1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SKKN giúp học sinh lớp 3 học tốt toán hình học

11 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình trạng giải pháp đã biết Giải toán chính là giúp con người kết hợp được cái cụ thể với cái trừu tượng đặc biệt là đối với các bài toán có nội dung hình học.. Qua thực tế giảng dạy t

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

MÔ TẢ SÁNG KIẾN

Mã số: ………

1 Tên sáng kiến: Giúp học sinh lớp 3 học tốt Toán hình học

2 Lĩnh vực áp dụng: Giảng dạy môn Toán

3 Mô tả bản chất của sáng kiến

3.1 Tình trạng giải pháp đã biết

Giải toán chính là giúp con người kết hợp được cái cụ thể với cái trừu tượng đặc biệt là đối với các bài toán có nội dung hình học Tuy vậy không phải bất cứ một học sinh nào cũng có thể giải tốt các bài toán dạng này Qua thực tế giảng dạy trên lớp nhiều năm liền tôi thấy:

a) Ưu điểm

- Học sinh học giải toán hình hứng thú hơn, tiếp thu bài nhanh, chủ động tìm ra lời giải khác;

- Một số học sinh có thái độ học tập tốt, có kĩ năng giải toán;

- Phát huy tính tích cực, sáng tạo trong lời nói, cách diễn đạt

b) Tồn tại

- Các em chưa nắm được các công thức và quy tắc hay chưa nắm được trình tự các bước của một bài giải;

- Các em rất lúng túng và giải kém hiệu quả các bài toán có nội dung hình học;

- Học sinh chưa có ý thức tự học, tự rèn ở nhà, chưa chú ý nghe thầy cô giảng bài trên lớp;

- Một phần không nhỏ các em trình bày bài giải chưa khoa học;

3.2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến

Trang 2

- Tìm phương pháp dạy học thích hợp trong việc dạy giải toán có nội dung hình học cho học sinh lớp 3;

- Góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học theo phương hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh Hình thành và rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn

3.2.2 Nội dung của giải pháp

Tính mới của giải pháp:

- Giúp học sinh nắm quy tắc và công thức toán;

- Hướng dẫn học sinh đọc và nghiên cứu kỉ đề bài toán, tóm tắt bài toán, tìm cách giải bài toán, trình bày bài giải;

- Giúp học sinh giải các dạng bài toán thường gặp:

+ Dạng bài toán có số đo và đơn vị đo thích hợp với công thức;

+ Giải những bài toán vận dụng công thức với các bài toán trung gian hoặc yêu cầu khác;

+ Bài toán kết hợp đại lượng hình học với đại lượng khác

Các bước thực hiện của giải pháp:

a) Nắm quy tắc và công thức

Sau một số ví dụ, tôi hướng học sinh tìm ra quy tắc và công thức chung

Ví dụ: Khi dạy bài: “Chu vi hình chữ nhật”

Thông qua các ví dụ cụ thể tôi cho học sinh tìm ra công thức chung là:

Trong đó:

a: là số đo chiều dài

b: là số đo chiều rộng

P: là chu vi

P = (a + b) x

2

Trang 3

Từ công thức tôi cho học sinh phát biểu thành quy tắc như sau:

“Muốn tính chu vi hình chữ nhật ta lấy số đo chiều dài cộng số đo chiều rộng (cùng một đơn vị đo) rồi nhân với 2”

Khi có được công thức và quy tắc thì tiến hành cho học sinh đọc thuộc lòng, ghi nhớ công thức và quy tắc đó ngay tại lớp Đây là một việc làm hết sức cần thiết Bởi nếu không nhớ quy tắc và công thức thì học sinh không biết dựa vào đâu để mà giải toán

b) Đọc và nghiên cứu kỉ đề bài toán

Khi đưa ra bất cứ một bài toán nào tôi đều yêu cầu học sinh đọc cẩn thận đề bài, suy nghĩ xem dữ kiện bài toán đã cho? Yêu cầu của bài toán là gì?

Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh giải bài toán “Tính chu vi mảnh đất hình chữ nhật dài 40 m, rộng 25m”

Tôi gọi một học sinh đọc to đề bài toán, cả lớp đọc thầm và suy nghĩ để trả lời câu hỏi của giáo viên:

- Bài toán cho biết gì? (Bài toán cho biết mảnh đất hình chữ nhật có chiều dài 40m, chiều rộng 25m);

- Bài toán yêu cầu ta làm gì? (Bài toán yêu cầu tính chu vi mảnh đất hình chữ nhật đó)

Việc làm này cũng rất quan trọng Bởi nếu các em không đọc và nghiên cứu kỹ đề thì rất dễ dẫn tới tóm tắt bài toán sai và cuối cùng là giải sai Bước này đã khẳng định phần nào thành công trong khi giải toán

c) Tóm tắt bài toán

Việc xác lập cách giải bài toán phải dựa trên nội dung bài toán Vì vậy muốn học sinh giải tốt các bài toán Sau khi học sinh đọc và tìm hiểu kĩ đề bài, yêu cầu học sinh tóm tắt bài toán Vì đây là học sinh lớp 3 nên chỉ yêu cầu học sinh tóm tắt bằng lời

Trang 4

Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh giải bài: Tính diện tích hình vuông, có cạnh dài 4cm

Học sinh tóm tắt bài toán như sau:

Cạnh hình vuông: 4cm

Diện tích hình vuông: ?cm2

Tóm tắt bài toán giúp học sinh tìm mối quan hệ giữa cái đã biết và cái chưa biết đó là cầu nối giải quyết một cách hợp lý

d) Tìm cách giải bài toán

Đễ có được cách giải hay và đúng, cần hướng dẫn học sinh nhìn vào tóm tắt của bài toán thông qua việc thiết lập mối quan hệ giữa các dữ kiện của bài toán (đại lượng đã biết) với yêu cầc của bài toán (đại lượng cần tìm) đễ tìm ra phép tính tương ứng

Không phải tất cả các bài toán có nội dung hình học, đều có cách giải giống nhau Mà cần phải dựa vào những điều bài toán đã cho và điều bài toán cần tìm để tìm ra cách giải cho từng bài toán Chẳng hạn có những bài toán mới đọc qua, học sinh chỉ cần áp dụng ngay công thức là có thể tìm ra kết quả của bài toán

Ví dụ: Tính chu vi một hình chữ nhật có chiều dài 8 cm, chiều rộng 5 cm

Có những bài toán khi mới đọc qua học sinh tưởng chừng như chỉ cần

áp dụng công thức để tìm ra kết quả ngay, nhưng các đơn vị đo trong các dữ kiện của bài toán chưa cùng nhau Vì vậy học sinh cần phải đưa chúng về cùng đơn vị đo

Ví dụ: Tính chu vi vườn trường hình chữ nhật dài 15 m, rộng 90 dm Cũng có những bài toán học sinh không thể áp dụng ngay công thức để tìm đáp án mà các em cần phải thông qua nhiều bước giải

Ví dụ: Tính diện tích hình vuông biết chu vi hình vuông là 24 cm

Trang 5

Với bài này, để tính được diện tích thì trước hết học sinh phải dựa vào chu vi để tìm độ dài của cạnh hình vuông Vì vậy cần xác định rõ cách giải trước khi giải một bài toán nào đó

đ) Trình bày bài giải

Khi trình bày bài giải tôi luôn giúp học sinh hiểu rõ quy trình phải làm đó là: Viết được câu lời giải và phép tính tương ứng Ở bước này lúc đầu tôi cho học sinh diễn đạt bằng lời trước khi viết câu lời giải để các em tự sửa chửa cho nhau sau đó mới cho học sinh giải vào vở Trong khi hướng dẫn học sinh trình bày bài giải luôn động viên các em tìm hiểu nhiều cách giải, với nhiều lời giải sau đó chọn lời giải, cách giải hay nhất gọn nhất

Ví dụ: Khi giải bài toán: Sân trường em hình vuông có cạnh dài 60 m, mỗi bước chân của em dài 6dm Hỏi em đi một vòng quanh sân hết bao nhiêu bước chân

Với bài toán này học sinh sẽ đưa ra hai cách giải

Cách 1: Đổi 60m = 600dm

Số bước chân đi trên 1 cạnh của hình vuông là:

600 : 6 = 100 (bước)

Số bước chân em đi một vòng quanh trường là:

100 × 4 = 400 (bước)

Đáp số: 400 bước

Cách 2: Chu vi hình vuông là

60 ×4 = 240 (m) =2400 (dm)

Số bước chân em đi một vòng quanh sân trường là:

2400 : 6 = 400 (bước)

Đáp số: 400 bước

Trang 6

Cho học sinh so sánh hai cách giải, từ đó các em chọn cách giải gọn và hay nhất Đây là loại toán tương đối đa dạng, tuy ở chương trình lớp 3 loại này còn ở mức độ đơn giản, song tôi vẫn hướng dẫn học sinh phân ra từng loại cụ thể để có hướng giải quyết

e) Các dạng bài toán thường gặp

Dạng bài toán có số đo và đơn vị đo thích hợp với công thức:

