LỜI NÓI ĐẦU Bài giảng học phần Nhập môn nghề công nghệ kỹ thuật ô tô được biên soạn để giúp sinh viên năm thứ nhất làm quen với môi trường mới; trang bị cho sinh viên về định hướng nghề nghiệp, các kỹ năng mềm cũng như nền tảng đạo đức nghề nghiệp. Bài giảng sẽ cung cấp cho sinh viên những nội dung chính sau đây: Trang bị các kiến thức cơ bản liên quan đến ngành công nghệ kỹ thuật ô tô, kiến thức tổng quan về ô tô. Hiểu biết về đạo đức nghề nghiệp, đạo đức học tập, đạo đức khoa học. Trang bị các kỹ năng về tìm kiếm thông tin, xử lý thông tin và số liệu. Các kỹ năng mềm cần thiết: cách thức thuyết trình, viết và trình bày văn bản; kỹ năng học tập tích cực, làm việc theo nhóm, kỹ năng giao tiếp, một số thuật ngữ Anh văn chuyên ngành căn bản … Định hướng nghề nghiệp, giúp cho sinh viên hiểu biết về công việc sẽ làm sau khi tốt nghiệp nhằm nâng cao lòng yêu nghề và tinh thần học tập tích cực. Sinh viên sử dụng bài giảng này để tự học chuẩn bị bài trước khi lên lớp và ôn tập nội dung cốt lõi theo ngân hàng câu hỏi thi kết thúc học phần.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
BỘ MÔN KỸ THUẬT Ô TÔ
BÀI GIẢNG NHẬP MÔN CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT Ô TÔ
(Lưu hành nội bộ)
Dùng cho hệ đào tạo: Đại học
Ngành: Công nghệ kỹ thuật Ô tô
Quy nhơn, tháng 02 năm 2022
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Bài giảng học phần Nhập môn nghề công nghệ kỹ thuật ô tô được biên soạn
để giúp sinh viên năm thứ nhất làm quen với môi trường mới; trang bị cho sinh viên
về định hướng nghề nghiệp, các kỹ năng mềm cũng như nền tảng đạo đức nghềnghiệp
Bài giảng sẽ cung cấp cho sinh viên những nội dung chính sau đây:
- Trang bị các kiến thức cơ bản liên quan đến ngành công nghệ kỹ thuật ô tô,kiến thức tổng quan về ô tô
- Hiểu biết về đạo đức nghề nghiệp, đạo đức học tập, đạo đức khoa học
- Trang bị các kỹ năng về tìm kiếm thông tin, xử lý thông tin và số liệu Các
kỹ năng mềm cần thiết: cách thức thuyết trình, viết và trình bày văn bản; kỹ nănghọc tập tích cực, làm việc theo nhóm, kỹ năng giao tiếp, một số thuật ngữ Anh vănchuyên ngành căn bản …
- Định hướng nghề nghiệp, giúp cho sinh viên hiểu biết về công việc sẽ làmsau khi tốt nghiệp nhằm nâng cao lòng yêu nghề và tinh thần học tập tích cực
Sinh viên sử dụng bài giảng này để tự học chuẩn bị bài trước khi lên lớp và
ôn tập nội dung cốt lõi theo ngân hàng câu hỏi thi kết thúc học phần
Trang 32.2.Các thông số chính và thuật ngữ của ôtô 632.3 Số VIN (Vihicle Indentification Number) 692.4.Các công ty ô tô nổi tiếng và biểu tượng 76
3.3
Chương 4: Một số công nghệ mới áp dụng trên ô tô 197
4.1.Công nghệ tích trữ năng lượng, năng lượng mới 1974.2
Công nghệ giao tiếp, giám sát trên xe ô tô 2004.3.Công nghệ nâng cao công suất trên xe ô tô 201
Trang 44.4.Công nghệ an toàn, bảo vệ môi trường trên xe ô tô 2044.5 Công nghệ giải trí và tiện ích trên xe ô tô 206
5.1
5.2Tìm kiếm thông tin qua sách chuyên ngành 2095.3Tìm kiếm thông tin qua các giáo trình điện tử 2115.4Tìm kiếm thông tin qua các tạp chí chuyên ngành 211
Chương 6: Vấn đề an toàn vệ sinh lao động trong lĩnh vực ô tô 212
6.2 Những tai nạn, nguyên nhân gây mất an toàn lao động và cách phòng
6.3 Vấn đề bảo hộ lao động trong lĩnh vực ô tô 2196.4 Quy trình 5S và vấn đề vệ sinh trong lĩnh vực ô tô 223
7.1 Giới thiệu các dụng cụ thông thường và chuyên dùng 226
Trang 5BẢNG VIẾT TẮT
ECPD Engineering Council for Professional Development - Hội đồng kỹ sư pháttriển chuyên nghiệp.
ABET
Accreditation Board for Engineering and Technology - Tổ chức phi
chính phủ chuyên về đánh giá tiêu chuẩn của một số chương trìnhgiáo dục như "khoa học ứng dụng, máy tính, kỹ sư, công nghệ"
TCN Trước Công nguyên (các năm trước mốc thứ tự 0 của năm dương lịch).
GDP Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm quốc dân.
Tp.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
GDANQP Giáo dục an ninh quốc phòng
OJT On the job training - Đào tạo thông qua công việc thực tế.
TC, HK, HT Tín chỉ, Học kỳ, Hệ thống
TT, TH, TN Thực tập, Thực hành, Thí nghiệm
VIP Very Important Person - Người rất quan trọng.
R&D Research and Development - Nghiên cứu và Phát triển.
USD United States dollar - Đơn vị tiền tệ của Hoa Kỳ (Đô la Mỹ)
Trang 6CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGÀNH CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT Ô TÔ, TÌNH HÌNH PHÁT VÀ CÔNG VIỆC SAU KHI TỐT NGHIỆP
1.1 Giới thiệu về bộ môn Kỹ thuật ô tô, trường Đại học Quy Nhơn
Trong xu hướng phát triển của xã hội hiện đại, Việt Nam xác định công nghiệp
ô tô là ngành quan trọng, cần ưu tiên phát triển để góp phần công nghiệp hóa đấtnước Hơn thế nữa, việc đầu tư của các hãng ô tô nước ngoài vào Việt Nam đangphát triển khá nhanh, do đó liên tục nhiều năm qua ngành Công nghệ kỹ thuật ô tôđược đưa vào danh mục các ngành “nóng” về nhu cầu lao động, và nhanh chóng trởthành xu thế lựạ chọn cho các bạn trẻ
Ngành công nghệ kỹ thuật ô tô là ngành học tích hợp kiến thức của nhiều lĩnhvực: cơ khí, tự động hóa, điện - điện tử và công nghệ chế tạo máy, chuyên về khaithác, sử dụng và quản lý dịch vụ kỹ thuật ô tô như điều hành sản xuất phụ tùng, lắpráp, cải tiến, nâng cao hiệu quả sử dụng
Học ngành công nghệ kỹ thuật ô tô, sinh viên được trang bị các kiến thức và
kỹ năng nền tảng và chuyên sâu về cơ khí ô tô - máy động lực, hệ thống truyềnđộng - truyền lực, cơ cấu khí, hệ thống điều khiển, … để có khả năng áp dụngnhững nguyên lý kỹ thuật cơ bản, kỹ năng thực hành cao và các kỹ năng liên quanđến ô tô
Các môn học chuyên ngành tiêu biểu và đặc trưng của ngành công nghệ kỹthuật ô tô mà sinh viên được học như: Động cơ đốt trong, tính toán ô tô, hệ thốngđiện - điện tử ô tô, hệ thống điều khiển tự động trên ô tô, Công nghê chẩn đoán, sửachữa và kiểm định ô tô, Hệ thống an toàn và tiện nghi trên ô tô, Quản lý dịch vụ ô
tô, … sinh viên còn được chú trọng cung cấp các kỹ năng chuyên môn như khaithác, sử dụng và dịch vụ kỹ thuật ô tô cũng như hoạt động điều khiển và lắp ráp,góp phần cải tiến, nâng cao hiệu quả sử dụng phương tiện và phương thức kinhdoanh ô tô trên thị trường Đây là những kỹ năng hết sức cần thiết cho một kỹ sưngành Công nghệ Kỹ thuật ô tô trong tương lai
Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển, thói quen đi lại của con người cũngđược thay đổi, thì ô tô được xem là phương tiện thông dụng và được ưa chuộng ởhầu khắp các nước trên thế giới Vì vậy việc bảo trì, bảo dưỡng động cơ, các hệthống tự động cho đến nghiên cứu, cải tiến công nghệ và dòng sản phẩm mới theo
xu hướng thị trường đều đòi hỏi vai trò quan trọng của các chuyên gia và kỹ sưcông nghệ ô tô có trình độ kỹ thuật cao Do đó, sinh viên ngành công nghệ kỹ thuật
ô tô sau khi ra trường có thể đảm nhận các vị trí như: Kỹ sư vận hành, giám sát sảnxuất phụ tùng, phụ kiện và lắp ráp ô tô, máy động lực tại các nhà máy sản xuất, cơ
sở sửa chữa, bảo trì, bảo dưỡng ô tô; Kiểm định viên tại các trạm đăng kiểm ô tô;Nhân viên kinh doanh tại các doanh nghiệp kinh doanh ô tô, máy động lực, phụtùng ô tô;
Tại Đại học Quy Nhơn, ngoài kiến thức chuyên môn, sinh viên ngành Côngnghệ kỹ thuật ô tô được thực hành nâng cao tay nghề, áp dụng kiến thức - kỹ năng
về quy trình công nghệ và quản lý sản xuất ô tô vào thực tế, … tại xưởng ô tô đượcđầu tư quy mô, hiện đại ngay tại trường Song song đó, là cơ hội được tham gia thựctập tại các xưởng lắp ráp ô tô, xưởng sản xuất phụ tùng, trung tâm bảo dưỡng,showroom,
Trang 7… lớn trên địa bàn tỉnh Bình Định và của cả nước Do vậy, sinh viên ra trường có thể
Trang 8áp dụng được ngay những nguyên lý kỹ thuật cơ bản, kỹ năng thực hành cao và các
kỹ năng kỹ thuật vào công việc của mình
Đặc biệt sinh viên còn được chú trọng đào tạo kỹ năng tiếng Anh để có thể dễdàng tiếp xúc với những tài liệu tham khảo của nước ngoài về chuyên ngành mìnhhọc, từ đó tăng thêm cơ hội và năng lực của bản thân để đảm đương công việc củangười kỹ sư công nghệ ô tô, nhà quản lý, nhà kinh doanh, những chuyên gia giỏi vềdịch vụ ô tô, cơ khí, chế tạo ô tô với mức thu nhập hấp dẫn, nhiều cơ hội thăng tiến
và khẳng định bản thân trong nền kinh tế hiện đại
Thông tin tuyển sinh và đào tạo ngành Công nghệ kỹ thuật ô tô tại bộ môn kỹthuật ô tô, Trường Đại học Quy nhơn:
1.1.1.Mục tiêu đào tạo
Đào tạo kỹ sư ngành Công nghệ kỹ thuật ô tô có phẩm chất chính trị, đạo đức;
có kiến thức toàn diện về các nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội, kiến thức khoahọc cơ bản, kiến thức cơ sở và chuyên ngành về công nghệ kỹ thuật ô tô, có kỹ năngthực hành, khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề tronglĩnh vực ô tô; có khả năng học tập nâng cao trình độ; có sức khỏe, có trách nhiệmnghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc trong các tổ chức, đơn vị có hoạtđộng liên quan đến lĩnh vực ô tô, đáp ứng nhu cầu xã hội và hội nhập quốc tế củađất nước
1.1.2.Đặc điểm nổi bật của chương trình đào tạo
- Chương trình đào tạo được thiết kế theo hướng ứng dụng, khối lượng các họcphần thực tập nhiều
- Môi trường học tập thân thiện, năng động, cơ sở vật chất hiện đại, phát huy tối đa khả năng sáng tạo của sinh viên
- Sinh viên được học tập, thực tập, trải nghiệm thực tế tại các tập đoàn, công
ty, showroom, garage lớn trên địa bàn tỉnh Bình Định và các tỉnh lân cận
1.1.3.Nội dung chương trình
Thời gian đào tạo 4,5 năm, bao gồm 150 tín chỉ, chưa kể phần nội dung Giáo dục thể chất (3 tín chỉ) và Giáo dục quốc phòng (8 tín chỉ), trong đó:
- Khối kiến thức giáo dục đại cương:
Chính trị, thể chất, toán, lý, quốc phòng an ninh, ngoại ngữ, tin học
- Khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp:
Trang 9Khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp cung cấp cho sinh viên kiến thức từ cơbản đến chuyên ngành, giúp cho sinh viên có kiến thức, kỹ năng và mức độ tráchnhiệm để đáp ứng nhu cầu công việc xã hội trong lĩnh vực công nghiệp ô tô, baogồm:
+ Khối kiến thức cơ sở ngành:
Khối kiến thức cơ sở ngành giúp người học có kiến thức cơ sở toàn diện đểphục vụ cho khối kiến thức chuyên ngành Đồng thời, trang bị cho sinh viên kiếnthức cơ bản chuyên môn cũng như các hoạt động khác liên quan đến chuyên môn.+ Khối kiến thức chuyên ngành:
Khối kiến thức chuyên ngành giúp người học có kiến thức chuyên môn toàndiện để giải thích, tính toán, ứng dụng vào việc thiết kế, vận hành và so sánh cácgiải pháp thực hiện công nghệ kỹ thuật ô tô cũng như các hoạt động khác liên quanđến chuyên môn; rèn luyện các kỹ năng chung và kỹ năng chuyên môn; đồng thờigiúp người học nhận thức được trách nhiệm của mình đối với nghề nghiệp và cộngđồng
Khối kiến thức thực tập, thực tế giúp người học có kiến thức thực tế về ngành nghề,
so sánh đối chiếu giữa kiến thức được học tại nhà trường và thực tế tại doanhnghiệp, rèn luyện được kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm; nâng cao ý thức tráchnhiệm đạo đức và nghề nghiệp; hình thành tác phong công nghiệp và rèn luyện nănglực nghề
+ Khối kiến thức bổ trợ:
Khối kiến thức bổ trợ giúp người học có kiến thức về kỹ năng mềm, giao tiếplinh hoạt trong cuộc sống, thích ứng với xã hội năng động Định hướng nghềnghiệp, xây dựng kỹ năng nghề nghiệp và định hướng tương lai cho kỹ sư sau tốtnghiệp
+ Đồ án tốt nghiệp:
Đồ án tốt nghiệp giúp cho người học phân tích, vận dụng được các kiến thứctoàn diện vào việc tính toán, mô phỏng, thiết kế một hệ thống cấu thành trong ô tôứng dụng trong đời sống và công nghiệp sản xuất
1.1.4.Phẩm chất và kỹ năng cần có
- Phẩm chất đạo đức tốt, có sức khỏe và lối sống lành mạnh
- Tinh thần ham học hỏi, thái độ học tập nghiêm túc, có tính kiên trì, nhẫn nại,
có trách nhiệm
- Có kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng sắp xếp và quản lý thời gian một cáchhiệu
1.1.5.Vị trí việc làm
- Làm việc với vai trò trực tiếp quản lý hoặc trong lĩnh vực dịch vụ kỹ thuật ô
tô tại các công ty, nhà máy sản xuất-lắp ráp ô tô, lập trình, thiết kế phần mềm, hệthống điều khiển ô tô, công ty kinh doanh và dịch vụ bảo trì, sửa chữa ô tô, các cơquan kiểm định cơ giới đường bộ, các đơn vị quản lý hành chính và chuyên mônliên quan đến ngành
Trang 10- Làm việc với vai trò trưởng phòng kỹ thuật của các công ty, nhà máy, xínghiệp, viện nghiên cứu chuyên ngành cơ khí ô tô và cơ khí động lực hay giảngviên giảng dạy trong các trường cao đẳng, đại học.
