MỤC LỤC Các phần chính Trang CHƯƠNG I: TỔNG QUAN I. Cơ sở lý luận 2 – 3 – 4 II. Phương pháp tiếp cận tạo ra sáng kiến 4 III. Mục tiêu 4 – 5 CHƯƠNG II: MÔ TẢ SÁNG KIẾN I. Nêu vấn đề của sáng kiến 6 1. Phân tích, đánh giá thực trạng vấn đề 6 – 7 2. Các tồn tại, hạn chế 7 – 8 3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 8 – 9 4. Tính cấp thiết cần tạo ra sáng kiến 9 II. Giải pháp để thực hiện sáng kiến 9 – 19 III. Kết quả và khả năng áp dụng, nhân rộng 19 IV. Giải pháp tổ chức thực hiện 20 CHƯƠNG III: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤTKIẾN NGHỊ I. Kết luận 21 II. Đề xuất 21 – 22 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN I. Cơ sở lý luận: 1. Khái niệm về kĩ năng: Kỹ năng là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc nào đó phát sinh trong cuộc sống. 2. Khái niệm về kĩ năng sống: Kĩ năng sống là một trong những khái niệm được nhắc đến nhiều trong thời đại ngày nay. Có nhiều quan niệm về kĩ năng sống: Kĩ năng sống là những kĩ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống, giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc sống có nhiều thách thức nhưng cũng nhiều cơ hội trong thực tại…Kĩ năng sống đơn giản là tất cả điều cần thiết chúng ta phải biết để có được khả năng thích ứng với những thay đổi diễn ra hằng ngày trong cuộc sống. Kĩ năng sống là “Khả năng thích nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày”. 3. Phân loại kỹ năng sống: Có bốn bậc kỹ năng sống giúp cho mỗi người chúng ta khẳng định vị trí của bản thân mình, đó là kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng quản lý bản thân, nhóm kỹ năng nhận thức xã hội, và nhóm kỹ năng quản lý các mối quan hệ. Cũng có cách chia kĩ năng sống thành 2 loại: Kỹ năng cơ bản và kỹ năng nâng cao. Ở tiểu học, đối với các lớp đầu cấp, kỹ năng cơ bản được xem trọng, còn các lớp cuối cấp nâng dần cho các em về kỹ năng nâng cao. Theo đó, chúng ta cần tập trung rèn luyện cho các em 2 nhóm kỹ năng sống sau đây: Nhóm kỹ năng giao tiếp – hòa nhập cuộc sống: Các em biết giới thiệu về bản thân, về gia đình, về trường lớp học và bạn bè thầy cô giáo. Biết chào hỏi lễ phép trong nhà trường, ở nhà và ở nơi công cộng. Biết nói lời cảm ơn, xin lỗi. Thực tế trong nhà trường, thông qua môn Đạo đức, các hoạt động tập thể học sinh được dạy cách lễ phép nhưng khi đi vào thực tế, nhiều em thiếu kỹ năng giao tiếp, không có thói quen chào hỏi, tự giới thiệu mình với người khác, thậm chí có nhiều em còn không dám nói hoặc không biết nói lời xin lỗi khi các em làm sai. Biết phân biệt hành vi đúng sai, phòng tránh tai nạn. Đây là kỹ năng quan trọng mà không phải em nào cũng xử lý được nếu chúng ta không rèn luyện thường ngày. Nhóm kỹ năng trong học tập, lao động – vui chơi giải trí: Các kỹ năng nghe, đọc, nói, viết, kỹ năng quan sát, kỹ năng đưa ra ý kiến chia sẻ trong nhóm bạn. Kỹ năng giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh chung. Kỹ năng kiểm soát tình cảm – kỹ năng kìm chế thói hư tật xấu sở thích cá nhân có hại cho bản thân và người khác. Kỹ năng hoạt động nhóm trong học tập vui chơi và lao động. Tóm lại, dù phân chia thế nào, thì vẫn có một sự thật không thể thay đổi, để trở thành một người lớn thành công, kỹ năng sống phải được dạy từ khi các em còn rất nhỏ. II. Phương pháp tiếp cận tạo ra sáng kiến: Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận: Phương pháp nghiên cứu tài liệu Phương pháp phân tích (các quan điểm về khả năng hình thành kĩ năng sống của học sinh từ đó rút ra quan điểm cho bản