Mục đích nghiên cứu Việc tìm hiểu ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn báo chí Mỹ liên hệ với diễn ngôn báo chí Việt Nam nhằm: - Tìm hiểu kỹ hơn lý thuyết ngữ nghĩa học tri nhận, lý thuyết ẩn d
Trang 1TRẦN THỊ THANH TRÚC
ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG DIỄN NGÔN BÁO CHÍ MỸ (LIÊN HỆ VỚI DIỄN NGÔN BÁO CHÍ VIỆT NAM)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2021
Trang 2TRẦN THỊ THANH TRÚC
ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG DIỄN NGÔN BÁO CHÍ MỸ (LIÊN HỆ VỚI DIỄN NGÔN BÁO CHÍ VIỆT NAM)
NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU
Ma ̃ số: 9222024
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS TRỊNH SÂM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2021
Trang 3LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi với các
số liệu thống kê là hoàn toàn trung thực do tôi thực hiện Các kết luận khoa học trong luận án chưa được công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả luận án
Trần Thị Thanh Trúc
Trang 5Tôi nghĩ rằng sẽ rất khó để tôi có thể hoàn thành công trình nghiên cứu này nếu không có sự hỗ trợ và giúp đỡ của các cơ quan, tổ chức và cá nhân sau đây mà tôi mong muốn gửi đến lời cám ơn chân thành:
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy hướng dẫn của tôi - PGS.TS Trịnh Sâm,
người đã luôn tận tình chỉ dẫn, góp ý và chỉnh sửa cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện Luận án
Xin được tỏ lòng biết ơn chân thành đến PGS.TS Hồ Văn Khương Trường Đại
học Bách Khoa ĐHQG-HCM vì đã hướng dẫn các phương pháp nghiên cứu khoa học cũng như đã động viên tinh thần cho tôi rất nhiều trong quá trình viết Luận án
Xin trân trọng cảm ơn Ban chủ nhiệm, các Thầy Cô giáo Khoa Ngôn ngữ học và Phòng Sau Đại học Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn ĐHQG-HCM đã hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập tại khoa và trường
Có thể hoàn thành luận án và nhận học vị tiến sĩ giữa đại dịch COVID-19 là một kỷ niệm mà tôi sẽ không bao giờ quên Xin dành tất cả sự yêu thương và lời cảm ơn đến gia đình, người thân và bạn bè vì đã luôn là niềm động viên mạnh mẽ giúp cho tôi đi hết hành trình khó khăn này
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 09 tháng 09 năm 2021
Tác giả luận án
Trần Thị Thanh Trúc
Trang 6MỞ ĐẦU 1
0.1 Lí do chọn đề tài 1
0.2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu 3
0.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
0.4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 5
0.5 Đóng góp của luận án 6
0.6 Cấu trúc của luận án 7
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 9
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9
1.1.1 Các nghiên cứu về ẩn dụ giai đoạn tiền tri nhận 9
1.1.2 Các nghiên cứu về ẩn dụ giai đoạn tri nhận 11
1.1.3 Nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn báo chí 12
1.2 Cơ sở lý thuyết về vấn đề nghiên cứu 17
1.2.1 Lý thuyết giao tiếp và nhận diện các đặc điểm giao tiếp của văn bản 17
1.2.2 Lý thuyết phân tích diễn ngôn phê phán 18
1.2.3 Diễn ngôn báo chí và yếu tố chính trị trong diễn ngôn báo chí 21
1.2.4 Lý thuyết Ẩn dụ ý niệm 26
1.2.5 Lý thuyết Phân tích ẩn dụ phê phán 37
Tiểu kết 48
Chương 2: ĐIỂN CỨU ẨN DỤ Ý NIỆM CHIẾN TRANH TRONG DIỄN NGÔN BÁO CHÍ CHÍNH TRI ̣ MỸ 50
2.1 Ngữ liê ̣u, công cu ̣ và mô hình phân tích ẩn du ̣ phê phán 51
2.1.1 Ngữ liê ̣u và công cu ̣ phân tích 51
2.1.2 Mô hình phân tích ẩn du ̣ phê phán 54
2.2 Phân tích bối cảnh khối ngữ liê ̣u nghiên cứu 57
2.2.1 Bối cảnh chính tri ̣ Mỹ và sự vươn lên của Đảng Cô ̣ng hòa 58
Trang 72.2.3 Tình tra ̣ng nhâ ̣p cư và phân biê ̣t chủng tô ̣c ta ̣i Mỹ và những ẩn du ̣ ý niê ̣m sử
dụng trong diễn ngôn báo chí chính tri ̣ Mỹ 63
2.2.4 Tác đô ̣ng của truyền thông đa ̣i chúng đối với chính tri ̣ Mỹ và quan điểm chính tri ̣ của báo The New York Times 66
2.3 Phân tích ẩn dụ phê phán trên khối ngữ liệu khảo sát 69
2.3.1 Ẩn dụ ý niê ̣m chiến tranh và vai trò của chúng trong chính tri ̣ 69
2.3.2 Ẩn dụ ý niê ̣m chiến tranh được sử du ̣ng trong chủ đề COVID-19 71
2.3.3 Ẩn dụ ý niê ̣m chiến tranh được sử du ̣ng trong chủ đề bầu cử 82
2.3.4 Ẩn dụ ý niê ̣m chiến tranh được sử du ̣ng trong chủ đề phân biê ̣t chủng tô ̣c 91
Tiểu kết 101
Chương 3: CÁC MIỀN Ý NIỆM TRONG DIỄN NGÔN BÁO CHÍ CHÍNH TRỊ MỸ (LIÊN HỆ VỚI DIỄN NGÔN BÁO CHÍ VIỆT NAM) 103
3.1 Các miền nguồn 103
3.1.1 Ẩn dụ ý niê ̣m miền nguồn Chiến tranh……… 104
3.1.1.1 Kinh doanh là Chiến tranh……… 105
3.1.1.2 Thể thao là Chiến tranh…… 111
3.1.1.3 Tình yêu là Chiến tranh 116
3.1.1.4 So sánh với ẩn du ̣ ý niê ̣m miền nguồn Chiến tranh trong diễn ngôn báo chí tiếng Việt ……… 119
3.1.2 Ẩn dụ ý niê ̣m miền nguồn Nước 123
3.1.2.1 Tài chính là Nước 123
3.1.2.2 Suy nghĩ là Nước 128
3.1.2.3 Giao thông là Nước 132
3.1.2.4 So sánh với ẩn du ̣ ý niê ̣m miền nguồn Nước trong diễn ngôn báo chí tiếng Việt ……… 135
3.2 Các miền đích 139
3.2.1 Ẩn dụ ý niệm miề n đích Chính tri ̣ … 140
Trang 83.2.1.3 Chính tri ̣ là Chiến tranh 152
3.2.1.4 So sánh với ẩn du ̣ ý niê ̣m miền đích Chính tri ̣ trong diễn ngôn báo chí tiếng Việt 157
3.2.2 Ẩn dụ ý niê ̣m miền đích Quốc gia 160
3.2.2.1 Quốc gia là Con người/ Thực thể sống 163
3.2.2.2 Quốc gia là Tòa nhà 167
3.2.2.3 Quốc gia là Con tàu 170
3.2.2.4 So sánh với ẩn du ̣ ý niê ̣m miền đích Quốc gia trong diễn ngôn báo chí tiếng Việt 173
Tiểu kết… 176
KẾT LUẬN 178 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9- CDA: Cirtical Discourse Analysis – Phân tích diễn ngôn phê phán
- CMA: Cirtical Metaphor Analysis – Phân tích ẩn dụ phê phán
- CMT: Conceptual Metaphor Theory – Lý thuyết ẩn dụ ý niệm
- DNBC: Diễn ngôn báo chí
- MIP: Metaphor Identification Procedure – Quy trình nhận diện ẩn dụ
- NNHTN: Ngôn ngữ ho ̣c tri nhâ ̣n
- NT: Báo The New York Times
- SGGP: Báo Sài Gòn Giải Phóng
- TT: Báo Tuổi Trẻ
- TN: Báo Thanh Niên
- [TT, 20/04/2019]: Báo Tuổi Trẻ, thời gian phát hành 20/04/2019
- [NT, 09/09/2020]: Báo The New York Times, thời gian phát hành 09/09/2020
Trang 10
Bảng 1.1: So sánh mối quan hệ miền nguồn và miền đích 33
Bảng 1.2: Tên các miền đích phổ biến và miền nguồn tương ứng (Kövecses 2010) 33
Bảng 2.1: Tổng kết số lượng ẩn dụ ý niê ̣m chiến tranh theo miền nguồn và chủ đề 52
Bảng 2.2: Tỷ lê ̣ ẩn du ̣ chiến tranh phân bố theo đơn vi ̣ từ vựng 53
Bảng 3.1: Số lượng và tần suất ẩn dụ ý niệm miền nguồn CHIẾN TRANH và NƯỚC 104 Bảng 3.2: Số lượng và tần suất ẩn dụ miền nguồn CHIẾN TRANH 120
Bảng 3.3: Số lượng và tần suất ẩn dụ ý niệm miền nguồn NƯỚC 136
Bảng 3.4: Số lượng và tần suất ẩn dụ miền đích CHÍNH TRỊ và QUỐC GIA 140
Bảng 3.5: Số lượng và tần suất trường từ vựng thuộc các miền nguồn CHIẾN TRANH, THỂ THAO và VỞ KỊCH……….… 141
Bảng 3.6: Số lượng và tần suất trường từ vựng thuộc các miền nguồn CON NGƯỜI, TÒA NHÀ và CON TÀU trong khối ngữ liệu tiếng Anh 162
Hình 1.1: Các yếu tố trong quá trình giao tiếp của R Jakobson 17
Hình 1.2: Quá trình giao tiếp 17
Hình 1.3: Các yếu tố trong quá trình giao tiếp báo chí 23
Hình 1.4: Mô hình Ẩn du ̣ trong mối quan hệ với tri nhận 42
Hình 1.5: Các mu ̣c đích của ẩn du ̣ 42
Biểu đồ 2.1: Tỷ lê ̣ ẩn du ̣ ý niê ̣m theo các miền nguồn 53
Biểu đồ 3.1: So sánh tỷ lệ ẩn dụ ngôn ngữ và trường từ vựng thuộc các miền nguồn CHIẾN TRANH, THỂ THAO và VỞ KỊCH 141
Biểu đồ 3.2: So sánh tỷ lệ ẩn dụ ngôn ngữ và trường từ vựng thuộc các miền nguồn CON NGƯỜI, TÒA NHÀ và CON TÀU 163
Mô hình: Mô hình 2.1: Ẩn dụ ĐẠI DI ̣CH COVID-19 LÀ CUỘC CHIẾN 80
Mô hình 2.2: Ẩn dụ BẦU CỬ TỔNG THỐNG LÀ CUỘC CHIẾN 89
Mô hình 2.3: Ẩn dụ PHÂN BIỆT CHỦNG TỘC LÀ CUỘC CHIẾN 99