Trang 11- Trưởng ngành khai thác, bảo trì, sửa chữa ô tô và thiết bị động lực trong doanh nghiệp.
- Trưởng garage, trưởng chuyền lắp ráp, sản xuất ô tô
- Chuyên viên kiểm định trong các trạm đăng kiểm
- Chủ doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ ô tô
- Giảng dạy và làm nghiên cứu ở các viện, trường đại học, cao đẳng, trung cấp
về lĩnh vực Công nghệ kỹ thuật ô tô
1.1.6. Bằng cấp nhận được
Kỹ sư: Công nghệ kỹ thuật ô tô (thuộc hệ thống văn bằng quốc gia)
1.1.7. Cơ hội học tiếp trình độ cao hơn
Sinh viên tốt nghiệp có thể tiếp tục học sau đại học (Thạc sĩ) tại Trường ĐH Quy Nhơn, các trường và học viện trong nước và trên thế giới
1.1.8.Đối tác chiến lược
Các đơn vị hợp tác đào tạo: ĐH Bách khoa Đà Nẵng; ĐH Sư phạm Kỹ thuật
Tp Hồ Chí Minh; ĐH Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long
Các doanh nghiệp: Công ty Cổ phần ô tô Trường Hải (THACO), Công tyTNHH một thành viên Toyota Bình Định, Công ty CP ô tô Bình Định (HyundaiBình Định), Mitsubishi Quy Nhơn, Công ty CP ô tô Bình Định - Hynhdai BìnhĐịnh, Công ty TNHH TM và DV ô tô Honda Dũng Tiến, …
1.1.9.Người phụ trách tư vấn tuyển sinh
TBM: TS Nguyễn Văn Anh
Đ/C: 170 An Dương Vương, Quy Nhơn, Bình Định
Khác (TT, ĐA, BTL)
Giờ tự học
I Khối kiến thức giáo dục đại cương (24 TC+ 12 TC)
I.1 Khoa học chính trị, Pháp luật (13 TC)
Trang 123 1130300 Kinh tế chính trị Mác - Lênin 2 2 27 6 57
I.2 Giáo dục thể chất, Giáo dục quốc phòng - AN (12 TC)
23 1120184 Giáo dục thể chất 1 (Võ cổtruyền Việt Nam 1) 1 1 4 26 21
24 1120185 Giáo dục thể chất 2 (Võ cổtruyền Việt Nam 2) 2 1 4 26 21
25 1120186 Giáo dục thể chất 3 (Võ cổtruyền Việt Nam 3) 3 1 4 26 21
Trang 13I.4 Khoa học xã hội (4 TC)
II Khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp (126 TC)
II.1 Kiến thức cơ sở ngành và khối ngành (55 TC)
Trang 1448 2040002 Kỹ thuật an toàn và môi trường 3 2 25 5 60
II.2 Kiến thức chuyên ngành (60 TC)
II.2.1 Các học phần bắt buộc (35 TC)
57 2040007 Nguyên lý động cơ đốt trong vàđộng cơ điện 5 3 30 15 90
58 2040009 Kết cấu và tính toán động cơ đốttrong 5 3 30 15 90
63 2040013 Kỹ thuật chẩn đoán và bảodưỡng ô tô 6 2 15 30 30
Trang 15II.2.2 Các học phần tự chọn: (8/24 TC)
78 2040032 Ứng dụng máy tính trong đolường và điều khiển ô tô 8 2 30 0 60
83 2040036 Ứng dụng máy tính trong thiết kếvà mô phỏng ô tô 8 2 30 0 60
II.3 Thực tập nghề, thực tập tốt nghiệp (17 TC)
III Khối kiến thức bổ trợ (3 TC)
Trang 161.1.11 Chuẩn đầu ra ngành công nghệ kỹ thuật ô tô của Trường Đại học QNU
Người học tốt nghiệp chương trình tích hợp Cử nhân - Kỹ sư Trường Đại họcQuy Nhơn, ngành Công nghệ kỹ thuật ô tô đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra bậc 7 theoKhung trình độ quốc gia Việt Nam:
PLO1: Có khả năng vận dụng được kiến thức cơ bản về khoa học xã hội vàkhoa học tự nhiên để có được nhận thức và hành động đúng trong cuộc sống, tronghọc tập và nghiên cứu
PLO2: Có kiến thức cơ sở kỹ thuật và cơ sở ngành đáp ứng yêu cầu tiếp cận vànghiên cứu ngành công nghệ kỹ thuật ô tô
PLO3: Có kiến thức chuyên sâu đặc thù toàn diện về ngành công nghệ kỹthuật ô tô và khoa học kỹ thuật liên ngành để phân tích, thiết kế và giải quyết nhữngvấn đề kỹ thuật mới, phức tạp trong lĩnh công nghệ kỹ thuật ô tô
PLO4: Có khả năng vận dụng kiến thức ngành để giải quyết các vấn đề kỹthuật trong thực tiễn sản xuất thuộc lĩnh vực công nghệ kỹ thuật ô tô
PLO5: Có kỹ năng tổ chức, quản trị; có năng lực phản biện chuyên mônchuyên sâu đặc thù thuộc lĩnh vực công nghệ kỹ thuật ô tô; có đạo đức, trách nhiệmnghề nghiệp đối với ngành; có khả năng thích nghi và tự định hướng nghề nghiệpchuyên sâu
PLO6: Có kỹ năng truyền đạt tri thức và làm việc nhóm hiệu quả trong môitrường đa ngành, đa văn hóa
PLO7: Đạt chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản (theo quy địnhhiện hành về Chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin do Bộ Thông tin vàTruyền thông ban hành); Trình độ ngoại ngữ: Tiếng Anh tối thiểu đạt bậc 3/6 theoKhung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam
PLO8: Có năng lực tư duy thiết kế sáng tạo, nghiên cứu phát triển sản phẩmchuyên sâu đặc thù thuộc lĩnh vực công nghệ kỹ thuật ô tô đáp ứng tiêu chuẩn vàcác ràng buộc về sức khỏe, an toàn, môi trường, kinh tế - xã hội trong xu hướngtoàn cầu hóa
1.2 Tình hình phát triển của công nghiệp ô tô Thế Giới, Việt Nam
1.2.1.Tổng quan về kỹ thuật
Kỹ thuật (tiếng Anh: engineering), có khi còn gọi là ngành kỹ sư, là việc ứng
dụng kiến thức khoa học để mang lại giá trị thực tiễn như việc thiết kế, chế tạo, vậnhành những công trình, máy móc, quy trình, và hệ thống một cách hiệu quả và kinh
tế nhất Ngành kỹ thuật vô cùng rộng, nó bao gồm một loạt các lĩnh vực kỹ thuậtđặc thù hơn, mỗi lĩnh vực nhấn mạnh đến những lĩnh vực công nghệ và những kiểu
ứng dụng riêng Những người hành nghề kỹ thuật được gọi là kỹ sư.
Tổ chức ECPD (tiền thân của tổ chức ABET) của các kỹ sư Hoa Kỳ địnhnghĩa "kỹ thuật" là việc ứng dụng một cách sáng tạo những nguyên lý khoa học vàoviệc thiết kế hay phát triển các cấu trúc, máy móc, công cụ, hay quy trình chế tạo,hay những công trình sử dụng chúng một cách riêng lẻ hay kết hợp với nhau; hayvào việc xây dựng hay vận hành những đối tượng vừa kể với sự ý thức đầy đủ vềthiết kế của
Trang 17chúng; hay để dự báo đặc tính hoạt động của chúng khi được vận hành trong nhữngđiều kiện nhất định; tất cả những việc này đều hướng đến một tính năng mongmuốn, tính kinh tế khi vận hành, và sự an toàn đối với con người và của cải.
