Từ thực tiễn nghiên cứu về lập luận ở nước ngoài Nghiên cứu logic phi hình thức và lập luận LL đời thường đã là một xu hướng phát triển mạnh mẽ trên thế giới từ nửa sau thế kỉ XX với các
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN DIỆU THƯƠNG
LẬP LUẬN TRÊN DIỄN ĐÀN QUỐC HỘI QUA NHỮNG PHIÊN CHẤT VẤN
Ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 9220102
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
THÁI NGUYÊN - 2022
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Người hướng dẫn khoa học:
1 GS.TS Nguyễn Đức Dân
2 PGS.TS Nguyễn Văn Lộc
Phản biện 1: Phản biện 2: Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Trường họp tại: TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM - ĐẠI HỌC THÁI
NGUYÊN
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2022
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Trung tâm học liệu - Đại học Thái Nguyên
- Thư viện trường Đại học Sư phạm
Trang 3- Thư viện quốc gia
Trang 4DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1 Nguyễn Diệu Thương (2018), "Giới thiệu các khuynh hướng
nghiên cứu về lập luận (Phần 1)", Tạp chí Từ điển học và Bách
khoa thư, số 06, tr.24-29, 2018.
2 Nguyễn Diệu Thương (2020), "Thử tìm hiểu một số lập luậntại Nghị trường Quốc hội Việt Nam từ quan điểm tích hợp
logic học và Ngữ dụng học", Tạp chí Khoa học- Công
nghệ-Đại học Thái Nguyên, số 07, tr.154-161, 2020.
3 Nguyễn Diệu Thương (2020), "Đặc điểm lập luận trong diễnngôn của các Đại biểu Quốc hội Việt Nam nhìn từ đơn vị cơ
sở câu (Phần 1)", Tạp chí Từ điển học và bách khoa thư, số 07,
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Từ thực tiễn nghiên cứu về lập luận ở nước ngoài
Nghiên cứu logic phi hình thức và lập luận (LL) đời thường đã
là một xu hướng phát triển mạnh mẽ trên thế giới từ nửa sau thế kỉ
XX với các diễn đàn trao đổi: hội nghị nghiên cứu về LL (ISSA.ECA), hội nghị nghiên cứu về tranh luận (OSSA); tạp chí về logicphi hình thức (Informal logic Journal), tạp chí nghiên cứu LL(Journal of Argumentation)…
1.2 Từ thực tiễn nghiên cứu về lập luận tại Việt Nam
Hiện nay, ở Việt Nam, những nghiên cứu về LL chủ yếu dừnglại ở nhiệm vụ phân tích cấu trúc ngôn ngữ nội tại, chưa xem xét LLtrong sự vận động, tương tác hội thoại
LL trên diễn đàn Quốc hội (QH) Việt Nam là một vấn đề quantrọng nhưng chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào được đặt ratheo định hướng nghiên cứu từ bản chất lí thuyết LL Thực hiệnnghiên cứu này, luận án hướng đến quan điểm chỉ đạo của nguyênChủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân tại kì họp thứ 3 (QH khóa XIV):
“Chuyển từ QH tham luận sang QH tranh luận” [111]
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng một số vấn đề lí thuyết LL trên thế giới, nhận diện,phân tích, đánh giá LL (về cấu trúc ngôn ngữ nội tại, đặt trong bối cảnhtranh luận) và nhận xét một số vấn đề sử dụng LL trong diễn ngôn hỏi,chất vấn, trả lời, điều hành trên diễn đàn QH Việt Nam (đặc biệt chú ýhướng đến LL hiệu quả trong bối cảnh chất vấn, ngữ cảnh tranh luận)
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thu thập, tổng thuật các tài liệu liên quan