Trang 11MỞ ĐẦU 0.1 Lí do chọn đề tài
Ẩn dụ theo quan niệm truyền thống là một phương thức chuyển nghĩa phổ biến, là đối tượng của nghiên cứu thuộc lĩnh vực từ vựng học và phong cách học Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của ngôn ngữ học, nhất là ngôn ngữ học tri nhận, các thành tựu nghiên cứu cho thấy rằng, ẩn dụ không chỉ xảy ra trong phạm vi ngôn ngữ mà nó còn là phương thức của tư duy và hành động, là hiện tượng ánh xạ giữa miền nguồn và miền đích Ẩn dụ không chỉ được xem là cách lập thức của tư duy
mà còn phản ánh rõ nét đời sống tinh thần, tư duy văn hóa dân tộc Cách suy nghĩ
và hành động của con người trong cuộc sống hằng ngày đều bị tác động ít nhiều bởi ẩn dụ và điều này được chứng minh qua các nghiên cứu khác nhau Tuy sự ánh xạ tinh thần này chỉ xảy ra trong trong não bộ của mỗi cá nhân nhưng nghĩa của nó mang tính xã hội và văn hóa của toàn bộ cộng đồng chứ không chỉ giới hạn trong phạm vi của bản thân cá nhân đó Nghĩa là, nó phải được chấp nhận bởi những người trong cộng đồng và được cho là phù hợp với văn hóa của cộng đồng nhóm người đó Các nhà nghiên cứu theo khuynh hướng tri nhận luận khẳng định rằng, tư duy con người là kết quả của sự tương tác từ thực tế nhưng môi trường văn hóa vẫn
có vai trò quyết định trong việc hình thành các ý niệm, các cách phạm trù hóa trong không gian tinh thần của cộng đồng diễn ngôn
Lakoff và Johnson trong tác phẩm Metaphors we live by (1980, 2003) đã chỉ
ra rằng quá trình tư duy của con người gắn liền với ẩn dụ Bản chất của ẩn dụ là cách tư duy dùng một sự vật, hiện tượng đã được trải nghiệm nhiều để lý giải một loại sự vật, hiện tượng ít được trải nghiệm hơn Chẳng hạn như, trong cuộc sống thường ngày, người ta thường tham chiếu những quan niệm đã biết, hữu hình và cụ thể để nhận thức về những quan niệm vô hình, trừu tượng, khó định nghĩa, đồng thời lấy trải nghiệm của thân thể con người làm cơ sở nhận thức về tri thức và tâm thức của nhân loại Ẩn dụ ý niệm phản ánh phương thức tư duy mang tính nhân loại nên nó tồn tại trong cả tư duy logic lẫn tư duy hình tượng Chính vì thế, ẩn dụ vượt
ra hẳn phạm vi ngôn ngữ, là đối tượng nghiên cứu của khoa học liên ngành Ẩn dụ
Trang 12không chỉ xuất hiện trong thơ ca mà còn thể hiện vai trò trong mọi lĩnh vực: đời thường, kinh tế, ngoại giao, chính trị, khoa học, quảng cáo, điện ảnh, hành chính v.v Nói chung, ẩn dụ ý niệm hiện hữu trong mọi ngóc ngách của cuộc sống hàng ngày quanh chúng ta
Trong số các nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam, có không nhiều các công trình độc lập nghiên cứu đầy đủ về ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn báo chí Các luận án nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong thời gian gần đây thường tập trung tìm hiểu về vấn đề này trong diễn ngôn chính trị là chủ yếu Do nhiều lý do khác nhau, ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn báo chí cho đến nay vẫn còn là mảng đề tài chưa được khai thác nhiều và hệ thống như lẽ ra phải có
Phân tích diễn ngôn nói chung và diễn ngôn báo chí nói riêng là một lĩnh vực
đa diện, phức tạp Lí luận phân tích diễn ngôn cho thấy việc chuyển đối tượng từ câu sang phát ngôn, văn bản sang diễn ngôn thực sự là một sự chuyển đổi quan trọng làm thay đổi quan niệm về đối tượng nghiên cứu ngôn ngữ Với đối tượng là diễn ngôn, nghiên cứu ngôn ngữ đã nhận ra sự giao tiếp và các yếu tố văn hóa có tác động đến việc hành chức của ngôn ngữ
Từ việc nhận diện các ẩn dụ ý niệm phổ biến trong hai hệ thống diễn ngôn báo chí, chúng tôi mong muốn tập trung chú ý đến sự tương tác về mặt văn hóa, phân tích cấu trúc và chức năng của chúng trong mối quan hệ với miền nguồn và miền đích Thứ đến, từ các đặc điểm đã xác lập, dùng ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn báo chí Mỹ là cơ sở, chúng tôi tiến hành so sánh với ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn báo chí tiếng Việt
Chính vì những lý do trên, luận án sẽ làm rõ thêm hướng nghiên cứu về ẩn
dụ ý niệm trong diễn ngôn báo chí để phục vụ cho việc thực hiện luận án này Cụ thể là, dựa vào thành tựu nghiên cứu từ diễn ngôn báo chí Mỹ để mạnh dạn đề xuất một hướng nghiên cứu có tính chất liên ngành giữa Phân tích diễn ngôn và Ngôn
ngữ học tri nhận Đó là nghiên cứu về Ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn báo chí Mỹ
(liên hệ với diễn ngôn báo chí Việt Nam)
Trang 130.2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
0.2.1 Mục đích nghiên cứu
Việc tìm hiểu ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn báo chí Mỹ (liên hệ với diễn ngôn báo chí Việt Nam) nhằm:
- Tìm hiểu kỹ hơn lý thuyết ngữ nghĩa học tri nhận, lý thuyết ẩn dụ ý niệm,
lý thuyết phân tích ẩn dụ phê phán được biểu hiện cụ thể trong tiếng Anh – Mỹ
- Góp phần xác lập một số đặc điểm của ẩn dụ ý niệm tiếng Anh – Mỹ và tiếng Việt
- Góp phần làm rõ hơn những tương đồng và khác biệt của ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn báo chí hai ngôn ngữ; tìm ra một số miền nguồn trong mối quan hệ với miền đích ở một số chủ đề quen thuộc trong diễn ngôn báo chí tiếng Anh – Mỹ
và diễn ngôn báo chí tiếng Việt
0.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Luận án đặt ra hai nhiệm vụ nghiên cứu: một là xem xét hoạt động của một loại ẩn dụ ý niệm điển hình dưới góc nhìn của Phân tích ẩn dụ phê phán Hai là xem xét hoạt động của nhiều ẩn dụ ý niệm thuộc các miền nguồn và miền đích khác nhau trong liên hệ so sánh với những ẩn dụ tương đương trong tiếng Việt dưới góc nhìn của Lý thuyết ẩn dụ ý niệm Việc nghiên cứu ẩn dụ ở các góc nhìn khác nhau sẽ cho thấy được những khía cạnh khác nhau của ẩn dụ, ngoài cách nhìn truyền thống từ quan điểm tri nhận luận Cụ thể luận án sẽ tiến hành các nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu điển hình: thu thập, phân loại và thống kê ẩn dụ ý niệm chiến tranh trong diễn ngôn báo chí tiếng Anh – Mỹ để xem miền nguồn chiến tranh hoạt động ra sao trong diễn ngôn báo chí; mô tả, phân tích, giải thích và đánh giá vai trò của ẩn dụ ý niệm chiến tranh được sử dụng trong các diễn ngôn này dưới góc nhìn phân tích ẩn dụ phê phán (một đường hướng nghiên cứu mới và triển vọng kết hợp giữa phân tích diễn ngôn phê phán và lý thuyết ẩn dụ ý niệm)
- Nghiên cứu so sánh đối chiếu: thu thập, phân loại và thống kê ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn báo chí tiếng Anh – Mỹ và tiếng Việt theo nhiều chủ đề, theo một
số miền nguồn với tư cách là xuất phát điểm của ánh xạ và theo một số miền đích
Trang 14với tư cách là đích đến của ánh xạ; mô tả, phân tích, so sánh, giải thích và đánh giá vai trò của các ẩn dụ này trong các diễn ngôn báo chí tiếng Anh – Mỹ và tiếng Việt dưới góc nhìn của lý thuyết ẩn dụ ý niệm
Trên cơ sở các nhiệm vụ trên, luận án tập trung làm rõ các câu hỏi nghiên cứu sau:
i Hệ thống ẩn dụ ý niệm chiến tranh hoạt động ra sao trong diễn ngôn báo chí Mỹ? Vai trò và đặc điểm của chúng dưới góc nhìn phân tích ẩn dụ phê phán?
ii Các ẩn dụ ý niệm xuất phát từ những miền nguồn và miền đích nào và chúng được sử dụng như thế nào trong diễn ngôn báo chí tiếng Anh – Mỹ
và báo chí tiếng Việt? Cơ chế ánh xạ của miền nguồn lên miền đích trong các ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn báo chí tiếng Anh – Mỹ hình thành như thế nào?
iii Có những điểm tương đồng và dị biệt nào giữa diễn ngôn báo chí tiếng Anh – Mỹ và diễn ngôn báo chí tiếng Việt trong việc sử dụng các ẩn dụ ý niệm và các biểu thức tương ứng? Những đặc điểm này, nếu có, sẽ được giải thích như thế nào dựa trên mối quan hệ giữa ngôn ngữ, tư duy và văn hóa?