Trong tiếng Việt, các từ "khoa học", "kỹ thuật", và "công nghệ" đôi khi đượcdùng với nghĩa tương tự nhau hay được ghép lại với nhau (chẳng hạn "khoa học kỹthuật", "kỹ thuật công nghệ") Tuy vậy, kỹ thuật khác với khoa học và công nghệ.Khoa học là hệ thống kiến thức về những định luật, cấu trúc, và cách vận hành củathế giới tự nhiên, được đúc kết thông qua việc quan sát, mô tả, đo đạc, thực nghiệm,phát triển lý thuyết bằng các phương pháp khoa học Công nghệ là sự ứng dụngnhững phát minh khoa học vào những mục tiêu hoặc sản phẩm thực tiễn và cụ thểphục vụ đời sống con người, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp hoặc thương mại
Xe kéo tay được phát minh từ thế kỷ thứ 3 Máy hơi nước được phát minh năm 1784
Hình 1.1 Những phát minh điển hình về kỹ thuật
Ngành kỹ thuật đã tồn tại từ thời cổ đại, khi nhân loại nghĩ ra những phát minhđầu tiên như cái nêm, đòn bẩy, bánh xe, ròng rọc Thuật ngữ "kỹ thuật"
(engineering) và "kỹ sư" (engineer) có nguồn gốc từ thế kỷ 14, từ thuật ngữ
engineer nhằm nói về "những người chế tạo vũ khí quân sự", còn engine được dùng
để nói về các thiết bị dùng làm vũ khí công thành như máy bắn đá, máy lăng đá.Sau đó, khi việc thiết kế công trình dân sự, như nhà ở hoặc cầu, dần phát triển
trở thành một ngành kỹ thuật, thuật ngữ "kỹ thuật xây dựng dân dụng" (civil
engineering) bắt đầu chính thức được dùng để phân biệt những kỹ sư có chuyên
môn về công trình phi quân sự và những kỹ sư về quân sự
Các loại máy cơ đơn giản được nghiên cứu và đề cập đến đầu tiên bởi nhàkhoa học người Hy Lạp, Archimedes vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, khi ông
viết hai tác phẩm "Về sự cân bằng của các hành tinh" (On the Equilibrium of
Planes) và "Về các vật thể nổi" (On Floating Bodies) Tuy nhiên, việc phát minh ra
các loại máy cơ đơn giản đã có từ rất lâu trước đó Cái nêm và đòn bẩy được biếtđến từ thời Đồ Đá Bánh xe cùng với hệ cơ học "trục và bánh xe" được phát minh ởvùng Lưỡng Hà (Iraq ngày nay) vào khoảng thiên niên kỷ thứ 5 TCN Đòn bẩychính thức được ứng dụng làm công cụ lần đầu tiên vào khoảng 5.000 năm trước ởvùng Cận Đông, khi đó được người Ai Cập cổ đại sử dụng để làm cân và di chuyểnnhững vật nặng Đòn bẩy còn được ứng dụng làm cần kéo nước, loại cần cẩu đầutiên của nhân loại ở vùng Lưỡng Hà vào khoảng 3.000 năm TCN và ở Ai Cậpkhoảng 2.000 năm TCN Bằng chứng sớm nhất về việc sử dụng ròng rọc được tìmthấy ở vùng Lưỡng
Trang 18Hà từ khoảng 2.000 năm TCN và ở Ai Cập cổ đại vào thời Vương triều thứ MườiHai, giai đoạn từ 1991-1802 TCN.
Thời kỳ hiện đại, Động cơ hơi nước ra đời đã sử dụng than cốc để thay thế cho thancủi trong quá trình luyện gang thép, giúp giảm giá thành vật liệu và cung cấp nhiều loại vậtliệu mới dùng cho việc xây dựng cầu, sau đó sắt rèn được thay thế bởi ít gãy giòn hơn.Lĩnh vực cơ học cổ điển, hay còn gọi là cơ học Newton, được xem là nền tảngcủa những ngành kỹ thuật hiện đại Nhờ vào sự phát triển mạnh khi công việc kỹ sưdần trở thành những nghề nghiệp có chuyên môn cao vào thế kỷ 18, thuật ngữ "kỹthuật" được dùng cho những lĩnh vực có ứng dụng đến toán học và khoa học Tương
tự, những lĩnh vực thuộc nhóm ngành kỹ nghệ cơ học thời Trung cổ (mechanic arts)
như nông nghiệp, quân sự, xây dựng, luyện kim, , dần được tập hợp chung thànhnhóm các ngành "kỹ thuật"
Kỹ thuật là một ngành rộng và thường được chia thành nhiều ngành con.
Những ngành này liên quan đến những lĩnh vực công việc kỹ thuật khác nhau Mặc
dù ban đầu người kỹ sư có thể được đào tạo trong một ngành cụ thể, nhưng trongsuốt sự nghiệp của mình người này có thể làm việc liên quan đến nhiều ngành vàtrong những lĩnh vực công việc khác nhau Kỹ thuật thường được xem là có bốnngành chính: kỹ thuật cơ khí, kỹ thuật điện, kỹ thuật hóa học và kỹ thuật xây dựng
Kỹ thuật cơ khí là lĩnh vực nghiên cứu, thiết kế, và chế tạo những hệ thống cơ
học dựa trên những hiểu biết về những lĩnh vực cơ bản như động học, tĩnh học,nhiệt động lực học, cơ học lưu chất, truyền nhiệt, và cơ tính vật liệu Kỹ thuật cơkhí có bốn phân nhánh quan trọng: thiết bị máy móc dùng để sản xuất hàng hóa, sảnxuất năng lượng, thiết bị quân sự, và kiểm soát môi trường Những ứng dụng của kỹthuật cơ khí bao gồm hệ thống cung cấp điện và năng lượng, sản phẩm hàng không
và không gian, hệ thống vũ khí, phương tiện vận tải, động cơ đốt trong, tàu điện,chuỗi động (kinematic chain), công nghệ chân không, thiết bị cách ly rungđộng, robot, tuabin, thiết bị âm thanh, hệ thống sản xuất công nghiệp, kỹ thuật nhiệt,
và cơ điện tử
Kỹ thuật điện là lĩnh vực nghiên cứu, thiết kế, và chế tạo những hệ thống điện
và điện tử Những lĩnh vực chuyên ngành của kỹ thuật điện bao gồm: hệ thống nănglượng (như hệ thống sản xuất, truyền tải, phân phối và tiêu thụ điện), kỹ thuật điện
tử (mạch điện tử và các linh kiện như điện trở, tụ điện, diode bán dẫn, transistor), kỹthuật điều khiển, tự động hóa (như bộ xử lý tín hiệu số DSP, vi điều khiển, PLC,dụng cụ đo), vi mạch điện tử (như vi mạch tích hợp, công nghệ vi chế tạo, côngnghệ micro, công nghệ nano), hệ thống viễn thông (như cáp đồng trục, cáp quang),
hệ thống máy tính (như máy tính cá nhân hay hệ thống điều khiển trung tâm).Thông thường, hai phân ngành kỹ thuật điện tử và kỹ thuật máy tính được tách riêngthành hai lĩnh vực độc lập với kỹ thuật điện
Kỹ thuật hóa học là lĩnh vực thực hiện sự biến đổi vật chất dựa trên những
nguyên lý cơ bản về hóa học, vật lý, và toán học Những khái niệm đặc trưng củangành kỹ thuật hóa học bao gồm: tính toán, thiết kế và vận hành nhà máy, thiết kếquá trình hóa học (như sấy, lọc, trích ly, bay hơi) và hiện tượng vận chuyển (nhưtruyền khối, truyền nhiệt, cơ lưu chất) Những kỹ sư hóa học tham gia nghiên cứu,thiết kế và vận hành những quá trình hóa học ở quy mô công nghiệp như sản xuấthóa chất
Trang 19cơ bản, lọc hóa dầu, dược phẩm, polyme (như nhựa, sợi tổng hợp), giấy, năng lượnghạt nhân, luyện kim, nhiên liệu
Kỹ thuật xây dựng là lĩnh vực thiết kế, xây dựng, và bảo trì những công trình
công cộng, tư nhân, như hạ tầng cơ sở (sân bay, cảng, đường bộ, đường sắt, hệthống cấp nước và hệ thống xử lý nước, v.v ), cầu, đập nước, và các tòa nhà Kỹthuật xây dựng được chia thành nhiều chuyên ngành như kỹ thuật kết cấu, kỹ thuậtmôi trường, kỹ thuật khảo sát xây dựng Về mặt lịch sử, ngành kỹ thuật xây dựngđược tách ra từ ngành kỹ thuật quân sự
Kỹ thuật liên ngành là những lĩnh vực ứng dụng nhiều chuyên ngành kỹ thuật
cơ bản khác nhau Trong quá khứ, ngành kỹ thuật hàng hải và kỹ thuật khaikhoáng từng là những phân ngành kỹ thuật chính Những lĩnh vực kỹ thuật liênngành khác bao gồm: Kỹ thuật sản xuất, kỹ thuật âm thanh, kỹ thuật ăn mòn, kỹthuật điều khiển tự động, kỹ thuật không gian, kỹ thuật máy tính, kỹ thuật điện tử,
kỹ thuật thông tin, kỹ thuật dầu khí, kỹ thuật môi trường, kỹ thuật hệ thống, kỹ thuậtthu âm, kỹ thuật kiến trúc, kỹ thuật nông nghiệp, kỹ thuật hệ sinh học, kỹ thuật sinhhọc dược, kỹ thuật địa chất, kỹ thuật dệt, kỹ thuật công nghiệp, kỹ thuật vật liệu và
kỹ thuật hạt nhân Những chuyên ngành kỹ thuật này thuộc 36 viện thành viênthuộc Hội đồng Kỹ thuật Anh quốc
1.2.2.Vai trò của ngành công nghệ kỹ thuật ô tô trong nền kinh tế quốc dân
Ngành giao thông vận tải nói chung và xe ô tô nói riêng là công cụ cung cấpdịch vụ để di chuyển người hoặc hàng hóa, cũng như cơ sở hạ tầng giao thông Vềmặt kỹ thuật, giao thông vận tải là một nhóm nhỏ của ngành công nghiệp, bao gồmvận tải hàng không, hàng hải, đường bộ, đường sắt và cơ sở hạ tầng giao thông vậntải
Đặc điểm của ngành giao thông vận tải:
- Hiệu suất của các công ty trong ngành vận tải rất nhạy cảm với sự biến độngthu nhập của công ty và giá dịch vụ vận tải Các yếu tố chính ảnh hưởng đến thunhập của công ty bao gồm chi phí nhiên liệu, chi phí lao động, nhu cầu dịch vụ, sựkiện địa chính trị và qui định của chính phủ
- Nhiều trong số các yếu tố trên được kết nối với nhau Ví dụ: nếu chính phủthông qua các qui định khiến việc kiếm bằng lái xe thương mại trở nên khó khănhơn, thì điều này sẽ làm giảm việc cung cấp tài xế, tăng chi phí thuê lái xe
- Giá dầu là một yếu tố chính trong lĩnh vực vận chuyển, vì giá hàng hóa nóichung bị ảnh hưởng bởi chi phí vận chuyển Giá xăng và nhiên liệu tăng sẽ làm tăngchi phí cho một công ty vận tải, ăn vào lợi nhuận và có khả năng làm giảm giá cổphiếu của công ty đó
Nhu cầu tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ của người tiêu dùng ngày càng gia tăngtrên toàn thế giới theo xu hướng toàn cầu hóa và sự giàu có Trong thập niên qua,hàng ngàn sản phẩm đã được sản xuất và hiện đang được bán và phân phối chongười tiêu dùng khắp nơi trên thế giới Để đáp ứng yêu cầu của thị trường được mởrộng nhưng cũng đầy thách thức và việc tăng nhanh những sản phẩm và dịch vụmới, nhiều hãng kinh doanh đã tăng quy mô và mức độ phức hợp của hãng mình.Vận hành nhiều nhà máy đang thay cho việc chỉ vận hành một nhà máy Việc phânphối sản phẩm từ
Trang 20điểm xuất xứ đến điểm tiêu dùng đang trở thành một yếu tố cấu thành quan trọngtrong tổng sản phẩm quốc dân (GDP) của nhiều quốc gia công nghiệp Ví dụ ở Mỹ,9,9% GDP là do ngành công nghiệp vận chuyển (logistics) đóng góp Đầu tư chophương tiện vận tải và phân phối, không kể các nguồn công cộng, ước tính hàngtrăm tỷ USD Công nghiệp vận tải nói chung và vai trò của chiếc ô tô nói riêng đã
hỗ trợ cho nhiều hoạt động và chuỗi giao dịch kinh tế Nếu hàng hóa không đượcvận chuyển và phân phối đúng địa điểm hoặc hàng không ở trong tình trạng tốt thìkhông thể bán được hàng và như vậy toàn bộ hoạt động kinh tế trong chuỗi cungứng sẽ bị ảnh hưởng Là một mắc xích trong chuổi cung ứng toàn cầu, năng lực vậnchuyển hàng hóa của ô tô góp phần chuyên môn hóa năng lực sản xuất những sảnphẩm có lợi thế cạnh tranh của từng vùng miền khác nhau trên toàn thế giới, sau đóphân phối đến tay người tiêu dùng ở bất kỳ điểm điểm nào trên trái đất Ngoài ravới vai trò vận chuyển hành khách, ô tô còn giúp nâng cao đời sống tinh thần vàđảm bảo sức khỏe của con người
Ô tô được sáng chế năm 1885 Ô tô được sản xuất năm 1927
Hình 1.2 Những chiếc xe ô tô điển hình trong quá khứ
