1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thảo luận nhóm hợp đồng dân sự và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

17 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 68,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Căn cứ theo Điều 574 BLDS 2015 thì: “Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc nào đó, hoàn toà

Trang 1

MÔN HỌC:

HỢP ĐỒNG DÂN SỰ

VÀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NGOÀI HỢP ĐỒNG

ĐỀ TÀI: Thảo luận nhóm các vấn đề: Thực hiện công việc không có ủy quyền; Chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận, Thực hiện nghĩa vụ (thanh toán một khoản tiền) Phân tích bài tâp

tình huống thực tế

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

Mã sinh viên:

Lớp:

Hồ Chí Minh, Tháng 3/2022

Trang 2

Vấn đề 1: Thực hiện công việc không có ủy quyền

Câu 1: Thế nào là thực hiện công việc không có ủy quyền?

Căn cứ theo Điều 574 BLDS 2015 thì: “Thực hiện công việc không

có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc nào đó, hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết

mà không phản đối”

Ví dụ: Tự quản lý tài sản khi chủ sở hữu đi vắng

Câu 2: Vì sao thực hiện công việc không có ủy quyền là căn

cứ phát sinh nghĩa vụ?

Căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là những sự kiện xảy ra trong thực tế, được pháp luật dân sự dự liệu, thừa nhận là có giá trị pháp lý Làm phát sinh quan hệ nghĩa vụ dân sự

Do đó, thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ làm phát sinh Nghĩa vụ dân sự là vì trong thực tế có các trường hợp thực hiện công việc không có ủy quyền, mà BLDS 2015 đã dự liệu điều này khoản

3 Điều 275: “Căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là Thực hiện công việc không có ủy quyền”

Việc quy định chế định này tạo nên sự ràng buộc pháp lý giữa người thực hiện công việc và người có công việc được thực hiện và nâng cao tinh thần trách nhiệm, đảm bảo quyền lợi của người thực hiện công việc cũng như đối với người có công việc thực hiện Câu 3: Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền"

Chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” trong BLDS

2015 so với BLDS 2005 có những điểm mới như sau:

+ Về nghĩa vụ thực hiện công việc không có ủy quyền tại khoản

3 và khoản 4 Điều 575 của BLDS 2015 đối chiếu với khoản 3 và khoản 4 Điều 595 của BLDS 2005 ta thấy: nhà làm luật đã bổ sung trường hợp người có công việc được thực hiện bao gồm cả cá nhân và pháp nhân (Mở rộng phạm vi chủ thể)

+ Khoản 3 Điều 595 BLDS 2005 chỉ nêu trường hợp người thực hiện công việc không có ủy quyền phải báo cáo cho người có công việc

Trang 3

được thực hiện về quá trình, kết quả thực hiện công việc nếu có yêu cầu, trừ trường hợp không biết nơi cư trú của người đó Khoản 3 Điều

575 BLDS 2015 thêm cụm từ “hoặc trụ sở” của người đó

+ Khoản 4 Điều 595 BLDS 2005 chỉ nêu trường hợp người có công việc được thực hiện chết thì người thực hiện công việc không có ủy quyền phải thực hiện công việc cho đến khi người thừa kế hoặc người đại diện của người có công việc được thực hiện đã tiếp nhận Khoản 4 Điều 575 BLDS 2015 đã bổ sung thêm trường hợp nếu người có công việc được thực hiện là pháp nhân bị chấm dứt tồn tại, và trong trường hợp này nghĩa vụ thực hiện công việc không có ủy quyền cũng được áp dụng tương tự như trường hợp người có công việc được thực hiện là cá nhân chết

+ Về chấm dứt việc thực hiện công việc không có ủy quyền Khoản

4 Điều 578 BLDS

2015 quy định: “Người thực hiện công việc không có ủy quyền chết, nếu là cá nhân hoặc chấm dứt tồn tại, nếu là pháp nhân.” Nhà làm luật đã bổ sung trường hợp chấm dứt thực hiện công việc không có ủy quyền do pháp nhân chấm dứt tồn tại Trước đây, tại Khoản 4 Điều 598 BLDS 2005 chỉ đề cập đến việc chấm dứt thực hiện công việc không có

