Đó cũng là quá trình vận động theo quy luật kế thừa, nối tiếp, cách hệ đóng vai trò chủ lực trong việc kiến tạo nên diện mạo và hệ giá trị riêng của thời kì văn học ấy, biểu hiện và thôn
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM THỊ TRỊNH
ĐÓNG GÓP CỦA CÁC NHÀ THƠ
THẾ HỆ ĐỔI MỚI TRONG THƠ VIỆT NAM SAU 1986
Mã số: 9220121 Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
TÓM T ẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Trang 3Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Vinh
Người hướng dẫn khoa học:
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2021
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Trung tâm Tư liệu - Thư viện Nguyễn Thúc Hào, Trường Đại học Vinh
Trang 5M Ở ĐẦU
thế hệ tác giả Đó cũng là quá trình vận động theo quy luật kế thừa, nối tiếp, cách
hệ đóng vai trò chủ lực trong việc kiến tạo nên diện mạo và hệ giá trị riêng của thời
kì văn học ấy, biểu hiện và thông qua nhiều mối quan hệ: giữa nhà văn và hiện thực đời sống được phản ánh; giữa tác giả và tác phẩm; giữa tác phẩm và độc giả… Đó
là lớp người cầm bút được kết nối với nhau bởi hệ giá trị chung của thời đại mà họ vừa là kẻ sản sinh, kiến tạo, vừa là sản phẩm của hệ giá trị đó Nghiên cứu lịch sử văn học từ góc độ thế hệ tác giả, do đó, là một hướng nghiên cứu triển vọng, giúp
khoa học
nước, những thay đổi to lớn trong bối cảnh văn hóa, chính trị của thế giới và đất nước đã tác động mạnh mẽ tới đời sống văn học nghệ thuật, đòi hỏi và thúc đẩy văn nghệ sĩ phải đổi mới tư duy, quan niệm và lối viết Đây là lí do tạo nên những thành tựu nổi bật trên nhiều phương diện của văn học Việt Nam từ sau 1986 đến
nhiều thế hệ tiếp nối, song hành, trong đó, nổi bật là lớp tác giả thuộc thế hệ Đổi mới, với nhiều cá tính sáng tạo độc đáo Cùng với các thế hệ trước và sau đó, các tác giả thế hệ Đổi mới đã có những đóng góp hết sức ý nghĩa trong tiến trình vận động của văn học Việt Nam hiện đại
nổi bật và gây ấn tượng mạnh mẽ với độc giả Tác phẩm của họ thể hiện một quan điểm mĩ học mới, rất khác so với quan điểm mĩ học truyền thống Không chỉ dừng lại ở những tìm tòi kĩ thuật có tính manh mún, riêng lẻ, chủ đích của họ hướng tới việc hình thành một hệ hình tư duy thơ, một “loại hình” thơ hiện đại Dĩ nhiên, với
Trang 6những cách tân, đổi mới ráo riết trong quan điểm và thi pháp, sáng tác của họ cũng
đã gây ra những ý kiến tiếp nhận trái chiều gay gắt và không phải lúc nào thơ của
cần được lưu tâm nghiên cứu, lí giải, đánh giá một cách kĩ lưỡng và khách quan, thỏa đáng hơn
những thay đổi hết sức căn bản Mục tiêu phát triển năng lực người học và tính
mở là những đặc điểm nổi bật của chương trình này Điều này buộc người dạy,
người học phải hết sức chủ động trong việc mở rộng diện đọc, đánh giá, lý giải các hiện tượng văn học hiện đại, trong đó có thơ Việt Nam sau 1986 Đây cũng là một lí do khiến tác giả luận án, vốn là giáo viên Ngữ văn ở phổ thông, lựa chọn vấn đề nghiên cứu này
thêm đời sống thi ca Việt Nam đương đại, góp phần đưa thơ ca và tiếng Việt hội nhập vào xu thế phát triển chung của nhân loại Tuy nhiên, đến nay, vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về vai trò, vị trí và đóng góp của thế hệ tác giả này
Trên đây là những lý do cơ bản thúc đẩy chúng tôi nghiên cứu đề tài Đóng
góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong thơ Việt Nam sau 1986
