1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chủ nghĩa thực chứng cổ điển và sự ảnh hưởng của nó đối với triết học phương tây hiện đại

213 39 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chủ Nghĩa Thực Chứng Cổ Điển Và Sự Ảnh Hưởng Của Nó Đối Với Triết Học Phương Tây Hiện Đại
Tác giả Nguyễn Thành Nhân
Người hướng dẫn PGS. TS. Đinh Ngọc Thạch
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 213
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. NHỮNG ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA CHỦ NGHĨA THỰC CHỨNG CỔ ĐIỂN (31)
    • 1.1. ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH CHỦ NGHĨA THỰC CHỨNG CỔ ĐIỂN (31)
      • 1.1.1. Điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội Tây Âu cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX với sự hình thành chủ nghĩa thực chứng cổ điển (31)
      • 1.1.2. Tiền đề lý luận hình thành chủ nghĩa thực chứng cổ điển (41)
      • 1.1.3. Tiền đề khoa học tự nhiên hình thành chủ nghĩa thực chứng cổ điển 49 1.2. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHỦ NGHĨA THỰC CHỨNG CỔ ĐIỂN (55)
      • 1.2.1. Quá trình hình thành chủ nghĩa thực chứng với vai trò sáng lập của (59)
      • 1.2.2. Quá trình phát triển chủ nghĩa thực chứng với vai trò của John (68)
  • CHƯƠNG 2. NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM, GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA CHỦ NGHĨA THỰC CHỨNG CỔ ĐIỂN (80)
    • 2.1. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA THỰC CHỨNG CỔ ĐIỂN (80)
      • 2.1.1. Đường lối tư duy triết học và vấn đề thế giới quan của chủ nghĩa thực chứng cổ điển (81)
      • 2.1.2. Quan điểm của chủ nghĩa thực chứng cổ điển về nhận thức (89)
      • 2.1.3. Quan điểm của chủ nghĩa thực chứng cổ điển về chính trị - xã hội (102)
    • 2.2. ĐẶC ĐIỂM, GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA CHỦ NGHĨA THỰC CHỨNG CỔ ĐIỂN (119)
      • 2.2.1. Các đặc điểm chủ yếu của chủ nghĩa thực chứng cổ điển (119)
      • 2.2.2. Giá trị, ý nghĩa và hạn chế của chủ nghĩa thực chứng cổ điển (131)
    • 3.1. ẢNH HƯỞNG CỦA CHỦ NGHĨA THỰC CHỨNG CỔ ĐIỂN ĐỐI VỚI MỘT SỐ TRƯỜNG PHÁI TRIẾT HỌC THEO KHUYNH HƯỚNG THỰC CHỨNG - (152)
      • 3.1.1. Ảnh hưởng của chủ nghĩa thực chứng cổ điển đối với chủ nghĩa phê phán kinh nghiệm (Empirio - Criticism) của Ernst Mach và Richard (152)
      • 3.1.2. Ảnh hưởng của chủ nghĩa thực chứng cổ điển đối với chủ nghĩa thực chứng mới – hay trào lưu triết học phân tích (161)
      • 3.1.3. Ảnh hưởng của chủ nghĩa thực chứng cổ điển đối với chủ nghĩa duy lý phê phán – hậu thực chứng (171)
      • 3.1.4. Ảnh hưởng của chủ nghĩa thực chứng cổ điển đối với chủ nghĩa thực dụng172 3.2. ẢNH HƯỞNG CỦA CHỦ NGHĨA THỰC CHỨNG CỔ ĐIỂN ĐỐI VỚI CÁC NHÀ TRIẾT HỌC THEO KHUYNH HƯỚNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI (178)

Nội dung

Các nhà triết học thực chứng cổ điển công khai tuyên bố nhiệm vụ căn bản của triết học thực chứng và mọi khoa học thực chứng là phát hiện 1 Chủ nghĩa thực chứng là một trào lưu tư tưởn

NHỮNG ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA CHỦ NGHĨA THỰC CHỨNG CỔ ĐIỂN

ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH CHỦ NGHĨA THỰC CHỨNG CỔ ĐIỂN

1.1.1 Điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội Tây Âu cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX với sự hình thành chủ nghĩa thực chứng cổ điển

Khái quát điều kiện lịch sử xã hội Tây Âu cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX

Với tư cách là một trong các hình thái ý thức xã hội, chủ nghĩa thực chứng cổ điển chịu ảnh hưởng và phản ánh sâu sắc những điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội các nước Tây Âu cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Tuy ra đời ở những năm 30 của thế kỷ XIX, song những mầm mống của sự ra đời chủ nghĩa thực chứng cổ điển đã được chuẩn bị ngay từ rất sớm, gắn liền với sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ngay trong lòng của xã hội phong kiến Có thể khái quát như sau: Nếu như cuộc cách mạng tư sản diễn ra vào cuối thế kỷ XVI ở Hà Lan báo hiệu thời đại suy sụp của chế độ phong kiến và cuộc cách mạng tư sản ở Anh (1640) giữa thế kỷ XVII ―là một trận tấn công vào thành trì của chế độ cũ để xây dựng chế độ xã hội mới, lật đổ quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu, mở đường cho sức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển‖ (Vũ Dương Ninh & Nguyễn Văn Hồng, 2008, tr 9), thì Đại cách mạng dân chủ tư sản Pháp (1789) vào cuối thế kỷ XVIII là cuộc cách mạng được xem như là cuộc cách mạng của cả châu Âu, tuyên bố thiết lập một chế độ chính trị xã hội mới với cơ cấu tổ chức mới và các quyền tự do dân chủ Đồng thời, nó cũng mở ra một thời kỳ lịch sử mới – thời kỳ thắng lợi và củng cố của chủ nghĩa tư bản ở các nước tiên tiến thời kỳ lúc bấy giờ

Lịch sử xã hội Tây Âu cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XIX có nhiều biến động phức tạp Chính những phát minh khoa học vượt thời đại và việc ứng dụng nó vào quá trình sản xuất đã làm cho lực lượng sản xuất phát triển, thúc đẩy tiến bộ xã hội Sự phát triển đó đã kéo theo làm cho trật tự xã hội bị đảo lộn, đồng thời thách thức những giá trị truyền thống Nhận định về tình cảnh này, trong tác phẩm ―Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản‖ C Mác và Ph.Ăng- ghen viết:

―Tất cả những mối liên hệ phức tạp và muôn màu muôn vẻ ràng buộc con người phong kiến với ―những bề trên tự nhiên‖ của mình, đều bị giai cấp tư sản thẳng tay phá vỡ, không để lại giữa người và người một mối quan hệ nào khác, ngoài lợi ích trần trụi và lối ―tiền trao cháo múc‖ không tình không nghĩa Giai cấp tư sản đã dìm những xúc động thiêng liêng của lòng sùng đạo, của nhiệt tình hiệp sĩ, của tính đa cảm tiểu tư sản xuống dòng nước giá lạnh của sự tính toán ích kỷ Nó đã biến phẩm giá của con người thành giá trị trao đổi; nó đã đem tự do buôn bán duy nhất và vô sỉ thay cho biết bao quyền tự do đã được ban cho và đã giành được một cách chính đáng Tóm lại, giai cấp tư sản đã đem sự bóc lột công nhiên, vô sỉ, trực tiếp, tàn nhẫn thay cho sự bóc lột được che đậy bằng những ảo tưởng tôn giáo và chính trị‖ (C.Mác và Ph.Ăng-ghen, 2004c, tr 600) Với sự thống trị của phương thức sản xuất tư bản đã làm nảy sinh trong lòng xã hội các nước Tây Âu cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX những mâu thuẫn nhất định Trước hết, bên cạnh mâu thuẫn đã tồn tại trước đó giữa giai cấp tư sản và địa chủ phong kiến là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản Chính mâu thuẫn giai cấp này, đã nổi lên những phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản đi từ tự phát đến tự giác Kế đến, mâu thuẫn giữa lực lượng bảo thủ và lực lượng cách mạng, với sự tranh giành về quyền lợi giữa các phe phái trong nội bộ giai cấp tư sản Tiếp theo, mâu thuẫn giữa các cường quốc tư bản với những cuộc chiến tranh giành lấy đất đai ở các nước châu Âu và các nước thuộc địa nhằm thỏa mãn tham vọng bá quyền Ngoài những mâu thuẫn nêu trên, lịch sử - xã hội các nước Tây Âu trong giai đoạn này còn nổi lên tiến trình đô thị hóa do tình trạng di dân phục vụ sản xuất công nghiệp và sự gia tăng dân số đột biến, cùng với nạn thất nghiệp và sự bần cùng hóa Tất cả những điều này dẫn đến sự thay đổi lớn lao về đời sống xã hội

Trên lĩnh vực kinh tế , lịch sử châu Âu cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ

XIX chứng kiến cuộc cách mạng trong lĩnh vực công nghiệp ―Đây là một trong những cuộc cách mạng quan trọng nhất làm thay đổi lịch sử nhân loại, làm thay đổi tư tưởng và lối sống của con người‖ (Stearns, 2001, tr 1176) Tuy cuộc cách mạng này diễn ra không sôi nổi bằng cuộc đấu tranh, tranh giành quyền lợi chính trị giữa hai giai cấp địa chủ phong kiến và tư sản, nhưng nó đánh dấu một bước ngoặt trong sự phát triển sức sản xuất, thành quả của nó theo cách diễn đạt của nhà tương lai học A Toffler là nó đã chuyển nền văn minh của nhân loại từ làn sóng văn minh nông nghiệp sang làn sóng văn minh công nghiệp (Toffler, 1992)