- Thống kê, phân loại các thành phần trong cấu trúc LL (quanhững phiên chất vấn): các kiểu mô hình LL thường gặp trong cáclượt lời; các lập luận yếu/ sai- lập luận chưa thuyết phục (LLY/S-LLCTP); các hành vi hỏi và trả lời; phương pháp hỏi, trả lời, điềuhành trong hội thoại tranh luận; các mô hình tương tác hội thoại củacác đại biểu (ĐB) QH
- Phân tích, đánh giá, lí giải LL tại diễn đàn QH dựa trên sự miêu
tả, sơ đồ hóa các LL (cấu trúc, thành tố, mối quan hệ giữa các thành tố),
và lược đồ hóa các hội thoại tranh biện đặt trong mối quan hệ vận độngtương tác (các tham thoại, hành vi hỏi/ chất vấn và trả lời)
- Nhận xét về cách thức sử dụng LL từ kết quả phân tích thực trạng
Trang 63 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là lập luận qua những phiênchất vấn trên diễn đàn Quốc hội Việt Nam (xét trong các vai trò: 1,sản phẩm của quá trình nói năng xuất phát từ tiền đề để đi đến kếtluận (lập luận trong cấu trúc nội tại của từng lượt lời- chương 2); 2,hành vi ngôn ngữ phức hợp1 trong hội thoại tranh luận- chương 3)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án này nghiên cứu LL (hình thức, nội dung) xét trongcác nhiệm vụ xác định, phân tích, đánh giá, tạo lập lập luận quanhững phiên chất vấn trực tiếp (kể cả những phiên chất vấn kết hợpkhi thảo luận báo cáo tổng kết tình hình phát triển kinh tế- xã hội) từ
kì họp QH khóa XI- XIV Trong đó, luận án sử dụng 206 LL (83ĐLL) tại hai phiên họp liền nhau tại khóa XIII là trường hợp mẫu.Các nhận định rút ra còn được kiểm chứng, khái quát bởi nhữngphiên họp, kì họp khác từ các khóa XI- XIV (các phiên họp này đượclựa chọn đa dạng ở các kì họp, khóa họp) Nguồn tư liệu được lấy từcổng thông tin điện tử chính thức của QH Việt Nam (http://quochoi.vn)
4 Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Hướng tiếp cận
Đối tượng nghiên cứu của luận án là LL Vì thế, quá trình phântích, đánh giá LL luôn đặt trong sự tích hợp của các ngành: logic học,ngữ dụng học và một phần tu từ học
Luận án chủ yếu vận dụng kết quả nghiên cứu về LL của trườngphái logic (theo quan điểm của S Toulmin, D Walton) kết hợp vớiquan điểm LL triệt để, miêu tả (của O Ducrot), và một phần quanđiểm dụng học biện chứng (của D Walton và F.van Eemeren) khi xemxét LL trong sự vận động hội thoại tranh biện
4.2 Phương pháp, thủ pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích và các nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận
án vận dụng nghiên cứu định tính dựa trên trường hợp cụ thể (case study)
4.2.1.1 Phương pháp miêu tả
1 Luận án có quan điểm lập luận là hành vi ngôn ngữ phức hợp theo quan điểm của tác giả
F.H van Eemeren [48, tr.43-53] Khi đó, hành vi lập luận bao gồm chuỗi các hành vi phức hợp trong nó Ví dụ: hành vi lập luận với mục đích thuyết phục người nghe mua hàng, người
nói xây dựng trong lập luận của mình chuỗi hành vi gồm: hành vi trần thuật (Sản phẩm này
có mẫu mã đẹp, hình dáng nhỏ gọn), hành vi khuyên (Hãy mua sản phẩm này!), hành vi cam
kết (Chúng tôi cam kết về chất lượng sản phẩm Sản phẩm sẽ được bảo hành trong thời gian
24 tháng)…
Trang 7Đây là phương pháp có vai trò quan trọng trong luận án.Phương pháp này được sử dụng phổ khắp từ miêu tả đặc điểm LLtrong cấu trúc nội tại của diễn ngôn, các kiểu LLCTP, sự tương táctrong hội thoại tranh luận
4.2.1.2 Phương pháp phân tích diễn ngôn
