Phân tích và chứng minh luận điểm cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng con đường cách mạng bạo lực Phân tích và chứng minh luận điểm cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng con đường cách mạng bạo lực Phân tích và chứng minh luận điểm cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng con đường cách mạng bạo lực
Trang 1Nước Việt Nam là một nước anh hùng, suốt chiều dài lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta dù nhỏ bé nhưng luôn phải gồng mình đấu tranh chống lại các thế lực ngoại bang xâm lược Trong quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm, biết bao chiến công hiển hách của cha ông ta đã được lưu danh muôn thuở Chắc chắn là người Việt Nam, chúng ta không bao giờ quên những vị anh hùng như: Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Hưng Đạo Vương, Trần Quốc Tuấn, Vua Quang Trung Nguyễn Huệ, và rất nhiều vị anh hùng trong lịch sử oai hùng của dân tộc Các vị ấy đều là những vị tướng tài giỏi về võ nghệ, tinh thông binh pháp, nghệ thuật dụng binh như thần, tài thao lược của các thế hệ cha ông đã được nhân dân
ta đúc kết lạ thành truyền thống đánh thắng giặc ngoại xâm của dân tộc ta Đó i không chỉ là truyền thống quý báu của dân tộc mà còn là nghệ thuật quân sự của một nước nhỏ nhưng rất đỗi anh hùng
Tiếp thu truyền thống đánh giặc giữ nước hào hùng của dân tộc, đứng trước cảnh nước mất nhà tan, nhân dân đói khổ lầm than, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước Và Người đã giúp nhân dân Việt Nam lựa chọn đúng đắn con đường cách mạng nước mình Vận dụng một cách khoa học và sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin về con đường bạo lực trong cách mạng vô sản -vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã trở thành một nhà quân sự thiên tài với nghệ thuật sử dụng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực cách mạng, quyết định đúng đắn con đường khởi nghĩa vũ trang, toàn dân đánh giặc của nhân dân Việt Nam, đem lại hòa bình độc lập tự do cho cả dân tộc
Quan điểm sử dụng bạo lực cách mạng là một trong những quan điểm nằm trong hệ thống tự tưởng Hồ Chí Minh về quân sự “Tư tưởng Hồ Chí Minh về quân
sự bao gồm những quan điểm, tư tưởng có tính quy luật về đấu tranh vũ trang và chiến tranh cách mạn , về lực lượn quốc phòng và lực lượng g g vũ trang ở Việt Nam trong thời đại mới, nhằm thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Đó là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh,
là cơ sở cho sự hình thành và phát triển đường lối quân sự của Đảng và học thuyết quân sự Việt Nam trong thời hiện đại, nó góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin về quân sự và đã trở thành di sản quí -báu của dân tộc và thế giới”
Trang 22
2.Tình hình nghiên cứu tiểu luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một đề tài rộng và còn khá mới mẻ Mặc dù vậy đã
có một số đề tài và sách chuyên khảo nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh dưới nhiều góc độ khác nhau
Vấn đề “Cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng con đường cách mạng bạo lực” vẫn còn chưa được phân tích và đi sâu vào nghiên cứu Có hay cũng chỉ là những bài báo, bài luận lẻ tẻ và ời rạc .Mục đích, nhiệm r 3
vụ, phạm vi n hiên cứg u
Mục đích:
Nghiên cứu một cách hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về luận điểm “Cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng con đường cách mạng bạo lực” Đánh giá tình hình thế giới và đất nước hiện nay v đưa ra phương hướng pà hát triển đất nước thời kì hiện đại
Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, bài tiểu luận có nhiệm vụ: +Phân tích nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về luận điểm Cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng con đường cách mạng bạo lực +Đánh giá tình hình con đường Việt Nam đang đi hiện nay
3 Phạm vi nghiên cứu:
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một vấn đề rộng Trong phạm vi của tiểu luận, bản thân chỉ nghiên cứu một số nột dung chủ yếu về cách mạng giải phóng dân tộc cùng các luận điểm, cũng như đi sâu vào phân tích luận điểm Cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng con đường cách mạng o lực 4.Cơ sbạ ở
lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận:
Chủ nghĩa Mac Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chính sách của Đảng Cộng Sản Việt Nam là cơ sở phương pháp luận định hướng nghiên cứu
-4 Phương pháp nghiên cứu:
Ngoài các phương pháp luận của chủ nghĩa Mac Lenin, tư tưởng Hồ Chín Minh, bài tiểu luận sử dụng các phương pháp cụ thể, chú trọng phương pháp lịch
-sử kết hợp với logic, so sánh, phân tích, tổng hợp, thốn kế, khảo sát và tổng kết g thực tiễn,
Trang 33
5.Đóng góp của tiểu luận
Góp phần làm hiểu sâu và õ hơn tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải rphóng dân tộc nói chung à về con đường bạo lực cách mạng nói riêng.v
6.Ý nghĩa tiểu luận
Tiểu luận làm sáng tỏ tư tưởng Hồ Chí Minh về on đường bạo lực cách cmạng trong vấn đề giải phóng dân tộc, thuộc địa
7.Kết cấu bài tiểu luận
Bài tiểu luận được chia làm 2 chương i việc phân tích tư tưởng Hồ Chí vớMinh về vấn đề dân tộc cũng như con đường bạo lực mà Bác đã chọn trong công cuộc giải phóng dân tộc
Trang 44
CHƯƠNG 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ CÁCH : MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC
1.Vấn đề dân tộc, thuộc địa
1.1.Dân tộc và th c địauộ
Tư tưởng Hồ Chí Minh không đề cập đến các vấn đề dân tộc nói chung mà
là vấn đề dân tộc thuộc địa Thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa trong tư tưởng Hồ Chí Minh là:
- Đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc
Hồ Chí Minh giành sự quan tâm đến đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, xoá bỏ ách thống trị, áp bức, bóc lột của nước ngoài; giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc, thực hiện quyền dân tộc tự quyết, thành lập Nhà nước dân tộc độc lập Nếu Mác bàn nhiều v cuộc đấu tranh chống CNTB, Lênin bàn nhiều v cuộc ề ề đấu tranh chống CNĐQ, thì Hồ Chí Minh tập trung bàn về cuộc đấu tranh chống CN Thực dân Mác và Lênin bàn nhiều v cuộc đấu tranh giai cấp ở các nướề c TBCN, thì
Hồ Chí Minh bàn nhiều về đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa
- Lựa chọn con đường phát triển của dân tộc
Từ thực tiễn của phong trào cứu nước của dân tộc và nhân loại, Hồ Chí Minh khẳng định phương hướn phát triển của dân tộc tron bối cảnh mới của g g thời đại là CNXH
Hoạch định con đường phát triển của dân tộc thuộc địa là một việc làm hết sức mới mẻ: từ nước thuộc địa lên CNXCH phải trải qua nhiều giai đoạn chiến lược khác nhau
Con đường đó, như trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam, Người viết: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để
đi tới xã hội cộng sản”[1] Thực chất là con đường ĐTDT gắn liền với CNXH Con đường đó phù hợp với hoàn cảnh của các nước thuộc địa, nó hoàn toàn khác biệt Với các nước đã phát triển đi lên CNXH ở phương Tây Đây là nét độc đáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh
1.2.Độc lập dân tộc
- Hồ Chí Minh đã tiếp cận vấn đề độc lập dân tộc từ quyền con người
Trên con đường tiếp cận hân lý cứu nước, Hồ Chí Minh đã tìm hiểu và tiếp cnhận những nhân tố có giá trị trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776: “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy Có quyền được sống, quyền tự do và
Trang 55
quyền mưu cầu hạnh phúc”; Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1 1: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng v79 ề quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”
Từ quyền con người ấy, Người đã khái quát nên chân lý về quyền cơ bản của các dân tộc: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra có quyền bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng à quyền tự do”[2] v