Ô tô cũng chính là một sản phẩm phục vụ người tiêu dùng trong hoạt động sảnxuất kinh doanh trên toàn cầu Ô tô không chỉ đơn thuần là một công cụ cơ khí đượchoàn thiện Kể từ những năm 1920 gần như tất cả ô tô đã được sản xuất hàng loạt đểđáp ứng nhu cầu thị trường Do vậy các dự án tiếp thị và sản xuất đáp ứng thịtrường thường thống lĩnh việc thiết kế xe hơi Các hãng sản xuất ô tô đã đưa ra ýtưởng nhiều kiểu xe được sản xuất bởi một hãng để người mua có thể có nhiều lựachọn theo nhu cầu sử dụng, thị hiếu và năng lực tài chính của mình Những kiểukhác nhau này dùng chung một số linh kiện do vậy số lượng sản xuất nhiều sẽ làmgiảm giá thành cho từng mệnh giá khác nhau Ví dụ, vào năm 1950, Chevrolet dùngchung phần trước xe, mái xe và của sổ với Pontiac LaSalle của những năm 1930,bán ra bởi Cadillac, sử dụng những linh kiện cơ khí rẻ hơn được sản xuất bởi phânxưởng của Oldsmobile
Việt Nam là quốc gia có trên 96 triệu dân, kinh tế phát triển, đời sống ngàycàng nâng cao do đó nhu cầu sử dụng ô tô ngày càng nhiều, đủ để các doanh nghiệp
ô tô đầu tư sản xuất với quy mô lớn Tuy nhiên, hiện nay dung lượng thị trườngtrong nước chưa phát triển so với tiềm năng, do ngành công nghiệp ô tô Việt Namchưa đủ các điều kiện về thị trường cũng như các yếu tố khác để phát triển như cácquốc gia
Trang 21trong khu vực Hiện nay, Việt Nam chỉ có hơn 350 doanh nghiệp sản xuất liên quanđến ô tô, với tổng công suất lắp ráp thiết kế khoảng 680.000 xe/năm Trong số 350doanh nghiệp sản xuất liên quan đến ô tô, có hơn 40 doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp
ô tô; 45 doanh nghiệp sản xuất khung gầm, thân xe, thùng xe; 214 doanh nghiệp sảnxuất linh kiện, phụ tùng ô tô với sản lượng sản xuất lắp ráp trong nước đáp ứngkhoảng 70% nhu cầu xe dưới 9 chỗ ngồi trong nước Theo tổng hợp số liệu ngànhcông nghiệp ô tô của Việt Nam tại thời điểm năm 2020, tỷ lệ giá trị sản xuất đối với
ô tô đến 9 chỗ ngồi là 30-40% và dự kiến đạt khoảng 40-45% vào năm 2025; tương
tự ô tô từ 10 chỗ ngồi trở lên đạt 35-45% và 50-60% vào năm 2025; Đối với ô tô tải,
tỷ lệ này phải đạt 30-40% và 45-55% năm 2025 Nhưng sau gần 20 năm phát triển,tính đến năm 2020, tỷ lệ nội địa hóa của xe ô tô sản xuất tại Việt Nam còn rất thấp,
đa số chưa đạt mục tiêu đề ra và thấp hơn nhiều so với tỷ lệ trung bình của các nướctrong khu vực Cụ thể, xe tải dưới 7 tấn đạt tỷ lệ nội địa hóa trung bình trên 20%; xekhách từ 10 chỗ ngồi trở lên, xe chuyên dụng đạt tỷ lệ 45- 55% Riêng đối với xe cánhân đến 9 chỗ ngồi, tỷ lệ nội địa hóa bình quân mới đạt 7-10% (trừ dòng xe Innovacủa Toyota đạt 37% và các dòng xe Lux của hãng VinFast đạt trên 40%) Ngoài ra,các sản phẩm đã được nội địa hóa mang hàm lượng công nghệ rất thấp như: săm,lốp ô tô, ghế ngồi, gương, kính, bộ dây điện, ắc quy, sản phẩm nhựa … và chưa làmchủ được các các công nghệ cốt lõi như: động cơ, hệ thống điều khiển, truyềnđộng, (trừ hãng xe VinFast)
Về hoạt động sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước tuy đạt được những kết quảnhất định song vẫn chưa đạt được tiêu chí của ngành sản xuất ô tô thực sự, phần lớnmới chỉ ở mức độ lắp ráp đơn giản; chưa tạo được sự hợp tác liên kết và chuyênmôn hóa giữa các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp và sản xuất phụ tùng, linh kiện;chưa hình thành được hệ thống các nhà cung cấp nguyên vật liệu và sản xuất linhkiện quy mô lớn Để làm ra được một chiếc ô tô phải cần từ 30.000 - 40.000 chi tiết,linh kiện khác nhau Vì vậy, ngành công nghiệp ô tô cần sự hợp tác của rất nhiềungành công nghiệp khác như: ngành cơ khí chế tạo, ngành điện tử, ngành côngnghiệp hoá chất… Song việc liên kết giữa các ngành sản xuất còn lỏng lẻo, chưa có
sự kết hợp chặt chẽ nên hiệu quả chưa cao Đến nay chỉ có số ít nhà cung cấp trongnước có thể tham gia vào chuỗi cung ứng của các nhà sản xuất, lắp ráp ô tô tại ViệtNam So với Thái Lan, quốc gia này có gần 700 nhà cung cấp cấp 1 thì Việt Namchỉ có chưa đến 100 nhà cung cấp Thái Lan có khoảng 1.700 nhà cung cấp cấp 2 và
3 thì Việt Nam chỉ có chưa đến 150 nhà cung cấp
Để thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp ô tô, chính phủ cần sớm có cácchính sách thúc đẩy thị trường ô tô tăng trưởng ổn định và dài hạn Ngoài các yếu tố
về chính sách là thuế ưu đãi để tạo ra sức cạnh tranh cho ngành sản xuất ô tô trongnước; cần có cơ chế tổng thể kiểm tra, giám sát, định hướng hoạt động của các liêndoanh theo đúng cam kết, phát triển nội địa hoá theo đúng tiến độ quy định, hạn chếnhững liên doanh chỉ khai thác thị trường, lợi dụng các chính sách ưu đãi ban đầu;cần xây dựng danh mục các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ô tô, từ đó, giúp cho cácnhà hoạch định chính sách, các công ty có sự nhìn nhận rõ ràng về công nghiệp hỗtrợ ô tô Bên cạnh đó, việc xây dựng danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ baogồm cả việc đánh giá mức độ công nghệ, hàm lượng kỹ thuật trong sản phẩm là cầnthiết, để từ đó có thể định vị Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu đối với quátrình sản xuất ô tô
Trang 221.2.3.Kỹ thuật và vai trò của kỹ thuật trong xã hội
Là một bộ phận không thể tách rời khỏi sự phát triển của xã hội và con người,khoa học kỹ thuật đã đem lại sự thay đổi to lớn mang tính bước ngoặt trong sự pháttriển của xã hội Sự phát triển mạnh mẽ về khoa học kỹ thuật đã tạo ra những bướcnhảy vọt chưa từng thấy trong quá trình phát triển của lực lượng sản xuất và năngsuất lao động, làm xuất hiện nhiều ngành sản xuất mới (công nghiệp tên lửa, điện
tử, vi sinh ) và thay đổi hoàn toàn cơ cấu các ngành kinh tế ở nhiều khu vực.Ngoài ra, tất cả những thay đổi to lớn trong công nghệ và sản xuất đã tạo ra nhữngthiết bị sinh hoạt, hàng tiêu dùng mới làm thay đổi hoàn toàn lối sống của con ngườitrong xã hội Bên cạnh những tác động tích cực mà cuộc cách mạng khoa học đemlại thì nó cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với loài người như tình trạng
ô nhiễm môi trường, hiện tượng trái đất nóng dần lên, những tai nạn giao thông, tainạn lao động, các loại bệnh dịch mới, nhất là chế tạo nhiều vũ khí hiện đại có thểhủy diệt nhiều lần sự sống trên hành tinh
Vai trò và tiến trình phát triển của kỹ thuật trên thế giới có thể tổng hợp cụ thểbằng 4 cuộc cách mạng dưới đây:
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất:
Bắt đầu vào khoảng năm 1784 Đặc trưng của cuộc cách mạng công nghiệplần thứ nhất này là việc sử dụng năng lượng nước, hơi nước và cơ giới hóa sản xuất.Cuộc cách mạng công nghiệp này được đánh dấu bởi dấu mốc quan trọng là việcJames Watt phát minh ra động cơ hơi nước năm 1784 Phát minh vĩ đại này đãchâm ngòi cho sự bùng nổ của công nghiệp thế kỷ 19 lan rộng từ Anh đến châu Âu
và Hoa Kỳ
Hình 1.3 Tiến trình 4 cuộc cách mạng công nghiệp
Cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch
sử nhân loại là "kỷ nguyên sản xuất cơ khí, cơ giới hóa" Cuộc cách mạng côngnghiệp lần thứ nhất đã thay thế hệ thống kỹ thuật cũ có tính truyền thống của thờiđại nông nghiệp (kéo dài 17 thế kỷ), chủ yếu dựa vào gỗ, sức mạnh cơ bắp (lao
Trang 23động thủ công), sức nước, sức gió và sức kéo động vật Bằng một hệ thống kỹthuật mới với nguồn
Trang 24động lực là máy hơi nước và nguồn nguyên, nhiên vật liệu và năng lượng mới là sắt
và than đá Nó khiến lực lượng sản xuất được thúc đẩy phát triển mạnh mẽ, tạo nêntình thế phát triển vượt bậc của nền công nghiệp và nền kinh tế Đây là giai đoạnquá độ từ nền sản xuất nông nghiệp sang nền sản xuất cơ giới trên cơ sở khoa học.Tiền đề kinh tế chính của bước quá độ này là sự chiến thắng của các quan hệ sảnxuất tư bản chủ nghĩa, còn tiền đề khoa học là việc tạo ra nền khoa học mới, có tínhthực nghiệm nhờ cuộc cách mạng trong khoa học vào thế kỷ XVII
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai:
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra từ khoảng năm 1870 đến khiThế Chiến I nổ ra Đặc trưng của cuộc cách mạng công nghiệp lần này là việc sửdụng năng lượng điện và sự ra đời của các dây chuyền sản xuất hàng loạt trên quy
mô lớn Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra khi có sự phát triển củangành điện, vận tải, hóa học, sản xuất thép, và đặc biệt là sản xuất và tiêu dùng hàng
loạt Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai đã tạo nên những tiền đề mới và cơ
sở vững chắc để phát triển nền công nghiệp ở mức cao hơn nữa
Cuộc cách mạng này được chuẩn bị bằng quá trình phát triển 100 năm của cáclực lượng sản xuất trên cơ sở của nền sản xuất đại cơ khí và bằng sự phát triển củakhoa học trên cơ sở kỹ thuật Yếu tố quyết định của cuộc cách mạng này là chuyểnsang sản xuất trên cơ sở điện - cơ khí và sang giai đoạn tự động hóa cục bộ trongsản xuất, tạo ra các ngành mới trên cơ sở khoa học thuần túy, biến khoa học thànhmột ngành lao động đặc biệt Cuộc cách này đã mở ra kỷ nguyên sản xuất hàng loạt,được thúc đẩy bởi sự ra đời của điện và dây chuyền lắp ráp Công nghiệp hóa thậmchí còn lan rộng hơn tới Nhật Bản sau thời Minh Trị Duy Tân và thâm nhập sâu vàonước Nga, nước đã phát triển bùng nổ vào đầu Thế Chiến I Cuộc cách mạng này đãtạo ra những tiền đề thắng lợi của mô hình "chủ nghĩa xã hội" ở quy mô thế giới
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba:
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 xuất hiện vào khoảng từ 1969, với sự
ra đời và lan tỏa của công nghệ thông tin, sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để
tự động hóa sản xuất Cuộc cách mạng này thường được gọi là cuộc cách mạng máytính hay cách mạng số bởi vì nó được xúc tác bởi sự phát triển của chất bán dẫn,siêu máy tính, máy tính cá nhân (thập niên 1970 và 1980) và Internet (thập niên1990)
Cuộc cách mạng này đã tạo điều kiện tiết kiệm các tài nguyên thiên nhiên vàcác nguồn lực xã hội, cho phép chi phí tương đối ít hơn các phương tiện sản xuất đểtạo ra cùng một khối lượng hàng hóa tiêu dùng Kết quả, đã kéo theo sự thay đổi cơcấu của nền sản xuất xã hội cũng như những mối tương quan giữa các khu vực I(nông, lâm và thủy sản), II (công nghiệp và xây dựng) và III (dịch vụ) của nền sảnxuất xã hội Làm thay đổi tận gốc các lực lượng sản xuất Cuộc cách mạng côngnghiệp lần thứ ba đã tác động tới mọi lĩnh vực đời sống xã hội loài người, nhất là ởcác nước tư bản chủ nghĩa phát triển vì đây chính là nơi phát sinh của cuộc cáchmạng này
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư:
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hay gọi tắt là "Công nghiệp 4.0" được xuất phát từ khái niệm “Industrie 4.0” trong một báo cáo của chính phủ Đức năm 2013
Trang 25“Industrie 4.0” kết nối các hệ thống nhúng và cơ sở sản xuất thông minh để tạo ra sự hội tụ kỹ thuật số giữa: công nghiệp, kinh doanh, chức năng và quy trình bên trong.