Đây là những bài toán đơn giản mà các đơn vị đo đã tương ứng thích hợp

vì vậy các em dựa vào công thức đã học để giải luôn bài toán

Ví dụ 1: Tính chu vi một mặt bàn hình vuông, cạnh 8 dm

Bài giải

Chu vi mặt bàn là:

8 × 4 = 32 (dm)

Đáp số: 32 dm

Ví dụ 2: Tính diện tích hình chữ nhật biết: chiều dài 15 cm, chiều rộng 8 cm Bài giải

Diện tích hình chữ nhật là:

15 ×8 = 120 (cm2)

Đáp số: 120 cm2

Bên cạnh đó cũng có những bài toán các số đo và đơn vị đo đã thích hợp với công thức, song nó không phải theo chiều thuận

Ví dụ: Với bài toán: Biết diện tích của một hình chữ nhật là 24 cm2 Chiều dài là 8cm Hãy tính chiều rộng của hình chữ nhật đó?

Với bài này học sinh áp dụng công thức tính diện tích hình chữ nhật bằng chiều dài nhân chiều rộng Vì bài toán cho biết diện tích và chiều dài nên muốn tìm chiều rộng học sinh cần dựa vào công thức trên để tìm ra công thức tính chiều rộng: Chiều rộng bằng diện tích chia chiều dài Rồi giải bài toán như sau:

Trang 7

Bài giải Chiều rộng hình chữ nhật là:

24 : 8 = 3 (cm) Đáp số: 3 cm

Giải các bài toán yêu cầu học sinh phát hiện mối liên hệ giữa các đơn vị

đo trong bài toán rồi đưa chúng về cùng một đơn vị đo và giải bài toán:

Để kiểm tra tính cẩn thận, linh hoạt, sáng tạo của học sinh, sách giáo khoa đưa ra một số bài toán mà trong đó các số đo không cùng một đơn vị đo

Vì vậy, loại này yêu cầu học sinh phải phát hiện nhanh và đưa chúng về cùng một đơn vị đo để giải Nếu đọc đề không cẩn thận học sinh sẻ giải sai bài toán

Ví dụ 1: Tính chu vi và diện tích hình chữ nhật biết: Chiều dài 2dm, chiều rộng 9cm

Trong ví dụ này, nếu học sinh đọc đề không kĩ, thì sẽ bị nhầm là chiều dài và chiều rộng cùng một đơn vị đo và sẽ giải:

Bài giải Chu vi hình chữ nhật là:

(2 + 9) × 2 = 36 (cm)

Diện tích hình chữ nhật là:

9 × 2 = 18(cm2)

Đáp số: 36 cm và 18 cm2 Hoặc: Chu vi hình chữ nhật là:

(2+ 9) × 2 = 36 (dm)

Diện tích hình chữ nhật là:

Trang 8

Đáp số: 36dm và 18dm2 Nếu học sinh đọc kĩ đề sẽ phát hiện ra chiều dài và chiều rộng không cùng một đơn vị đo Vì vậy học sinh cần đưa về cùng một đơn vị đo rồi mới giải bài toán:

Bài giải Đổi 2 dm = 20 cm

Chu vi hình chữ nhật là:

(20 + 9) × 2 = 58 (cm) Diện tích hình chữ nhật là::

20 ×9 = 180 (cm2) Đáp số: 58cm và 180cm2

Ví dụ 2: Tính cạnh hình vuông có chu vi là 3dm 6cm

Trong bài toán này học sinh phải đổi 3 dm 6cm = 36cm Rồi sau đó mới tiến hành giải bài toán:

Bài giải Cạnh của hình vuông là:

36 : 4 = 9 (cm) Đáp số: 9 cm

Để củng cố và khắc sâu hơn về loại bài tập này, ngoài các bài có ở trong sách giáo khoa tôi còn tìm và ra thêm để học sinh luyện thêm về loại này và giúp học sinh rèn luyện tính cẩn thận, sáng tạo khi giải toán

Giải những bài toán vận dụng công thức với các bài toán trung gian hoặc yêu cầu khác:

Loại này phần lớn là những bài toán phức tạp hơn, yêu cầu cao Nên đòi hỏi tư duy của học sinh ở mức độ cao hơn

Trang 9

Ví dụ 1: Tính chu vi mặt bàn hình chữ nhật chiều rộng 8dm, chiều dài hơn chiều rộng 7dm

Với bài toán này cho biết chiều rộng của hình chữ nhật và cho biết hiệu của chiều dài với chiều rộng Vì vậy muốn tính được chu vi mặt bàn này, học sinh phải tiến hành tìm chiều dài của mặt bàn:

Bài giải Chiều dài của mặt bàn hình chữ nhật là:

8 + 7 = 15 (dm) Chu vi mặt bàn hình chữ nhật là:

( 8 +15 ) x2= 46 (dm) Đáp số: 46dm

Ví dụ 2: Một hình chữ nhật có chiều dài 8cm, chiều rộng 2cm Tính chu

vi hình vuông có diện tích bằng diện tích hình chữ nhật đó?