Phương pháp phân tích diễn ngôn được sử dụng xuyên suốttrong luận án Sử dụng phương pháp này, luận án đi vào phân tích,phân loại một số phương diện của lập luận
4.2.2.2 Thủ pháp thống kê, phân loại
Thủ pháp thống kê, phân loại được dùng trong việc khảo sát sốlượng các yếu tố ngôn ngữ sử dụng trong LL, các lí lẽ, nhữngLLCTP, phương pháp hỏi, trả lời; mô hình LL đặt trong các mối quan
hệ với kết quả tranh luận
5 Đóng góp của luận án
5.1 Đóng góp trên phương diện lí luận
Luận án khẳng định những giá trị nghiên cứu về LL trên thế giới,làm sáng tỏ những lí thuyết này qua một nghiên cứu cụ thể tại Việt Nam:
lí thuyết về LL sai, lí thuyết về hội thoại tranh biện, lí thuyết về các lí lẽtrong LL, lí thuyết mô hình LL của S Toulmin, lí thuyết miêu tả LL và
đa thanh trong phân tích diễn ngôn của O Ducrot
5.2 Đóng góp trên phương diện thực tiễn
Luận án đã đặt ra vấn đề cần xem xét LL với vai trò là một hành
vi ngôn ngữ phức hợp đặt trong hội thoại tranh biện tại Việt Nam.Luận án cung cấp phương pháp phân tích, đánh giá LL, phảnbiện, xây dựng LL đặt trong bối cảnh chất vấn tại diễn đàn QH ViệtNam Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được ứng dụng trực tiếptrong phạm vi QH Ngoài ra các kiểu sơ đồ lí lẽ, sơ đồ lập luận chưathuyết phục, sơ đồ phản biện trong luận án có thể được vận dụngtrong mọi lĩnh vực của cuộc sống
Luận án có thể là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu, giảng dạy
về ngữ dụng học, logic học, phân tích diễn ngôn và tư duy phản biện
6 Cấu trúc của luận án
Trang 8Ngoài phần Mở đầu, Kết luận; Nội dung của luận án được xâydựng trong 3 chương.
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU,
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về lập luận ở nước ngoài
LL là nhân tố không thể thiếu trong “nghệ thuật lời nói” và đã
được đề cập đến từ thời Cổ đại Năm 1947, LL được nhắc đến nhiều
trong tác phẩm “Tu từ học” của Aristotle Sau đó phải đến thế kỉ XX,nhiều quan điểm nghiên cứu mới về lí thuyết LL ra đời nhằm giatăng hiệu quả của hoạt động LL trong thực tế Nhìn chung, nhữngnghiên cứu này được tổng thuật bởi F.van Eemeren [chủ tịch hiệp hộinghiên cứu về LL (ISSA), tổng biên tập tạp chí LL (ArgumentationJournal)] và Rob Grootendorst [50, tr.43-57], một số tác giả khác[49], [56], [66], [91]… Theo đó, tình hình nghiên cứu về LL có thểđược khái quát theo các hướng nghiên cứu: từ quan điểm của S.Toulmin và C Perelman, từ quan điểm logic phi hình thức, từ quan
điểm LL sai, từ quan điểm biện chứng hình thức, từ quan điểm biện chứng dụng học, từ quan điểm chủ nghĩa LL triệt để, từ quan điểm tu
từ học hiện đại, từ những hướng tiếp cận có ý nghĩa khác… Mỗi
hướng tiếp cận này đều đạt được những thành tựu và còn những hạnchế Chúng có thể gợi mở, bổ khuyết cho nhau
Nghiên cứu biện chứng liên quan đến lĩnh vực chính trị đượckhởi xướng bởi F.van Eemeren (2002, 2009) [56, tr.583-585] Sau đó,nghiên cứu LL trong lĩnh vực chính trị cũng đã được chú ý: LL sai củatổng thống Hoa Kì (Obama) [42], Donal Trump [125] sơ đồ hóa môhình tranh luận trong các cuộc tranh luận tại Nghị trường [71], [79]…
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về lập luận tại Việt Nam
Ở Việt Nam, có những công trình nghiên cứu về LL dưới góc
