Tuy nhiên, vấn đề ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh và hiệu quả của các NHTM trong nước cho đến nay vẫn còn nhiều tranh luận, và chưa được nghiên cứu rộng rãi tại Việt Nam.. Đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THANH PHONG
NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI ĐẾN CẠNH TRANH
VÀ HIỆU QUẢ CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 9340201
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM VĂN NĂNG
Trang 3 Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Văn Năng
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án cấp trường họp tại:
Vào lúc… ngày … tháng … Năm ……
Có thể tìm thấy luận án tại thư viện:
Trang 4
TÓM TẮT
Cùng với quá trình mở cửa nền kinh tế, các NHNNg đã kinh doanh tại Việt Nam hơn ba thập kỷ qua Tuy nhiên, vấn đề ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh và hiệu quả của các NHTM trong nước cho đến nay vẫn còn nhiều tranh luận, và chưa được nghiên cứu rộng rãi tại Việt Nam.
Mục tiêu của luận án này là phân tích ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh và hiệu quả của NHTM Việt Nam Nghiên cứu này sử dụng mô hình Panzar – Rosse với biến tương tác để kiểm tra ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh của các NHTM Việt Nam Để phân tích ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến hiệu quả của các NHTM Việt Nam, nghiên cứu sử dụng kỹ thuật phân tích 2 bước: (i) Xác định hiệu quả của các NHTM Việt Nam bằng phương pháp chỉ số tài chính và phương pháp DEA; (ii) Các chỉ số đo lường hiệu quả của các NHTM trong nước sẽ được hồi quy với các biến thâm nhập của NHNNg.
Kết quả nghiên cứu cho thấy thâm nhập NHNNg làm tăng mức độ cạnh tranh và làm giảm hiệu quả của các NHTM Việt Nam Trên cơ sở kết quả nghiên, luận án đã đề xuất các nhóm giải pháp với các NHTM và một số kiến nghị với các nhà hoạch định chính sách nhằm tăng cường hội nhập, thúc đẩy cạnh tranh và nâng cao hiệu quả của các NHTM Việt Nam
Từ khóa: Thâm nhập ngân hàng nước ngoài, cạnh tranh ngân hàng, mô hình Panzar – Rosse,
hiệu quả ngân hàng, phương pháp DEA.
Trang 5CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Luận án này nghiên cứu ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh và hiệu quả của NHTMViệt Nam Chương này bắt đầu bằng việc giới thiệu bối cảnh nghiên cứu làm cơ sở cho việc xác định vấn đềnghiên cứu, phần tiếp theo trình bày mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phươngpháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu, điểm mới của luận án, và cuối cùng là giới thiệu cấu trúc của luậnán
1.1 BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU
Cùng với quá trình mở cửa nền kinh tế, thâm nhập của NHNNg vào Việt Nam đã gia tăng rất nhanhtrong ba thập kỷ qua Tuy nhiên, vấn đề này vẫn ít được xem xét rộng rãi và còn nhiều tranh luận trong cácnghiên cứu thực nghiệm
Đối với vấn đề ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh của thị trường ngân hàng nội địa.Các kết luận từ những nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới còn mâu thuẫn, chưa thống nhất Tại Việt Nam,theo hiểu biết của tác giả chưa có nghiên cứu nào được thực hiện về chủ để này Chính vì thế, việc phân tíchảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh của thị trường NHTM Việt Nam là cần thiết
Đối với vấn đề ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến hiệu quả của các NHTM trong nước, cácnghiên cứu hiện nay trên thế giới đều sử dụng phương pháp chỉ số tài chính Tuy nhiên, phương pháp chỉ sốtài chính có nhược điểm là mỗi chỉ số chỉ thể hiện một mặt trong hoạt động của các NHTM Trong khi đó,phương pháp phân tích hiệu quả biên DEA cho phép xác định hiệu quả của ngân hàng thông qua một chỉ sốđộ đo hiệu quả Chính vì vậy, việc sử dụng kết hợp 2 phương pháp là phương pháp chỉ số tài chính vàphương pháp DEA để phân tích toàn diện nhất ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến hiệu quả của cácNHTM Việt Nam là cần thiết
Chính vì lý do đó, đề tài “Ảnh hưởng của thâm nhập ngân hàng nước ngoài đến cạnh tranh
và hiệu quả của các ngân hàng thương mại Việt Nam” được lựa chọn nghiên cứu.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu tổng quát của luận án này là phân tích ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh vàhiệu quả của các NHTM Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hội nhập, thúc đẩycạnh tranh và nâng cao hiệu quả của các NHTM Việt Nam Để đạt được mục tiêu tổng quát đó, luận án cầnđạt được những mục tiêu cụ thể như sau:
(i) Phân tích ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh của các NHTM Việt Nam;
(ii) Phân tích ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến hiệu quả của các NHTM Việt Nam.
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu đặt ra, luận án đi trả lời 2 câu hỏi nghiên cứu sau đây:
RQ1: Thâm nhập của NHNNg ảnh hưởng như thế nào đến cạnh tranh của các NHTM Việt Nam? RQ2: Thâm nhập của NHNNg ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả của các NHTM Việt Nam?