0.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các ẩn dụ ý niệm được sử dụng trong diễn ngôn báo chí Mỹ và diễn ngôn báo chí Việt Nam
Về mặt phạm vi, khảo sát thực hiện trên các diễn ngôn báo chí tiếng Anh –
Mỹ và diễn ngôn báo chí tiếng Việt có chứa ẩn dụ ý niệm thuộc một số miền nguồn
và miền đích phổ biến Nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi 192 diễn ngôn báo chí tiếng Anh – Mỹ thuộc các chủ đề khác nhau và 82 diễn ngôn báo chí tiếng Việt thuộc nhiều chủ đề khác nhau
Trang 150.4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
0.4.1 Phương pháp miêu tả
(i) Miêu tả định lượng các yếu tố: số bài báo, số lượng các ẩn dụ ý niệm v.v Thống kê, phân loại, miêu tả đặc điểm các yếu tố dựa trên tần số xuất hiện của nó, đặc biệt có sử dụng phần mềm WordSmith 8.0 góp phần làm giảm bớt khối lượng công việc thống kê đối với khối ngữ liệu lớn
(ii) Miêu tả định tính: Từ những miêu tả định lượng để có những miêu tả định tính: đó là những phán đoán, nhận xét, phân tích khả năng tác động của ẩn dụ ý niệm
gắn liền với những ngữ cảnh cụ thể
0.4.2 Phương pháp phân tích diễn ngôn
Chúng tôi lựa chọn cách tiếp cận diễn ngôn theo đường hướng phân tích diễn ngôn phê phán (Critical Discourse Analysis) Luận án chú ý đến tương tác của ngữ cảnh, vai trò của người sử dụng trong môi trường tri nhận, đặc biệt là vận dụng lý thuyết phân tích ẩn dụ phê phán như thao tác chủ đạo Trong đó có sử dụng MIP của nhóm nghiên cứu Pragglejaz
0.4.3 Phương pháp so sánh đối chiếu
So sánh đối chiếu giữa các diễn ngôn báo chí cùng một chủ đề thông tin, tiến hành phân loại các ẩn dụ ý niệm theo lĩnh vực nguồn và lĩnh vực đích, theo tần suất, theo mức độ sử dụng, theo đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa, sau đó các ẩn dụ ý niệm
và các biểu thức ngôn ngữ cụ thể hóa của chúng trong diễn ngôn báo chí tiếng Anh -
Mỹ và tiếng Việt sẽ được so sánh và đối chiếu trên các tiêu chí cụ thể
0.4.4 Nguồn ngữ liệu
Khối ngữ liệu trong nghiên cứu gồm 192 diễn ngôn báo chí Mỹ và 82 diễn ngôn báo chí Việt Nam chia thành hai khối chính phục vụ cho hai mục đích nghiên cứu: một là nghiên cứu điển hình dựa vào lý thuyết phân tích ẩn dụ phê phán, qua
đó xem xét hoạt động của một loại ẩn dụ trong một thời gian ngắn nhất định đặt trong bối cảnh chính trị xã hội của một quốc gia cụ thể; hai là nghiên cứu so sánh đối chiếu dựa trên lý thuyết ẩn dụ ý niệm, qua đó xem xét hoạt động của nhiều loại
ẩn dụ ý niệm để tìm ra những tương đồng và khác biệt về mặt ngôn ngữ, văn hóa và
tư duy trong việc sử dụng và lựa chọn ẩn dụ trên diễn ngôn báo chí của hai đất nước
Trang 16khác nhau trong một thời gian trải rộng là 20 năm Các tờ báo được lựa chọn đều là những tờ báo có độ tin cậy và uy tín tại Mỹ và Việt Nam Sự lựa chọn này nhằm đảm bảo tính xác thực của thông tin cũng như độ tin cậy của khối ngữ liệu được khảo sát Đây là các tài liệu chính thống, có giá trị trên nhiều phương diện trong đó
có ngôn ngữ học
Cụ thể, Chương 2 của luận án là một nghiên cứu điển hình trên khối ngữ liệu
là 100 diễn ngôn báo chí tiếng Anh – Mỹ thu thập từ báo The New York Times bản online trên trang web nytimes.com phát hành từ 01/06/2020 đến 01/07/2020
Chương 3 của luận án tiến hành phân tích, so sánh đối chiếu các ẩn dụ ý niệm thuộc một số miền nguồn và miền đích hữu quan trong báo chí Mỹ và báo chí Việt Nam Khối ngữ liệu chương 3 gồm 92 diễn ngôn báo chí Mỹ thu thập từ bản online của
hai tờ báo The New York Times (nytimes.com) và Washington Post
(washingtonpost.com) và 82 diễn ngôn báo chí Việt Nam thu thập từ các tờ báo
online như Tuổi Trẻ (tuoitre.vn), Thanh Niên (thanhnien.vn), Sài Gòn Giải Phóng
(sggp.org.vn) và Vietstock (vietstock.vn) Khối ngữ liệu của các tờ báo nói trên có
thời gian phát hành trong khoảng 20 năm trở lại đây
0.5 Đóng góp của luận án
0.5.1 Về mặt lí luận
Những kết quả nghiên cứu của luận án góp phần khẳng định ưu thế của ngữ nghĩa học tri nhận nói chung và lý thuyết ẩn dụ ý niệm nói riêng trong so sánh đối chiếu diễn ngôn báo chí để tìm ra những phổ quát và đặc thù Ngoài ra, cách tiếp cận ẩn dụ ý niệm từ lý thuyết phân tích ẩn dụ phê phán còn tương đối mới ở Việt Nam, hy vọng góp phần mở rộng hướng nghiên cứu diễn ngôn tuy đã khá phổ biến trong giới ngôn ngữ học trên thế giới nhưng lại còn mới mẻ ở Việt Nam
Luận án sẽ góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu khuynh hướng lý thuyết về ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam, góp phần chứng minh ẩn dụ ý niệm không chỉ là hình thái tu từ của thi ca mà là còn vấn đề của tư duy, là một công cụ quan trọng giúp các nhà ngôn ngữ học hiểu được cách thức con người tri nhận thế giới
Trang 17Luận án góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề như việc ưu tiên chọn miền nguồn nào, ánh xạ lên miền đích nào là có lý do về kinh nghiệm và tương tác văn hóa, các nguyên lý ánh xạ từ miền nguồn lên miền đích diễn ra như thế nào
0.5.2 Về mặt thực tiễn
Kết quả thu được từ luận án sẽ mở ra triển vọng giảng dạy diễn ngôn báo chí theo cách tiếp cận mới; đóng góp cho việc giảng dạy ngoại ngữ, biên - phiên dịch, đặc biệt là trong lĩnh vực tiếng Anh chuyên ngành nói chung và tiếng Anh báo chí nói riêng Ngoài ra, kết quả thu được từ luận án cũng góp phần làm sáng tỏ một số đặc điểm diễn ngôn báo chí của hai ngôn ngữ, giúp cho việc soạn thảo, giảng dạy và biên - phiên dịch diễn ngôn báo chí sát hơn với yêu cầu thực tế
0.6 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục; phần chính văn của luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết
Trong chương này, chúng tôi trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu ẩn dụ
ý niệm trong nước và trên thế giới, đồng thời nêu lên cơ sở lí luận của luận án: những khái niệm nền tảng như diễn ngôn, phân tích diễn ngôn phê phán, lý thuyết
ẩn dụ ý niệm, lý thuyết phân tích ẩn dụ phê phán, cũng như các đặc điểm quan trọng của phong cách ngôn ngữ trong diễn ngôn báo chí
Chương 2: Điển cứu ẩn dụ ý niệm chiến tranh trong diễn ngôn báo chí chi ́nh tri ̣ Mỹ
Chương này trình bày kết quả nghiên cứu điển hình từ 100 diễn ngôn báo chí
phát hành trong thời gian từ 01/06/2020 đến 01/07/2020 của báo The New York
Times mục tin chính trị Các ẩn dụ ý niệm chiến tranh trong các diễn ngôn này được
tập trung phân tích từ cách tiếp câ ̣n Phân tích ẩn du ̣ phê phán để tìm hiểu những ẩn
dụ ý niệm nào được sử dụng trong diễn ngôn, cách chúng được sử dụng và tác dụng của chúng đối với sự tiếp nhận của độc giả
Trang 18Chương 3: Các miền ý niê ̣m trong diễn ngôn báo chí Mỹ (liên hệ với diễn ngôn báo chí Việt Nam)
Chương này tập trung phân tích các ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn báo chí tiếng Anh - Mỹ từ góc nhìn miền nguồn và miền đích, trong đó hai miền nguồn phổ biến được lựa cho ̣n là CHIẾN TRANH và NƯỚC; hai miền đích là CHÍNH TRI ̣ và QUỐC GIA Mục tiêu đặt ra là tập trung phân tích các mô hình ánh xạ liên quan đến các miền ý niệm vừa đề cập qua đó phát hiện cơ chế ánh xạ của miền nguồn lên miền đích Đồng thời tiến hành so sánh đối chiếu với những ẩn dụ ý niệm tương đương trong diễn ngôn báo chí tiếng Việt nhằm làm rõ những đặc trưng văn hóa của hai quốc gia và thông qua ẩn dụ ý niệm để làm rõ cách thức và thế giới quan tri nhận của hai dân tộc Mỹ - Việt
Trang 19Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT Dẫn nhập
Chương này trình bày tổng quan những công trình có liên quan tới đề tài nghiên cứu, hệ thống những tiền đề lý thuyết làm cơ sở cho việc triển khai đề tài Xác lập nội hàm và ngoại diên của hệ thống khái niệm liên quan trực tiếp đến đề tài
và đề cập khái quát về một số vấn đề lý thuyết quan yếu làm chỗ dựa nghiên cứu cho những vấn đề cụ thể
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Tổng quan về đề tài nghiên cứu, bao gồm khái quát về các công trình nghiên cứu ẩn dụ trên thế giới cho đến nay đã trải qua hai giai đoạn: giai đoạn tiền tri nhận
và giai đoạn tri nhận, đặc biệt chú ý đến các nghiên cứu về đề tài ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn báo chí
1.1.1 Các nghiên cứu về ẩn dụ giai đoạn tiền tri nhận
Trong hai tác phẩm Poetics và The Art of Rhetoric (thế kỷ thứ 4 TCN.),
Aristotle đã đưa ra quan niệm kinh điển về ẩn dụ, coi ẩn dụ là phương thức chuyển tên gọi Theo quan điểm này, ẩn dụ bao gồm bốn loại: chuyển từ loài sang loài, chuyển từ chủng sang loài, chuyển từ loài sang chủng và tương suy Trên cơ sở hai tác phẩm này, Aristotle đã hình thành truyền thống phân tích ẩn dụ theo nguyên tắc
so sánh và thay thế Kể từ đó, nghiên cứu ẩn dụ chứng kiến nhiều quan điểm khác nhau về khả năng sử dụng ẩn dụ
Thế kỷ 20 chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ trong quan niệm về ẩn dụ của nhà triết học I A Richards Tuy không phải là một triết gia đúng nghĩa nhưng bài
tiểu luận The Philosophy of Rhetoric của Richards năm 1936 đã tiếp cận với ẩn dụ