độ ngữ dụng học và logic học của tác giả Đỗ Hữu Châu (1996) [1] vàNguyễn Đức Dân (1996, 1998) [3], [4] Các công trình này đã trìnhbày những vấn đề cơ bản trong lí thuyết LL như: khái niệm LL, quan
hệ LL, cấu trúc LL, lẽ thường trong LL… Tuy nhiên, cách tiếp cậnlại chủ yếu là giới thiệu lí thuyết LL theo quan điểm của O Ducrottrên cứ liệu tiếng Việt
LL trước hết được xem xét từ quan điểm miêu tả, phân tích diễnngôn Hướng nghiên cứu này về sau được cụ thể hóa hơn bởi những
Trang 9miêu tả chi tiết trong hệ thống tiếng Việt: Nguyễn Minh Lộc (1994)[25], Kiều Tập [32, tr.129], Nguyễn Thị Thu Trang [38] Về sau, dướiquan điểm phân tích diễn ngôn, LL được các tác giả quan tâm nghiêncứu trong các lĩnh vực cụ thể: Nguyễn Thị Hường (2010) [21]; ChuThị Quỳnh Phương (2016)[30]; Nguyễn Thị Thắm (2019) [33]…Tác giả Nguyễn Đức Dân đã cập nhật lí thuyết logic phi hìnhthức với bài viết “Giới thiệu lô gích phi hình thức” (2013) [7] Sau
đó, một số tác giả đã tiếp tục phát triển hướng tiếp cận này: NguyễnDuy Trung (2014) [39]; Trần Trọng Nghĩa (2015) [28]
Một trong những vấn đề khá thú vị và đạt được nhiều thành
quả nghiên cứu trên thế giới khi nói đến logic là LL sai (Fallacy) thì
ở Việt Nam, đến thời điểm hiện tại; chưa nhiều công trình nghiêncứu chuyên sâu và có tính ứng dụng liên quan ([27], [14])
Thêm vào đó, khi nghiên cứu LL trong ngôn ngữ đời thường,chúng ta chỉ có thể lĩnh hội trọn vẹn nhờ đến bối cảnh LL… (theođánh giá D Walton [83], F.van Eemeren [54], [55])
Tính đến thời điểm hiện tại, chưa có công trình nào nghiên cứuđầy đủ về các LL và tranh luận tại Nghị trường QH Việt Nam Chỉ
có số ít các tài liệu khái quát về QH Việt Nam, hướng dẫn kĩ năngthu thập, xử lí thông tin, tranh luận [16], [37], [126] hoặc một vài ýkiến tổng kết, khái quát có tính chất kinh nghiệm về vấn đề thực tiễnhoạt động của QH [111], [112], [114] Từ đó, thực tiễn đặt ra vấn đềđịnh hướng xây dựng kĩ năng LL, phản biện cần phải dựa trên căn cứxuất phát từ bản chất lí thuyết LL và thực trạng sử dụng LL, tranhluận tại Nghị trường
1.2 Cơ sở lí luận và thực tiễn
1.2.1 Cơ sở lí luận
1.2.1.1 Khái niệm lập luận
LL là quá trình hay sản phẩm của quá trình đi từ tiền đề (luận cứ,
lí lẽ) đến kết đề Một LL sẽ được hỗ trợ bởi các LL khác, hoặc có thể bịtấn công bởi các LL khác bằng cách đưa ra các câu hỏi phản biện
1.2.1.2 Cấu trúc lập luận
Cấu trúc LL trong luận án này được xem xét theo mô hình rútgọn truyền thống (từ tiền đề đến kết đề) và sự mở rộng miêu tả theoquan điểm của O Ducrot (cơ sở lí luận để thực hiện chương 2), quanđiểm S.Toulmin (cơ sở lí luận để thực hiện chương 3)
a Cấu trúc LL theo mô hình LL truyền thống, chủ nghĩa miêu tả
Cấu trúc LL đơn giản nhất gồm hai thành tố chính là tiền đề và kết đề/kết luận Trong đó: luận cứ (LC), lí lẽ là tiền đề để tạo nên kết luận
b Cấu trúc lập luận theo mô hình S Toulmin
Trang 10Trong chương 3 của luận án, cấu trúc LL (theo mô hình S.Toulmin) được nghiên cứu gồm sáu thành tố: dữ kiện/ dữ liệu (data),biện minh (warrant), tuyên bố (claim), hạn định (qualifier), phản bác(rebuttal), hỗ trợ biện minh (backing of warrant) Các thành tố dữkiện/ dữ liệu, biện minh, tuyên bố theo mô hình này lần lượt tươngứng với các yếu tố luận cứ, lí lẽ, kết luận trong mô hình LL theotruyền thống.