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu của luận án tập trung vào 4 nhóm chính:
Trang 6(i) Đo lường thâm nhập của NHNNg tại Việt Nam;
(ii) Đo lường cạnh tranh trong thị trường NHTM Việt Nam bằng mô hình Panzar – Rosse;
(iii) Phân tích ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh của thị trường NHTM Việt Nam; (iv) Đo lường hiệu quả của các NHTM Việt Nam bằng phương pháp chỉ số tài chính và phương phápDEA;
(v) Phân tích ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến hiệu quả của các NHTM Việt Nam
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này tiến hành phân tích ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh và hiệu quảcủa các NHTM Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2019
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN DỮ LIỆU
1.5.1 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
(i) Phương pháp đo lường cạnh tranh theo cách tiếp cận phi cấu trúc với mô hình Panzar – Rosse để
phân tích ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh của các NHTM Việt Nam
(ii) Phân tích hồi quy để phân tích ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến hiệu quả của các NHTM
Việt Nam
1.5.2 Nguồn dữ liệu nghiên cứu
Nguồn dữ liệu được lấy từ Orbis Bank Focus từ năm 2009 đến năm 2019 do Trường Đại học Kinh tếThành phố Hồ Chí Minh cung cấp
1.6 ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN
Luận án này có những điểm mới như sau:
Thứ nhất, luận án đã chứng minh thâm nhập của NHNNg làm tăng tính cạnh tranh và làm giảm hiệu
quả của các NHTM Việt Nam, từ đó cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm củng cố các quan điểm của lýthuyết về thâm nhập của NHNNg
Thứ hai, luận án đã đo lường mức độ ảnh hưởng của NHNNg thông qua chỉ số H-Statistic được xác
định bằng hệ số hồi quy của các biến tương tác trong mô hình Panzar – Rosse vào cạnh tranh của thị trườngNHTM Việt Nam
Thứ ba, luận án là nghiên cứu đầu tiên sử dụng đồng thời phương pháp DEA và phương pháp chỉ số
tài chính để phân tích ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến hiệu quả của ngân hàng trong nước Việc sửdụng kết hợp 2 phương pháp cho phép đối chứng kết quả nghiên cứu từ 2 phương pháp, và vì vậy phát hiệncủa luận án sẽ chính xác hơn
Cuối cùng, luận án đã đề xuất được các giải pháp nhằm tăng cường hội nhập, thúc đẩy cạnh tranh
và nâng cao hiệu quả của các NHTM Việt Nam.
1.7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Chương 1: Giới thiệu vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách
Trang 7CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 THÂM NHẬP CỦA NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI
2.1.1 Khái niệm về thâm nhập của ngân hàng nước ngoài
Thâm nhập của NHNNg có thể hiểu là quá trình mà các ngân hàng ở một quốc gia (nước đầu tư) thành lập và hoạt động tại một quốc gia khác (nước nhận đầu tư) bằng hình thức mở chi nhánh, liên doanh với ngân hàng trong nước, thành lập ngân hàng con hoặc mua cổ phần thông qua hoạt động mua lại và sáp nhập (Clarke, 2005; Makino và cộng sự, 2007; Slangen và Hennart, 2008).
2.1.2 Lý thuyết về động cơ thâm nhập của ngân hàng nước ngoài
Có 2 quan điểm lý thuyết chính giải thích về động cơ thúc đẩy NHNNg thâm nhập vào một quốc gia đó là theo sau khách hàng và tìm kiếm cơ hội đầu tư để nâng cao lợi nhuận.
Quan điểm theo sau khách hàng cho rằng thâm nhập của NHNNg là để phục vụ khách hàng của
họ khi khách hàng của ngân hàng đầu tư vào quốc gia mà NHNNg thâm nhập (Grubel, 1977).
Quan điểm thứ hai cho rằng động cơ thâm nhập của NHNNg là tìm kiếm cơ hội nâng cao lợi nhuận Lập luận chính của quan điểm này là NHNNg sẽ thâm nhập vào một quốc gia nếu nhận thấy môi trường kinh doanh ở đó có triển vọng phát triển và đạt được lợi nhuận kỳ vọng.
2.1.3 Phương thức thâm nhập của ngân hàng nước ngoài
NHNNg thường sử dụng 2 phương thức thâm nhập vào một quốc gia là phương thức thành lập
cơ sở kinh doanh mới và phương thức mua lại và sáp nhập (Clarke, 2005; Slangen và Hennart, 2008) Phương thức thành lập cơ sở kinh doanh mới được thực hiện dưới hình thức mở văn phòng đại diện, chi nhánh NHNNg, thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài hoặc ngân hàng liên doanh Phương thức mua lại và sáp nhập được thực hiện thông qua việc NHNNg tiến hành mua lại và sáp nhập với một ngân hàng sẵn có trong nước.
2.1.4 Đo lường thâm nhập của ngân hàng nước ngoài
Có 2 phương pháp đo lường thâm nhập của NHNNg là phương pháp tổng hợp và phương pháp không gian phân bổ Phương pháp tổng hợp đo lường thâm nhập của NHNNg bằng tỷ lệ số lượng trên tổng số ngân hàng của toàn ngành ngân hàng, tỷ lệ tài sản của NHNNg trên tổng tài sản của toàn ngành ngân hàng Phương pháp này được nhiều nghiên cứu thực nghiệm sử dụng Phương pháp không gian phân bổ đo lường thâm nhập của NHNNg thông qua chỉ số tiếp xúc giữa NHNNg và ngân hàng trong nước.