bằng sự quan tâm đặc biệt về mặt ngữ nghĩa Có thể nói, với Richards, sau hai mươi thế kỷ nằm trong vòng ảnh hưởng của Aristotle, ẩn dụ mới được mang ra soi sáng dưới một lăng kính hoàn toàn mới Theo ông, ẩn dụ không chỉ là một sự sai lệch khỏi phát ngôn bình thường mà tràn ngập trong tất cả diễn ngôn Ông bài bác cách hiểu truyền thống cho rằng ẩn dụ là “một cái gì đặc biệt và ngoại hạng trong cách sử
Trang 20dụng ngôn ngữ, là một sự lệch chuẩn so với cách dùng thông thường” và quả quyết
ẩn dụ là một “nguyên tắc có mặt khắp nơi của tất cả hành vi tự do của nó” (Johnson,
1981, tr 49) Bài viết của Richards đóng vai trò của một nhà tiên phong trong cuộc hành trình khám phá ẩn dụ Tuy nhiên, quan điểm của ông không được thừa nhận ngay vì không được sự lưu tâm của giới triết gia
Phải đến gần 20 năm sau, với quan điểm tương tác (interaction view) của Max Black trong Metaphor (1955) và Models and Metaphor (1962) thì ẩn dụ mới
thực sự là một bước ngoặt, một cột mốc quan trọng đánh dấu sự chuyển biến trong cái nhìn về ẩn dụ Black (1955) quan niệm rằng khi chúng ta sử dụng ẩn dụ trong đầu óc chúng ta có hai cách suy nghĩ về hai sự tình khác nhau Những suy nghĩ này tác động lẫn nhau bên trong một từ duy nhất hoặc một biểu thức duy nhất mà ý nghĩa của nó chính là kết quả của sự tương tác đó
Khác với quan điểm tương tác là quan điểm thay thế (substitution view) Cho
đến nay nhiều nhà nghiên cứu còn theo quan điểm này Bất kì lý thuyết nào chủ trương rằng biểu thức ẩn dụ luôn luôn được dùng thay cho một biểu thức nghĩa đen nào tương đương với nó đều có thể được gọi là quan điểm thay thế Tiếp đó là một
loạt các lý thuyết về ẩn dụ xuất hiện gần như là cùng một lúc như thuyết So sánh
tỉnh lược (Elliptical simile theory), thuyết Trừu trượng (Abstraction theory), thuyết Tương suy (Analog theory), v.v
Ở Việt Nam, quan điểm tiền tri nhận về ẩn dụ cũng có một lịch sử khá dài lâu Ẩn dụ đã được định nghĩa và giải thích trong các giáo trình về từ vựng học và phong cách học tiếng Việt của nhiều tác giả như Nguyễn Văn Tu (1960), Cù Đình
Tú (1983), Đào Thản (1988), Đinh Trọng Lạc (1994), Đỗ Hữu Châu (1996), Nguyễn Thiện Giáp (1999), v.v Các tác giả này tuy đưa ra nhiều kiểu loại ẩn dụ với các tên gọi khác nhau theo phương thức so sánh liên quan đến thuộc tính, hình thức, màu sắc, phẩm chất, chức năng nhưng họ đều đề cập đến ẩn dụ như một phương thức chuyển nghĩa của từ hay biện pháp tu từ, được dùng phổ biến nhất trong các tác phẩm văn học
Trang 21Có thể thấy các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học trong giai đoạn này có những cách nhìn nhận khác nhau về các khía cạnh của ẩn dụ nhưng đều chia sẻ một điểm chung căn bản: Ẩn dụ là một hiện tượng ngôn ngữ (phương thức chuyển nghĩa của
từ hay biện pháp tu từ), lấy tên gọi của sự vật, hiện tượng này để gọi tên cho sự vật, hiện tượng khác dựa trên những tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng đó
1.1.2 Các nghiên cứu về ẩn dụ giai đoạn tri nhận
Từ cuối thế kỷ 20, ẩn dụ được xem xét từ một góc độ mới – góc độ của tri
nhận luận Với sự ra đời công trình nghiên cứu Metaphors We Live by (Chúng ta
sống bằng ẩn dụ) của Lakoff và Johnson (1980), ẩn dụ được xác định không chỉ là một hiện tượng ngôn ngữ mà còn là một phương thức tư duy Công trình này đã làm thay đổi sâu sắc quan niệm về ẩn dụ và tạo ra một bước ngoặt quan trọng trong lịch
sử nghiên cứu ẩn dụ Kể từ đây, ẩn dụ không đơn thuần chỉ là phương thức chuyển nghĩa cơ bản của từ hay là hiện tượng tu từ, mang ý nghĩa thi ca, được sử dụng nhiều trong văn học mà xuất hiện phổ biến và dày đặc trong ngôn ngữ cuộc sống hàng ngày
Cùng quan điểm với Lakoff và Johnson, có rất nhiều nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như triết học, ngôn ngữ học, tâm lý… cũng tiếp cận ẩn dụ theo quan điểm học này như Rosch (1973, 1978), Jackendoff (1983, 1992), Gibbs (1984, 1993), Langacker (1991), Steen (1994), Fauconnier và Turner (1995, 1998), Shore (1996), Goatly (1997, 2007), Kövecses (1999, 2010)…
Ở Việt Nam, hướng nghiên cứu về tri nhận luận xuất hiện lần đầu tiên qua
bài báo Ngôn ngữ và sự tri nhận không gian vào năm 1994 của Lý Toàn Thắng Từ
đó ngày càng nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến ẩn dụ dưới góc độ tri nhận luận như một kết quả tất yếu của quá trình phát triển lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên thế giới Có thể kể ra như Lý Toàn Thắng (2005) đề cập đến lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận và việc áp dụng vào thực tiễn tiếng Việt; tác giả Nguyễn Đức Tồn (2007) thì so sánh các quan niệm về ẩn dụ giai đoạn tiền tri nhận và giai đoạn tri nhận trên thế giới và Việt Nam; Trần Văn Cơ (2009) điểm qua các thành tựu nghiên
Trang 22cứu về ẩn dụ ý niệm trên thế giới và khái quát lại toàn bộ các khái niệm công cụ để tìm hiểu ẩn dụ ý niệm trong tiếng Việt; Nguyễn Văn Hiệp (2008) đề cập đến cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận đối với vai trò của nghĩa trong phân tích và miêu
tả cú pháp Và gần đây nhất là rất nhiều các bài báo và nghiên cứu về đề tài ngôn ngữ học tri nhận và ẩn dụ ý niệm của tác giả Trịnh Sâm Từ đây, Việt ngữ học có sự phát triển mạnh theo hướng ứng dụng lý thuyết mới của ngôn ngữ học tri nhận vào từng mảng ngôn ngữ như tục ngữ, thơ ca, âm nhạc v.v và với các chủ đề tri nhận cụ thể như thời gian, không gian, tình yêu, kinh tế, chính trị… qua các bài báo đăng
trên các tạp chí chuyên ngành: Nguyễn Đức Tồn (2009) đề cập đến ẩn dụ ý niệm
trong thành ngữ tiếng Việt; Nguyễn Đức Dân (2009) tìm hiểu cách tri nhận thời
gian của người Việt, Trịnh Sâm (2016) tìm hiểu về phổ quát và đặc thù thông qua một số miền ý niệm nguồn tiếng Việt, ẩn dụ ý niệm và những vấn đề còn lại và ngôn ngữ học tri nhận nhìn từ thực tiễn tiếng Việt
Tó m la ̣i, các nhà ngôn ngữ học theo tri nhận luận đều thống nhất quan điểm:
Ẩn dụ là kết quả của sự kết hợp ngôn ngữ văn hóa trong quá trình tư duy của con người trong một cộng đồng văn hoá cụ thể; ẩn dụ ý niệm là việc hiểu một miền ý niệm thông qua một miền ý niệm khác Từ đây xuất hiện rất nhiều các nghiên cứu
về ẩn dụ ý niệm từ cấp độ hệ thống cho đến cấp độ sử dụng cụ thể trong giao tiếp ngôn ngữ ở nhiều lĩnh vực
1.1.3 Nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn báo chí
Lý thuyết ẩn dụ ý niệm và các nghiên cứu liên quan cũng đã đề xuất rằng các
ẩn dụ có liên quan đến quyền lực vì chúng có thể làm nổi bật hoặc che giấu các khía cạnh cụ thể của một khái niệm nhất định, do đó chúng đóng vai trò là công cụ của
tư tưởng Lakoff và Johnson (1980) đã đưa ra bản chất và chức năng đánh giá và thuyết phục của phép ẩn dụ (Lakoff và Johnson, 1980; Charteris-Black, 2004; Santa Ana, 1999)
Những nghiên cứu về ẩn dụ trong diễn ngôn báo chí có thể được phân thành
Trang 23hai nhóm: nhóm thứ nhất thường là mô tả và tập trung chủ yếu vào hình thức và tần suất xuất hiện của ẩn dụ Nhóm thứ hai tập trung vào việc khám phá vai trò đánh giá
và thuyết phục của ẩn dụ
Steen, Dorst, Kaal, Herrmann & Krennmayr (2010) đã nghiên cứu các hình thức và tần suất của các biểu thức ẩn dụ trong diễn ngôn báo chí tiếng Anh liên quan đến các nhóm từ loại Kết quả cho thấy các biểu thức ẩn dụ chủ yếu có thành phần là động từ, cụ thể có đến 30% các ẩn dụ ý niệm tập trung thông tin ở động từ Một nghiên cứu mô tả lịch đại khác tìm hiểu việc sử dụng phép ẩn dụ giữa các ngữ vực khác nhau trong các giai đoạn khác nhau, đặc biệt là trong ngôn ngữ tin tức và ngôn ngữ hội thoại
Pasma (2011) đã xem xét các hình thức và tần suất của ẩn dụ trong hội thoại
và tin tức trong tiếng Hà Lan đồng thời so sánh việc sử dụng phép ẩn dụ trong báo chí Hà Lan qua hai thời kỳ khác nhau Nghiên cứu này xem xét liệu có sự thay đổi sang phong cách hội thoại trong quá trình sử dụng ngôn ngữ ẩn dụ trong các bản tin
từ rất lâu trước đây và những bản tin hiện đại hơn gần đây Kết quả nghiên cứu cho thấy xu hướng cá nhân hóa và hội thoại hóa trong những bản tin trên báo chí Hà Lan liên quan đến ngôn ngữ ẩn dụ ý niệm
Trọng tâm của nhóm nghiên cứu thứ hai vượt ra ngoài việc phân tích mô tả đơn giản vì nó khảo sát chức năng của ẩn dụ trong ngôn ngữ tin tức Charteris-Black và Musolff (2003) nhấn mạnh chức năng quan trọng của ẩn dụ trong việc làm cho các vấn đề tin tức phức tạp trở nên cụ thể và dễ tiếp cận hơn Các chủ đề phổ biến trong các nghiên cứu về ẩn dụ trên các phương tiện truyền thông như chiến tranh, nhập cư, dịch bệnh, phân biệt chủng tộc, các mối quan hệ chính trị, kinh tế, tài chính và thể thao, v.v
Charteris-Black và Musolff (2003) đã phân tích các ẩn dụ được sử dụng để
mô tả đồng Euro trên báo chí Anh và Đức và thấy rằng cả hai đều sử dụng hướng
chuyển động lên/ xuống (thấp, tăng, leo, trượt, sụt, sụp, chìm) và ẩn dụ về sức khỏe
Trang 24(ốm yếu, đau đớn, mạnh mẽ, hồi phục) Điều thú vị là trong các báo của Anh, các ẩn
dụ mang tính đấu tranh thường được sử dụng và Euro được miêu tả là một người
tham gia tích cực (đánh, chịu đựng) Tuy nhiên, trên báo chí Đức, Euro được miêu