Bài toán này học sinh phải tiến hành các bước giải như sau:

Bài giải Diện tích của hình chữ nhật đó là:

8 x 2 = 16 (cm2)

Nếu hình vuông có diện tích bằng diện tích hình chữ nhật thì bằng 16

cm2 Vì chỉ có 4 x 4 = 16 nên cạnh của hình vuông là: 4cm

Bài giải Chu vi hình vuông là: 4 x 4 = 16 (cm)

Đáp số: 16cm

Bài toán kết hợp đại lượng hình học với đại lượng khác:

Trang 10

Ví dụ: Một miếng vàng lá chữ có chiều dài 3cm, chiều rộng 2cm, cân nặng 36 gam Hỏi một miếng vàng hình vuông khác (cùng loại) có cạnh là 5cm, cân nặng bao nhiêu gam ?

Đây là bài toán phức tạp hơn và cũng là bài toán tương đối khó với học sinh Để tìm được khối lượng của miếng vàng hình vuông thì trước hết học sinh phải tìm được diện tích miếng vàng hình chữ nhật Sau đó áp dụng kiến thức rút về đơn vị để tìm khối lượng của 1 cm2 Tiếp đến tính diện tích miếng vàng hình vuông, sau đó mới tính khối lượng của miếng vàng hình vuông đó

Các bước giải bài toán này cụ thể như sau:

Bài giải Diện tích miếng vàng hình chữ nhật là:

2x3= 6 (cm2)

1 cm2 vàng cân nặng là:

36 : 6 = 6 (g) Diện tích miếng vàng hình vuông là:

5 x5 = 25 (cm2) Miếng váng hình vuông cân nặng là:

25 x6=150(g)

Đáp số: 150 gam

Dạng bài tập này có sự kết hợp giữa đại lượng hình học với các đại lượng khác Vì vậy đòi hỏi học sinh có óc suy luận và trí thông minh nhiều hơn Khi dạy học sinh lớp 3 giải các bài toán có nội dung hình học, tôi luôn yêu cầu học sinh đi theo các bước như đã trình bày ở trên Bên cạnh đó với từng dạng bài tôi thường lấy thêm ví dụ để học sinh tăng cường luyện tập, tránh lúng túng khi gặp lại các bài toán tương tự Ở từng giờ học tôi còn cho học sinh giải

Trang 11

toán dưới hình thức trò chơi nhằm tạo không khí thoải mái, vui tươi, nhẹ nhàng trong giờ học Tùy từng bài toán mà có cách tổ chức trò chơi phù hợp

Vì học sinh tiểu học có tâm lý “dễ nhớ nhưng chóng quên”, nên cần chú

ý đến việc ôn tập cũng cố cho các em

3.3 Khả năng áp dụng của giải pháp

- Sau nghiên cứu, tôi đã đưa vào thử nghiệm lớp 3 chủ nhiệm và nhân

rộng cho đồng nghiệp;

- Áp dụng cho tất cả các khối lớp trong trường Tiểu học khi dạy và học giải toán hình học

3.4 Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp

Quá trình giảng dạy, tôi đã áp dụng phương pháp dạy như trên kết quả cuối năm, học sinh đã giải được phần lớn các bài toán có nội dunh hình học Tỷ

lệ cao hơn hẵn so với đầu năm cụ thể:

- Học sinh học giải toán hình hứng thú hơn, tiếp thu bài nhanh, chủ động tìm ra lời giải khác;

- Phát huy tính tích cực, sáng tạo trong lời nói, cách diễn đạt;

- Các em nắm được các công thức và quy tắc và nắm được trình tự các bước của một bài giải;

- Các em không còn lúng túng và giải đạt hiệu quả các bài toán có nội dung hình học;

- Chỉ còn vài em trình bày bài giải chưa khoa học;

Từ kết quả đạt được trên tôi thấy rằng giáo viên cần phải giúp học sinh luyện tập, cũng cố thường xuyên Bản thân người giáo viên phải nhiệt tình, cố gắng tìm tòi để ra thêm nhiều bài tập để học sinh luyện giải./

Ngày đăng: 13/03/2022, 07:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w