Hình 1.4 Mô tả nội dung Công nghiệp 4.0
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang nảy nở từ cuộc cách mạng lần
ba, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số
và sinh học Khi so sánh với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, “Industrie4.0” đang tiến triển theo một hàm số mũ chứ không phải là tốc độ tuyến tính Hơnnữa, nó đang phá vỡ hầu hết ngành công nghiệp ở mọi quốc gia Và chiều rộng vàchiều sâu của những thay đổi này báo trước sự chuyển đổi của toàn bộ hệ thống sảnxuất, quản lý và quản trị Những yếu tố cốt lõi của kỹ thuật số trong cách mạngcông nghiệp 4.0 sẽ là: Trí tuệ nhân tạo (AI), Vạn vật kết nối - Internet of Things(IoT) và dữ liệu lớn (Big Data) Trên lĩnh vực công nghệ sinh học, "công nghiệp4.0" tập trung vào nghiên cứu để tạo ra những bước nhảy vọt trong nông nghiệp,thủy sản, y dược, chế biến thực phẩm, bảo vệ môi trường, năng lượng tái tạo, hóahọc và vật liệu Cuối cùng là lĩnh vực vật lý với robot thế hệ mới, máy in 3D, xe tựlái, các vật liệu mới (graphene, skyrmions, …) và công nghệ nano Hiện tại, cáchmạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra tại các nước phát triển như Mỹ, châu Âu, mộtphần châu Á Bên cạnh những cơ hội mới, cách mạng công nghiệp 4.0 cũng đặt racho nhân loại nhiều thách thức phải đối mặt Mặt trái của "Công nghiệp 4.0" là nó
có thể gây ra sự bất bình đẳng Đặc biệt là có thể phá vỡ thị trường lao động Khi tựđộng hóa thay thế lao động chân tay trong nền kinh tế, khi robot thay thế con ngườitrong nhiều lĩnh vực, hàng triệu lao động trên thế giới có thể rơi vào cảnh thấtnghiệp, nhất là những người làm trong lĩnh vực bảo hiểm, môi giới bất động sản, tưvấn tài chính, vận tải
Trải qua hơn hai thế kỷ, bốn cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã mang lạinhững tiến bộ phi thường, tạo nên một bước "đại nhảy vọt" cho phát triển xã hội vànhân loại Có thể khái quát bằng những lĩnh vực sau đây:
Một là, trong lĩnh vực khoa học cơ bản đã đạt được những phát minh to lớn
trong toán học, vật lý, hóa học và sinh học Dựa vào những phát minh to lớn của cácngành khoa học cơ bản, con người đã ứng dụng vào kỹ thuật và sản xuất để phục vụcuộc sống của mình
Hai là, những phát minh to lớn về những công cụ sản xuất mới, trong đó có ý
nghĩa quan trọng bậc nhất là sự ra đời của máy tính điện tử, máy tự động và hệthống máy tự động
Trang 26Ba là, trong tình trạng các nguồn năng lượng thiên nhiên đang ngày càng cạn
kiệt, con người đã tìm ra được những nguồn năng lượng mới như năng lượngnguyên tử, năng lượng gió, năng lượng mặt trời, trong đó năng lượng nguyên tửngày càng được phổ biến và được sử dụng rộng rãi
Bốn là, sáng chế ra những vật liệu mới trong tình hình các vật liệu tự nhiên
đang cạn dần trong thiên nhiên Chất polyme đang giữ vị trí quan trọng hàng đầutrong đời sống hàng ngày của con người cũng như trong các ngành công nghiệp
Năm là, cuộc cách mạng xanh trong nông nghiệp đã giải quyết được rất nhiều
vấn nạn về lương thực, đói ăn kéo dài từ bao đời nay
Sáu là, những tiến bộ thần kì trong lĩnh vực giao thông vận tải và thông tin
liên lạc với những loại máy bay siêu âm khổng lồ, những tảu hỏa tốc độ cao, vànhững phương tiện thông tin liên lạc, phát sóng vô tuyến hết sức hiện đại qua hệthống vệ tinh nhân tạo (hệ thống định vị toàn cầu GPS)
1.2.4.Lịch sử phát triển ô tô
Hình 1.5 Xe 3 bánh động cơ hơi nước Cugnot Fardier
Trang sử ngành ô tô thế giới bắt đầu vào ngày 29/01/1886 khi Karl Benz(người Đức) nhận bằng sáng chế số DRP 37435 cho chiếc xe ba bánh gắn máy củaông Tuy nhiên trước đó, chiếc xe có thể gọi là chiếc ô tô đầu tiên là chiếc Fardiercủa Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng Pháp, do Nicolas Joesph Cugnot phát minh vàonăm 1771 Đây là một chiếc xe ba bánh, trang bị động cơ hơi nước tốc độ 2,3dăm/giờ Cỗ máy kồng kềnh này chưa bao giờ được sản xuất bởi nó quá chậm chạp
và nặng nề so với một chiếc xe ngựa
Một người Pháp khác là Amedee Bollee cũng đã cho ra đời một chiếc xe 12chỗ với động cơ có cải tiến hơn nhưng một lần nữa loại động cơ này chứng tỏ vẫnchưa phải là đối thủ của chiếc xe ngựa kéo Tính khả thi của ô tô chỉ có được chođến khi động cơ đốt trong ra đời
Năm 1889 đã đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử ngành ô tô thế giới khichiếc xe do Gottlied Daimler và Wilhelm Mayback phát minh được sản xuất tạiĐức Chiếc xe này được trang bị động cơ xăng 1,5 sức ngựa, hai xi lanh hộp số 4tốc độ, và tốc độ tối đa 10 dặm một giờ Cùng năm đó, người ta cũng chứng kiến
sự ra đời
Trang 27của động cơ xăng cũng do một người Đức, Karl Benz phát minh Ô tô với động cơ xăng do mới được sản xuất với số lượng rất ít tại Châu Âu và Châu Mỹ.
Hình 1.6 Xe " Velo" của Carl Benz chế tạo năm 1894.
Tuy không phải là đất nước phát minh ra ô tô nhưng Mỹ lại là miền đất cho sựphát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp ô tô khi mà ở những năm cuối của thế
kỷ 19 đầu thế kỷ 20 đã có đến 30 hãng sản xuất ô tô ở đất nước này, với nhiềuthương hiệu nổi tiếng như: Ford, Chevrolet, Chresler, Cadillac, Dogde,
Cùng với châu Âu và châu Mỹ, tại châu Á cũng có một đất nước nổi lên làNhật Bản Chiếc xe đầu tiên của Nhật Bản có tên Takkuri, do UchiyamaKomanosuke, kỹ sư ô tô đầu tiên của xứ mặt trời mọc sản xuất vào năm 1907 Tuynhiên, số lượng ít, giá thành cao khiến xe Nhật Bản không thể cạnh tranh được với
xe nhập khẩu từ Mỹ
Trong suốt chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật chỉ sản xuất ô tô phục vụ chochiến tranh Từ năm 1952, sự phát triển mới bắt đầu trở lại Nhật Bản vươn lênmạnh mẽ với các hãng xe hàng đầu thế giới như Toyota, Honda, Nissan xuất khẩu
Sở dĩ xe Nhật được ưa chuộng rộng khắp bởi nhỏ gọn, ít tốn nhiên liệu, giá cả hợp
lý và đặc biệt bền, ít trục trặc Đến thời điểm hiện nay, châu Á vẫn là nơi sản xuấtnhiều ô tô trên thế giới nhất với sự nổi lên của Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan
Xu hướng hiện nay, ngoài vấn đề tiết kiệm, chất lượng tốt thì người tiêu dùngcòn hướng tới yếu tố thiết kế ấn tượng và tính tiện dụng cao Vì thế sự cạnh tranh về
Trang 28mức giá dần mất ý nghĩa, thay vào đó là thỏa mãn và gợi mở nhu cầu khách hàng.Sau hơn 200 năm phát triển, những chiếc ô tô hiện đại đang dần trở nên thông minhhơn bao giờ hết Chúng không chỉ được hoàn thiện về kiểu dáng mà còn được trang
bị những tính năng thông minh nhất, giúp chiếc xe được an toàn hơn, trải nghiệm láithú vị hơn và mang đến những tiện ích thiết thực phục vụ cho cuộc sống hiện đạicủa con người Những chiếc ô tô hiện đại ngày nay có thể tự động giảm tốc độ nếuchúng nhận thấy tình hình giao thông có vấn đề, thậm chí sở hữu nhiều yếu tố tinh
tế hơn như tính năng cảnh báo chệch làn đường, cảnh báo khi người lái xe có dấuhiệu mất tập trung hay dựa vào bản đồ để tự động giới hạn tốc độ tối đa theo từng
cung đường
Hình 1.7 Chiếc Toyota đầu tiên ra đời năm 1936.
Song song với những cải tiến về chất lượng xe và kỹ thuật an toàn ngày càngnâng cao, yếu tố tiện nghi và giải trí cũng được các nhà sản xuất xe ô tô đầu tư lắpđặt trên xe để phục vụ khách hàng Một số công nghệ mới được trang bị trên xe ô tôhiện nay có thể kể đến là:
Xe ô tô tự động lái: Trên thực tế, những tính năng liên quan đến công nghệ tựlái đã được trang bị trên khá nhiều mẫu xe hạng sang tới từ các nhà sản xuất hàngđầu về công nghệ an toàn trên xe hơi hiện nay như Audi, BMW hay Volvo Tuynhiên, việc tự mình điều khiển thay vì phó mặc cho xe tự lái là điều người sử dụngthích thú hơn Vì thế, công nghệ tự lái chỉ nên được tích hợp như một tính năng tùychọn để góp phần hỗ trợ con người
Phanh thông minh: Hệ thống này cho phép chiếc xe tự động nhấn chân phanhkhi hình ảnh thu được từ camera và cảm biến phía trước cho thấy đó là một tìnhhuống không an toàn
Tự đưa xe vào nơi đỗ hay “lùi chuồng tự động” cũng là một tính năng rất hữuích trong nhiều tình huống đòi hỏi kỹ năng lái xe giàu kinh nghiệm
Trang 29Những tính năng thông minh phục vụ giải trí như Apple CarPlay và GoogleAndroid Auto đã giúp chiếc xe không chỉ là phương tiện đi lại, mà còn đóng vai trònhư một người giúp việc mẫn cán Một chiếc xe hơi có thể biến thành văn phònglàm việc hoặc giải trí Những tính năng thông minh có thể giúp bạn theo dõi hiệusuất và lên kế hoạch bảo trì cho chiếc xe, trong khi vẫn cập nhật cho bạn về các sựkiện cũng như lịch trình sắp tới…
Hình 1.8 Xe ô tô VinFast được sản xuất tại Việt Nam
Hình 1.9 Bên trong buồng lái xe ô tô VinFast LuxSA 2.0
Hiện nay tất cả các nhà nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và sản xuất ô tô đang tậptrung phát triển công nghệ theo ba xu hướng chính và sẽ gắn kết với nhau để tạothành một khối cùng phát triển trong tương lai không xa Đó là công nghệ thiết kế,chế tạo và sản xuất phần cứng hợp với thời đại; công nghệ phần mềm điều khiểnthông minh và sử dụng trí tuệ nhân tạo; công nghệ kết nối và giao tiếp Cả ba hướngphát triển trên đều phục vụ cho một mục đích duy nhất là biến một chiếc xe từphương tiện chuyên chở đơn thuần thành một “người bạn” thông minh có khả nănggiao tiếp, kết nối với vạn vật xung quanh thông qua việc tích hợp trí thông minhnhân tạo để chiếc xe trở nên thông minh và an toàn hơn, hữu ích hơn với con người
Trang 301.2.5 Xu hướng phát triển ngành công nghiệp ô tô
1.2.5.1 Ngành công nghiệp ô tô của thế giới:
Tính đến thời điểm năm 2020, trên thế giới có hơn 700 nhãn hiệu xe ô tô,trong đó có khoảng 10 tập đoàn lớn chuyên sản xuất xe du lịch dưới 9 chỗ ngồi vớisản lượng năm 2020 ước tính hơn 55 triệu chiếc Sau một thập kỷ tương đối êm
đềm, ngành công nghiệp ô tô toàn cầu đang trải qua một giai đoạn biến động lớn.