tả là một người thụ hưởng thụ động từ ngân hàng hoặc chính phủ
Charteris-Black (2004) cũng phân tích các bài báo mảng tài chính trên tờ The Economist và thấy rằng ẩn dụ được sử dụng để miêu tả nền kinh tế như một sinh vật sống với mô hình ẩn dụ NỀN KINH TẾ LÀ CON NGƯỜI với các biểu hiện liên
quan đến tình trạng của nền kinh tế như tăng trưởng, trẻ sơ sinh, trưởng thành, khỏe
mạnh, suy đồi, ốm yếu, trầm cảm, phát triển Một hệ thống ẩn dụ khác với miền
nguồn FUNFAIR tức hội chợ giải trí, trong đó có sự xuất hiện của các từ đu, trượt,
tàu lượn siêu tốc được sử dụng để chỉ những thay đổi của thị trường Sự lựa chọn
loại ẩn dụ nào để mô tả một nền kinh tế được quyết định bởi việc tác giả muốn miêu
tả hay dự đoán xu hướng vận động của nền kinh tế đó
Musolff (2004, 2006) đã nghiên cứu diễn ngôn của các cuộc tranh luận báo chí công cộng trên báo Anh và Đức về Liên minh châu Âu trên cơ sở các bản song ngữ Nghiên cứu này đã xác định các ẩn dụ và phân loại chúng theo các miền nguồn
TÌNH YÊU - HÔN NHÂN - GIA ĐÌNH (các quốc gia được sinh ra, kết hôn, ly dị,
đôi vợ chồng Pháp-Đức, nghi ngờ, tán tỉnh, lòng chung thủy trong hôn nhân, cha
mẹ lo lắng, đứa con euro yếu ớt, được thụ thai, sinh nở, kỷ niệm sự ra đời của một loại tiền tệ châu Âu, v.v (Musolff, 2006, tr 23-28)
Phân tích ẩn dụ cho thấy thái độ khác nhau đối với đồng Euro trên báo chí
Anh và Đức Báo chí Anh bộc lộ sự hài lòng về các vấn đề trong hôn nhân giữa cặp
vợ chồng Pháp-Đức vì nó có thể cho nước Anh cơ hội chen vào mối quan hệ đó
Báo chí Đức ngược lại dường như bày tỏ lo lắng về những vấn đề đó và nhấn mạnh
sự cần thiết phải giải quyết chúng Ngoài ra, các phương tiện truyền thông Anh cũng nhắc lại khả năng chính phủ Anh “ly dị” EU trong khi báo chí Đức cẩn thận hơn khi nói đây có khả năng là một “cuộc đính hôn” kéo dài
Trang 25Một nghiên cứu của Semino (2008) đã khảo sát ẩn dụ trong các bài báo về kế hoạch thực hiện Bản đồ đường đi Trung Đông (Middle East Road Map) của Hoa
Kỳ, EU, Liên Hợp Quốc và Nga và các bài báo về việc giải quyết cuộc xung đột giữa người Palestine và Israel Nghiên cứu cho thấy có sự xuất hiện của các ẩn dụ CHUYẾN HÀNH TRÌNH và BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI cho các mục đích chính trị và thấy rằng chúng có thể được sử dụng bằng những cách khác nhau bởi người dân, nhà báo hay chính trị gia trong các bối cảnh khác nhau để bày tỏ quan điểm cụ thể
về tiến trình hòa bình Trung Đông nhằm đạt được các mục đích tu từ khác nhau
Phân tích một tập hợp ngữ liệu trên các tạp chí và báo chí kinh tế, Koller (2004) phân loại các biểu thức ẩn dụ dựa trên các miền nguồn khác nhau Nghiên cứu cho thấy diễn ngôn báo chí đề tài kinh doanh được đặc trưng bởi các ẩn dụ có miền nguồn CHIẾN TRANH, kém phổ biến hơn là các ẩn dụ có miền nguồn THỂ THAO và TRÒ CHƠI
Ở Việt Nam, hướng nghiên cứu đối chiếu ẩn dụ trong tiếng nước ngoài và tiếng Việt dưới góc độ tri nhận luận ngày càng được nhiều tác giả quan tâm Số lượng các luận án nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận dành mô ̣t sự ưu ái khá lớn cho ẩn
dụ ý niệm Các luận án tập trung tìm hiểu về ẩn dụ ý niệm gồm: Ẩn dụ dưới góc độ
ngôn ngữ học tri nhận (trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh) của Phan Thế Hưng
(2010); Ẩn dụ tiếng Việt nhìn từ lý thuyết nguyên mẫu (so sánh với tiếng Anh và
tiếng Pháp) của Võ Kim Hà (2011); Nghiên cứu so sánh đối chiếu ẩn dụ trong tiếng Việt và tiếng Hán từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên tư liệu tên gọi bộ phận cơ thể người) của Trịnh Thị Thanh Huệ (2012); Ẩn dụ ý niệm trong ca từ Trịnh Công Sơn của Nguyễn Thị Bích Hạnh (2015); v.v Thế nhưng ẩn dụ ý niê ̣m trong diễn ngôn
báo chí vẫn còn là một vấn đề cò n mang tính mới mẻ, theo quan sát của chúng tôi chỉ
có tác giả Hà Thanh Hải (2011) đã tìm hiểu và so sánh ẩn dụ trên báo chí với luâ ̣n
án hoàn thành 9 năm trước Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lý thuyết ngôn ngữ
học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế Anh - Việt Luận án tìm hiểu các phương
thức ẩn dụ nhìn từ lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế Anh Việt Khi đó lý thuyết ẩn du ̣ ý niê ̣m còn chưa được nghiên cứu theo đường hường
Trang 26tích hợp với các lý thuyết nghiên cứu ngôn ngữ khác nên vẫn còn những mă ̣t ha ̣n
chế nhấ t đi ̣nh Hay như luận án của tác giả Nguyễn Thị Như Ngọc (2015) Ẩn dụ
trong văn bản diễn thuyết chính trị Mỹ và việc dịch ẩn dụ từ tiếng Anh sang tiếng Việt đã trình bày những luận điểm căn bản về văn bản diễn thuyết chính trị, ẩn dụ ngôn ngữ và ẩn dụ tri nhận, và vấn đề dịch ẩn dụ Tuy nhiên cứ liệu nghiên cứu cũng không phải trong diễn ngôn báo chí mà là các diễn ngôn chính trị Mỹ Gần đây
là tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền (2019) với luận án Ẩn dụ ý niệm về thị trường
chứng khoán trong tiếng Anh và tiếng Việt Trong luận án, tác giả phân tích các biểu
thức ẩn dụ ý niệm trong ngữ liệu bản tin thị trường chứng khoán tiếng Anh và tiếng
Việt Hay tác giả Nguyễn Tiến Dũng (2019) với luận án Ẩn dụ ý niệm trong các
diễn ngôn chính trị (trên tư liệu tiếng Anh và tiếng Việt) đã làm rõ việc sử dụng ẩn
dụ cấu trúc và ẩn dụ bản thể trong các diễn ngôn chính trị tiếng Anh và tiếng Việt theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận nhằm làm rõ đặc điểm của các loại ẩn dụ
ý niệm được sử dụng phổ biến trong thể loại văn bản này Tác giả Nguyễn Xuân
Hồng (2020) với luận án Ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị Việt và Mỹ nhằm
nhận diện các ẩn dụ ý niệm phổ biến trong hai hệ thống diễn ngôn chính trị tiếng Việt và diễn ngôn chính trị tiếng Anh Mỹ để phân tích cấu trúc và chức năng của chúng trong mối quan hệ với miền nguồn và miền đích để tìm ra những đặc điểm tương đồng và dị biệt trong hai hệ thống diễn ngôn chính trị
Như vậy có thể thấy ở Việt Nam, các luận án gần đây tâp trung nghiên cứu
ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn đời thường, đặc biệt là diễn ngôn chính trị là chủ yếu, một số ít xem xét ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn báo chí thuộc chủ đề kinh doanh hoặc tài chính Chưa có một nghiên cứu so sánh nào xem xét các ẩn dụ ý niệm phổ biến trong diễn ngôn báo chí thuộc các chủ đề tin tức khác nhau trên cứ liệu báo chí tiếng Anh và tiếng Việt Do đó đề tài nghiên cứu của luận án có tính chất mới mẻ và không trùng lắp với bất kỳ đề tài nào trước đó đã được tiến hành ở Việt Nam và thế giới Luận án này tập trung miêu tả, phân tích phê phán ẩn dụ ý niệm chiến tranh trong diễn ngôn báo chí tiếng Anh – Mỹ thuộc chủ đề chính trị như một nghiên cứu trường hợp, đồng thời nghiên cứu so sánh đối chiếu các ẩn dụ ý niệm phổ biến từ
Trang 27góc nhìn miền nguồn và miền đích trong trong diễn ngôn báo chí Mỹ và Việt Nam nhằm tìm hiểu những nét tương đồng và dị biệt cũng như nguồn gốc của mối quan
hệ ngôn ngữ và văn hóa qua việc hình thành và sử dụng các ẩn dụ này Đây là hướng nghiên cứu mới và chưa được thực hiện
1.2 Cơ sở lý thuyết về vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết giao tiếp và nhận diện các đặc điểm giao tiếp của văn bản
Roman Jakobson (1960) là người đưa ra mô hình giao tiếp với sáu yếu tố giao tiếp được sắp xếp theo hàng ngang và hàng dọc như sau:
NGỮ CẢNH NGƯỜI PHÁT THÔNG ĐIỆP NGƯỜI NHẬN
TIẾP XÚC
MÃ
Hình 1.1: Các yếu tố trong quá trình giao tiếp của R Jakobson
Theo hàng ngang có người phát (thể phát), thông điệp và người nhận (thể nhận) Hàng dọc có ngữ cảnh, thông điệp, tiếp xúc và mã Đây là những yếu tố quan trọng với các chức năng khác nhau làm nên quá trình giao tiếp
Có thể hình dung quá trình giao tiếp với hai quá trình mã hóa và giải mã như sau:
Hình 1.2: Quá trình giao tiếp
(1) Quá trình lập mã: là quá trình một người, một tổ chức, một cơ quan chuyển một thông điệp cho đối tượng tiếp nhận Thông điệp đó được gửi đi dưới dạng mã hóa (mã hóa bởi chữ viết, hình ảnh, âm thanh )
(2) Quá trình giải mã: là quá trình từng đối tượng tiếp nhận bằng những con đường khác nhau làm cho thông điệp được chuyển đến một cách rành mạch và rõ ràng
(diễn ngôn)
Trang 28Từ cơ sở lí luận trên cho thấy hoạt động báo chí cũng có những đặc điểm tương đồng với hoạt động giao tiếp nói chung Trong đó đáng chú ý là tác động chức năng có tính nổi trội và biến cải các chức năng khác
1.2.2 Lý thuyết phân tích diễn ngôn phê phán
Phân tích diễn ngôn phê phán - Critical Discourse Analysis (CDA) được bắt đầu từ những năm 70 của thế kỷ XX với sự đóng góp của các tác giả như van Dijk, Fairclough, Wodak và Chouliaraki, thu hút sự quan tâm lớn không chỉ từ các nhà ngôn ngữ học mà còn với các ngành khoa học xã hội khác CDA liên quan đến việc nhìn nhận diễn ngôn không chỉ là thực tiễn và tập quán xã hội (social practice) mà đồng thời còn là sự phản ánh thực tiễn xã hội đó Mục đích của CDA không những
là để miêu tả diễn ngôn mà còn để giải thích diễn ngôn đã được kiến tạo như thế nào