- Nội dung của độc lập dân tộc
Là người dân mất nước, nhiều lần đượ chứng kiến tội ác dã man của chủ c nghĩa thực dân đối với đồng bào mình và nhân dân các dân tộc bị áp bức trên thế giới, Hồ Chí Minh thấy rõ một dân tộc không có quyền bình đẳng chủ yếu là do dân tộc đó mất độc lập Vì vậy, theo Người, các dân tộc thuộc địa muốn có quyền bình đẳng thực sự phải tự đứng lên đánh đuổi đế quốc xâm lược, giành lại độc lập thật
sự, độc lập hoàn toàn cho dân tộc mình
Nền độc lập hoàn toàn, độc lập thật sự của một dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải được thể hiện đầy đủ ở những nội dung cơ bản sau đây:
+ Độc lập tự do là quyền tự nhiên, thiêng liêng, vô cùng quý giá và bất khả xâm phạm của dân tộc Độc lập của Tổ uốc, tự do của nhân dân là thiêng liêng nhất qNgười đã từng khẳng định: Cái mà tôi cần nhất trên đời này là: đồng bào tôi được
tự do, Tổ quốc tôi được độc lập
Trong “Bản Yêu sách tâm điểm” gửi Hội nghị Vec-xay năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đòi quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam
Nội dung cốt lõi trong Cương lĩnh đầu tiên củ Đảng năm 1930 là: độ lập, a c
tự do cho dân tộc
Trực tiếp chủ trì Hội nghị TW 8 (5/1941), Người viết thư Kính cáo đồng bào
và chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng là cao hơn hết thảy”[3] Tháng 8 năm 1945, khi thời cơ cách mạng chín muồi, Người khẳng định quyết tâm: “Dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập dân tộc”[4]
Trong “Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, Người long trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ quyền tự do độc lập ấy”[5] vv
+ Độc lập dân tộc phải gắn liền với sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ quốc gia
Trang 66
Trong các thư và điện văn gửi tới Liên hợp quốc và Chính phủ các nước vào thời gian sau CMTT, Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Nhân dân chúng tôi thành thật mong muốn hoà bình Nhưng nhân dân chúng tôi cũng kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ độc lập và chủ quyền thiêng liêng nhất: toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ Quốc và độc lập cho đất nước”[6]
Khi đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, quyết tâm bảo vệ độc lập và chủ quyề được thể hiện rõ: “Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định n không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”[7] Và khi đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh phá hoạ miền Bắc, Hồ Chí Minh đã đưa ra một chân lý bất hủ: i
“Không có gì quý hơn độc lập tự do”[8]
Chính bằng tinh thần, nghị lực này cả dân tộc ta đứng dậy đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ uốc Và chính phủ Mỹ Qphải cam kết: “Hoa ỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất Ktoàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Việt Nam đã công nhận”
Trong hành trình tìm đường cứu nước, ngày 18/6/1919, Nguy n Ái Qễ uốc thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi đến hội nghị Véc-Xây Bản yêu sách của nhân dân An-Nam đòi quyền bình đẳng cho dân tộc Việt Nam
Một là, đòi quyền bình đẳng về chế độ pháp lý cho người bản xứ Đông Dường như đối với châu Âu, xoá bỏ chế độ cai trị bằng sắc lệnh, thay thế bằng chế
độ đạo luật
Hai là, đòi quyền tự do dân chủ tối thiểu cho nhân dân, tự do ngôn luận, tự
do báo chí, hội họp, tự do cư trú
Bản yêu sách không được chấp nhận, Nguyễn Ái Quốc rút ra bài học: Muốn bình đẳng thực sự phải đấu tranh giành độc lập dân tộc - làm cách mạng, muốn giải phóng dân tộc chỉ Có thể trông cậy vào chính mình, vào lực lượng của bản thân mình
+ Trong nền độc lập đó, mọi người dân đều ấm no, tự do, hạnh phúc, nếu không độc lập chẳng có nghĩa gì Nghĩa là độc lập dân tộc phải gắn liền với hạnh phúc, cơm
no, áo ấm của nhân dân
Người nói: “Chúng ta đã hy sinh, đã giành được độc lập, dân chỉ thấy giá trị của độc lập khi ăn đủ no, mặc đủ ấm” => Tư tưởng này thể hiện tính nhân văn cao