ủy quyền khi người thực hiện công việc không có ủy quyền là cá nhân chết

+ BLDS 2015 còn bổ sung thêm Điều 686 về Thực hiện công việc không có ủy quyền: “Các bên được thỏa thuận lựa chọn pháp luật

áp dụng cho việc thực hiện công việc không có ủy quyền Trường hợp không có thỏa thuận thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi thực hiện công việc không có ủy quyền.” Chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” trong BLDS 2005 điều kiện áp dụng chế định công việc thực hiện công việc không có ủy quyền còn gặp nhiều bất cập khi quy định điều kiện là "hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện" Nghĩa là người thực hiện công việc hoàn toàn không có lợi ích trong công việc mà họ được hẹn và tất cả phải vì lợi ích của người có công việc được thực hiện Nói cách khác, theo nghĩa này người thực hiện công việc không có bất kỳ lợi ích nào từ việc thực hiện công việc cho người khác Tuy nhiên, trong thực tế xét xử có rất nhiều trường hợp người thực hiện công việc cũng có lợi ích từ việc thực hiện Tại Điều 574 BLDS 2015 hiện hành đã cải thiện, bám sát với thực trạng khi bỏ đi hai

Trang 4

từ "hoàn toàn" trong quy định Điều sửa đổi là hoàn toàn hợp lí với thực

tế xét xử

Tóm lại, BLDS 2015 đã quy định rộng hơn về phạm vi chủ thể là người có công việc được thực hiện trong thực hiện công việc không có chủ quyền, bao gồm cá nhân và pháp nhân, đồng thời bổ sung Điều 686: quy định về Thực hiện công việc không có ủy quyền, giúp cho việc thực hiện pháp luật vào thực tế dễ dàng hơn và tránh những bất cập

Câu 4: Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền" theo BLDS 2015? Phân tích từng điều kiện

BLDS 2015 không có điều khoản riêng để quy định về điều kiện áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” Tuy nhiên, từ khái niệm được nêu ra ở Điều 574 BLDS 2015, chúng ta có thể suy ra những điều kiện cơ bản sau đây:

Về khái niệm: Điều 574 của BLDS năm 2015 như sau: “Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết

mà không phản đối.”

Đối với người thực hiện công việc không có nghĩa vụ

Người thực hiện không có nghĩa vụ:

Khi quy định người thực hiện công việc không có ủy quyền là “ người không có nghĩa vụ thực hiện công việc”, BLDS 2015 đã tạo ra hai hướng giải thích khác nhau

Có quan điểm cho rằng, quy định này nói dến “người hoàn toàn không có nghĩa vụ phải thực hiện công việc đó nhưng đã thực hiện công việc đó Nghĩa vụ ở đây là nghĩa vụ pháp lý hoặc nghĩa vụ do các bên thỏa thuận.”1

Song, cách hiểu này dẫn đến nhiều bất cập trong thực tiễn xét xử Đơn cử như trường hợp “công việc được thực hiện theo yêu cầu của người thứ ba hay theo thỏa thuận của người thứ ba, hay theo luật định”2, thì chúng ta có được áp dụng chế định này hay không? Thực tiễn trong thực tế, khi xảy ra trong trường hợp như trên, Tòa án vẫn áp dụng chế định này để tiến hành xét xử Như vậy cách hiểu phù hợp nhất, cho điều kiện này là không có nghĩa vụ thực hiện “giữa người thực hiện công

Trang 5

việc và người có công việc thực hiện”,3 mà không xét đến sự tồn tại nghĩa vụ giữa người thực hiện với bên thứ ba hay theo luật định (nếu có)

Mặt khác, chúng ta cần làm rõ ràng, nếu trong một số trường hợp người thực hiện nghĩa vụ có căn cứ pháp luật, nhưng không biết về quy định pháp luật tương ứng mà làm vì sự tự nguyện, lòng nhân ái, thì điều kiện “không có nghĩa vụ” này còn được đảm bảo hay không? Có ý kiến cho rằng, BLDS 2015 đã có quy định về bồi thường thiệt hại do tình huống cấp thiết để “tạo cơ chế ràng buộc người gây thiệt hại phải bồi thường cho thiệt hại mà họ gây ra.”4 (ở đây là người có công việc thực hiện với người thực hiện công việc) Song, giả sử như không thể chứng minh được yếu tố “tình huống cấp thiết”, và thực hiện công việc đó vẫn được xem là nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, thì trong khi tổ chức, thực hiện công việc nếu có tốn kém chi phí cũng có thể coi là thực hiện công việc không có ủy quyền5