và vì sao nó tồn tại và hoạt động như thế
Ngày càng có nhiều người quan tâm đến mặt phê phán của ngôn ngữ do nó là một hiện tượng xã hội đặc biệt, có nhiều ảnh hưởng đến kinh tế, chính trị và các lĩnh vực xã hội khác Chouliaraki và Fairclough (1999) đã nhìn nhận rằng trong nền kinh
tế tri thức, yếu tố ngôn ngữ đã trở thành một phần của “hàng hóa”, chẳng hạn như ngôn ngữ của những người làm nghề dịch vụ chính là một phần của dịch vụ mà họ cung cấp Hai tác giả này cũng coi CDA là một bộ phận của khoa học xã hội phê phán Đối tượng nghiên cứu của CDA không chỉ là các quan hệ quyền lực được thể hiện trong diễn ngôn, mà còn là các mối quan hệ xã hội bất bình đẳng như phân biệt chủng tộc, giới tính, quan hệ giữa các tầng lớp xã hội
Các thuật ngữ “phê phán” và “diễn ngôn” được hiểu như thế nào theo quan điểm của CDA? “Phê phán” đã làm cho việc phân tích diễn ngôn trở nên có tình
thái, thể hiện bản chất các hệ tư tưởng được thể hiện trong diễn ngôn Trong CDA, diễn ngôn được nhìn nhận là thực tiễn và tập quán xã hội (social practice) (Fairclough, 1989 & 2001; Wodak & Meyer, 1999) hay cũng có thể coi là một hành động xã hội Cũng gần với cái nhìn này, Halliday (1989) cho rằng trường diễn ngôn bao gồm các vấn đề xã hội như quyền – thế; hệ tư tưởng, quan hệ giai cấp, giới tính,
Trang 29phân biệt chủng tộc… CDA coi diễn ngôn có tính lịch sử, đòi hỏi phải được xem xét diễn ngôn trong mối quan hệ với ngữ cảnh tình huống Nói cách khác, CDA quan tâm đến các yếu tố như văn hóa, xã hội, tư tưởng, khác với phân tích diễn ngôn truyền thống chỉ quan tâm đến diễn ngôn như là một quá trình giao tiếp và tương tác mà bỏ qua khía cạnh hệ tư tưởng, quan hệ quyền lực Đóng vai trò cốt yếu trong lí luận của CDA là ngữ cảnh tình huống bao gồm các yếu tố như văn hóa, tư tưởng, chính trị, tâm lí Theo Peter Teo (2000), CDA tập trung vào các kiểu loại diễn ngôn như báo chí, các cuộc phỏng vấn chính trị mà thường ở đó thể hiện sự không công bằng trong quan hệ
CDA với mối quan hệ biện chứng giữa việc sử dụng ngôn ngữ và quyền lực
đã cung cấp một hướng tiếp cận phân tích chính trị đối với văn bản Đồng thời, nó khẳng định sự quan trọng của ngôn ngữ trong sản sinh, duy trì và thay đổi quan hệ
xã hội cũng như về khả năng dự phần của ngôn ngữ đối với sự điều khiển của cá nhân này đối với cá nhân khác trong xã hội
Đường hướng CDA quan tâm diễn ngôn như là một quá trình giao tiếp/tương tác giữa các thành viên của xã hội Diễn ngôn được nhìn nhận như một tập quán và
một thực tiễn xã hội Phân tích diễn ngôn trong mối quan hệ với quyền lực, hệ tư
tưởng và các mối quan hệ xã hội khác Khái niệm ngữ cảnh đóng vai trò cốt yếu trong lí luận của đường hướng này Ngữ cảnh bao gồm cả các yếu tố tâm lí, chính
trị, văn hóa, tư tưởng
Trong luận án, CDA trở thành định hướng để việc phân tích diễn ngôn báo chí luôn gắn liền với ngữ cảnh và chúng luôn thể hiện một quyền lực và hệ tư tưởng nhất định Song do hệ tư tưởng và quyền lực đều là những yếu tố không tường minh, đôi khi những suy luận sẽ mang tính chất chủ quan nên trong luận án, chúng tôi hạn chế điều này Nhìn chung, đường hướng CDA giúp luận án dựa vào ngữ cảnh để phân tích các diễn ngôn báo chí
Trang 30Tóm lại, trong luận án chúng tôi tiếp cận diễn ngôn theo đường hướng phân
tích diễn ngôn phê phán (phân tích diễn ngôn trong mối quan hệ với quyền lực, hệ
tư tưởng trong đó ngữ cảnh đóng vai trò cốt yếu)
Khái niệm diễn ngôn: “Diễn ngôn” là khái niệm cơ bản trong lí luận phân
tích diễn ngôn Có rất nhiều ý kiến về thuật ngữ này trong sự so sánh với thuật ngữ
“văn bản” (text) Về bản chất, thuật ngữ “văn bản” và “diễn ngôn” không đối chọi
nhau mà dường như đây là hai thuật ngữ dùng để gọi tên sản phẩm ngôn ngữ theo
những hướng tiếp cận khác nhau Có thể xác định “văn bản” và “diễn ngôn” như là
hai mặt của cùng một đối tượng
Đối tượng của phân tích diễn ngôn là ngôn ngữ hoạt động trong hoàn cảnh xã hội - văn hóa, chứ không phải đối tượng tĩnh (tức chuyển sang lời nói chứ không phải ngôn ngữ, theo thuật ngữ của F.de.Saussure (2005)) Nghiên cứu diễn ngôn tức
là nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng Nếu như trước đây, ngữ pháp văn bản chuyên nghiên cứu văn bản một cách biệt lập, hoàn toàn tách rời khỏi ngữ cảnh thì phân tích diễn ngôn nhằm làm nổi bật mối quan hệ chặt chẽ giữa kết cấu ngôn từ bên trong văn bản với những yếu tố ngoài văn bản Việc chuyển đối tượng từ câu/phát ngôn sang diễn ngôn là một sự chuyển hệ quan trọng - chuyển từ hệ thống đơn giản về cấu tạo trong quá trình hành chức Và chỉ ở cấp độ diễn ngôn, chúng ta mới thấy rõ tính chất giao tiếp của ngôn ngữ Van Dijk (1998) cũng xác nhận:
“Phân tích diễn ngôn liên quan đến phân tích ngôn ngữ trong sử dụng - so sánh với phân tích các thuộc tính cấu trúc của ngôn ngữ bị tách khỏi các chức năng giao tiếp của chúng” Do đó, bản chất của việc phân tích diễn ngôn là phân tích ngôn ngữ
trong sử dụng để làm nổi bật giá trị và hiệu quả giao tiếp của ngôn ngữ trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể
Chúng tôi đồng ý với quan điểm của Enkvist (1989, tr 360 – 370) rằng trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ tự nhiên, văn bản được xem là một chuỗi ký hiệu có nghĩa, và để có một ý nghĩa nào đấy, văn bản phải được thực hiện trong một ngữ
cảnh xác thực cụ thể Còn diễn ngôn được hiểu bao gồm văn bản + ngữ cảnh Như
vậy, văn bản và ngữ cảnh là hai nhân tố của diễn ngôn Luận án cũng áp dụng quan
Trang 31điểm của Van Dijk (1998, tr 23) coi ngữ cảnh bao gồm cả những người tham gia
vào giao tiếp, và vai trò, mục tiêu của họ cũng như những kiến thức mà họ cùng chia sẻ
1.2.3 Diễn ngôn báo chí và yếu tố chính trị trong diễn ngôn báo chí
Diễn ngôn báo chí là các loại phương tiện truyền thông khác nhau hướng đến người đọc, người nghe và người xem Đặc trưng chính của loại diễn ngôn này là tính đại chúng và tính định hướng dư luận
Diễn ngôn báo chí có sức lan tỏa lớn, điều đó cho thấy những trải nghiệm trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta bị ảnh hưởng ở một mức độ đáng kể bởi ngôn ngữ truyền thông và phương tiện truyền thông, cho dù là báo chí, bản tin truyền hình và đài phát thanh, trang web tin tức, v.v Không có gì ngạc nhiên khi những diễn ngôn này đã lần lượt là đề tài cho các nghiên cứu các ngành khác nhau
và đặc biệt hơn là các nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ giữa diễn ngôn và quyền lực, cách tiếp cận nào để nghiên cứu diễn ngôn CDA là một trong những cách tiếp cận coi ngôn ngữ là một thực tiễn xã hội và cố gắng tìm một cách thức nào đó để cho thấy các mối quan hệ quyền lực mờ giữa thực tiễn diễn ngôn, thực tiễn cấu trúc
xã hội và văn bản
Tin tức, được đặc trưng bởi tính đa dạng và năng động của nó, gần đây đã chuyển từ dạng viết và in sang đa phương tiện, đa phương thức (truyền hình nghe nhìn và đài phát thanh), và đặc biệt là các định dạng kỹ thuật số trực tuyến Sự thay đổi này không chỉ ảnh hưởng đến tốc độ đưa tin và chất liệu mà còn tạo ra nhiều chủ đề tin tức và các nhóm chủ đề con đa dạng hơn, trong khi vẫn liên tục tiếp cận nhiều loại đối tượng độc giả Điều quan trọng là hình thức viết vẫn là trung tâm của ngành truyền thông tin tức nhưng nó không còn là hình thức duy nhất mặc dù vẫn còn phổ biến, bổ sung cho nó là một số lượng đáng kể các hình ảnh và video đi kèm, và cũng không nhất thiết phải phụ thuộc vào việc in ấn để đến được với độc giả Thậm chí, độc giả còn có thể tương tác trực tuyến, để lại những bình luận, ý kiến của mình dưới các bài báo Điều này khiến cho báo chí ngày càng trở nên khách quan và đa chiều hơn
Trang 32Một trong những đặc trưng khác của ngôn ngữ báo chí là việc sử dụng các trích dẫn gián tiếp và trực tiếp Thông qua việc sử dụng các bài phát biểu hoặc thuyết trình, các nhà báo có thể đưa ra ý kiến có lợi cho mục tiêu bài báo của họ trong khi vẫn khẳng định tính khách quan, vì họ chỉ đơn giản là dẫn lại những gì người khác đã nói Họ có thể lập luận rằng việc sử dụng trích dẫn trực tiếp hay gián tiếp là trung lập và nó không phải là ý kiến của các nhà báo Tuy nhiên, chính các nhà báo được quyền chọn những gì cần trích dẫn từ một bài phát biểu dài hơn và cách lắp ráp và trình bày chúng với các phần còn lại của bài viết Việc lựa chọn, cấu trúc và lắp ráp các trích dẫn thành văn bản cụ thể có thể dựa trên các mục tiêu được vạch ra sẵn (Caldas-Coulthard, 1994; Van Dijk, 1988)
Bài phát biểu của giới chính trị gia sẽ được đăng tải bởi các phương tiện truyền thông và thu hút một lượng lớn độc giả Vì vậy, các bài phát biểu luôn có những điểm nổi bật, những cụm từ, những tiêu điểm thông tin đáng nhớ để giúp người đọc hoặc người nghe ghi nhớ lâu và thu hút sự chú ý của mọi người Các chính trị gia sử dụng các phép ẩn dụ đại diện cho lý thuyết và kế hoạch của họ trong các bài phát biểu Diễn giả chủ động lựa chọn từ ngữ và quyết định có nên sử dụng một phép ẩn dụ hay không để làm cho một vấn đề trở nên sinh động hoặc thuyết phục hơn (Charteris-Black, 2005, tr 17) Các giá trị cốt lõi sẽ được người nói trình bày và ảnh hưởng đến việc diễn giải thông tin của người nhận Sự thật có thể dễ dàng được thay đổi vì các phép ẩn dụ được tiếp nhận, hiểu và phân loại khác nhau bởi những người khác nhau và do đó chúng luôn có tính gợi mở cho các cách diễn giải khác nhau (Lakoff và Johnson, 1980, tr 163)