cả và triệt để cách mạng của Hồ Chí Minh
Tóm lại, “Không có gì quý hơn độc lập tự do” không chỉ là lý tưởng mà còn
là lẽ sống, là học thuyết cách mạng của Hồ Chí Minh Đó là ý do chiến đấu, là lnguồn sức mạnh làm nên chiến thắng của sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do
Trang 77
của cả dân tộc Việt Nam, đồng thời l nguồn động viên đối với các dân tộc bị áp à bức trên thế giới
2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về ách mạng giải phóng dân tộc c
Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có thể tóm tắt thành một hệ thống các luận điểm như sau:
mạng vô sản
- Đến với chủ nghĩa Mác Lênin, vận dụng chủ nghĩa Mác Lênin vào thực tiễnViệt - - Nam qua các chặng đường gian nan thử thách, Hồ Chí Minh luôn luôn khẳng định một chân lý là: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không ó con đường nào ckhác là cách mạng vô sản Từ đầu những năm 0 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã - 2chỉ rõ: chủ nghĩa đế quốc là một con địa hai vòi, một Vòi bám vào chính quốc, một vòi bám vào thuộc địa Muốn đánh bại chủ nghĩa đế quốc đồng thời cắt cả hai cái Vòi của nó đi, tức là phải kết hợp cách mạng vô sản ở chính quốc với cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa; phải xem cách mạng ở thuộc địa như là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản”, phát triển nhịp nhàng với cách mạng vô sản
2.2 Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo
- Hồ Chí Minh đã sớm khẳng định: muốn sự nghiệp giải phóng dân tộc thành công“Trước hết phải có đảng cách mệnh Đảng Có vững cách mệnh mới thành công”(10) - “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, hắc chắn nhất, cách cmệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(2)
- Hồ Chí Minh đã khẳng định nguyên tắc xây dựng Đảng: Đảng của giai cấp công nhân phải được xây dựng theo các nguyên tắc Đảng kiểu mới của Lênin
2.3 Cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp đoàn kết của toàn dân, trên cơ sở liên minh công - nông
Hồ Chí Minh viết: cách mạng là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc việc của một hai người”, vì vậy phải đoàn kết toàn dân, “sĩ, nông, công, thương đều nhất trí chống lại cường quyền” Trong sự tập hợp rộng rãi đó, Người khẳng định cái cốt của nó là công - nông, “công nông là người chủ cách mệnh Công nông là gốc cách mệnh”(11)
Trong cách mạng giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh chủ trương cần vận động, tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân Việt Nam đang mất nước, đang bị làm nô
Trang 88
lệ trong một Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi nhằm huy động sức mạnh của toàn dân tộc, đấu tranh giành độc lập, tự do
Đảng cần có các chủ trương, chính sách tranh thủ vận động các tầng lớp nhân dân vì mục tiêu chung Trong sách lược vắn t , Người viết: “Đảng phải hết ắtsức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt để kéo họ
đi vào phe vô sản giai cấp Còn đối ới v phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng tập trung.(12)
Trong khi chủ trương đoàn kết, tập hợp rộng rãi các lực lượng dân tộc chống đế quốc, Hồ Chí Minh vẫn nhắc nhở phải quán triệt quan điểm giai cấp:
“công nông là gốc cách mệnh; còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ cũng bị tư bản áp bức, song không cực khổ bằng công nông; 3 hạng ấy chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi”(13) Và trong khi liên lạc với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thỏa hiệp”(14)