2.2 ẢNH HƯỞNG CỦA THÂM NHẬP NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI ĐẾN CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG TRONG NƯỚC
2.2.1 Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh là quá trình mà các chủ thể kinh tế ganh đua để giành lấy thị phần nhằm thu được nhiều lợi ích nhất.
2.2.2 Lý thuyết cấu trúc cạnh tranh ngành
Theo Porter (1989) có 5 yếu tố tác động đến mức độ cạnh tranh trên thị trường trong một ngành (hay một thị trường cụ thể) là sự xuất hiện của các công ty mới, cạnh tranh giữa các đối thủ hiện có
Trang 8trong ngành, sức mạnh của nhà cung ứng, sức mạnh của người mua, các sản phẩm và dịch vụ thay thế Theo đó, quá trình thâm nhập của NHNNg sẽ làm xuất hiện các ngân hàng mới tham gia vào thị trường
và tạo ra sự cạnh tranh, từ đó ảnh hưởng đến mức độ cạnh tranh của ngành ngân hàng trong nước
2.2.3 Cạnh tranh trong thị trường ngân hàng thương mại
2.2.3.1 Đặc điểm cạnh tranh trong thị trường ngân hàng thương mại
Thứ nhất, cạnh tranh trong thị trường NHTM có sự giám sát chặt chẽ của Chính phủ
Thứ hai, cạnh tranh trong thị trường NHTM đi đôi với hợp tác lẫn nhau
Thứ ba, thị trường ngân hàng thường có giới hạn về số lượng đối thủ cạnh tranh và rào cản gia nhập ngành cao
2.2.3.2 Tác động của cạnh tranh đối với sự ổn định của hệ thống ngân hàng thương mại
Về mặt lý thuyết có 2 quan điểm khác nhau về tác động của cạnh tranh đối với hệ thống ngân hàng là cạnh tranh – bất ổn và cạnh tranh - ổn định Quan điểm cạnh tranh – bất ổn cho rằng cạnh tranh
sẽ làm suy giảm tính ổn định của hệ thống ngân hàng Quan điểm cạnh tranh - ổn định cho rằng cạnh tranh không phải là yếu tố gây bất ổn cho hệ thống ngân hàng
2.2.4 Phương pháp đo lường cạnh tranh trong thị trường ngân hàng thương mại
2.2.4.1 Phương pháp đo lường cạnh tranh theo cách tiếp cận cấu trúc
Tiếp cận cấu trúc dựa trên mô hình Cấu trúc – Hành vi – Hiệu quả Mô hình này cho rằng nếu quyền lực thị trường chỉ tập trung vào một vài công ty thì hiệu quả trong cấu trúc và hành vi của các công ty thấp, hay tập trung cao hơn dẫn đến cạnh tranh ít hơn, do đó, sức mạnh thị trường lớn hơn và khả năng sinh lời cao hơn.
2.3.4.2 Phương pháp đo lường cạnh tranh theo cách tiếp cận phi cấu trúc
Phương pháp tĩnh
Chỉ số Lerner
Chỉ số Lerner là chỉ số đo lường tốt về sức mạnh thị trường cho từng ngân hàng qua từng năm, từ
đó có thể đánh giá sự thay đổi sức mạnh thị trường của từng ngân hàng theo thời gian, cũng như so sánh sức mạnh thị trường giữa các ngân hàng với nhau
Mô hình biến phỏng đoán
Mô hình này đo lường mức độ cạnh tranh thị trường ngân hàng dựa trên cấu trúc thị trường độc quyền nhóm với giả định các ngân hàng đều cung cấp các sản phẩm đồng nhất, và một ngân hàng biết được hành động của đối thủ nhằm phản ứng lại với những thay đổi giá và đầu ra của mình
Mô hình Panzar – Rosse
Panzar và Rosse (1987) giới thiệu một kiểm định thực nghiệm để xác định cấu trúc cạnh tranh thị trường là độc quyền, cạnh tranh độc quyền hay cạnh tranh hoàn hảo Việc kiểm định dựa trên phương pháp so sánh tĩnh từ phương trình doanh thu rút gọn, sau đó, tính tổng độ co giãn của đầu ra theo giá các yếu tố đầu vào để xác định mức độ cạnh tranh của thị trường ngân hàng
Phương pháp động
Boone (2008) đã giới thiệu một phương pháp đo lường cạnh tranh mới gọi là chỉ số Boone với giả định rằng các ngân hàng hiệu quả hơn sẽ có lợi thế trong thị trường có nhiều sự cạnh tranh, và các ngân hàng kém hiệu quả sẽ chịu nhiều tổn thất hơn.