Thực công việc một cách tự nguyện:

Việc thực hiện công việc đó là vì lợi ích của người có công việc được thực hiện, chứ không phải là vì lợi ích của người thực hiện công việc hoặc lợi ích của người thứ ba Việc thực hiện công việc không có ủy quyền đòi hỏi về “tính tự nguyện”, tương tự như quy định tại điểm b khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự: “chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện” Điểm cần lưu ý ở đây là, nếu người thực hiện công việc một cách “ngẫu nhiên không có chủ ý, hoặc thiếu tự nguyện (ví dụ do bị ép buộc hay nhầm lẫn)”, thì sẽ không được xem là thực hiện công việc không có ủy quyền Trong trường hợp đó, nghĩa vụ thanh toán của người có công việc được thực hiện cho người có công việc thực hiện chỉ được phát sinh nếu người

có công việc nhận được lợi ích (trong trường hợp này được xem là không

có căn cứ pháp lý) Đây là nghĩa vụ hoàn trả theo khoản 2 Điều 579 BLDS 2015, khác biệt với nghĩa vụ thanh toán của người có công việc được thực hiện không có ủy quyền, được quy định tại Điều 576 Bộ luật này

Đối với người có công việc được thực hiện

Không yêu cầu đối phương thực hiện công việc:

Điều này có nghĩa rằng giữa người thực hiện công việc và người có công việc được thực hiện “không tồn tại một hợp đồng, không có ủy

Trang 6

quyền”6 Nếu giữa hai bên đã có sự thỏa thuận trước đó, hoặc có thể hiện sự đồng ý song phương thì “vẫn được xem như có sự tạo lập hợp đồng” Mặt khác, trong trường hợp ban đầu người có công việc không ủy quyền cho bên thứ ba nhân danh họ xác lập giao dịch với người được thực hiện công việc, mà bên thứ ba vẫn xác lập giao dịch, sau đó người

có công việc mới biết và đồng ý, thì không được xem là “thực hiện công việc không có ủy quyền” Đây là trường hợp “xác lập giao dịch do không

có quyền đại diện”, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ với người được đại diện (mà ở đây là người có công việc được thực hiện) theo khoàn 1 Điều

142 BLDS 2015

“Không biết hoặc biết mà không phản đối”

Điều kiện này tương ứng với khoản 1 Điều 578 Bộ luật này về chấm dứt thực hiện công việc không có ủy quyền theo yêu cầu của người có công việc được thực hiện Trong trường hợp bị phản đối mà vẫn tiếp tục thực hiện thì “không thuộc chế độ này”7 Khi đó, việc cố tình tiếp tục thực hiện có thể bị xem là hành vi “trái pháp luật”, phải bồi thường thiệt hại dựa trên quy định tại khoản 7 Điều 8 BLDS 2015

Và việc quy định “không phản đối” ở đây không đồng nghĩa với

“đồng ý”, vì không được quy định trong pháp luật dân sự hiện hành Cần phân biệt rằng, trong trường hợp xác lập giao dịch không có quyền đại diện, luật quy định “người được đại diện biết mà không phản đối trong thời hạn hợp lý” thì vẫn được xem là “đồng ý”, “tức làm phát sinh hệ quả pháp lý với hành vi đại diện”8 Như vậy, khác với trường hợp “thực hiện công việc không có ủy quyền” (chỉ cần có sự phản đối thì phải chấm dứt thực hiện); việc phản đối một giao dịch do không có quyền đại diện” nhưng quá thời hạn (khi công việc được thực hiện gần xong hoặc

đã xong) thì không được chấp nhận, và giao dịch đó vẫn được xem là có hiệu lực Có thể thấy rằng, điều kiện “không phản đối” trong chế định

“thực hiện công việc không có ủy quyền” có tính tuyệt đối cao hơn hẳn các chế định khác

Đối với công việc: “vì lợi ích của người có công việc”