Đầu th kỷ XX, trong phong trào Cộng sản quốc tế đã từng tồn tại quan ế điểm xem thắng lợi ủa cácc h mạng thuộc địa phụ thuộc trực tiếp vào thắng lợi ủa ccách mạng vô sản ở chính quốc Quan điểm này vô hình trung đã làm giảm tính chủ động, sáng tạo của các phong trào cách mạng ở thuộc địa Phát biểu tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản (tháng 6-1924), Hồ Chí Minh đã phân tích: “Vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản Việt Nam gắn chặt với vận mệnh của g i cấ bị áp bức ở các thuộc địa”(ia p 15);"nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở cá thuộc địa”(16), nếu c khinh thường cách mạng ở thuộc địa tức là“muốn đánh chết rắn đằn đuôi”(6) - Vận dụng Công thức của Má “Sự giải phóng của giai cấp công nhân phải là sự c: nghiệp của bản thân giai cấp công nhân”, Hồ Chí Minh đã đi tới luận điểm: “Công cuộc giải phóng anh em (tức nhân dân thuộc địa) chỉ có thể thực hiện được bằng
sự nỗ lực của bản thân anh em”(6)
Do nhận thức được thuộc địa là một khâu yếu trong hệ thống của chủ nghĩa
đế quốc và do đánh giá đúng đắn sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước à tinh thần vdân tộc, năm 1924, Hồ Chí Minh cho rằng: ch mạng thuộc địa không những Cákhông phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có thể giành thắng ợi ltrước
Khẳng định vị trí và vai trò của cách mạng giải phóng thuộc địa trong mối quan hệ với cách mạng chính quốc, Hồ Chí Minh cho rằng: “trong khi thủ tiêu một
Trang 99
trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”(17) Những luận điểm trên đây là sự phát triể sáng tạo chủ nghĩa n Mác
Lênin trong thời đại để quốc chủ nghĩa củ Hồ Chí Minh Nó có giá trị lý uận a l
và thực tiễn rất to lớn à đã được thắng lợi của cách mạng iải phóng dân tộc Việt v gNam cũng như trên thế giới chứng minh là hoàn toàn đúng đắn
2.5 Cách mạng giải phóng dân tộc phải được thực hiện bằng con đường bạo lực,
Ngay từ đầu năm 1924, trong Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ, N m kỳ, Hồ Chí aMinh đã đề cập khả năng một cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương Theo Người, cuộc khởi nghĩa vũ trang đó: phải có tính chất một cuộc khởi nghĩa quần chúng chứ không phải một c ộc nổi loạn Luận điểm trên đây của Hồ Chí Minh ubắt nguồn từ sự phân tích vai trò của quần chúng nhân dân, bản chất phản động của chính quyền thực dân Pháp và bài học kinh nghiệm của dân tộc Việt Nam, của cách mạng Nga, từ sự thất bại của các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX Tháng 5 năm 1941, Hội nghị Trung ương 8 do Người chủ trì đã đưa ra nhận định: Cuộc cách mạng Đông Dương kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang,
mở đầu có thể là bằng mộ uộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương t c
mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn
Để chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa vũ trang Hồ Chí Minh cùng với Trung ương , Đảng chỉ đạo xây dựng căn ứ địa, đào tạo, huấn luyện cán bộ, xây dựng các tổ cchức chính trị của quần chúng, lập ra các đội du kích vũ trang, chủ động đón thời
cơ, chớp thời cơ, phát động Tổng khởi nghĩa Tháng Tám và chỉ trong vòng 10 ngày
đã giành được chính quyền trong cả nước
Tóm lại, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết của Lênin về cách mạng thuộc địa thành một hệ thống luận điểm mới mẻ, ság tạo, bao gồm cả đường lối chiến lược, sách lược và phươn pháp tiến hành cách mạng giải g phóng dân tộc ở thuộc địa Thắng lợi của cách mạng Tháng Tám và hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, những thành tựu to lớn và rất quan trọng của sự nghiệp đổi mới ở nước ta đã chứng minh tính khoa học đúng đắn, tính cách mạng sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp giải phóng con người ,
Trang 1010
CHƯƠNG I CON ĐƯỜNG BẠO LỰC CÁCH MẠNG I:
1 Tính nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về sử dụng bạo lực cách mạng 1.1 Ngọn nguồn của tính nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về sử dụng bạo lực cách mạng