c Lí lẽ- yếu tố biện minh trong cấu trúc lập luận theo mô hình S Toulmin
Trong cấu trúc LL, lí lẽ là thành tố thể hiện mối quan hệ suyluận Lí lẽ trong LL đời thường gồm 2 loại: lí lẽ logic/ lí lẽ theo logichình thức và lí lẽ đời thường (trong ngôn ngữ tự nhiên)
(i) Lí lẽ theo logic hình thức
Lí lẽ logic hình thức được hiểu chính là các phương pháp suyluận hình thức Loại lí lẽ này gồm ba loại: lí lẽ diễn dịch (deductivereasoning), lí lẽ quy nạp (inductive reasoning) và lí lẽ loại suy(analogy reasoning)
(ii) Lí lẽ theo logic đời thường
Lí lẽ trong logic đời thường có thể dựa theo các quy tắc củalogic hình thức hoặc không dựa theo quy tắc của logic hình thức Với mục đích đánh giá LL (đặc biệt với vai trò là hành vi ngônngữ trong hội thoại tranh luận), luận án chấp nhận sự phân loại lí lẽ
đời thường dựa theo tiêu chí cơ sở trực tiếp tạo ra kết luận cuối cùng
(đích của LL đang xem xét) Theo đó, lí lẽ bao gồm 4 loại chính: lí lẽ theo giá trị, lí lẽ nhân quả, lí lẽ theo phương pháp so sánh thang độ,
lí lẽ theo phương pháp chất vấn.
- Lí lẽ theo giá trị
Loại lí lẽ này theo quan điểm của luận án sẽ bao gồm cáckiểu lí lẽ dựa theo giá trị của các yếu tố: thực tế tồn tại (lí lẽ thực
tế tồn tại), căn cứ pháp luật căn cứ pháp luật), số liệu (lí lẽ số liệu/
lí lẽ con số], quyền uy (lí lẽ quyền uy) Loại lí lẽ này, bản thân các
cơ sở số liệu, văn bản pháp luật, quyền uy… đã là một lí lẽ Tựthân chúng đã định hướng đến kết luận mà không cần sự hỗ trợcủa yếu tố logic hình thức
- Lí lẽ nhân quả
“Gồm những lí lẽ về những chứng cứ liên quan tới quy luật vềquan hệ nhân quả Yếu tố cá nhân cũng là những chứng cứ cho quy luậtnhân quả: gia đình, thành phần, dân tộc, tổ quốc, giới tính, tuổi tác, trình
độ giáo dục, trạng thái thể chất, tài sản…”… (thống nhất với quan điểmtrong công trình [14, tr.81]) Loại lí lẽ có sơ sở trực tiếp tạo ra kết luận là
từ mối quan hệ logic nhân quả (logic quy nạp, logic diễn dịch, loại suyhay là các logic lẽ thường)
Trang 11Ngoài ra, lí lẽ nhân quả còn thế hiện ở mối quan hệ:
+ Theo hành động, lời nói, phẩm chất (Platin)
+ Lí lẽ đặc thù
- Lí lẽ so sánh theo thang độ (lí lẽ theo thang độ)
“LL sử dụng lí lẽ theo thang độ là những LL mà lí lẽ liên quan
đến thang độ hóa sự vật và thuộc tính” (thống nhất với quan điểm
trong công trình [14, tr.84])
- Lí lẽ theo phương pháp chất vấn
Đây là loại lí lẽ mà người nói đã đặt ra sự mâu thuẫn trong các
dữ liệu đưa ra để khẳng định (/ ngầm khẳng định) về một kết luậnnào đó Sở dĩ loại lí lẽ này có tác dụng là cơ sở trong LL là dựa trênnguyên lí cấm mâu thuẫn trong cơ chế suy luận
1.2.1.3 Phân loại lập luận