Trang 92.2.4.3 Lựa chọn phương pháp đo lường cạnh tranh trong luận án
Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu là kiểm tra ảnh hưởng của thâm nhập Ngân hàng nước ngoài đến cạnh tranh của thị trường NHTM Việt Nam, đây là nghiên cứu có Ngân hàng nước ngoài và ngân hàng trong nước có tính chất sở hữu khác nhau Theo Claessens và Laeven (2004) mô hình Panzar – Rosse là mô hình thích với các nghiên cứu có các ngân hàng có tính chất sở hữu khác nhau Do đó, luận
án này sử dụng phương pháp tiếp cận phi cấu trúc với mô hình Panzar – Rosse để kiểm định giả thuyết liên quan đến RQ1 Đồng thời để H-Statistic được xác định chính xác, luận án này sẽ tiến hành kiểm định tính cân bằng dài hạn trước khi sử dụng mô hình Panzar – Rosse.
2.2.5 Tổng quan các nghiên cứu về ảnh hưởng của thâm nhập ngân hàng nước ngoài đến cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong nước
2.2.5.1 Các nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận cấu trúc
Cho (1990), Yeyati và Micco (2007) Các nghiên cứu sử dụng phương pháp cấu trúc đo lường tính cạnh tranh của thị trường ngân hàng gián tiếp thông qua chỉ số tập trung, không đo lường trực tiếp
từ dữ liệu của từng ngân hàng tham gia thị trường như phương pháp phi cấu trúc Theo Bikker và cộng
sự (2012) cho rằng phương pháp tiếp cận cấu trúc không phải là thước đo tốt đối với cạnh tranh.
2.2.5.2 Các nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận phi cấu trúc
Poghosyan và Poghosyan (2010), Jeon và cộng sự (2011), Mulyaningsih và cộng sự (2015), Diallo (2016), Yin (2020).
Những phát hiện thực nghiệm về ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh của thị trường ngân hàng trong nước vẫn còn mâu thuẫn, chưa thống nhất
2.3 ẢNH HƯỞNG CỦA THÂM NHẬP NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI ĐẾN HIỆU QUẢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG TRONG NƯỚC
2.3.1 Khái niệm hiệu quả của ngân hàng thương mại
Hiệu quả của NHTM đạt được khi sử dụng đầu vào nhỏ nhất để tạo ra một sản lượng đầu ra hoặc tối đa sản lượng đầu ra với một sản lượng đầu vào và đảm bảo hoạt động an toàn.
2.3.2 Phân loại hiệu quả của ngân hàng thương mại
Debreu (1951) và Farrell (1957) phân loại hiệu quả thành hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ, hiệu quả chi phí hay hiệu quả kinh tế toàn phần, hiệu quả kỹ thuật thuần và hiệu quả theo quy mô
2.3.3 Phương pháp đo lường hiệu quả của ngân hàng thương mại
2.3.3.1 Phương pháp chỉ số tài chính
Phương pháp chỉ số tài chính là phương pháp truyền thống dựa trên phân tích báo cáo tài chính
và thường được dùng trong thực tế Chỉ số tài chính bao gồm nhóm chỉ số phản ánh khả năng sinh lời, nhóm chỉ số phản ánh thu nhập và chi phí, nhóm chỉ số phản ánh chất lượng tài sản Phương pháp chỉ số tài chính là phương pháp đơn giản, dễ sử dụng trong phân tích hiệu quả ngân hàng Tuy nhiên, nhược điểm chính của phương pháp chỉ số tài chính là mỗi chỉ số cung cấp rất ít thông tin về tình hình hoạt động của ngân hàng, hay nói cách khác không có một chỉ số nào cho biết hiệu quả tổng thể của một ngân hàng.
Trang 102.3.3.2 Phương pháp phân tích hiệu quả biên
Phương pháp phân tích hiệu quả biên đo lường hiệu quả của một ngân hàng bằng cách so sánh khoảng cách giữa hiệu quả của ngân hàng cần xác định với hiệu quả của một ngân hàng hoạt động tốt nhất trên biên hiệu quả Khác với phương pháp chỉ số tài chính, phương pháp này cho phép tính được hiệu quả chung của từng ngân bằng một chỉ tiêu độ đo hiệu quả.
Phương pháp tham số
Phương pháp này yêu cầu phải xác định một dạng hàm cụ thể đối với đường biên hiệu quả, nếu việc xác định dạng hàm sai thì kết quả ước tính không đáng tin cậy (Delis và Tsionas, 2009) Trong khi đó, việc xác định hàm sản xuất phù hợp với hoạt động của ngân hàng là rất khó khăn do ngân hàng sử dụng đầu vào đa dạng từ nhiều nguồn và hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ rất phức tạp
Phương pháp phi tham số
Phân tích bao dữ liệu DEA là đặc trưng của phương pháp phi tham số Phương pháp DEA không cần phải xác định dạng hàm đối với đường biên hiệu quả; DEA cho phép áp dụng trong trường hợp ngân hàng sử dụng nhiều đầu vào để sản xuất nhiều đầu ra; DEA xây dựng đường biên hiệu quả trên mẫu nghiên cứu thực tế, nên cho kết quả sát với thực tế hơn phương pháp tham số.