Trong cục diện các nước Tây Âu thời kỳ lúc bấy giờ, nước Anh là quốc gia có nền kinh tế phát triển mạnh mẽ nhất, do thừa hưởng trực tiếp thành quả của cuộc cách mạng công nghiệp Khởi sự cho cuộc cách mạng này đến từ những cải tiến, phát minh kỹ thuật nhằm cải biến tư bản chủ nghĩa về sản xuất Đầu tiên có thể kể đến việc phát minh ra ―con thoi bay‖ của John Kay (năm

1733), đúc sắt bằng than cốc của gia đình Darby (năm 1735), máy kéo sợi Jenny của James Hargreaves (năm 1764) Đặc biệt, việc chế tạo thành công máy hơi nước của James Walt (năm 1783) và việc xây dựng xưởng máy kéo sợ bằng máy hơi nước đầu tiên ở Nottingham (năm 1785), đã đánh dấu ―một hình thức sản xuất mới đã được thực hiện, đó là xưởng máy‖ (Beaud, 2002, tr 124) Cách mạng công nghiệp cùng với chính sách khai thác thuộc địa và tự do thương mại làm cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở nước Anh được xác lập Đến giữa thế kỷ XIX nước Anh trở thành cường quốc kinh tế và trở thành ―công xưởng của thế giới‖

Có thể lý giải vì sao nước Anh là nước đứng đầu trong nền kinh tế thế giới thời kỳ bấy giờ Thứ nhất, so với các quốc gia khác, sự phát triển của nước Anh gắn liền với sự bành trướng và khai thác thuộc địa với tự do thương mại và buôn bán hàng hải từ rất sớm Điều này có thể thấy được bởi Anh là quốc gia có nhiều thuộc địa nhất và có ngành công nghiệp đóng tàu phát triển mạnh và nó cũng lý giải vì sao nước Anh giữ địa vị ―bá quyền trên mặt biển‖ Theo Montesquieu, nước Anh ―là một dân tộc trên địa cầu biết giành ưu thế trên ba lĩnh vực lớn: tôn giáo, thương mại và tự do‖ (Montesquieu, 2006, Quyển XX, chương 7) Ông cho rằng, so với các quốc gia khác đặt lợi ích thương mại dưới lợi ích chính trị, thì nước Anh luôn đặt lợi ích chính trị dưới lợi ích thương mại

Thứ hai, trong cơ cấu nền kinh tế, khu vực kinh tế công nghiệp ở Anh luôn chiếm tỷ trọng cao so với các nước khác Theo M Beaud (2002 tr.156), tỷ trọng công nghiệp ở Anh tăng từ 42% năm 1801 lên 60% năm 1831 để đạt tới 73% năm 1871 Trong khi ở Pháp, con số này từ 43% năm 1790 tăng lên 55% năm

1844, nhưng sau đó dừng lại ở mức độ này đến năm 1874 Thứ ba, do tỷ trọng sản xuất tư liệu sản xuất trong toàn bộ sản phẩm công nghiệp ở nước Anh cao, trong khi các nước khác vẫn chủ yếu là sản xuất tư liệu tiêu dùng Tỷ trọng này, ở nước Anh tăng từ 29% năm 1783 lên đến 47% năm 1788, còn ở Pháp từ 18% năm lên chỉ 22% năm 1884 (Beaud, 2002, tr 157)

Thành quả của cuộc cách mạng trong lĩnh vực công nghiệp đã làm cho sức sản xuất của xã hội phát triển một cách vượt bậc Đến năm 1840, tổng sản phẩm công nghiệp của ba cường quốc Anh, Pháp và Đức chiếm 56% trong tổng sản phẩm công nghiệp của toàn thế giới Trong khoảng những năm từ 1770 đến

1840, bình quân mức sản xuất hàng ngày của mỗi công nhân đã tăng lên gấp 20 lần ―Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước gộp lại… có thế kỷ nào trước đây lại ngờ được rằng có những lực lượng sản xuất như thế vẫn nằm tiềm tàng trong lòng lao động xã hội!‖ (C.Mác và Ph.Ăng-ghen, 2004c, tr 603)