Kết quả sự phân loại LL được trình bày dựa trên các tiêu chísau: tiêu chí cấu trúc, tiêu chí về tính tường minh của kết đề, tiêu chí
về lí lẽ, tiêu chí dựa theo các tiền đề trong LL, tiêu chí về phươngpháp LL, tiêu chí về lĩnh vực ứng dụng
1.2.1.4 Tiêu chuẩn một lập luận tốt (criteria of a good argument)
Một LL trong ngôn ngữ tự nhiên, trước hết, phải đảm bảonhững tiêu chuẩn nội tại của cấu trúc ngôn ngữ tự thân Ngoài ra phảituân thủ quy tắc hội thoại với tư cách là một hành vi ngôn ngữ Một
LL tốt cần đảm bảo các tiêu chí: tính hiệu lực (validity), tính vữngchắc/ chắc chắn (soundness), tính rõ ràng (clarity), tính đầy đủ(sufficiency), tính quan yếu (relevance), tính hợp lí (reasonability),tính thuyết phục (cogency)
1.2.1.5 Lí thuyết hội thoại tranh luận
a Về khái niệm “hội thoại tranh luận”
Hội thoại tranh luận là một chuỗi của sự thay đổi thông điệp
hoặc hành vi ngôn ngữ giữa hai hoặc nhiều người nói Một tranh luậntốt, lí tưởng là giữa các bên tham gia tuân thủ các quy tắc tranh luận.Kết quả của cuộc tranh luận sẽ là kết quả của LL khái quát Mỗi lượtlời trong hội thoại tranh luận sẽ là các hành vi ngôn ngữ dẫn ra cácyếu tố dữ kiện, biện minh, hỗ trợ biện minh, hạn định, phản bác cho
LL khái quát
b Các kiểu hội thoại tranh luận
Hội thoại tranh luận gồm có 7 kiểu: thuyết phục, điều tra,khám phá, đàm phán, tìm kiếm thông tin, cân nhắc, tranh cãi cá nhân
Trang 12Giữa các kiểu hội thoại này có sự khác biệt về tình huống ban đầunảy sinh hội thoại, mục đích của người tham gia, mục đích hội thoại.
c Sự vận động hội thoại tranh luận
- Có 4 giai đoạn tranh luận: đối chất, mở đầu, tranh luận, kết thúc
- Các quy tắc tranh luận: quy tắc tự do/ dân chủ, quy tắc chứngminh, quy tắc về quan điểm trúng đích, quy tắc quan yếu, quy tắc đốivới tiền đề chưa được giải thích, quy tắc về điểm bắt đầu, quy tắclược đồ LL, quy tắc hiệu lực, quy tắc đóng, quy tắc sử dụng
- Trong hội thoại tranh luận, có thể diễn ra sự chuyển hướng từdạng hội thoại này sang dạng hội thoại khác
1.2.1.6 Lập luận sai
a Khái niệm
Lập luận sai (LLS) là những lập luận vi phạm tiêu chuẩn củamột lập luận tốt Chúng mắc lỗi trong quá trình suy luận, lỗi trong sựtương tác hội thoại
b Danh sách lập luận sai
LLS có thể khái quát thành các nhóm với những kiểu LL saiđiển hình, thường gặp như sau:
(i) LLS do “không quan yếu” (vi phạm: tính quan yếu, tính hợp
lí, tính thuyết phục),
(ii) LLS do quá trình suy luận sai (vi phạm: tính hiệu lực, tínhđầy đủ, tính hợp lí, tính thuyết phục)
(iii) LL sai do ngôn ngữ (vi phạm: tiêu chí rõ ràng)
Lưu ý: Trên thực tế, một LL có thể xảy ra đồng thời nhiều lỗi LL.