Luận án tập trung nghiên cứu đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong thơ Việt Nam sau 1986, cụ thể là những tìm tòi, đổi mới trong tư duy, quan niệm và thi pháp
Luận án xác định phạm vi nghiên cứu là những đóng góp nghệ thuật thể hiện qua/ trong tác phẩm của các nhà thơ thuộc thế hệ Đổi mới, đặc biệt tập trung khảo sát sáng tác của các tác giả Dư Thị Hoàn, Nguyễn Lương Ngọc, Dương Kiều
Trang 7Minh, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Nguyễn Bình Phương, Inrasara Ngoài ra, luận án cũng mở rộng phạm vi khảo sát về các hiện tượng thơ Việt Nam hiện đại khác khi cần thiết
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là nghiên cứu những tìm tòi, sáng tạo nghệ thuật của các nhà thơ thế hệ Đổi mới, cụ thể trên các phương diện như tư duy nghệ thuật, quan niệm thẩm mỹ, hệ thống thi pháp…; trên cơ sở đó, nhận ra những đặc điểm mang tính quy luật trong tiến trình vận động, cách tân của thơ Việt Nam hiện đại
các nhà thơ thế hệ Đổi mới
cứu trong nước và ngoài nước về đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới
thế hệ Đổi mới) và phân tích bối cảnh xuất hiện nhà thơ thế hệ Đổi mới sau 1986
về sáng tạo và bản chất cái tôi trữ tình
thể loại, kết cấu, ngôn ngữ
4.2 Phương pháp cấu trúc - hệ thống
4.4 Phương pháp tiếp cận thi pháp học
so sánh
Trang 85 Đóng góp của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu mang tính bao quát, hệ thống về đặc điểm
và đóng góp của nhà thơ thế hệ Đổi mới trong thơ Việt Nam sau 1986 trên phương diện hệ hình tư duy, quan niệm sáng tạo và nghệ thuật thể hiện Trên cơ sở xác định những khái niệm công cụ và phương pháp luận nghiên cứu, phân tích, luận giải về một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu, luận án góp phần định vị và đánh giá một cách khách quan, thỏa đáng về vai trò và đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong thơ Việt Nam hiện đại
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận án sẽ được triển khai trong 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Bối cảnh xuất hiện của các nhà thơ thế hệ Đổi mới
Chương 3: Đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong quan niệm về sáng tạo và bản chất cái tôi trữ tình
Chương 4: Đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trên phương diện thể
lo ại, kết cấu, ngôn ngữ
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1.1 T ác giả
Tác giả (tiếng Anh: author; tiếng Pháp: auteur) là khái niệm đã được bàn
đến trong khá nhiều công trình, tài liệu khoa học Hiểu theo nghĩa rộng, tác giả là người sản xuất ra các sản phẩm sáng tạo trí tuệ, bao gồm nhiều lĩnh vực như khoa học, công nghệ, văn hóa, nghệ thuật Hiểu theo nghĩa hẹp, khái niệm tác giả thường được đồng nhất với khái niệm tác giả văn học, là người sáng tạo ra các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ “Tác giả”, cùng với “tác phẩm”, “thể loại”, “thời kỳ văn
Trang 9học” là những khái niệm then chốt trong phê bình, nghiên cứu lịch sử văn học
1.1.1.2 Thế hệ tác giả/ thế hệ nhà thơ
Một thế hệ nhà thơ chỉ được thừa nhận khi họ xác lập được một hệ giá trị thẩm mỹ mới cùng một diện mạo văn học mới, mang tính khác biệt so với trước
thực được phản ánh, chủ thể phản ánh và chủ thể tiếp nhận, thể hiện qua tác phẩm