Pháp luật dân sự không hạn chế sự lợi ích (nếu có) của người thực hiện công việc, bên thứ ba hoặc cộng đồng Tức là, chỉ cần đảm bảo “khi thực hiện công việc chủ yếu là vì lợi ích của người có công việc, thì hành

vi đó được coi là thực hiện công việc không có ủy quyền”9

Trang 7

Căn cứ xác định có tồn tại yếu tố lợi ích ở đây, không cần là một kết quả xác định, phù hợp với mong muốn của người có công việc được thực hiện Điều này có nghĩa rằng, chỉ cần việc thực hiện công việc này xuất phát từ sự tự nguyện, nhằm đem lại lợi ích cho người có công việc cần thực hiện đảm bảo các quy định về nghĩa vụ thực hiện công việc (quy định tại Điều 575 BLDS 2015), thì người có công việc phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình, kể cả khi công việc không đạt được kết quả theo ý muốn của mình theo khoản 1 Điều 576 BLDS 2015)

Câu 5: Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên

cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” trong BLDS 2015 không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

Theo Điều 574 BLDS 2015 quy định: “Thực hiện công việc không có

ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối”

Trong tình huống này có thể xác định như sau:

Nhà thầu C đã kí hợp đồng với Ban B nên C có nghĩa vụ thực hiện công việc xây dựng công trình công cộng theo như thỏa thuận trong hợp đồng

C không tự nguyện thực hiện công việc này mà C phải thực hiện điều đó theo đúng nghĩa vụ của mình như trong hợp đồng ký với B

C thực hiện công việc không phải chỉ vì lợi ích của A mà còn hoàn toàn vì mục đích được hưởng thù lao theo hợp đồng thỏa thuận với B

A hoàn toàn không bắt việc C làm mà A nghĩ rằng B là người thực hiện công việc

Vì vậy, dựa trên các cở sở đã đưa ra thì nhà thầu C không thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện nghĩa vụ trên cơ sở thực hiện công việc không có ủy quyền

Vấn đề 2: Thực hiện nghĩa vụ (thanh toán một khoản tiền) Câu 1: Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như thế nào? Qua trung gian là tài sản gì?

Trang 8

Theo điểm a, b Điều 1 Mục 1 Thông tư 01/TTLT trên thì việc tính lại khoản giá trị tiền phải thanh toán được tính như sau:

Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ dân sự trước ngày 1/7/1996 và trong thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá trị gạo tăng từ 20% trở lên, thì quy đổi các khoản tiền đó ra gạo theo giá trị gạo loại trung bình

ở địa phương, tại thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ, rồi tính số lượng gạo đó thành tiền theo giá gạo tại thời điểm xét xử sơ thẩm để buộc bên có nghĩa vụ về tài sản thnah toán và chịu án phí theo

số tiền đó

Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ xảy ra sau ngày 1/7/1996 hoặc tuy xảy ra trước ngày 1/7/1996 , nhưng trong thời gian từ thời điểm gây ra thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử

sơ thẩm mà giá gạo không tăng tuy có tăng ở mức dưới 20% thì Tòa án chỉ xác định các khoản tiền đó để buộc bên có nghĩa vụ phải thanh toán bằng tiền Trong trường hợp người có nghĩa vụ lỗi thì ngoài khoản tiền nói trên còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn

do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chậm trả lại tại thời điểm xét xử sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 313 BLDS, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác

Việc tính lại khoản giá trị tiền phải trải qua trung gian là gạo

Câu 2: Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền cụ thể là bao nhiêu? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời

Cơ sở pháp lý: Điểm a Khoản 1 thông tư 01/TTLT ngày 19/06/1997 , điều 280 BLDS 2015 , Điều 328 BLDS 2015

Theo khoản 2 Điều 328: Đặt cọc

“2 Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.” Như vậy, do sự việc phát sinh trước ngày 1/7/1996 , Ông Qưới (bên nhận đặt cọc) đã đơn phương chấm dứt hợp

Trang 9

đông nên ông có nghĩa vụ phải hoàn trả lại tiền đặt cọc Cụ thể ngày 15/11/1973, ông Quới cho bà Cô thuê nhà và nhận tiền thế chân của bà

Cô 50.000đ, giá gạo trung bình vào năm 1973 là 137đ/kg và giá gạo trung bình hiện nay theo Sở tài chính Tp HCM là 15.000đ/kg nên số lượng gạo được quy đổi là 365 kg Số tiền Ông Qưới phải trả cho bà cô

là : 365 x 15000= 5.474.000đ

Câu 3: Thông tư trên có điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT không? Vì sao?