1.2.1.7 Quan điểm tích hợp các hướng nghiên cứu để đánh giá lập luận
LL cần được xem xét cả cấu trúc bề mặt và cấu trúc bề sâu.Các LL tại Nghị trường QH được chúng tôi đánh giá theo quy trìnhnhư sau: bước 1- Phân tích, miêu tả các từ ngữ quan trọng là cơ sở đểtường minh hóa LL, bước 2- Tường minh hóa các yếu tố trong cấutrúc LL theo mô hình LL của S Toulmin, bước 3- Đánh giá LL trongbối cảnh của cuộc hội thoại (chú ý lược đồ tương tác)
1.2.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.2.1 Khái quát về QH Việt Nam
Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của QH được quy địnhtrong luật tổ chức QH, số 57/ 2024/ QH13, ban hành ngày20/11/2014
1.2.2.2 Khái quát về hoạt động chất vấn trên diễn đàn QH Việt Nam
Chất vấn, với tư cách là một hình thức giám sát của QH, đượcphân biệt với các hình thức khác, tạm gọi là hỏi và trả lời, chủ yếu ởbản chất, mục đích, thủ tục và hậu quả của nó
Trang 13Mục đích chính của chất vấn không phải là thông tin mà là đểlàm rõ trách nhiệm của người bị chất vấn Thành phần tham gia (đạibiểu chuyên trách, đại biểu kiêm nhiệm), thời lượng (2- 3 ngày/ 1 kìhọp), cách thức tổ chức chất vấn tại Nghị trường Quốc hội Việt Nam
có những điểm riêng biệt (chất vấn theo nhóm vấn đề, chất vấn trựctiếp và bằng văn bản ) Chúng sẽ là bối cảnh cho quá trình đánh giá,phân tích các lập luận/ tranh luận tại Nghị trường QH
1.3 Tiểu kết
Chương một đã trình bày khái quát về LL (tổng quan tình hìnhnghiên cứu, cơ sở lí luận, thực tiễn) Trước hết, một bức tranh kháiquát các xu hướng nghiên cứu về LL trên thế giới được nêu ra Đặttrong mối quan hệ tích hợp của các hướng nghiên cứu (logic của S.Toulmin, chủ nghĩa miêu tả của O Ducrot, lập luận sai và ngữ dụnghọc biện chứng của D Walton và F.van Eemeren), xác định, phân tích
LL trong tranh luận trên diễn đàn QH Việt Nam sẽ định hướng sựđánh giá và tạo lập các LL Như vậy, LL sẽ được xem xét toàn diệntrên bốn nhiệm vụ cần yếu: xác định, phân tích, đánh giá, tạo lập.Ngoài việc đặt ra hướng nghiên cứu tích hợp, chương một đãđưa ra hệ thống cơ sở lí thuyết cơ bản về LL: khái niệm, cấu trúc,phân loại LL, phương pháp LL Ngoài ra, phần nhiều nội dung cơ sở
lí thuyết của chương đã dành cho các kiến thức quan trọng: mô hình
LL của S Toulmin; sự phân loại lí lẽ (đặc biệt nhấn mạnh đến lí lẽđời thường/ lí lẽ trong ngôn ngữ tự nhiên); tiêu chuẩn một LL tốt;khái niệm và danh sách các LL sai; khái niệm, sự phân loại, các giaiđoạn, sự vận động của hội thoại tranh luận
Chương 2 CẤU TRÚC NỘI TẠI CỦA LẬP LUẬN TRÊN DIỄN ĐÀN
QUỐC HỘI (QUA PHIÊN CHẤT VẤN) 2.1 Dẫn nhập
Chương 2 sẽ khảo sát, đánh giá khái quát về xu hướng sử dụngcác thành phần trong cấu trúc LL từ những trường hợp cụ thể để thấyđược những điểm riêng trong cách thức tạo nên LL từ cấu trúc nội tạicủa diễn ngôn Chương này được nghiên cứu qua các bước như sau:Bước 1- Khảo sát những đặc điểm chung nhất về cấu trúc LL trongcác lượt lời qua phiên CV Cụ thể là, khảo sát qua 83 đại lập luận2
(ĐLL), 206 tiểu lập luận (TLL) tại 2 phiên họp QH khóa XIII, bước
2 Đại LL là lập luận trong một lượt lời hỏi/ chất vấn hoặc trả lời; Tiểu LL là các lập luận nằm trong ĐLL.