đẹp, một điệu tình cảm thẩm mỹ nổi bật và một hệ thống thi pháp tương ứng” Hệ thẩm mỹ ấy được tạo ra thông qua sự phủ định và kế thừa những giá trị truyền thống, thông qua trải nghiệm và kiến tạo cái mới Tựu trung, có thể hiểu, thế hệ tác giả/ nhà thơ thực sự “phải là chủ thể cốt lõi của một chặng đường văn học Đó
là một lớp người cầm bút được kết nối bởi cùng một hệ giá trị chung của thời mình Họ vừa là kẻ sản sinh lại vừa là sản phẩm của hệ giá trị đó”
1.1.1.3 N hà thơ thế hệ Đổi mới
“Nhà thơ thế hệ Đổi mới” là một cách định danh mang tính quy ước, nhằm
chỉ thế hệ nhà thơ Việt Nam xuất hiện và thành danh chủ yếu vào thời kỳ Đổi mới (sau 1986) Về độ tuổi, họ chủ yếu thuộc thế hệ 5x, 6x Về thời điểm xuất hiện, họ chủ yếu sáng tác và thành danh từ khoảng sau 1986 đến 2000 Sáng tác của họ thể hiện quan niệm và thi pháp sáng tạo mới, khác biệt so với các thế hệ nhà thơ trước
đó Đó là kiểu tư duy thuộc hệ hình hiện đại và hậu hiện đại Thế hệ nhà thơ này hội tụ khá nhiều cá tính nghệ thuật riêng biệt, độc đáo, gây chú ý, ảnh hưởng, tác động khá mạnh mẽ trong giới sáng tác và độc giả Họ được “điểm danh” bởi các nhà phê bình nhạy bén, được ghi nhận, nhắc nhớ, tôn vinh của những người sáng tạo đồng thời, đồng lứa, có ảnh hưởng, tác động tới những cây bút đồng thời hoặc
kế tiếp Đây là một thế hệ sáng tác có đội ngũ đông đảo, sức sáng tạo dồi dào, mạnh mẽ Nhiều tác giả của thế hệ này vẫn đang trong thời kỳ sáng tác sung sức
và có những đóng góp nổi bật cho thơ Việt Nam đương đại
Trang 101.1.2 Tiêu chí nhận diện nhà thơ thế hệ Đổi mới
1.1.2.1 Xác định tiêu chí nhận diện nhà thơ thế hệ Đổi mới
- Tiêu chí về độ tuổi Nhà thơ thế hệ Đổi mới chủ yếu là 5x - 6x Về mặt
lịch sử, nhà thơ thế hệ Đổi mới được xem là thế hệ trung gian giữa thế hệ thơ kháng chiến chống Mỹ 1945 - 1975 với thế hệ thơ sau này (những người sinh sau
1.2.2.2 Xác định tiêu chí nhận diện sự đổi mới, cách tân trong thơ của thế
hệ nhà thơ Đổi mới
- Một là, họ cùng kiến tạo nên một kiểu tư duy và hệ giá trị thẩm mĩ mới, hiện đại Hàng loạt các cây bút của thế hệ Đổi mới đã ra sức vượt thoát khỏi hệ
hình thi pháp cũ, và bằng tư duy và bút pháp phi sử thi, họ đã gây nên tiếng vang
với Lối nhỏ của Dư Thị Hoàn, Củi lửa của Dương Kiều Minh, Từ nước, ngày sinh
lại của Nguyễn Lương Ngọc, Sự mất ngủ của lửa của Nguyễn Quang Thiều…
- Hai là sự cách tân, đổi mới về mặt thi pháp Sau 1986, nhiều trào lưu,
khuynh hướng, phương pháp sáng tác cùng tồn tại Cá tính sáng tạo của nhà thơ được chú ý, coi trọng Thay vì thứ ngôn ngữ đơn giọng, mang tính “đồng phục”, các nhà thơ thế hệ Đổi mới đã sản sinh ra những lớp ngôn ngữ đa giọng, đa sắc,
“gây hấn”, “thách thức” gay gắt với mĩ cảm truyền thống Thay vì kiểu kết cấu đóng kín thường thấy trong thơ như trước đây, giờ đây phổ biến trong thơ là lối kết cấu mở…
1.1.2.3 Xác định tiêu chí nhận diện tác giả tiêu biểu của thế hệ Đổi mới Trước hết, dựa trên thái độ, ý thức cách tân của các tác giả đối với thơ ca
Trang 11đương đại Hai là, sáng tạo của họ phải mang tính mới, thể hiện được tư tưởng,
mĩ học riêng, và nhờ đó, có ảnh hưởng, tác động tích cực tới đời sống văn học Ba
đánh giá, ghi nhận Đây là điểm quan trọng nhất trong tiêu chí nhận diện gương mặt tiêu biểu của thế hệ Đổi mới nói riêng, của cả nền văn học trong tất cả các giai đoạn nói chung
tiêu biểu của thế hệ Đổi mới Dĩ nhiên, chúng tôi cũng ý thức rất rõ rằng, các tiêu chí này vẫn chưa thực bao quát được hết các tác giả tiêu biểu của thế hệ Đổi mới trên thực tế Vả chăng, như đã nói trên, việc xác định, lựa chọn này dù sao vẫn có tính chủ quan, nó phụ thuộc nhiều vào tính chất, năng lực đọc, khả năng bao quát tài liệu của chủ thể