Kinh tế Trung Quốc đang tăng trưởng chậm lại Nhu cầu sắm xe hơi của hàng trămtriệu người dân thuộc tầng lớp trung lưu của nước này cũng có dấu hiệu giảmnhanh Chi tiêu ở Ấn Độ cũng không mấy khả quan Trong khi đó, châu Âu tiếp tụccho thấy sự bất ổn tại các thị trường chính Thực tiễn cho thấy, năm 2019 vẫn lànăm xe hơi có doanh số khả quan nhất, nhưng tất cả đều lao dốc trong năm 2020.Thách thức của ngành công nghiệp ô tô toàn cầu hiện nay chủ yếu là:
- Đại dịch Covid-19 xuất hiện khiến lợi nhuận của các nhà sản xuất xe hơitoàn cầu sụt giảm Các giám đốc điều hành nỗ lực chuẩn bị cho những kịch bảntrong tương lai với những thách thức như doanh số bán hàng chậm lại, sự bấp bênhcủa thương mại toàn cầu Đặc biệt, chi phí R&D (nghiên cứu và phát triển) có xuhướng tăng nhanh do các thị trường lớn ngày càng áp đặt quy định khí thải chặt chẽhơn, thậm chí là vạch ra lộ trình từ bỏ động cơ đốt trong
- Các chuyên gia ô tô nhân định xu hướng số một trong ngành hiện nay là điệnhóa, đặc biệt là nhu cầu chuyển đổi mạnh mẽ hơn đối với xe điện (EV) Thậm chí,các hãng xe danh tiếng đã có những màn đặt cược táo bạo vào tương lai Tại Mỹ,Trung Quốc và châu Âu, hàng tỷ USD được đổ vào việc phát triển các loại xe chạyđiện với giá cả phải chăng, cũng như các loại xe hybrid nhẹ (xe lai sạc điện) Một sốnhà sản xuất đã ngừng phát triển các khung gầm dành cho xe sử dụng động cơ đốttrong (ICE)
Các nhà hoạch định chính sách cũng như các chuyên gia đầu ngành đều khẳngđịnh, ô tô điện là sản phẩm tương lai của ngành công nghiệp ô tô toàn cầu Cuộccách mạng xe điện đang diễn ra chậm hơn so với dự đoán ban đầu Tại Mỹ, doanh
số xe hybrid và xe điện chỉ chiếm ít hơn 5% tổng doanh số xe mới bán ra trong năm
2019 Thị trường trở nên giới hạn khi nhóm khách hàng chính của dòng xe này là
những người muốn “sống xanh” Vì vậy, ngành công nghiệp ô tô cần phải tìm cách
mở rộng đối tượng khách hàng cho xe điện và xe hybrid, trong đó cần cân nhắc tớicác chính sách hậu mãi tốt nhất và giảm giá thành sản phẩm
Hình 1.10 Các dòng xe điện đang có nhiều dư địa phát triển
Trang 31Tại "Triển lãm ô tô Los Angeles" (Hoa Kỳ) năm 2019, những mẫu xe điệnmới chỉ tập trung vào hiệu suất và thiết kế, mục tiêu hướng tới những khách hàngcao cấp, những người không sợ giá cao và chỉ cần công nghệ, sự sang trọng và sứcmạnh trên xe Và các nhà sản xuất xe hơi đang cho rằng, việc bán xe điện như mộtsản phẩm “phong cách sống”, sự thể hiện "đẳng cấp", chứ chưa phải là con đườngkinh doanh lâu dài Trong tương lai, khi sự trợ giá ưu đãi của các chính phủ với xeđiện giảm dần, các hãng xe sẽ cần một cách tiếp cận khác để thu hút khách hàng đếnvới xe điện và cần tạo được lợi thế cạnh tranh nhất định với ô tô truyền thống.
Trong năm 2020, một báo cáo từ tổ chức "Ernst & Young" (EY) cho biếtquyền tối cao của xe điện toàn cầu sẽ đến vào năm 2033, nhanh hơn năm năm sovới dự kiến ban đầu, khi mà nhu cầu về xe Tesla và các sản phẩm xe ô tô điện kháctăng vọt Hai năm trước, "EY" cũng đã thực hiện cuộc khảo sát về “tương lai củanhiên liệu” cho thấy người tiêu dùng khi được hỏi vẫn đang lo lắng về chi phí vậnhành, quãng đường hoạt động sau mỗi lần sạc đầy và cơ sở hạ tầng trạm sạc khimuốn sở hữu một chiếc xe điện Về mặt chi phí, tin tốt là giá thành pin lithium-ionđang giảm nhanh chóng Về phạm vi hoạt động của xe điện sau mỗi lần sạc là bàitoán khó Mặt dùng các nghiên cứu đều xác định phần lớn tài xế chỉ lái xe 70 kmmỗi ngày, số lượng đủ cho tầm hoạt động của một mẫu xe điện bình thường hiệnnay Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng là một câu hỏi lớn mà các hãng xe điện không thể tựđưa ra câu trả lời Dù vậy, việc có nhiều xe điện chạy trên đường hơn chắc chắn sẽlàm giảm chi phí phát triển các trạm sạc Cách tốt nhất đối với các hãng sản xuất xeđiện là hãy tung ra thị trường những chiếc xe mà mọi người thực sự muốn sở hữu,việc nó chạy điện chỉ là yếu tố thứ yếu và không quan trọng nữa
Có hai bài toán về công nghệ được các hãng chế tạo ô tô trên thế giới quantâm hiện nay là: giải pháp phát triển xe điện trong tương lai và vai trò của
"blockchain" trong ngành công nghiệp ô tô
- Về công nghệ sản xuất xe điện: Hầu hết xe điện hiện nay là xe sedan hoặc
hatchback Theo các chuyên gia, việc phát triển các dòng SUV, CUV và xe bán tảichạy điện, nếu được thực hiện đúng cách, có thể làm thay đổi nhận thức toàn cầu về
xe điện, từ những chiếc xe sang trọng đắt tiền và mỏng manh dành cho người giàu
đi lại trong phố sang một phương tiện hữu ích, đáng tin cậy và có thể sử dụng hàngngày Từ cơ sở này, các hãng sản xuất xe điện cần đưa ra nhiều giải pháp mang đến
sự lựa chọn phong phú hơn cho người tiêu dùng
Nhóm giải pháp phát triển xe điện trong tương lai còn bao gồm việc tái chế và
xử lý pin khi hết vòng đời hoạt động Sẽ thật tồi tệ khi thay thế một sản phẩm gây ônhiễm bằng một sản phẩm gây ô nhiễm khác, vì vậy các hãng xe cần phải trả lời câuhỏi này trước khi quá muộn
Sau khoảng vài nghìn chu kỳ sạc, hiệu suất hoạt động của pin lithium-ion sẽkhông đủ để cung cấp năng lượng cho xe nữa Có rất nhiều tùy chọn để xử lý pin đãqua sử dụng, nhưng không phải tất cả tùy chọn này đều phù hợp để bảo vệ môitrường Đây là bài toán đau đầu về mặt sinh thái, có thể biến thành một thảm họatuyên truyền với xe điện Nhiều năm qua, xe điện được quảng cáo là phương tiệnsạch, không khí thải và hoàn toàn “xanh” Hàng triệu người đã mua xe điện tin rằng
họ đang tham gia
Trang 32vào nỗ lực toàn cầu để giảm khí thải nhà kính Tuy nhiên, hiện nay mới chỉ có 5%pin lithium-ion được tái chế.
Khoảng 262.000 tấn pin lithium-ion cho xe điện sẽ cần được tái chế vào năm
2022 Nếu tất cả xe mới bán ra vào năm 2040 đều là xe điện, như tầm nhìn của một
số quốc gia, thì chúng ta sẽ phải đối mặt với 2,5 triệu bộ pin đã qua sử dụng trongnăm đó Điều này đặt ra vấn đề cần sản xuất pin với tuổi thọ cao, và tìm ra cáchthay thế hoặc tái chế thân thiện với với môi trường
Hình 1.11 Các khối pin lithium-ion trên xe điện và xe hybrid
Nhiều công ty đã nhận ra sự cần thiết của việc tái chế và đã thử nghiệmchương trình tân trang pin xe điện Điều này đòi hỏi pin cần được tiêu chuẩn hóa.Một chuỗi cung ứng bền vững thật sự sẽ mang lại lợi ích cho người tiêu dùng, nhàsản xuất và cả môi trường, cũng như đảm bảo tương lai lâu dài cho xe điện
- Về công nghệ "blockchain": Việc nắm công nghệ blockchain sẽ là cơ hội để
các doanh nghiệp thay đổi cách giao dịch kinh doanh nhằm hiệu quả, liền mạch và
an toàn hơn Blockchain sẽ cho phép ngành công nghiệp ô tô triển khai các kháiniệm như quyền sở hữu chung hay theo tỷ lệ với các đội xe, phương tiện và phụtùng theo cách có thể thay đổi hoàn toàn khái niệm của chúng ta về quyền sở hữuphương tiện
Tương lai sẽ hứa hẹn kịch bản mỗi thành phố sẽ có một đội xe được sở hữutừng phần bởi người dân và sau đó cho người khác thuê lại sử dụng, tạo ra lợi nhuậncho các cá nhân Tất cả sẽ được quản lý và duy trì bằng cách sử dụng công nghệblockchain Nó giúp các doanh nghiệp và lĩnh vực cải thiện hiệu quả chuỗi cungứng, cung cấp các giao dịch tài chính và cho thuê một cách an toàn hơn
Việc triển khai blockchain sẽ là thách thức đối với ngành công nghiệp ô tô.Các giám đốc trong ngành đều hiểu rõ blockchain là gì và có thể làm gì, nhưng cụthể nó sẽ làm gì vào hôm nay để ngày mai sẽ mang lại lợi thế cho doanh nghiệp thìvẫn là bài toán khó Giống như rất nhiều lĩnh vực khác trong ngành công nghiệp 4.0vào lúc này, có một nguy cơ tiềm tàng rằng các doanh nghiệp sẽ bị bỏ lại phía saunếu không thích ứng kịp thời
1.2.5.2 Ngành công nghiệp ô tô của việt nam
Theo số liệu từ Bộ Công thương, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam được bắtđầu vào năm 1991 với sự xuất hiện của 2 công ty ô tô có vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài (FDI) là Mekong và VMC Hiện nay Việt Nam có 451 nhà máy liên quan đến
ô tô, bao gồm các nhà máy sản xuất phụ tùng hoặc lắp ráp ô tô và được phân bổ rải
Trang 33rác ở cả ba miền Trong đó, khoảng 61% dây chuyền sản xuất nằm ở miền Bắc, cònlại 39% nằm ở miền Nam và miền Trung.