Trang 142- Khái quát hóa một số đặc điểm nổi bật về cách sử dụng các thànhphần trong cấu trúc LL (bằng phương pháp quy nạp không hoàntoàn), bước 3- Mở rộng so sánh, đối chiếu với những trường hợpkhác (là các phiên chất vấn khác hoặc các phiên thảo luận khi cần),bước 4- Đưa ra một số nhận xét về việc sử dụng LL từ cấu trúc nộitại trong các lượt lời qua phiên chất vấn.
2.2 Thành phần lập luận trong các lượt lời trên diễn đàn Quốc hội (qua phiên chất vấn) 3
2.2.1 Chỉ dẫn lập luận trong các lượt lời (qua những phiên chất vấn)
2.2.1.1 Kết tử LL trong các lượt lời (qua phiên chất vấn)
- Nhận xét: Kết quả khảo sát cho thấy, hầu hết các LL trong
ngữ liệu khảo sát đều sử dụng các kết tử Điều này đã tạo nên tínhmạch lạc cho LL, tránh được sự hạn chế khả năng tiếp nhận từ phíangười nghe do ảnh hưởng tính tuyến tính của lời nói Kết tử 2 vị trí(KT2VT) chiếm ưu thế với 74.6%
- Đặc điểm và chức năng của kết tử lập luận (KTLL) trong các lượt lời (qua phiên chất vấn)
Kết tử qua kết quả khảo sát không quá phong phú Chúng đượcdùng theo kiểu lặp đi lặp lại với một số hình thức và những khuôn
chung thể hiện mối quan hệ nhất định (mối quan hệ: nguyên
nhân-kết quả, điều kiện- nhân-kết quả, bổ sung- tăng tiến, loại trừ, liệt kê….)
+ KT2VT được sử dụng nhiều hơn, cả với vai trò dẫn nhậpluận cứ (DNLC) và dẫn nhập kết luận (DNKL) Sử dụng nhiều kết tửliên kết trên câu cũng là phù hợp, đặc biệt với diễn ngôn trả lời gồmchuỗi dài các LL bộ phận
+ KT 3 vị trí (KT3VT) có vai trò quan trọng liên kết trên câu(phát ngôn- sự hiện thực hóa đơn vị câu trong lời nói) Các KT đồnghướng dù là đơn vị liên kết trong câu hay trên câu thì về phương diệnngữ pháp, chúng đều biểu thị mối quan hệ liên hợp, dẫn nhập LC bổ
sung: ngoài, hơn nữa, hơn thế nữa, mặt khác, ngoài ra… Trong đó, một số KT này có chức năng tăng cường sức mạnh cho lí lẽ: hơn nữa,
hơn thế nữa,…
Nhóm kết tử nghịch hướng (tuy nhiên, tuy vậy, song, nhưng…)
là các kết tử có vai trò đặc biệt tại phiên chất vấn bởi việc đưa ranhững kết luận khách quan, đa chiều Kết tử dẫn nhập nhiều hơn
3 Để cho gọn, từ đây trở đi, chúng tôi lược bớt cụm từ trên diễn đàn Quốc hội.