1.1.3.1 Lý thuyết loại hình học tác giả
Loại hình học (typology), là khoa học nghiên cứu về loại hình Bằng tư duy,
quy luật phát triển của đối tượng Nói một cách ngắn gọn, loại hình học văn học
văn học Trên cơ sở lý thuyết này, chúng tôi sẽ chú ý tìm hiểu về những dấu hiệu, đặc điểm, phẩm chất chung của các nhà thơ thuộc thế hệ Đổi mới, qua đó cố gắng xác định kiểu/ loại diện mạo riêng của thế hệ tác giả này, trong tương quan đối chiếu, so sánh để nhận ra sự khác biệt so với các kiểu/ loại thế hệ tác giả trước và sau đó
1.1.3.2 Lý thuy ết về mối quan hệ giữa lịch sử, văn hóa và văn học
hóa và văn học đều xuất phát từ quan điểm khoa học nhấn mạnh, coi trọng mối
Trang 12hình thành, phát sinh trong/ trên hoàn cảnh lịch sử cụ thể đó Trên thực tế, các lí
phong phú
văn học, lựa chọn và kết hợp các quan điểm nghiên cứu, chúng tôi nhằm mục đích:
đặc điểm của thế hệ tác giả này; Tìm hiểu một số yếu tố về tiểu sử, tâm lý, đặc điểm cá tính cá nhân, hoàn cảnh đời sống riêng tư… của nhà thơ, qua đó, phần
1.1.3.3 Lý thuyết thi pháp học
cách đây 2.400 năm Theo nhiều nhà nghiên cứu, thi pháp học lí thuyết phương
“thi học” với nghĩa là học vấn về thơ, phép làm thơ… Có thể nói, thuật ngữ thi pháp
Ấn Độ, Triều Tiên, Việt Nam [163, 27] Trong luận án này, chúng tôi áp dụng lý
tượng là các văn bản thơ của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong tính chỉnh thể hình
Trang 13thức của nó
1.1.3.4 Lý thuyết tiếp nhận văn học
xuất hiện ở phương Tây từ thập kỉ 60 của thế kỉ XX Người đầu tiên đưa ra được
mô hình hoàn thiện cho mỹ học tiếp nhận là Hans Robert Jauss, giáo sư giảng dạy văn học tại trường Đại học Konstanz (Đức) Trường phái “mỹ học tiếp nhận” Konstanz còn có nhiều tác giả nổi tiếng như Wolfgang Iser, Manfred Fuhrmannn, Rainer Warning… Lý thuyết này cũng là một điểm tựa phương pháp luận quan trọng với tác giả luận án khi nghiên cứu về đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới, bởi trên thực tế, việc tiếp nhận đối tượng này cũng là một vấn đề hết sức phức tạp, đòi hỏi phải được cắt nghĩa, lý giải, đánh giá trên/ bằng những cơ sở và phương pháp khoa học
1.2.1.1 Nghiên cứu về bối cảnh ra đời và đội ngũ sáng tác của thế hệ Đổi mới
Trong nhiều công trình, khi “điểm danh” đội ngũ nhà thơ hậu chiến và Đổi mới, các nhà nghiên cứu thường sắp xếp theo giai đoạn sáng tác, chẳng hạn đội ngũ sáng tác trong giai đoạn sau 1975, sau 1986… Lưu Khánh Thơ, trong công
Thơ trữ tình Việt Nam 1975 - 1990 (1998); Văn Giá trong bài Đợt sóng cách tân đầu tiên của thơ Việt sau 1975: Dương Kiều Minh, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Quang Thiều (2016)…
1.2.1.2 Nghiên cứu về đóng góp và hạn chế của nhà thơ thế hệ Đổi mới
Theo nhiều nhà nghiên cứu, thơ sau 1986 là thời kỳ thơ có nhiều tác giả, tác phẩm đặc sắc, góp phần xác lập nên diện mạo mới của một chặng đường văn học với quan niệm thẩm mỹ và thi pháp mới Đáng chú ý là công trình, bài viết của các nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành, Lê Lưu Oanh, Đỗ Lai Thúy Nguyễn Đăng Điệp, Trần Đình Sử, Chu Văn Sơn, Văn Giá Các nhà nghiên cứu đã đi từ
Trang 14bối cảnh văn hóa, chủ thể sáng tạo, hệ giá trị thẩm mĩ để nhận diện đóng góp của thế hệ nhà thơ Đổi mới