Sự đi lên không thể cưỡng được của chủ nghĩa tư bản công nghiệp đã biến những công trường thủ công thành những công xưởng lớn của nhà tư bản công nghiệp Tình cảnh đó đã tạo nên một khối đông đảo công nhân chen chúc nhau trong công xưởng được tổ chức theo lối quân sự, điều nghịch lý là khi nhà tư bản càng gia tăng lợi nhuận thì đời sống của người công nhân lại càng cơ cực hơn Nếu như trước cuộc cách mạng công nghiệp ―người lao động sống một cuộc sống tầm thường và ấm cúng, một cuộc đời ngay thực, yên ổn trong cảnh hòa thuận và được người ta quí trọng; so với người công nhân sau này thì tình cảnh sinh hoạt vật chất của họ có khá hơn nhiều Họ chả cần gì phải làm quá sức; họ muốn làm bao nhiêu thì làm mà vẫn kiếm đủ dùng…‖ (C.Mác và Ph.Ăng-ghen, 2004a, tr 332), thì sau cách mạng công nghiệp họ ―bị đối xử như súc vật, nếu không thật sự trở thành giống như súc vật thì họ chỉ có thể giữ được ý thức và tình cảm xứng đáng với con người nhờ cái lòng căm thù sôi sục và nỗi phẫn khích bên trong không gì dập tắt được đối với giai cấp tư sản giàu có đang cầm quyền‖ (C.Mác và Ph.Ăng-ghen, 2004a, tr 471) Điều này đã đặt ra cho các nhà tư tưởng cần phải có lời giải đáp thỏa đáng Đây chính là những điều kiện thực tiễn để những nhà tư tưởng ―vang lên những tiếng nói phê phán những biến đổi đang diễn ra, hoặc nhân danh các giá trị của quá khứ (Burke, ở Anh; Bonald và Maistre ở Pháp), hoặc nhân danh một xã hội khác được nghĩ ra theo những chuẩn mực của lý trí và công lý (Godwin và Owen, ở Anh; Saint Simon và Fourier, ở Pháp)‖ (Beaud, 2002, tr 140)

Sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ngay từ đầu đã chứa đựng những mầm mống mâu thuẫn vốn có của nó Thứ nhất là mâu thuẫn nội tại diễn ra ngay trong lòng của chế độ kinh tế ấy, là mâu thuẫn giữa tính chất phát triển xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất Mâu thuẫn này như là một quy luật tất yếu đưa đến sự khủng hoảng về kinh tế mang tính chu kỳ trong nền kinh tế tư bản Điển hình là các cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra ở Anh đầu tiên nổ ra vào năm 1825 và tiếp theo đó, theo chu kỳ 10 năm vào các năm 1837, 1847,

1957 và 1966 đã gây ảnh hưởng rất lớn đến tình hình kinh tế chung của các nước châu Âu và thế giới (Beaud, 2002, tr 107) Thứ hai, do sự phát triển không đồng đều về kinh tế đã dẫn đến mâu thuẫn giữa các cường quốc tư bản chủ nghĩa ngày càng gay gắt, hàng loạt những cuộc chiến tranh, tranh giành thị trường và thuộc địa diễn ra triền miên, làm cho đời sống người dân, đặc biệt là người lao động lâm vào tình trạng túng quẫn hơn Trọn thế kỷ XIX, nếu như trong hai thập niên đầu của là những cuộc viễn chinh của Napoléon nhằm mục đích giành lấy bá quyền trong công thương nghiệp, chính trị và quân sự cho nước Pháp, thì trong khoảng ―ba mươi năm cuối của thế kỷ XIX gắn liền với những cuộc chiến tranh xâm lược do các đế quốc tiến hành ở châu Á, châu Phi và châu Mĩ Latinh‖ (Vũ Dương Ninh & Nguyễn Văn Hồng, 2008, tr 225) Trong các cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa này, ngoài các cường quốc lớn trước đây như Anh, Pháp, còn xuất hiện thêm các cường quốc mới như Mỹ, Đức, Ý, Nhật… Thứ ba là mâu thuẫn giai cấp Sự ra đời và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa cũng đã định hình nên một tầng lớp giai cấp mới, giai cấp công nhân, trở thành lực lượng đối trọng với giai cấp tư sản Chủ nghĩa tư bản càng lớn mạnh thì giai cấp công nhân cũng ngày càng phát triển theo, làm cho mâu thuẫn giữa hai giai cấp này ngày càng sâu sắc hơn bên cạnh mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp địa chủ phong kiến đã tồn tại trước đó Những cuộc đấu tranh triền miên của giai cấp công nhân trong thế kỷ XIX cho thấy những bất ổn trong lòng xã hội, điều đó đặt ra cho các nhà lý luận cần có những lời giải đáp thỏa đáng, từ đó tìm kiếm những phương án hài hòa cho sự phát triển

NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM, GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA CHỦ NGHĨA THỰC CHỨNG CỔ ĐIỂN

Ngày đăng: 13/03/2022, 16:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w