những người nghiên cứu sau muốn tìm hiểu về vấn đề này Ở thế kỷ XVII-XVIII, Huỳnh Ngọc Đáng cũng đã phân tích chính sách của các chúa Nguyễn đối với dòng di dân người Hoa ạt xuống khu vực Đàng Trong ở giai đoạn này Một bức tranh di cư của người Hoa và đóng góp của người Hoa đối với Đàng Trong, cũng như vùng đất Nam Bộ với khai phá được phác họa khá rõ nét, với nhiều luận điểm đáng chú

ý

Công trình của Châu Thị Hải: “Người Hoa ở Việt Nam và Đông Nam Á –

Hình ảnh hôm qua và vị thế hôm nay” xuất bản năm 2006, với ngu n tư liệu, minh

chứng lịch sử tương đối phong phú được tìm tòi trong nhiều năm đã phác họa cho người đọc thấy được hình ảnh của cộng đ ng người Hoa ở Đông Nam Á từ xưa đến nay Bằng sự khảo nghiệm của mình, Châu Thị Hải đã nêu ra và lý giải tương đối cặn kẽ, hệ thống về các tên gọi, khái niệm, quá trình di dân và hình thành các nhóm cộng đ ng người Hoa ở Đông Nam Á Trong tác phẩm, tác giả cũng đã làm

rõ một số loại hình liên kết truyền thống và các mối quan hệ của người Hoa với cộng đ ng cư dân bản địa ở khu vực Đông Nam Á, cũng như ở Việt Nam Đặc biệt

ở chương IV, Châu Thị Hải đã tổng kết những vai trò và vị trí kinh tế của người Hoa

ở các nước Đông Nam Á, trong đó ở thế kỷ XVI-XVIII, vai trò của người Hoa thể hiện rất nổi bật trên con đường tơ lụa quốc tế, hình thành nên các đô thị thương mại

ở khu vực

Tác phẩm “Người Hoa ở miền Nam Việt Nam” (1968) của Tsai Maw Kuey

không chỉ đề cập đến các hoạt động kinh tế mà trình bày toàn diện các mặt liên quan đến cộng đ ng người Hoa ở miền Nam Việt Nam, g m ba phần: đề cập đến

sự nhập cư của người Hoa vào miền Nam Việt Nam trước thời Pháp thuộc hình thành nên khu đô thị đô hội Hà Tiên, Chợ Lớn và các bang Trong đó đáng chú ý là

sự cố kết theo địa phương và phương ngữ, hình thành nên các bang thuộc nhóm

Ngày đăng: 13/03/2022, 16:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Giá lúa gạo các địa phương cuối thế kỷ XVIII  STT  Địa phương  Giá cả (tiền/hộc) - Quá trình khai phá vùng đất nam bộ thời chúa nguyễn dưới tác động của những yếu tố quốc tế
Bảng 1 Giá lúa gạo các địa phương cuối thế kỷ XVIII STT Địa phương Giá cả (tiền/hộc) (Trang 71)
Bảng 3: Thiếc Quảng Châu nhập khẩu từ một số cảng - Quá trình khai phá vùng đất nam bộ thời chúa nguyễn dưới tác động của những yếu tố quốc tế
Bảng 3 Thiếc Quảng Châu nhập khẩu từ một số cảng (Trang 98)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w