Báo chí được tự do diễn giải các vấn đề công chúng quan tâm và xác định những sự thật nào quan trọng hơn để trình bày với độc giả (Beard, 2000, tr 18) Các phép ẩn dụ trong diễn ngôn chính trị hay diễn ngôn báo chí đề tài chính trị là công
cụ giúp cho người nghe có thể tiếp cận được các khái niệm chính trị trừu tượng và chúng thường được sử dụng để nhấn mạnh hoặc làm dịu đi một số vấn đề nhất định Phép ẩn dụ có thể được sử dụng để truyền đạt vấn đề cũng như ngụ ý một giải pháp cho vấn đề nào đó Việc sử dụng các phép ẩn dụ trong diễn ngôn báo chí đề tài
Trang 33chính trị là có tính chiến lược Theo Beard (2000, tr 17-21), đó là một kỹ năng để thu hút cảm xúc của người đọc theo cách thức tạo một cảm giác tự nhiên cho độc giả Sử dụng ngôn ngữ ẩn dụ và làm thế nào để nó có thể được hiểu trong diễn ngôn báo chí chính trị phụ thuộc vào ý thức hệ của người viết; các từ được cố tình chọn
để chi phối cảm xúc, tác động vào niềm tin của người đọc và tăng hiệu quả đáng kể
về mặt tu từ Phép ẩn dụ luôn phụ thuộc rất nhiều vào ngữ cảnh và chỉ có nghĩa trong ngữ cảnh Bosman nghiên cứu về cách ẩn dụ ảnh hưởng đến thái độ chính trị, ông nhấn mạnh rằng “mô tả một vấn đề chính trị theo nghĩa bóng rõ ràng sẽ không tạo ra hiệu ứng tương tự ở tất cả những người tiếp nhận thông tin Không phải ai cũng dễ tiếp thu hay có độ nhạy cảm với ngôn ngữ ẩn dụ” (Bosman, 1987, tr 104)
Từ tất cả những điều này, có thể nói rằng ẩn dụ ý niệm là một phương thức chuyển tải thông tin rất quan trọng trong diễn ngôn báo chí Dựa vào ngữ liệu thu thập, chúng ta có thể tiến hành phân loại, miêu tả chúng và trong một chừng mực cho phép có thể giải thích nguyên do của việc sử dụng ẩn dụ ý niệm từ đặc trưng, mối quan hệ giữa miền nguồn – miền đích và xu hướng lựa chọn của báo chí
Dựa vào mô hình giao tiếp của Jakobson chúng tôi lược giải thành sơ đồ giao tiếp báo chí Sơ đồ minh họa quá trình giao tiếp báo chí, chính xác là một quy trình với bốn yếu tố: nhà báo, sự kiện, phương tiện ngôn ngữ và người nhận tin, cụ thể như sau:
Hình 1.3: Các yếu tố trong quá trình giao tiếp báo chí
THẾ GIỚI BÊN NGOÀI (Sư ̣ kiê ̣n)
HÌNH ẢNH CỦA THẾ GIỚI BÊN NGOÀI
DIỄN NGÔN BÁO CHÍ
NHÀ
BÁO
NGƯỜI NHẬN TIN
Phản hồ i
Trang 34Tác giả Dương Văn Quảng (1998, tr 47) cũng nhấn mạnh rằng, diễn ngôn báo chí là yếu tố thứ tư không thể thiếu trong quá trình khép kín của giao tiếp báo chí Diễn ngôn báo chí không phải là bản sao chụp thế giới bên ngoài, mà thực tế nó
là hình ảnh của thế giới đó thông qua lăng kính của người viết Một trong những đặc trưng của giao tiếp báo chí là nhà báo phải biết kiến tạo ngôn ngữ của mình sao cho
để vừa truyền tin, vừa thuyết phục được người nhận tin để họ suy diễn, hiểu đúng được ý đồ của mình
Phương tiện để tạo thành diễn ngôn báo chí chính là ngôn ngữ Ngôn ngữ
trong báo chí là sự hòa kết của ba tiểu chức năng cơ bản: chức năng thông tin, chức
năng tác động, chức năng liên nhân Thông tin là những nội dung cụ thể, là điều mà
nguồn, người gửi (tòa soạn, nhà báo) gửi gắm trong thông điệp (bài báo) chuyển đến đích, người nhận (độc giả) với mong muốn thực hiện việc tác động Qua thông tin, ngôn ngữ báo chí thực hiện chức năng tác động có chủ đích, “làm cho đối tượng đích
có những thay đổi trong nhận thức (biết, hiểu, tin tưởng) dẫn đến thay đổi trong hành
vi (hành động theo định hướng của nguồn)” (tr 13, 49) Còn liên nhân là “khả năng tạo ra sự liên kết chặt chẽ ngôn cảnh giao tiếp nhằm nâng cao hiệu quả giao tiếp” Điều này thể hiện qua các chiến lược giao tiếp bằng ngôn từ gắn với văn hóa, tâm lí, thói quen của từng nhóm đối tượng đích, của các cộng đồng cụ thể
Hiện nay, báo chí có những loại hình cơ bản sau:
i Báo viết: còn gọi là báo in, báo giấy hay là báo chữ, thể loại báo chí xuất hiện lâu đời nhất, hình thức thể hiện trên giấy, có hình ảnh minh họa Ưu điểm là tính phổ cập cao, có nội dung sâu, người đọc có thể nghiên cứu Nhược điểm là thông tin chậm, khả năng tương tác hai chiều (giữa người đọc và người viết) kém
ii Báo nói: thông tin được chuyển tải qua thiết bị đầu cuối là radio bằng ngôn ngữ Ưu điểm là thông tin nhanh Nhược điểm là không trình bày được các thông tin bằng hình ảnh (phóng sự ảnh) hoặc các thông tin có hình ảnh minh họa
iii Báo hình: thông tin được chuyển tải bằng hình ảnh và âm thanh Ưu điểm
là thông tin nhanh; nhược điểm là khả năng tương tác hai chiều chưa cao
iv Báo điện tử (báo mạng, báo mạng điện tử, báo trực tuyến online): Sử dụng giao diện website trên Internet để truyền tải thông tin bằng bài viết, âm thanh, hình ảnh,
Trang 35các đoạn video gồm cả hình ảnh động và âm thanh (video clip) Ưu điểm là thông tin cập nhật nhanh, tính tương tác hai chiều cao; nhược điểm là tính phổ cập yếu
Bell (1991) cho rằng xã hội có thể bị ảnh hưởng bởi ngôn ngữ truyền thông,
ý tác giả muốn nói là cách thức mà truyền thông và tin tức là nguồn gốc của các diễn ngôn trong thế giới thực Nhưng những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc tạo ra các diễn ngôn như vậy? Diễn ngôn báo chí bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác nhau bao gồm việc ai sở hữu cơ quan truyền thông báo chí hoặc tờ báo đó, chính sách biên tập nào được thực thi, ai có quyền cập nhật tin tức, những ảnh hưởng của các nhà làm quảng cáo đến tin tức được trình bày, và cuối cùng là đối tượng độc giả nào được tờ báo này hướng đến
Các nhóm thống trị, các thành viên, các tổ chức trong xã hội v.v là những người có quyền cập nhật và đăng các bài phát biểu trên bản tin (Richardson, 2007,
tr 87) Lẽ dĩ nhiên, họ sẽ có ảnh hưởng lớn đến các diễn ngôn tin bằng cách áp đặt
và ủng hộ cho các sở thích, niềm tin và quan điểm thế giới phù hợp với lợi ích và ý thức hệ của họ Richardson (2007) cũng cho rằng diễn ngôn báo chí có xu hướng được định hình bởi các yếu tố quyền lực trong xã hội, họ tạo ra một cơ quan ngôn luận, tổ chức các cuộc họp báo và thu hút sự chú ý của công chúng
Việc lựa chọn và cho đăng một bài báo hay tin tức thường bị ràng buộc bởi quyết định của ban biên tập Trên thực tế, một bài báo không phải là tác phẩm của một nhà báo mà nó liên quan đến cả một ban biên tập Ở nhiều quốc gia đặc biệt là
Mỹ, các tờ báo và cơ quan tin tức lớn đều khẳng định tính trung lập và khách quan
về cách thức họ đưa các tin tức và sự kiện chính trong nước và quốc tế Tuy nhiên, hầu hết số này có lập trường và định hướng biên tập cho thấy họ luôn ủng hộ một
cách có hệ thống một đảng phái chính trị nào đó Như tờ The New York Times đã
hơn 50 năm ủng hộ cho các ứng cử viên Dân chủ trong các cuộc bầu cử tổng thống
Mỹ Khi các tờ báo này đưa tin tức, các nhà báo bị ràng buộc bởi các hệ tư tưởng và
ý thích của các biên tập viên về các vấn đề chính trị, xã hội và kinh tế cụ thể
Một yếu tố quan trọng khác cần xem xét đến là đối tượng độc giả Diễn ngôn
Trang 36báo chí được tạo ra nhằm hướng đến một đối tượng độc giả nhất định nào đó và do
đó tin tức cần phải hấp dẫn và thú vị với nhóm đối tượng này Richardson (2007, tr 127) khẳng định rằng ý thức của khán giả quyết định việc lựa chọn tin tức nào sẽ được đăng Tin tức được nhắm tới với một nhóm đối tượng nhất định – tầng lớp và giai cấp của họ, trình độ học vấn của họ, giá trị sống và những sở thích của họ v.v Mối quan hệ giữa các phương tiện truyền thông và đối tượng mục tiêu của nó phụ thuộc vào sự đáp ứng kỳ vọng của độc giả và việc xác lập các mối quan hệ tin cậy trong quá khứ; phụ thuộc vào thói quen trình bày bản tin theo một cách thức được hợp pháp hóa và thể chế hóa
1.2.4 Lý thuyết Ẩn dụ ý niệm
Trong lý thuyết ẩn dụ ý niệm (Conceptual Metaphor Theory) của Lakoff và Johnson, ẩn dụ được xem là “phổ biến trong cuộc sống hàng ngày, không chỉ trong ngôn ngữ mà trong suy nghĩ và hành động” (Lakoff và Johnson, 1980, tr 3) Lập luận ẩn dụ là trọng tâm trong hệ thống ý niệm của chúng ta, nghĩa là cách các phạm trù được hiểu, xác định rõ và liên kết với các phạm trù khác Lập luận này liên quan đến việc hiểu một lĩnh vực kinh nghiệm này dưới góc độ của một lĩnh vực kinh nghiệm khác, nói một cách khác nó là một quá trình làm nổi bật và ẩn giấu đồng thời: bằng cách tập trung vào một khía cạnh của điều gì đó, trong khi các khía cạnh khác bị hạ thấp hoặc bỏ qua Ví dụ: người ta thường mô tả một cuộc tranh luận giống như một trận chiến, từ đó hình thành nên ẩn dụ ý niệm TRANH LUẬN LÀ CHIẾN TRANH (luôn có người thắng và người thua) Ở đây các đặc điểm khác của một cuộc tranh luận (chẳng hạn như hợp tác, ủng hộ, củng cố) đã bị ẩn đi Quá trình phân loại ẩn dụ mang lại ý nghĩa cho sự vật hoặc hiện tượng thông qua việc làm nổi bật, hạ thấp hay ẩn đi các khía cạnh của sự vật, hiện tượng ấy