2.3.4 Lý thuyết về ảnh hưởng của thâm nhập ngân hàng nước ngoài đến hiệu quả của các ngân hàng trong nước
Levine (1996) cho rằng thâm nhập của NHNNg sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của các NHTM trong nước thông qua tác động cạnh tranh và tác động lan tỏa
Thâm nhập của NHNNg sẽ tạo ra tác động cạnh tranh làm giảm hiệu quả của ngân hàng trong nước, nhưng đồng thời cũng tạo ra tác động lan tỏa làm tăng hiệu quả của các ngân hàng trong nước Tùy vào sự vượt trội của tác động cạnh tranh hay tác động lan tỏa, mà tác động tổng hợp đến hiệu quả của ngân hàng trong nước là tích cực hay tiêu cực Nếu động cơ thâm nhập của NHNNg là theo sau khách hàng thì tác động lan tỏa sẽ vượt trội, và tác động tổng hợp của thâm nhập NHNNg sẽ làm tăng hiệu quả của các ngân hàng trong nước, trong trường hợp động cơ thâm nhập của NHNNg là tìm kiếm lợi nhuận thì tác động cạnh tranh sẽ vượt trội, và tác động tổng hợp của thâm nhập NHNNg sẽ làm giảm hiệu quả của các ngân hàng trong nước.
2.3.5 Tổng quan các nghiên cứu về ảnh hưởng của thâm nhập ngân hàng nước ngoài đến hiệu quả của các ngân hàng thương mại trong nước
2.3.5.1 Các nghiên cứu ở các quốc gia và khu vực
Claessens và cộng sự (2001), Claessens và Lee (2003) Lensink và Hermes (2004).
2.3.5.2 Các nghiên cứu ở trong phạm vi quốc gia
Denizer (2000), Barajas và cộng sự (2000), Unite và Sullivan (2003), Shen và cộng sự (2009),Manlagñit (2011), Xu (2011), Luo và cộng sự (2017)
2.3.5.3 Nghiên cứu ở trong nước
Lien và cộng sự (2015) nghiên cứu tác động của thâm nhập NHNNg đến hiệu quả của các NHTMViệt Nam giai đoạn 1992 – 2012 Kết quả nghiên cứu cho thấy thâm nhập NHNNg làm tăng hiệu quả củacác NHTM Việt Nam Tuy nhiên, Pham và Nguyen (2020) kiểm tra tác động của thâm nhập NHNNg đến
Trang 11hiệu quả của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2009 – 2018 cho thấy thâm nhập NHNNg làm giảm hiệu quảcủa các NHTM Việt Nam Kết quả của các nghiên cứu này mâu thuẫn với nhau.
2.4 Khe hở nghiên cứu
2.4.1 Khe hở nghiên cứu cho RQ1
Qua khảo cứu các công trình nghiên cứu đã thực hiện về ảnh hưởng thâm nhập NHNNg đến cạnhtranh của các ngân hàng trong nước Tác giả nhận thấy các nghiên cứu này có những kết quả không tươngđồng, còn mâu thuẫn và chưa thống nhất Hay nói cách khác, chưa thể kết luận thâm nhập NHNNg làm tănghay giảm cạnh tranh của thị trường ngân hàng trong nước Ngoài ra, theo hiểu biết của tác giả vấn đề nàychưa được nghiên cứu tại Việt Nam
2.4.2 Khe hở nghiên cứu cho RQ2
Trên cơ sở kết quả lược khảo các công trình nghiên cứu có liên quan trong và ngoài nước, tác giảthấy rằng các nghiên cứu đã thực hiện đều sử dụng phương pháp chỉ số tài chính Như đã phân tích ở Mục2.3.3.1 phương pháp này có nhược điểm là mỗi chỉ số cung cấp rất ít thông tin về tình hình hoạt động củangân hàng, không có một chỉ số nào cho biết hiệu quả tổng thể của một ngân hàng Điều này dẫn đến kết quảphân tích ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến hiệu quả của ngân hàng trong nước có thể thiếu chính xácvà không toàn diện Mặt khác, hai nghiên cứu tại Việt Nam (Lien và cộng sự, 2015, Pham và Nguyen, 2020)đều sử dụng phương pháp chỉ số tài chính nhưng các kết quả của hai nghiên cứu này hoàn toàn trái ngượcnhau
2.5 Giả thuyết nghiên cứu
2.5.1 Giả thuyết cho RQ1
Theo quan điểm của Porter (1989) cho rằng sự xuất hiện của các công ty (ngân hàng) mới sẽ làmtăng cạnh tranh trên thị trường, như vậy thâm nhập của NHNNg cũng dẫn đến sự xuất hiện các ngân hàngmới là các NHNNg cạnh tranh trực tiếp với các ngân hàng trong nước, do đó, thâm nhập của NHNNg sẽ làmtăng cạnh tranh trên thị trường ngân hàng trong nước Về mặt thực tiễn, các NHNNg đã hoạt động kinhdoanh gần 30 năm và hiện diện ngày càng tăng tại Việt Nam Sự hiện diện ngày càng tăng của NHNNg cóthể sẽ làm gia tăng cạnh tranh trên thị trường ngân hàng trong nước Trên cơ sở lý thuyết cấu trúc cạnh tranhngành và thực tiễn thâm nhập của NHNNg tại Việt Nam, giả thuyết cho RQ1 như sau:
H1: Thâm nhập của NHNNg làm tăng cạnh tranh của thị trường NHTM Việt Nam.