Điều đáng nói là hầu hết các dây chuyền lắp ráp và dây chuyền sản xuất đượcđặt rải rác ở nhiều nơi, không được tổ chức tốt hoặc qui hoạch thành các khu, tổ hợpcông nghiệp chuyên dùng cho ngành ô tô Bên cạnh sự phân bổ rời rạc đó, tỷ lệ nộiđịa hóa sản xuất ô tô tại Việt Nam còn rất thấp, phần lớn phải nhập từ nước ngoài vềlắp ráp Điều này đẩy chi phí sản xuất lên cao kéo giá thành tăng theo, khó cạnhtranh
Nền tảng của các doanh nghiệp ô tô trong nước là những doanh nghiệp cơ khílớn trước kia làm công việc sửa chữa đại tu xe, nay được bổ sung, nâng cao nănglực sản xuất Các doanh nghiệp này hầu hết được tổ chức theo hướng chuyên mônhoá một số chủng loại xe (xe tải, xe khách, xe du lich, ) với dây chuyền sản xuấtđơn giản là gò, hàn, sơn, lắp ráp, thiếu sự hợp tác lẫn nhau Trang thiết bị phầnlớn lạc hậu Trừ một vài doanh nghiệp có đầu tư lớn như: VinFast, Trường Hải(Thaco) và Hyundai Thành Công (HTC)
Với các doanh nghiệp FDI ô tô, trừ Công ty Hino sản xuất xe tải nặng, còn lạiđều có thể tổ chức sản xuất bất kỳ sản phẩm nào Các doanh nghiệp này đại diệncho những nhà sản xuất lớn với bí quyết công nghệ khác nhau nên hầu như ít phốihợp, mà cạnh tranh lộn xộn Hầu hết các liên doanh chỉ mới thực hiện phương thứclắp ráp với dây chuyền công nghệ gần giống nhau như hàn lắp khung xe, tẩy rửasơn Tỷ lệ nội địa hoá của các liên doanh cao nhất không quá 40% (mẫu xe ToyotaInnova ra mắt vào năm 2006 có tỷ lệ nội địa hoá cao nhất đạt 37%) và thấp nhất là2% Việc đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ cũng mới chỉ đáp ứng chocông đoạn lắp ráp ô tô
Theo các chuyên gia, có 3 điều kiện để có được ngành công nghiệp ô tô pháttriển nhanh là thị trường, con người và kỹ thuật Trong 3 điều kiện đó Việt Nam có
2 là thị trường và con người Theo tính toán thị trường ô tô rất tiềm năng với mứctiêu thụ có thể đạt 1 triệu xe/năm Con người người Việt Nam được cho là khéo tay
có đầu óc sáng tạo Chúng ta thiếu vấn đề kỹ thuật, nếu có chính sách đúng vềkhuyến khích đầu tư, chuyển giao công nghệ thì sẽ thành công
Thực tiễn cho thấy, có rất ít các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực sảnxuất linh kiện cũng như chuyển giao công nghệ ô tô vào Việt Nam Tập đoàn Fordtrong năm 2004 đã tìm địa điểm để đầu tư 1 nhà máy sản xuất động cơ ô tô tại khuvực đông Nam Á với số vốn là 400 triệu USD họ đã khảo sát tại nhiều nước trong
đó có Việt Nam nhưng sau đó lại quyết định đầu tư tại Philipines Bên cạnh đó, tậpđoàn này cũng đã đầu tư 500 triệu USD để sản xuất xe cỡ nhỏ tại Thái Lan Tại ViệtNam, họ chỉ có 1 dây chuyền lắp ráp công suất khoảng 10.000 xe/năm, họ khôngchọn ưu tiên đầu tư lớn ở nước ta là vì không hội đủ những điều kiện cần thiết, khóthu lợi nhuận cao hơn so với đầu tư ở một số nước khác trong khu vực
Việt Nam là quốc gia có gần 97 triệu dân, kinh tế phát triển, đời sống ngàycàng nâng cao do đó nhu cầu sử dụng ô tô ngày càng nhiều, đủ để các doanh nghiệp
ô tô đầu tư sản xuất với quy mô lớn Tuy nhiên, hiện nay dung lượng thị trườngtrong nước chưa phát triển so với tiềm năng, do ngành công nghiệp ô tô Việt Namchưa đủ các điều kiện về thị trường cũng như các yếu tố khác để phát triển như cácquốc gia trong khu vực Việt Nam hiện nay với 451 doanh nghiệp sản xuất liênquan đến ô tô,
Trang 34với tổng công suất lắp ráp thiết kế khoảng 680.000 xe/năm Trong đó có hơn 40doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô; khoảng 45 doanh nghiệp sản xuất khung gầm,thân xe, thùng xe; và số doanh nghiệp còn lại là sản xuất linh kiện, phụ tùng ô tô vớisản lượng sản xuất lắp ráp trong nước đáp ứng khoảng 70% nhu cầu xe dưới 9 chỗngồi trong nước Theo kế hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam,đến năm 2020, tỷ lệ giá trị sản xuất đối với ô tô đến 9 chỗ ngồi là 30-40% vàkhoảng 40-45% vào năm 2025; tương tự ô tô từ 10 chỗ ngồi trở lên đạt 35-45% và50-60% vào năm 2025; Đối với ô tô tải, tỷ lệ này phải đạt 30-40% và 45-55% năm
2025 Nhưng sau gần 30 năm phát triển, tỷ lệ nội địa hóa của xe ô tô sản xuất tạiViệt Nam còn rất thấp, đa số chưa đạt mục tiêu đề ra và thấp hơn nhiều so với tỷ lệtrung bình của các nước trong khu vực Cụ thể, xe tải dưới 7 tấn đạt tỷ lệ nội địa hóatrung bình trên 20%; xe khách từ 10 chỗ ngồi trở lên, xe chuyên dụng đạt tỷ lệ 45-55% Riêng đối với xe cá nhân đến 9 chỗ ngồi, tỷ lệ nội địa hóa bình quân mới đạt10% (trừ dòng xe VinFast đạt nội địa hóa trên 40%) Ngoài ra, các sản phẩm đãđược nội địa hóa mang hàm lượng công nghệ rất thấp như: săm, lốp ô tô, ghế ngồi,gương, kính, bộ dây điện, ắc quy, sản phẩm nhựa và chưa làm chủ được các cáccông nghệ cốt lõi như: động cơ, hệ thống điều khiển, truyển động, (trừ hãngVinFast)
Theo thống kê của Bộ Tài chính, đầu năm 2020, Việt Nam có hơn 173 doanhnghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô Trong đó, 56 doanh nghiệp sản xuất xe từ linh kiệnrời, 117 doanh nghiệp sản xuất xe từ cơ sở Nhiều doanh nghiệp xe lớn như Toyota,Hyundai, Kia, Mazda, Honda, GM, Chevrolet, Ford, Mitsubishi, Nissan, Suzuki,Isuzu, Mercedes - Benz, Hino đã đáp ứng khoảng 70% nhu cầu xe dưới 9 chỗ ngồicủa người dân Tổng công suất lắp ráp xe thiết kế đến nay khoảng 755.000 chiếcmỗi năm, trong đó khu vực đầu tư nước ngoài là 35%, trong nước là 65%
Về vốn đầu tư, quá trình thực hiện với lợi thế so sánh Việt Nam đã kéo đượcmột số liên doanh quay trở lại lắp ráp các mẫu có hiệu suất cao, doanh số tốt Đồngthời, ngành này cũng thu hút được số lượng doanh nghiệp lớn mở rộng quy mô sảnxuất, kinh doanh, trong đó đơn cử như Ford tăng vốn đầu tư từ 102 triệu USD lên
184 triệu USD để mở rộng quy mô sản xuất, lắp ráp; Trường Hải - Thaco mở rộngđầu tư nhà máy mới với 4.000 tỷ đồng Honda và Mitsubishi cũng đưa dây chuyềnsản xuất mới vào vận hành từ quý II năm 2020 Tập đoàn Thành Công cũng đầu tưthêm một nhà máy tại Ninh Bình, công suất hơn 100.000 xe/năm vào hoạt động.Đặc biệt, VinFast đầu tư hơn 3,5 tỷ USD để xây dựng nhà máy, sản xuất lắp ráp xerộng hơn 335 ha tại Hải Phòng để sản xuất mẫu xe mang thương hiệu Việt
Về tỷ lệ nội địa hóa, Bộ Tài chính đánh giá các doanh nghiệp Việt gia tăng tỷ
lệ nội địa hóa với hàm lượng sản xuất trong nước tăng lên nhằm nâng cao năng lựccạnh tranh Đơn cử như mẫu xe buýt của Trường Hải - Thaco có tỷ lệ nội địa hóa60%, xe tải có tỷ lệ nội địa hóa 35-40%; xe con có tỷ lệ nội địa hóa bình quân 25%
và một số mẫu đạt hơn 40%
Doanh nghiệp ô tô Việt Nam còn tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, xuấtkhẩu xe sang ASEAN và ra thế giới Đơn cử như năm 2020 Thaco xuất khẩu hơn1.400 xe các loại ra các nước, Công ty TMT nâng tỷ lệ nội địa hóa xe của hãng nàylên từ 18,25% năm 2020 lên 22,6% năm 2021 và năm 2022 có thể tăng lên hơn40%
Trang 35Hình 1.12 Ô tô của nhà máy THACO chuẩn bị xuất khẩu
Nhìn chung, hiện nay ngành công nghiệp ô tô trong nước tuy đạt được nhữngkết quả nhất định song vẫn chưa đạt được tiêu chí của ngành sản xuất ô tô thực sự,phần lớn mới chỉ ở mức độ lắp ráp đơn giản; chưa tạo được sự hợp tác liên kết vàchuyên môn hóa giữa các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp và sản xuất phụ tùng, linhkiện; chưa hình thành được hệ thống các nhà cung cấp nguyên vật liệu và sản xuấtlinh kiện quy mô lớn Để làm ra được một chiếc ô tô phải cần từ 30.000 - 40.000 chitiết, linh kiện khác nhau Vì vậy, ngành công nghiệp ô tô cần sự hợp tác của rấtnhiều ngành công nghiệp khác như: ngành cơ khí chế tạo, ngành điện tử, ngànhcông nghiệp hoá chất Tuy nhiên, việc liên kết giữa các ngành sản xuất còn lỏng lẻo,chưa có sự kết hợp chặt chẽ nên hiệu quả chưa cao Đến nay chỉ có số ít nhà cungcấp trong nước có thể tham gia vào chuỗi cung ứng của các nhà sản xuất, lắp ráp ô
tô tại Việt Nam So với Thái Lan, quốc gia này có gần 700 nhà cung cấp cấp 1, thìViệt Nam chỉ có chưa đến 100 nhà cung cấp Thái Lan có khoảng 1.700 nhà cungcấp cấp 2 và 3 thì Việt Nam chỉ có chưa đến 150 nhà cung cấp
Hình 1.13 Chiếc ô tô " Made in Vietnam" của hãng VinFast
Trang 36Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đã thực sự khởi sắc kể từ khi dự án Tổ hợpnhà máy ô tô VinFast tại Hải Phòng đưa vào sản xuất chính thức từ tháng 6/2019với quy mô sử dụng diện tích 335 ha Ngay lập tức dự án đã thu hút các tập đoànlớn của nước ngoài như Bumper, Aapico, Lear, ZF đầu tư các nhà máy quy mô lớn
để sản xuất, lắp ráp động cơ, cụm trục trước, trục sau, sản xuất, lắp ráp ghế ô tô, sảnxuất cản trước, cản sau ô tô, dập và hàn chi tiết khung, lắp ráp các loại pin dành cho
ô tô và xe máy điện Theo nhận định của các chuyên gia, ngành công nghiệp ô tôViệt Nam đang chuẩn bị bước vào giai đoạn "vàng", giai đoạn tăng tốc phát triển.Mục tiêu hiện nay là phát triển ngành công nghiệp ô tô trong nước bằng các chínhsách khuyến khích tăng tỷ lệ sản xuất linh kiện, lắp ráp ô tô trong nước nhằm tăng
tỷ lệ nội địa hoá Đây là một cơ hội cho các nhà đầu tư bất động sản công nghiệpkhi xây dựng hạ tầng các khu công nghiệp ô tô lớn cũng như khai thác nhu cầu mởrộng sản xuất và nhu cầu kinh doanh của các hãng xe
Việc tăng tỷ lệ nội địa hóa của một chiếc ô tô luôn đi kèm với việc phát triểnngành công nghiệp phụ trợ cho nó Chính phủ Việt Nam đã có chính sách ưu đãinhưng nhà đầu tư bất động sản công nghiệp mới là người thực hiện việc liên kết cáchoạt động sản xuất và cung ứng dưới hình thức các khu liên hợp sản xuất ô tôchuyên dụng Thực tế đã chứng minh, từ khu công nghiệp ô tô Chu Lai, Tập đoànTrường Hải khởi đầu với diện tích 38ha để xây dựng nhà máy ô tô tải và buýt vàonăm 2003 Đến năm 2010, tổng diện tích tăng lên hơn 126 ha, trong đó riêng cụmcác nhà máy công nghiệp hỗ trợ sản xuất linh kiện phụ tùng ô tô có diện tích 85 ha
Từ năm 2018, khu công nghiệp Cơ khí và ô tô Thaco Chu Lai đã mở rông diện tíchtrên 210 ha, hiện được xem là trung tâm sản xuất ô tô và công nghiệp hỗ trợ lớnnhất Việt Nam Tại đây có 32 công ty, đơn vị trực thuộc, bao gồm các nhà máy sảnxuất lắp ráp ô tô, các nhà máy linh kiện phụ tùng và tổ hợp cơ khí Ông Trần BáDương, Chủ tịch HĐQT Trường Hải cho biết: "Chúng tôi đầu tư vào Khu kinh tế