Ý tưởng trung tâm trong lý thuyết ẩn dụ ý niệm là cấu trúc ẩn dụ ý niệm có một hướng nhất định: các ý niệm thuộc lĩnh vực kinh nghiệm trừu tượng hơn và xa hơn về kinh nghiệm được hiểu theo các ý niệm và lĩnh vực trải nghiệm cụ thể hơn
và gần về kinh nghiệm hơn Thực tế là con người là một sinh vật vật chất, di chuyển trong thế giới vật chất và xã hội, nơi mà chúng ta tương tác với các vật thể và các
Trang 37sinh vật khác, từ đó định hình và hạn chế suy nghĩ và hiểu biết của chúng ta về thực tại - bao gồm các lĩnh vực khác ngoài lĩnh vực “cảm giác-vận động” Ví dụ: tác động của trọng lực lên cơ thể chúng ta là một trải nghiệm cơ bản cấu trúc theo cách chúng ta nghĩ về hiện tượng trừu tượng theo chiều dọc, ví dụ: tốt là hướng lên và xấu là hướng xuống Do đó, ngôn ngữ và ý nghĩa mang tính nghiệm thân, với nghĩa
là các ý niệm và quá trình nhận thức có liên quan đến trải nghiệm cơ thể trong việc tương tác với môi trường
Trái với chủ nghĩa khách quan (objectivism) cho rằng “có một sự thật tuyệt đối và vô điều kiện”, Lakoff và Johnson gọi quan điểm này là chủ nghĩa kinh nghiệm luận (experientialism), hay một cách gọi khác là chủ nghĩa chủ quan với
“chân lý chỉ có thể đạt được thông qua trí tưởng tượng, không bị hạn chế bởi hoàn cảnh bên ngoài.” (Lakoff và Johnson, 1980, tr 192) Theo hai ông, ẩn dụ dựa trên lý luận rằng kinh nghiệm cơ thể, là thứ kết hợp giữa lý trí và trí tưởng tượng:
“Lập luận này ít nhất là liên quan đến phân loại (categorization), kéo theo (entailment) và suy luận (inference) Tưởng tượng, ở một trong nhiều khía cạnh của nó, liên quan đến việc nhìn thấy một sự vật dưới góc độ một sự vật khác - cái mà chúng ta gọi là tư tưởng ẩn dụ Do đó, phép ẩn dụ là sự hợp lý trong tưởng tượng” (Lakoff và Johnson, 1980, tr 193)
Trong lần tái bản Metaphors we live by (2003), Lakoff và Johnson bổ sung
thêm rằng phép ẩn dụ ý niệm “cho phép các suy luận trong các lĩnh vực cảm vận động (ví dụ: lĩnh vực không gian và vật thể) được sử dụng để rút ra các suy luận trong các lĩnh vực khác” (ví dụ: lĩnh vực phán xét chủ quan, với các ý niệm như tình cảm, cảm xúc, công lý, v.v.) (Lakoff và Johnson, 2003, tr 244) Tư tưởng ẩn dụ có
giác-“cơ sở thần kinh”, với ý nghĩa là các phạm trù cơ bản, hoặc “ý niệm cảm giác-vận động”, nảy sinh từ những trải nghiệm cảm giác-vận động của con người như di chuyển trong không gian và thao tác xử lý các vật thể vật lý trong môi trường xung quanh Lý luận trừu tượng “được điều chỉnh bởi các hoạt động cảm giác-vận động diễn ra trong thời gian thực và trong bối cảnh thực tế” (Lakoff và Johnson, 2003, tr
Trang 38258) Khi chủ nghĩa kinh nghiệm này được áp dụng vào trong chính trị, phép ẩn dụ trở nên một nhân tố thiết yếu để cấu thành chính trị Lý luận ẩn dụ đóng một vai trò quan trọng trong cách chúng ta xác định các ý niệm và tác nhân chính trị, các hiện tượng xã hội, chuỗi quan hệ nhân quả, v.v
Lakoff và Johnson phân biệt giữa các phép ẩn dụ mới, là những phép ẩn dụ gắn kết các lĩnh vực trải nghiệm với nhau theo cách nguyên bản và phép ẩn dụ thông thường, được sử dụng trong ngôn ngữ hàng ngày đến mức hầu hết mọi người không coi chúng là ẩn dụ Một ví dụ về phép ẩn dụ thông thường như vậy là SUY NGHĨ LÀ NHÌN THẤY Các ẩn dụ thông thường còn được phân loại thành ba loại:
ẩn dụ cấu trúc (một ý niệm được cấu trúc theo nghĩa của một ý niệm khác, ví dụ:
“biểu thức ngôn ngữ là vật chứa ý nghĩa”), ẩn dụ định hướng (hai hệ thống ý niệm được tổ chức tương ứng với nhau, ví dụ: “sức khỏe và cuộc sống hướng lên”; “bệnh tật và cái chết hướng xuống”), và các ẩn dụ bản thể (các hiện tượng trừu tượng được coi như các đối tượng vật chất, ví dụ: “tâm trí là một cỗ máy”; “tâm trí là một vật thể mong manh”)
Thế nhưng Lakoff và Johnson gần đây đã sửa đổi công trình trước đó của mình và tuyên bố rằng tất cả các phép ẩn dụ đều mang tính cấu trúc và bản thể và nhiều phép ẩn dụ còn mang cả tính định hướng (Lakoff và Johnson, 2003, tr 264) Điều này đúng với ẩn dụ độ dốc trơn trượt (slippery slope) và các phép ẩn dụ tương đương của nó ("vượt ngưỡng", "đi quá xa một bước", "hiệu ứng domino", v.v.) Nói
rõ hơn, trong ngụy biện logic không chính thức, dốc trơn trượt là một cách nói ẩn dụ
để chỉ một sai lầm, trong đó việc phản đối một hành động được đưa ra với lý do một lần để nó xảy ra sẽ dẫn đến hành động tiếp nối cho đến khi xảy ra một số hậu quả
không mong muốn Đây được gọi là lập luận dốc trơn trượt hay sai lầm domino
Quan điểm này rất có ý nghĩa khi vận dụng vào phân tích ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn báo chí vì các lý do sau:
Thứ nhất, khi được sử dụng trong diễn ngôn chính trị, những hình ảnh độ dốc trơn trượt này phục vụ cấu trúc chính trị về mặt vật chất: các vấn đề được thảo luận,
Trang 39thông qua việc chuyển nghĩa ẩn dụ này, được tạo ra tương tự như các đối tượng vật chất trong tự nhiên Đây là một phép ẩn dụ thông thường, nhưng cũng là ẩn dụ cấu trúc có thể được diễn đạt là CHÍNH TRỊ LÀ VẬT THỂ
Thứ hai, hình ảnh độ dốc trơn trượt diễn ra trong thời gian/ không gian của thế giới xã hội, lập tức chúng biến thành một cấu trúc phân cấp quy chuẩn, nơi trạng thái nghỉ ngơi hiện tại (tức không làm gì/ không thực hiện hành động) có ý nghĩa tích cực hướng lên, trong khi trường hợp khác nếu để xảy ra hành động sẽ đưa đến
độ dốc trơn trượt tức “đi xuống” hoặc dẫn đến những dự việc tiêu cực và hướng xuống Do đó, cách giải thích ẩn dụ độ dốc trơn trượt tương ứng với một phép ẩn dụ định hướng, thông thường có thể được diễn giải là TỐT LÀ HƯỚNG LÊN, XẤU
LÀ HƯỚNG XUỐNG
Thứ ba, các hiện tượng xã hội trừu tượng và phức tạp, như một chính sách hoặc một hoạt động pháp lý, được thể hiện dưới dạng các đối tượng vật chất có thể phân biệt rõ ràng Nguyên nhân và kết quả xã hội được đặt tên theo ngôn ngữ của nguyên nhân và kết quả vật lý, do đó dễ nắm bắt bằng trực giác hơn Như vậy, ẩn dụ thông thường CHÍNH TRỊ LÀ VẬT THỂ cũng chính là một ẩn dụ bản thể
Do đó, nhìn từ lý thuyết ẩn dụ ý niệm, ẩn dụ dốc trơn trượt dùng trong chính trị có biểu hiện như một ẩn dụ cấu trúc về cách mọi người hiểu, trải nghiệm và thực hành chính trị CHÍNH TRỊ LÀ VẬT THỂ vừa là một ẩn dụ cấu trúc vừa là ẩn dụ bản thể: những thứ tương đối trừu tượng (chính trị và đối tượng xã hội) được nhìn nhận dưới dạng những thứ tương đối cụ thể (chất liệu và vật thể) Những tác động không thể đoán trước và khó quan sát của các hành động chính trị, chẳng hạn như một luật mới hoặc một chính sách đã thay đổi, được hiểu theo nghĩa những tác động
dễ đoán hơn của việc bước vào một con dốc trơn trượt: bạn chắc chắn sẽ trượt xuống đáy của độ dốc Chiều hướng chuyển động đi xuống của phép ẩn dụ này thuộc loại ẩn dụ định hướng, cung cấp một khung quy chuẩn trong đó lên là tốt và xuống là xấu
Trang 401.2.4.1 Ý niệm và ẩn dụ ý niệm
Ý niệm là một thực thể của tư duy, là đơn vị tri nhận của con người, tức là đơn vị nội dung của bộ nhớ động, của từ vựng tinh thần và của ngôn ngữ bộ não (lingua mentalis), của toàn bộ bức tranh thế giới được phản ánh trong tâm lí con người Các ý niệm nảy sinh trong quá trình cấu trúc hoá thông tin về một sự tình khách quan trong thế giới thực, cũng như về những thế giới tưởng tượng và về sự tình khả dĩ trong những thế giới đó Các ý niệm quy cái đa dạng của những hiện tượng quan sát được và tưởng tượng về một cái gì đó thống nhất, đưa chúng vào một hệ thống và cho phép lưu giữ trong trí não những kiến thức về thế giới
Có thể nói, ý niệm là kết quả của quá trình tri nhâ ̣n là quá trình ta ̣o ra
các biểu tượng tinh thần (mental representation) Ba thành tố cơ bản của ý niệm bao
gồm: cảm xúc, trí tuệ, ý chí Trên cơ sở này, ý niệm còn có thể được hiểu là những
ấn tượng và liên tưởng phản ánh kinh nghiệm của người sử dụng ngôn ngữ Ý niệm được hình thành từ những trải nghiệm của con người về thế giới vì vậy nó mang tính nghiệm thân Việc tri nhận các dấu hiệu đặc trưng của sự vật, hiện tượng ở cấp
độ ý niệm cũng chính là quá trình ý niệm hóa Theo tác giả Trịnh Sâm (2011a), việc
ý niệm hóa như thế, một mặt cho thấy cách tư duy phổ quát của nhân loại, mặt khác còn thể hiện cách lựa chọn riêng của mỗi dân tộc
Ý niệm hóa là cách thức hình thành và kiến tạo ý niệm Ẩn dụ chỉ là một
trong những cách ý niệm hóa Bàn về quá trình ý niệm hóa, các nhà ngôn ngữ học
tri nhận đều cho rằng bản chất của quá trình này được thể hiện bởi sự ánh xạ ẩn dụ
từ miền nguồn tới miền đích Một ý niệm được tạo ra từ nhiều sự ánh xạ, và sự ánh
xạ từ miền nguồn tới miền đích mang tính bộ phận Thông thường chỉ có một số phương diện của miền nguồn được làm nổi bật, được kích hoạt để giúp chúng ta hiểu miền đích, trong khi đó, những phương diện còn lại bị làm mờ đi Bản chất của quan hệ ánh xạ giữa miền nguồn với miền đích còn thể hiện ở chỗ: một miền nguồn
có thể ánh xạ tới nhiều miền đích khác nhau, và trên thực tế hầu hết các miền nguồn
đều ánh xạ không chỉ một mà là vài miền đích