2.5.2 Giả thuyết cho RQ 2
Về mặt lý thuyết, thâm nhập của NHNNg sẽ tạo ra 2 tác động là tác động cạnh tranh làm giảm hiệu,và tác động lan tỏa làm tăng hiệu quả của các ngân hàng trong nước Tùy theo sự vượt trội của tác động nàosẽ ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến hiệu quả của các ngân hàng trong nước Trong trường hợp động cơthâm nhập của NHNNg là theo sau khách hàng thì tác động lan tỏa có thể vượt trội và thâm nhập củaNHNNg sẽ làm tăng hiệu quả của ngân hàng trong nước Nếu động cơ thâm nhập của NHNNg là tìm kiếmlợi nhuận thì thường tác động cạnh tranh sẽ vượt trội và thâm nhập của NHNNg sẽ làm giảm hiệu quả củangân hàng trong nước
Nghiên cứu thực nghiệm của Nguyễn Thanh Phong và Lâm Thanh Phi Quỳnh (2017) cũng cho thấyđộng cơ thâm nhập của NHNNg vào Việt Nam là tìm kiếm lợi nhuận Do vậy, tác động cạnh tranh được dựkiến sẽ vượt trội và giả thuyết cho RQ2 là:
Trang 12H2: Thâm nhập của NHNNg làm giảm lợi nhuận của các NHTM Việt Nam.
CHƯƠNG 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỐI VỚI RQ1
3.1.1 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm đối với RQ1
Để kiểm tra ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh của thị trường NHTM Việt Nam, luận án sử dụng mô hình Panzar - Rosse với biến tương tác như sau:
(3.2)
Giá trị thống kê H-Statistic của toàn thị trường bao gồm nhóm ngân hàng trong nước và nhóm NHNNg (H- TTNHVN ) sẽ bằng tổng của 3 hệ số hồi quy (β 1 + β 2 + β 3 ) của 3 biến ln(w 1 ), ln(w 2 ), ln(w 3 ) H- Statistic của nhóm NHNNg (H- NHNNg ) chính là tổng của 3 hệ số hồi quy (β 4 + β 5 + β 6 ) của 3 biến tương tác
w 1it *D, w 2it *D và w 3it *D (khi D = 1) Giá trị H- NHNNg thể hiện mức ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh của thị trường NHTM Việt Nam.
Kiểm định tính cân bằng dài hạn của thị trường ngân hàng
Shaffer (1982) đề xuất một phương pháp kiểm định cân bằng dài hạn thông qua việc thay biến phụ
thuộc trong phương trình (3.1) bằng biến ROA, cụ thể như sau:
(3.3)
Biến ROA trong Mô hình 3.3 là lợi nhuận trước thuế trên tổng tài sản Trong thị trường cân bằng dài
hạn, thu nhập của ngân hàng không phụ thuộc vào sự thay đổi giá các yếu tố đầu vào (Shaffer, 1982), chính
vì vậy, hệ số E-Statistic = (β1 + β2 + β3) = 0 Trong đó, các hệ số β1, β2, β3 là hệ số hồi quy của 3 biến đầu vào
ln(w 1 ), ln(w 2 ) và ln(w 3 ) Kiểm định cân bằng dài hạn được thực hiện bằng kiểm định F với giả thuyết gốc
E-Statistic = 0 Nếu giả thuyết E-E-Statistic = 0 được chấp nhận thì thị trường ngân hàng đạt cân bằng dài hạn, vàviệc áp dụng mô hình Panzar – Rosse để đo lường mức độ cạnh tranh sẽ cho giá trị H-Statistic đáng tin cậy
3.1.2 Tiêu chuẩn xác định ngân hàng nước ngoài
Trang 13Trong luận án này, ngân hàng liên doanh có tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài từ 50% trở lên,
ngân hàng 100% vốn nước ngoài và chi nhánh NHNNg được xác định là NHNNg
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỐI VỚI RQ2
3.2.1 Mô hình nghiên cứu đối với RQ2 bằng phương pháp chỉ số tài chính
Để kiểm tra ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến hiệu quả của các NHTM Việt Nam, nghiên cứu
sử dụng mô hình như sau:
(3.4)
Trong đó, BE it là các chỉ tiêu đo lường hiệu quả của ngân hàng i tại thời điểm t được xác định bằng phương pháp chỉ số tài chính; FS t là biến độc lập đo lường thâm nhập của NHNNg tại thời điểm t;
B it là nhóm biến liên quan đến các đặc điểm của ngân hàng i tại thời điểm t; M t là chỉ số kinh tế vĩ mô α, β,
γ, δ là các hệ số hồi quy, μ it là sai số của mô hình.
3.2.2 Mô hình nghiên cứu đối với RQ2 bằng phương pháp phân tích hiệu quả biên
3.2.2.1 Lựa chọn phương pháp phân tích hiệu quả biên trong luận án
Phương pháp phân tích hiệu quả biên gồm có phương pháp tham số và phương pháp phi tham số Trong đó, phương pháp tham số yêu cầu phải xác định một dạng hàm cụ thể đối với đường biên hiệu quả Tuy nhiên, hoạt động của ngân hàng rất phức tạp, việc xác định dạng hàm cụ thể rất khó khăn Ngược lại, DEA không yêu cầu xác định dạng hàm, và DEA cho kết quả đáng tin cậy khi xây dựng đường biên trên mẫu nghiên cứu thực Do đó, luận này sử dụng phương pháp phi tham số DEA để đo lường hiệu quả NHTM Việt Nam.