Thông tư trên không điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT Thông tư trên điều chỉnh để bảo đảm quyền lợi chính đáng về tài sản cho các bên liên quan trong các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động và hành chính khi có sự thay đổi về giá cả hay trong các trường hợp bên có nghĩa vụ về tài sản chưa thực hiện, chậm thực hiện theo thoả thuận, chưa thi hành án gây nên; để thi hành nghiêm chỉnh các quy định của Bộ luật dân sự (có hiệu lực từ ngày 1/7/1996) Bên cạnh đó, nó còn điều chỉnh nghĩa vụ tài sản là các khoản tiển, vàng (các khoản tiền, tiền trả công, tiền lương, tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính) và nghĩa vụ tài sản là hiện vật, chứ không nêu về việc điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản

Câu 4: Đối với tình huống trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT, nếu giá trị nhà đất được xác định là 1.697.760.000đ như Tòa án cấp sơ thẩm đã làm thì, theo Tòa án nhân dân cấp cao tại

Hà Nội, khoản tiền bà Hường phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể

là bao nhiêu? Vì sao?

Vì trong phần nhận định, Tòa án nhân dân cấp cao Hà Nội đã nêu:“Bà Hương phải thanh toán cho cụ Bảng số tiền còn nợ tương đương 1/5 giá trị nhà, đất theo định giá tại thời điểm xét xử sơ thẩm mới đúng với hướng dẫn tại vào điểm b2, tiểu mục 2.1, mục 2, phần II Nghị Quyết

số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao”

Căn cứ vào điểm b2, tiểu mục 2.1, mục 2, phần II Nghị Quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân

Trang 10

dân tối cao:“[…]Nếu công nhận phần hợp đồng trong trường hợp bên chuyển nhượng giao diện tích đất có giá trị lớn hơn số tiền mà họ đã nhận, thì Toà án buộc bên nhận chuyển nhượng thanh toán cho bên chuyển nhượng phần chênh lệch giữa số tiền mà bên nhận chuyển nhượng đã trả so với diện tích đất thực tế mà họ đã nhận tại thời điểm giao kết hợp đồng theo giá trị quyền sử dụng đất tính theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm[…]”

Do đó, theo Tòa án nhân dân cấp cao Hà Nội, khoản tiền bà Hường phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho cụ Bảng tại thời điểm xét

xử sơ thẩm là 1.697.760.000đ

Câu 5: Hướng như trên của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có tiền lệ chưa? Nêu một tiền lệ (nếu có)?

Hướng như Quyết định số 15/2018/DS-GĐT của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã có tiền lệ rồi

Ví dụ: Quyết định 741/2011/DS-GĐT ngày 26-9-2011 của Tòa dân

sự Tòa án nhân dân tối cao về “Vụ án tranh chấp nhà đất và đòi nợ”

Ông Hoanh và ông An có ký hợp đồng chuyển nhượng 1.230 m2 đất với giá 500.000.000đ Ông An đã trả cho ông Hoanh 265.000.000đ, còn nợ ông Hoanh 235.000.000đ; nhưng ông An đã nhận đất và ông An

đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên

Theo báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tại công văn 34/BC.VKST-P5 thì ông An đã bán thửa đất mà ông nhận chuyển nhượng của ông Hoanh Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm buộc các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất giữa ông Hoanh và ông An là có căn cứ Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng ông An đã vi phạm hợp đồng, không thực hiện nghĩa vụ trả tiền chuyển nhượng đất đúng thời hạn.Theo điều 440

Bộ luật dân sự 2015 quy định như sau:

“1 Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền theo thời hạn, địa điểm và mức tiền được quy định trong hợp đồng

Trường hợp các bên chỉ có thỏa thuận về thời hạn giao tài sản thì thời hạn thanh toán tiền cũng được xác định tương ứng với thời hạn giao tài sản Nếu các bên không có thỏa thuận về thời hạn giao tài sản và

Ngày đăng: 13/03/2022, 14:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w