mở Chu Lai với định hướng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu với các thương hiệu ô tôquốc tế sản xuất, xuất khẩu sang các nước khu vực ASEAN Hướng tới xuất khẩulinh kiện và phụ tùng ô tô, tham gia chuỗi giá trị cung ứng phụ tùng cho ngành côngnghiệp ô tô thế giới"
Trong năm 2020, một sự kiện đáng chú ý nữa là Tập đoàn Thành Công đãkhởi công xây dựng Tổ hợp công nghiệp phụ trợ ô tô Việt Hưng tại Quảng Ninh,cho thấy Việt Nam đang bắt đầu hình thành những khu công nghiệp lớn để phục vụviệc cho ra đời một chiếc ô tô Ông Đào Phong Trúc Đại, Tổng giám đốc Công ty
CP phát triển khu công nghiệp Việt Hưng cho biết, Tổ hợp được xây dựng trên tổngdiện tích 340 ha và đây sẽ là nơi thu hút và quy tụ nhiều doanh nghiệp trong ngànhphụ trợ ô tô, sản xuất linh kiện và phụ tùng Đây có thể xem là yếu tố để tạo sự hợptác, liên kết và chuyên môn hóa giữa các doanh nghiệp trong ngành ô tô Hy vọngtrong tương lai Tổ hợp này sẽ trở thành trung tâm sản xuất lắp ráp và công nghiệpphụ trợ của ngành ô tô, đóng góp tích cực cho sự phát triển của ngành công nghiệp
ô tô Việt Nam và có như thế mới đảm bảo tăng tỉ lệ nội địa hoá sản xuất ô tô tươngđương như các nước trong khu vực Asean
Đồng hành cùng thời gian này, cũng tại Quảng Ninh, Công ty Cổ phần Đầu tưkhu công nghiệp Vinhomes, thuộc Tập đoàn Vingroup, đang lên kế hoạch đầu tư Tổhợp sản xuất công nghiệp phía Nam sông Lục Lầm, thành phố Móng Cái Với dự ánnày, Vingroup muốn xây dựng một tổ hợp công nghiệp sản xuất phụ tùng, bộ phận
Trang 37phụ trợ cho ô tô và các loại xe có động cơ khác cung cấp cho các nhà máy lắp ráp ô
tô của VinFast cũng như các doanh nghiệp trong nước và xuất khẩu Như vậy, vớiviệc Quảng Ninh đang hình thành nên hai tổ hợp công nghiệp phụ trợ ô tô lớn thìtrong tương lai không xa Việt Nam sẽ có 4 tổ hợp sản xuất công nghiệp phụ trợ, sảnxuất và lắp ráp ô tô lớn Chủ trương phát triển ngành công nghiệp ô tô của ViệtNam đã có từ lâu nhưng không thành công vì chưa có nhà đầu tư quy mô, đặc biệt
là thiếu tập trung, manh mún Việc đang hình thành các tổ hợp công nghiệp ô tô tậptrung là tín hiệu đáng mừng cho ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam
Để bắt kịp xu hướng chung, VinFast đã trở thành hãng xe tiên phong trên thịtrường ô tô điện tại Việt Nam và xe "xanh" kết hợp công nghệ tự lái là tương lai củangành công nghiệp ô tô toàn cầu, hãng đã xây dựng chiến lược kinh doanh táo bạonhằm thu hút người tiêu dùng hướng đến sản phẩm xe máy điện và ô tô điện Ngoàiđầu tư thiết kế 5 mẫu xe máy điện và 3 mẫu ô tô điện, VinFast đã triển khai lắp đặt
cơ sở hạ tầng phục vụ hậu mãi cho xe điện phủ khắp 63 tỉnh, thành phố ở Việt Nam,với 40.000 cổng sạc cho ô tô điện được sử dụng trong năm 2021
Hình 1.14 Mẫu xe ô tô điện đầu tiên được sản xuất tại Việt Nam
Để thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp ô tô trong thời gian tới, Việt Namcần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
- Chính phủ cần sớm có các chính sách thúc đẩy thị trường ô tô tăng trưởng ổnđịnh và dài hạn Cốt yếu vẫn là chính sách thuế ưu đãi, thuế tiêu thụ đặc biệt để tạo
ra sức cạnh tranh cho ngành sản xuất ô tô trong nước; cần có cơ chế tổng thể kiểmtra, giám sát, định hướng hoạt động của các liên doanh theo đúng cam kết, phát triểnnội địa hoá theo đúng tiến độ quy định, hạn chế những liên doanh chỉ khai thác thịtrường, lợi dụng các chính sách ưu đãi ban đầu Quan tâm xây dựng cơ chế ưu đãicho những dự án đầu tư sản xuất xe thân thiện môi trường
- Các đơn vị phụ trách ngành nghề của Chính phủ cần nghiên cứu xây dựngchiến lược phát triển công nghiệp hỗ trợ sản xuất ô tô, từ đó giúp cho các công ty có
sự nhìn nhận rõ ràng về tầm quan trọng và lợi ích đối với công nghiệp hỗ trợ sảnxuất ô tô, đặt biệt là quy hoạch các khu công nghiệp hợp lý Bên cạnh đó, việc xâydựng danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ bao gồm cả việc đánh giá mức độcông nghệ, hàm lượng kỹ thuật trong sản phẩm là cần thiết, để từ đó có thể định vịViệt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu đối với quá trình sản xuất ô tô
Trang 38- Có chính sách và cơ chế tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong
và ngoài nước có các dự án chuyển giao công nghệ và khuyến khích chuyển giaocông nghệ tiên tiến vào Việt Nam Hỗ trợ chi phí mua bản quyền cho các doanhnghiệp trong nước để phát triển ngành hỗ trợ công nghiệp ô tô Khuyến khích cáccông ty trong và ngoài nước thiết lập các quy trình quản lý chất lượng, bảo vệ môitrường theo các tiêu chuẩn quốc tế
- Các công ty hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp ô tô cần phải
có chiến lược đầu tư công nghệ tiên tiến bắt kịp thời đại và đồng thời quan tâm đàotạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý; đào tạo các kỹ sư và công nhân có trình độ tay nghềvững vàng; tạo điều kiện cho các cán bộ chủ chốt đi đào tạo ở các nước chính hãngtheo định kỳ để không ngừng cập nhật nâng cao kiến thức chuyên ngành Một khi
cơ sở vật chất và con người đảm bảo đáp ứng nền công nghiệp 4.0 thì sản phẩm làm
ra mới đủ sức cạnh tranh thương mại với thị trường
Trong lịch sử phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam, không thể lãngquên thương hiệu Vinaxuki được sáng lập bởi ông Bùi Ngọc Huyên Công ty CổPhần Ô tô Xuân Kiên, gọi tắt là Vinaxuki, được thành lập vào tháng 4/2004 vớitham vọng trở thành nhà sản xuất ô tô “made in Vietnam” đầu tiên, nhưng sau gần
10 năm vận hành đã rơi vào thua lỗ và đóng cửa vào năm 2015 Những chiếc ô tômang thương hiệu Vinaxuki được giới thiệu lần đầu vào tháng 9 năm 2005 và cácsản phẩm được lắp ráp tại nhà máy bao gồm: một loại xe bán tải, hai loại xe tảithùng loại nhỏ tải trọng dưới 1 tấn, bảy loại xe tải tự đổ trọng tải từ 1 đến 7 tấn.Cũng nhãn hiệu Vinaxuki, loại xe mini compact 5 chỗ sẽ được tung ra thị trườngvào cuối năm 2010 Loại xe này sẽ sử dụng động cơ do Mitsubishi Motors chế tạo
có dung tích dưới 2000cc Loại xe đa dụng 7 chỗ dự kiến sẽ được tung ra thị trường
từ năm 2011 Hai mẫu xe này được định danh nhãn hiệu Vinaxuki 100 và
VG-150, đều được chính công ty Xuân Kiên thiết kế và chế tạo với sự trợ giúp củachuyên gia Nhật Bản trên cơ sở linh kiện nhập khẩu và linh kiện sản xuất trongnước, dự kiến đạt tỷ lệ nội địa hóa ban đầu là 50% Tuy nhiên, do những năm tiếptheo của gia đoạn này đã xãy ra khủng hoảng kinh tế trên thị trường nên kế hoạchsản xuất và kinh doanh dòng xe du lịch bị phá sản
Hình 1.15 Chiếc VG-150 với nội địa hóa 50% của Vinaxuki
Trang 39Hình 1.16 Chiếc VG-100 với nội địa hóa 50% của Vinaxuki
Về tầm vóc, Vinaxuki là một thương hiệu khá nổi tiếng và đáng tự hào củaViệt Nam thời bấy giờ Công ty Cổ phần Ô tô Xuân Kiên là một công ty 100% vốntrong nước Ngoài nhãn hiệu Vinaxuki, công ty còn lắp ráp các nhãn hiệu xe củanước ngoài như Jinbei, Songhuajiang, Hafei của Trung Quốc Từ đầu năm 2004,công ty đã xây dựng nhà máy tại huyện Mê Linh với công suất 20.000 xe/năm.Trong giai đoạn 2006- 2008, Vinaxuki đã sản xuất trên 20 dòng xe tải với tỷ lệ nộiđịa hóa 27% và 3 dòng xe con với tỷ lệ nội địa hóa 5% (lắp ráp theo nhượng quyềncủa hãng xe Hafei Motor Co.Ltd, Trung Quốc) Những năm này, hoạt động của nhàmáy đều có lãi Sau 3 năm đi vào hoạt động, Vinaxuki đã thu hồi xong vốn, trả nợcho các ngân hàng Nhà sản xuất này tiếp tục vay thêm vốn để đầu tư xây dựng vớitham vọng nâng cao tỷ lệ nội địa hóa trong các dòng xe Tuy nhiên, kinh tế năm
2010 khó khăn khiến thị trường ô tô suy giảm, hàng nghìn xe lắp ráp xong nhưngkhông bán được, xe bán được cũng phải giảm giá dẫn đến khó khăn trong thu hồivốn Lợi nhuận của Vinaxuki giảm dần và lần đầu báo lỗ 45 tỷ vào năm 2012
Những năm tiếp theo kết quả kinh doanh vẫn khó khăn trong khi hệ thốngngân hàng rơi vào thời kỳ suy yếu 2012-2013 khiến Vinaxuki không thể quay vòngvốn Ông chủ Vinaxuki đã phải bán cả nhà ở, vét từng đồng trả nợ lãi ngân hàng,mong được tái cơ cấu để vay vốn lưu động nhưng không thành Nhà máy sau đó rơivào tình trạng không còn tiền để trả lương người lao động, mua nguyên liệu, cácdây chuyền sản xuất dần dần ngừng hoạt động ở Thanh Hóa, Mê Linh, Đắk Nông.Đầu năm 2015, Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA) chính thức khaitrừ thành viên Vinaxuki (do không nộp báo cáo sản xuất kinh doanh của năm 2014),chính thức đặt dấu chấm hết cho thương hiệu Vinaxuki sau 10 năm tồn tại
Trang 40Hình 1.17 Xưởng dập khung vỏ và chiếc ô tô bán chạy nhất của Vinaxuki
1.2.5.3 Ngành công nghiệp xe máy của việt nam:
Xe máy là phương tiện đi lại cơ động và thuận tiện nhất đối với hệ thống giaothông của Việt Nam Với một chiếc xe máy bạn có thể dễ dàng sử dụng với nhiềumục đích khác nhau: đi làm, đi chơi, vận chuyển… Người Việt Nam đã có thóiquen sử dụng xe máy để đi lại trong khoảng cách ngắn và thường xuyên Bất cứngười nào cũng có thể sở hữu một chiếc xe máy với giá cả hợp lý, trong khi ô tô vẫnnằm ngoài khả năng tài chính của đại bộ phận dân cư Cũng chính vì thế mà thịtrường xe máy Việt Nam là một thị trường sôi động và giàu tiềm năng với cuộcchiến tranh giành thị phần của các hãng như: Honda, Yamaha, Suzuki, Piagio,SYM… Honda là một thương hiệu xe máy có lịch sử phát triển lâu dài, vững chắc
và tạo lập được uy tín trên thị trường Nó quen thuộc đến nỗi cứ khi nhắc tới xe máy
là người ta lại nghĩ tới Honda Vietnam Honda Motor Co.Ltd là công ty sản xuất xemáy đầu tiên có mặt tại Việt Nam và đã nhanh chóng chiếm lĩnh được thị trường,đạt được những thành công đáng kể với các sản phẩm đa dạng hướng tới nhiều đốitượng có các mức thu nhập khác nhau
Hình 1.18 Dây chuyền sản xuất và đại lý bán hàng xe máy của Honda Việt Nam
Theo số liệu của Hiệp hội Các nhà sản xuất xe máy Việt Nam (VAMM) vừacông bố, lượng bán hàng cả năm 2020 của các thành viên đạt tổng cộng 2.712.615
xe các loại, giảm 16,66% so với năm 2019 Nguyên nhân chính tác động xấu đến thịtrường là do dịch bệnh Covid-19 và một phần khác là do xu hướng bão hòa xe 2bánh, khách hàng đang chú ý sang sản phẩm ô tô
Hiện tại, VAMM có 5 thành viên với các thương hiệu gồm Honda, Piaggio,Yamaha, Suzuki, SYM và được xem là những thương hiệu đang chi phối phần lớn