3.2.2.2 Xác định mô hình cho phương pháp DEA
Lựa chọn mô hình tối thiểu hóa đầu vào hoặc tối đa hóa đầu ra
Nghiên cứu của Sathye (2003) cho thấy mô hình tối đa hóa đầu ra không thích hợp cho việc đo lườnghiệu quả của ngành ngân hàng ở các nước đang trong thời kỳ cải cách mở cửa, chẳng hạn như trường hợpcủa Việt Nam Hơn nữa, một số nghiên cứu đo lường hiệu quả cho rằng trong quản lý, các ngân hàng thườngtập trung kiểm soát chi phí đầu vào hơn là chú trọng gia tăng sản lượng đầu ra (Berger, 2007; Drake và cộng
sự, 2006; Elyasiani và Mehdian, 1990; Goddard và cộng sự, 2001) Vì vậy, mô hình tối thiểu hóa đầu vào là
mô hình thích hợp cho nghiên cứu này
Lựa chọn mô hình CRS và VRS
Một số nghiên cứu gần đây ủng hộ việc sử dụng mô hình VRS, vì nó phù hợp với thực tiễn là cácngân hàng không thể cùng hoạt động ở quy mô tối ưu do cạnh tranh không hoàn hảo, bị giới hạn về tài chínhcũng như các ràng buộc về mặt pháp lý (McAllister và McManus, 1993; Sufian, 2009; Wheelock và Wilson,1999) Trong trường hợp Việt Nam, mô hình VRS là mô hình thích hợp vì những ràng buộc về pháp lý,
giới hạn tài chính và thị trường cạnh tranh không hoàn hảo nên các NHTM Việt Nam sẽ không hoạt động
ở cùng quy mô tối ưu.
Lựa chọn các biến đầu vào, đầu ra trong mô hình DEA
Nghiên cứu này áp dụng cách tiếp cận trung gian xem NHTM là một định chế tài chính trung gian
sử dụng các đầu vào là chi phí lãi đại diện cho vốn huy động (I 1 ), chi phí nhân viên (I 2 ), chi phí ngoài lãi đại diện cho vốn vật chất (I 3 ) để tạo các đầu ra là thu nhập lãi (Y 1 ) và thu nhập ngoài lãi (Y 2 ).
Trang 143.2.2.3 Mô hình nghiên cứu đối với RQ2 bằng phương pháp DEA
Mô hình nghiên cứu đối với RQ2 bằng phương pháp DEA được xây dựng trên cơ sở điều chỉnh Mô hình 3.4 như sau:
(3.6)
Trong đó, TE it là hiệu quả kỹ thuật của ngân hàng i tại thời điểm t xác định bằng phương pháp DEA, FS t là biến độc lập đo lường thâm nhập của NHNNg tại thời điểm t, đây là biến giải thích chính mà nghiên cứu quan tâm; B it là nhóm biến liên quan đến các đặc điểm của ngân hàng i tại thời điểm t; M t là chỉ số kinh tế vĩ mô α, β, γ, δ là các hệ số hồi quy, μ it là sai số của mô hình.
3.3 QUY TRÌNH PHÂN TÍCH DỮ LIỆU BẢNG
3.3.1 Kiểm tra tính dừng của chuỗi dữ liệu bảng
Kiểm tra tính dừng của chuỗi dữ liệu bảng là bước đầu tiên trong quy trình phân tích dữ liệu bảng Các chuỗi dữ liệu bảng phải đảm bảo dừng trước khi đưa vào phân tích trong các mô hình hồi quy Nếu các chuỗi dữ liệu bảng không dừng thì kết quả hồi quy có thể là giả mạo.
Trường hợp kết quả kiểm định tính dừng cho thấy chuỗi dữ liệu bảng không dừng ở bậc gốc thì sẽđược lấy sai phân và kiểm tra tính dừng ở chuỗi sai phân bậc 1 Nếu các chuỗi dừng bậc 1 tồn tại mối quanhệ đồng tích hợp thì nghiên cứu sẽ sử dụng phương pháp hồi quy phù hợp như FOLS (Fully ModifiedOrdinary Least Squares), DOLS (Dynamic Ordinary Least Squares) để phân tích
Trường hợp chuỗi dữ liệu bảng dừng bậc gốc và trường hợp chuỗi dữ liệu bảng dừng bậc 1 khôngtồn tại mối quan hệ đồng tích hợp thì nghiên cứu sẽ sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng tĩnh tuyến tínhnhư PLS, FEM, REM để phân tích
3.3.2 Lựa chọn mô hình hồi quy PLS, FEM, REM
Bước 1: Lựa chọn mô hình FEM với PLS
Bước 2: Thực hiện hồi quy theo mô hình PLS và mô hình các ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM) Bước 3: Thực hiện kiểm định Hausman để lựa chọn giữa mô hình FEM và REM
3.3.3 Kiểm định các giả định của mô hình hồi quy dữ liệu bảng
Theo Greene (2003) hai kiểm định cần thực hiện đối với các giả định của mô hình hồi quy dữ liệu bảng là kiểm định phương sai thay đổi và kiểm định hiện tượng tự tương quan.