Như lịch sử đã chứng kiến, bạo lực xuất hiện cùng với giai cấp đối kháng; các giai cấp, dân tộc có lợi ích không thể điều hoà và được giải quyết thông qua đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc Bạo lực là sức mạnh, là ý chí của một giai cấp, nhà nước hoặc lực lượng chính trị dùng để cưỡng bức hoặc chống lại sự nô dịch, xâm lược của một giai cấ dân tộc này đối với một giai cấp, dân tộc khác p, Quân đội, công an, toà án, nhà tù là những công cụ bạo lực chủ yếu của Nhà nước Là một hiện tượng chính trị xã hội nên bạo lực trong lịch sử hoặc từng - giai đoạn Có tính chất không thuần nhất: Có bạo lực tiến bộ, cách mạng và cũng có bạo lực phản động, phản cách mạng Tính nhân văn trong tư tưởng của Chủ tịch
Hồ Chí Minh về sử dụng bạo lực c ch mạá ng trước hết được bắt nguồn từ sự thấm nhuần của Người về lý luận và thực tiễn bạo lực cách mạng, tiến bộ của giai cấp
vô sản, của chủ nghĩa Mác - Lênin và kinh nghiệm đấu tranh cách mạng của các Đảng Cộng sản và công nhân trong phong trào cộng sản quốc tế Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc ự chỉ dẫn của các nhà kinh điển mácxít cho rằng, bạo slực cách mạng là bà đỡ cho xã hội mới được thai nghén trong lòng xã hội cũ; một dân tộc không Có vũ khí và không biết sử dụng vũ khí chỉ xứng đáng làm nô lệ; rằng, để thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp vô sản phải sử dụng bạo lực cách mạng nhằm thủ tiêu xã hội cũ và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã tự khả sát thực tiễn đấu tranh o đầy máu và nước mắt của giai cấp vô sản thế giới và các dân tộc bị áp bức, bóc lột
và bị xâm lược
Người đã phân tích, tổng kết và đúc rút nên những bài học kinh nghiệm quý báu từ sự thất bại của Công x Pari, sự đứng vững của chính quyền Xôviết non trẻ ã sau Cách mạng tháng Mườ Nga và chiến thắng vĩ đại của Liên Xô trong cuộc chiến i tranh vệ quốc chống phát xít Đức, quân phiệt Nhật Bản Từ lý luận và thực tiễn cách mạng, chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng, muốn cứu nước, giải phóng dân tộc nhất thiết phải đi theo con đường cách mạng vô sản và chủ nghĩa Lênin; rằng, "trong cuộc đấu tranh gian khổ chống kẻ thù của giai cấp và của dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cá h mạng, giành lấy chính quyền c
và bảo vệ chính quyền”(1)
Tính nhân văn trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sử dụng bạo lực cách mạng còn được bắt nguồn từ văn hoá giữ nước và văn hiến của dân tộc Việt Nam Thật hiếm có một dân tộc nào như dân tộc Việt Nam một dân tộc không -
Trang 1111
những uôn bị kẻ thù bên ngoài rình rập, nhòm ngó nuôi l dã tâm xâm lược, mà còn phải trải qua biết bao nhiêu cuộc đấu tranh giành và giữ độc lập, tự do Lịch sử đấu tranh cải tạo thiên nhiên để phát triển kinh tế, văn hoá; chống kẻ thù xâm lược để giải phóng, giữ gìn non sông, đất nước của dân tộc ta đã tích hợp ành những giá thtrị văn hoá trong lao động sản xuất và đánh giặc giữ nước
Đó chính là sự nhận thức và ứng xử các mối quan hệ bản chất như: dựng nước v giữ nước, sức mạnh của quần chúnà g nhân dân và lực lượng vũ trang, chiến đấu trên chiến trường và đàm phán về ngoại giao; sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần; con người và vũ khí; tiêu diệt địch và sự nhân đạo, khoan hồng đối với sĩ quan, binh lính địch bị chết, bị thương, bị bắt; về chính sách đãi ngộ đối với những người có công với Tổ quốc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát huy truyền thống "lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy trí nhân thay cường bạ "; cả nước chung osức, toàn dân đánh giặc; thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ
Tính nhân văn trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sử dụng bạo lực cách mạng cũng là sản phẩm chủ quan được bắt nguồn từ nhân cách, đạo đức, văn hoá của Người Hồ Chí Minh từng mong muốn được làm trò nhỏ của Khổng
Tử, Giêsu, Thích Ca Mâu Ni Trên thực tế, Người đã sống, làm việc, học tập, đấu tranh theo một lý tưởng cao đẹp, không bao giờ mơ hồ, thoả hiệp; đồng thời, luôn có sự điều chỉnh để các nguyên tắc chung phù hợp với điều kiện cụ thể Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về lòng độ lượng, khoan dung, thương yêu, quý mến con người và có nỗi vui buồn đồng loại Chính tình thương và lòng nhân ái bao la