Những đóng góp trong tư duy, quan niệm, thi pháp: Nguyễn Đăng Điệp,
trong tiểu luận phê bình Vọng từ con chữ (2003), trong Thơ Việt Nam hiện đại tiến
trình và hiện tượng (2014); Phong Lê, trong chuyên luận Phác thảo văn học Việt Nam hiện đại thế kỉ XX (2013); Lê Hồ Quang, trong Tư duy thơ Việt Nam sau 1975 qua sáng tác của một số tác giả thế hệ mới (2016)
Nghiên cứu về đóng góp của các tác giả tiêu biểu: Thành tựu thơ Việt Nam
giai đoạn sau 1986, có sự đóng góp của một đội ngũ sáng tác hết sức đông đảo, với nhiều cá tính sáng tạo mới mẻ, độc đáo Số lượng công trình, bài viết bàn về các tác giả tiêu biểu của thế hệ nhà thơ Đổi mới, nhất là các tác giả như Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Dương Kiều Minh, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Bình Phương, Inrasara, Dư Thị Hoàn… hết sức phong phú
Đánh giá chung về ưu điểm và hạn chế của nhà thơ thế hệ Đổi mới: Các
đã có những những ý kiến, thái độ đánh giá trái chiều về thế hệ nhà thơ này Một
tân của các tác giả thuộc thế hệ Đổi mới, coi đó là sự “chuyển mình” cần thiết, rất đáng ghi nhận của thơ ca Việt Nam hiện đại Về quan điểm này có thể kể đến một
số ý kiến nổi bật của các nhà thơ, nhà phê bình như Thanh Thảo, Hoàng Hưng,
Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Việt Chiến, Inrasara, Mai Văn Phấn… Hai là, thái độ
đề cao có chừng mực, đi cùng sự đề cao là việc chỉ ra những hạn chế trong sáng tác của các tác giả thuộc thế hệ Đổi mới Điều này có thể thấy trong ý kiến của nhiều nhà phê bình, nghiên cứu như Trần Đình Sử, Phong Lê, Nguyễn Đăng Điệp, Chu Văn Sơn, Đỗ Lai Thúy, Văn Giá, Lưu Khánh Thơ, Inrarsara, Mã Giang Lân,
Lê Lưu Oanh, Trần Ngọc Hiếu, Nguyễn Thanh Sơn… Ba là, thái độ phê phán gay
gắt, phủ nhận một cách triệt để, chối bỏ mọi thể nghiệm sáng tạo của thế hệ Đổi mới Tiêu biểu cho ý kiến này là các bài viết của Trần Mạnh Hảo, Chu Giang - Nguyễn Văn Lưu, Đỗ Hoàng, Nguyễn Hoàng Đức…
Trang 151.2.2 Nh ững nghiên cứu ở nước ngoài
Về những nghiên cứu ở nước ngoài, chúng tôi tìm được một số công trình, tài liệu bàn về thơ Việt Nam giai đoạn hậu chiến và Đổi mới của một số tác giả như Nguyễn Hưng Quốc, Nguyễn Đức Tùng, Đỗ Quyên Cụ thể, Nguyễn Hưng
Quốc trong lời giới thiệu tuyển tập 26 nhà thơ Việt Nam đương đại; Đỗ Quyên
về một số nhà thơ thế hệ Đổi mới như: Viết về Mai Văn Phấn, Inrasara…
Trong chương 1, chúng tôi tập trung trình bày hai nội dung chính Thứ nhất là cơ sở lý thuyết của đề tài luận án Phần này có ba luận điểm cơ bản Thứ nhất là xác định các khái niệm trung tâm của luận án; thứ hai, xác định tiêu chí nhận diện đối tượng nhà thơ thế hệ Đổi mới; thứ ba, trình bày về một số lý thuyết hữu quan, đóng vai trò cơ sở phương pháp luận giúp chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài Ở nội dung thứ hai, chúng tôi trình bày lược thuật về các công trình nghiên cứu về các nhà thơ thế hệ Đổi mới, bao gồm những nghiên cứu trong nước
và nước ngoài Theo tìm hiểu, khảo sát của chúng tôi, cho đến nay, thơ Việt Nam thời hậu chiến và Đổi mới là đối tượng quan tâm nghiên cứu của nhiều công trình khoa học trong nước Hệ thống các chuyên luận, báo cáo, bài báo khoa học, luận văn, luận án…về đối tượng này rất phong phú Đây là những góc nhìn, những cách đọc khác nhau , giúp luận án tham chiếu, có cơ sở để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề đóng góp của thế hệ nhà thơ Đổi mới trong thơ Việt Nam hiện đại