3.4 QUY TRÌNH KIỂM ĐỊNH GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
3.4.1 Kiểm định giả thuyết H1
Giả thuyết H1 được kiểm định căn cứ vào kết quả hồi quy Mô hình 3.2 với dữ liệu bảng Phươngpháp hồi quy Mô hình 3.2 được thực hiện theo quy trình phân tích dữ liệu bảng được trình trong Mục 3.3.Các hệ số hồi quy β4 , β 5 và β 6 tương ứng với các biến giá đầu vào của nhóm NHNNg trong Mô hình 3.2 cho biết ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh của thị trường NHTM Việt Nam Nếu (β 4 + β 5 + β 6 )
> 0 thì giả thuyết H1 được chấp nhận, nghĩa là thâm nhập của NHNNg làm tăng cạnh tranh của thị trường NHTM Việt Nam Trường hợp (β 4 + β 5 + β 6 ) ≤ 0 thì giả thuyết H1 bị bác bỏ, nghĩa là thâm nhập của NHNNg không ảnh hưởng đến cạnh tranh (β 4 + β 5 + β 6 ) = 0 hoặc làm giảm cạnh tranh của thị trường NHTM Việt Nam (β 4 + β 5 + β 6 ) < 0.
3.4.2 Kiểm định giả thuyết H2
Trang 15Giả thuyết H2 được kiểm định căn cứ vào kết quả hồi quy Mô hình 3.4 trong trường hợp sử dụngphương pháp chỉ số tài chính, và kết quả hồi quy Mô hình 3.6 trong trường hợp sử dụng phương pháp DEAvới dữ liệu bảng
Phương pháp hồi quy Mô hình 3.4 được thực hiện theo quy trình phân tích dữ liệu bảng được trìnhbày trong Mục 3.3 Phương pháp hồi quy Tobit được sử dụng cho Mô hình 3.6 Hệ số hồi quy β của các biến
đại diện cho thâm nhập của NHNNg (FBA, NFB) cho biết ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến hiệu quả của các NHTM Việt Nam Nếu β < 0 thì giả thuyết H2 được chấp nhận, nghĩa là thâm nhập của NHNNg làm giảm hiệu quả của các NHTM Việt Nam Trường hợp β ≥ 0 thì giả thuyết H2 bị bác bỏ, nghĩa là thâm nhập của NHNNg không ảnh hưởng đến hiệu quả β = 0 hoặc làm tăng hiệu quả của các NHTM Việt Nam β
> 0.
CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 TỔNG QUAN MẪU DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
Nguồn dữ liệu được dùng trong nghiên cứu này được lấy từ nguồn Orbis Bank Focus do Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh cung cấp Mẫu dữ liệu có 42 ngân hàng bao gồm 30 ngân hàng trong nước và 12 NHNNg
4.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHO RQ1
4.2.1 Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu bảng
Kiểm định nghiệm đơn vị Fisher – ADF và Fisher – PP đối với biến ln(R) và ln(ROA), và các biến giá đầu vào là ln(w 1 ), ln(w 2 ) và ln(w 3 ) đều bác bỏ giả thuyết gốc, nghĩa là các biến chính trong Mô hình 3.2 và Mô hình 3.3 đều dừng với mức ý nghĩa 1% Như vậy, các phương pháp hồi quy PLS, FEM, REM sẽ phù hợp với Mô hình 3.2 và Mô hình 3.3.
4.2.2 Kiểm định tính cân bằng dài hạn của thị trường ngân hàng Việt Nam
Kiểm định cân bằng dài hạn được thực hiện bằng kiểm định F với giả thuyết gốc E-statistic = 0 Giá trị P-value của F-test bằng 0,278 không thể bác bỏ giả thuyết gốc, nghĩa là thị trường NHTM Việt Nam đạt cân bằng dài hạn Do đó, phương pháp Panzar- Rosse có thể được sử dụng để ước tính mức độ cạnh tranh của thị trường ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2009 - 2019.
4.2.3 Kết quả phân tích hồi quy mô hình nghiên cứu
Kết quả kiểm định F có giá trị P-value = 0,000 cho thấy mô hình FEM phù hợp hơn mô hình PLS,kết quả kiểm định LM có giá trị P-value = 0,000 cho thấy mô hình REM phù hợp hơn mô hình PLS Kiểmđịnh Hausman có giá trị P-value bằng 0,872, do đó không thể bác bỏ giả thuyết gốc, nghĩa là ảnh hưởngkhông quan sát được phụ thuộc đối tượng có tương quan với các biến giải thích trong mô hình Như vậy, môhình REM là phù hợp hơn mô hình FEM
Kết quả kiểm định Wooldridge có P-value = 0,006 chứng minh có hiện tượng tự tương quan trong
mô hình REM Do đặc điểm dữ liệu có N lớn (N = 42) và T nhỏ (T = 11), luận án sử dụng ước lượng chuẩnvững (REM-RSE) để khắc phục hiện tượng tự tương quan Như vậy, kết quả ước lượng từ mô hình REM-RSE sẽ được dùng để kiểm định giả thuyết H1 làm cơ sở cho việc trả lời RQ1
Bảng 4.13: Kết quả hồi quy mô hình nghiên cứu thực nghiệm bằng mô hình PLS, FEM, REM và