đó đã dẫn dắt Người đến đỉnh cao của các giá trị về chính trị, văn hoá, đạo đức, nghệ thuật quân sự cách mạng Các giá trị cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng tinh thần văn hoá để dân tộc ta không ngừng nâng cao vị thế quốc -
tế của mình; tích cực chủ động hội nhập vào cộng đồng thế giới, với những quan
hệ hợp tác song phương, đa phương
1.2.Một số nội dung cơ bản của tính nhân văn trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sử dụng bạo lực cách mạng
Xét cả mặt lịch sử lẫn lôgíc, tính nhân văn chỉ có trong bạo lực cách mạng và không thể CÓ trong bạo lực phản cách mạng chống lại tiến bộ lịch sử, chống lại con người Nội dung nhân văn trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bạo lực cách mạng có thể được khai thác từ nhiều góc độ khác nhau Theo chúng tôi, có thể tập trung vào những vấn đề cơ bản sau đây:
Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn con đường bạo lực cách mạng
để giải phóng giai cấp Công nhân, dân tộc, con người Việt Nam khỏi sự xâm lược
Trang 12Phương pháp để giải phóng dân tộ , giải phc óng giai cấp công nhân, giải phóng
xã hội và con người là đi ngược với quan điểm nhân văn Trên thực tế, các lãnh tụ của giai cấp vô sản cũng đã nhận thức đầy đủ sự quý giá của con đường hoà bình
để giành thắng lợi trong đấu tranh giai cấp và giải phóng dân tộc Nhưng cơ hội đó thật v cùng hiếm hoi và những người bị áp bức bóc lột, bị xâm lược không thể ô trông chờ vào sự "tự giác" trao quyền lực của giai cấp thống trị cho mình Lịch sử cách mạng thế giới và Việt Nam đã chứng minh điều đó Kinh nghiệm thực tiễn cũng chỉ ra rằng, tiến hành đấu tranh bằng con đường bạo lực cách mạng sẽ rút ngắn sự khổ đau, quằn quại của quần chúng nhân dân dưới sự bóc lột hà khắc của giai cấp thống trị, sự xâm lược của chủ nghĩa đế quốc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh:
" những người cách mạng Việt Nam đã được tiếp thu ảnh hưởng đầy sức sống của Cách mạng tháng Mười và chủ nghĩa Mác - Lênin Điều đó tựa như người đi đường đang khát mà có nước uống, đang đói mà có cơm ăn"(2) Sử dụng bạo lực trong đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản khác về bản chất so ới việc giai cấp vthông trị và những kẻ đi xâm lược dùng quân đội nhà nghề với súng đạn, phương tiện quân sự để tiêu diệt những người cách mạng nhằm bóp chết phong trào đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc để thiết lập, duy trì sự thống trị của chúng Do vậy, việc lựa chọn bạo lực cá h mạng để thực hiện mục tiêu giải phóng giai cấp, giảc i phóng dân tộc, giải phóng con người không mâu thuẫn với quan điểm nhân văn, trái lại, là biện pháp tích cực để thực hiện nguyện vọng được giải phóng của quần chúng cần lao, là con đường đúng đắn nhất để thực hiện mục tiêu cao đẹp vì lợi - ích của nhân dân lao động Trong cuộc đụng đầu lịch sử giữa dân tộc Việt Nam và
đế quốc Mỹ xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đại diện cho ý chí của dân tộc nêu quyết tâm "CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CÓ thể còn kéo dài Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc
Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn”(3)
Thứ hai, tính nhân văn trong tư tưởng về sử dụng bạo lực của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện sâu sắc, sinh động ở cách tổ chức lực lượng và hình thức tiến hành bạo lực cách mạng Trên cơ sở nhận thức vai trò quyết định của quần chúng nhân dân đối với sự phát triển của lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có quan niệm đúng đắn ngay từ đầu về tổ chức lực lượng, phương thức, hình thức tiến hành bạo lực phù hợp i điều kiện cụ thể của Việt Nam vớ và tư tưởng đó đã không ngừng phát triển, hoàn thiện trong quá trình lãnh đạo cách mạng ệt Nam NhVi ờ vậy, trong đấu tranh cách mạng giành chính quyền cũng như trong các cuộc kháng