thân trong việc bồi dưỡng kĩ năng sống cho học sinh) Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp quan sát Phương pháp thực nghiệm Phương pháp điều tra, phỏng vấn Phương pháp tổng kết kinh nghiệm III. Mục tiêu: Tìm một số biện pháp rèn kĩ năng sống cho học sinh ở các tiết sinh hoạt ngoại khóa. Giúp học sinh ý thức được giá trị của bản thân trong mối quan hệ xã hội; giúp học sinh hiểu biết về thể chất, tinh thần của bản thân mình; có hành vi, thói quen ứng xử có văn hóa, hiểu biết và chấp hành pháp luật. Giúp học sinh có đủ khả năng tự thích ứng với môi trường xung quanh, tự chủ, độc lập, tự tin khi giải quyết công việc, đem lại cho các em vốn tự tin ban đầu để trang bị cho các em những kĩ năng cần thiết làm hành trang bước vào đời. Góp phần nâng cao hiệu quả cao trong phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. CHƯƠNG II: MÔ TẢ SÁNG KIẾN I. Nêu vấn đề của sáng kiến Trong những năm gần đây, phong trào thi đua xây dựng “Trường học thân thiện – Học sinh tích cực” được sự hưởng ứng và tham gia của đông đảo các trường học. Một trong 5 nội dung của phong trào thi đua này là rèn luyện kĩ năng sốngcho học sinh. Đây cũng là một nhiệm vụ quan trọng đối với các thầy cô giáo. Thực trạng hiện nay, việc rèn kĩ năng sống của các em ở trường tiểu học còn nhiều hạn chế. Nó chưa có nét chuyển biến, nguyên do chính là trong tư tưởng giáo viên, phụ huynh chỉ chú trọng đến việc dạy kiến thức nên việc rèn kĩ năng sốngcho học sinh còn chiếu lệ. Về phía học sinh, các em hay “nói trước quên sau” và chưa có khả năng vận dụng những điều đã học để áp dụng vào thực tế.Vậy làm thế nào để học sinh biết cách vận dụng kĩ năng sốngvào trong cuộc sống hằng ngày? Với mong muốn góp phần vào việc luận giải những vấn đề nói trên, tôi đã chọn đề tài: “Bồi dưỡng kĩ năng sốngcho học sinh ở các tiết sinh hoạt ngoại khóa”với mục đích trang bị và giúp cho học sinh hình thành những kĩ năng sống cần thiết để các em dần phát triển nhân cách, có những cách ứng xử phù hợp trong cuộc sống và trở thành những con người tốt, có ích cho xã hội sau này. 1. Phân tích, đánh giá thực trạng của vấn đề a. Thuận lợi: Nhà trường đã có những kế hoạch nhất quán của từng năm học với những biện pháp cụ thể để rèn kĩ năng sốngcho học sinh một cách tốt nhất đã tạo ra những định hướng giúp giáo viên thực hiện như: Rèn luyện kĩ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kĩ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm…. Trường học nơi bản thân công tác là ngôi trường có môi trường giáo dục thân thiện, tích cực, cơ sở vật chất đảm bảo cho việc dạy và học. Các em được rèn những kĩ năng sống cơ bản từ khi bắt đầu vào ngưỡng cửa Tiểu học. Bên cạnh đó, tôi nhận được một tập thể học sinh khá ngoan và biết vâng lời, các em gần gũi với thầy giáo. Ngoài ra Ban lãnh đạo nhà trường luôn theo sát, quan tâm, hỗ trợ cho giáo viên trong công tác giảng dạy cũng như giáo dục. b. Khó khăn: Điều kiện sống của các em không giống nhau, có những em được sống trong điều kiện tốt, bố mẹ quan tâm và tạo điều kiện cho việc rèn kĩ năng sống nhưng cũng có những em có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ mải làm ăn nên việc quan tâm, chăm sóc và dạy dỗ còn hạn chế, đặc biệt là chưa chú trọng đến rèn kĩ năng sống cho các em. Hoặc, cũng có những trường hợp bố mẹ quá nuông chiều, cung phụng con cái khiến trẻ không có kĩ năng tự phục vụ bản thân. 2. Các tồn tại, hạn chế ở lớp 3B trường Tiểu học Tam Sơn: Qua thực tế giảng dạy ở lớp, tôi thấy kĩ năng sống của học sinh chưa cao. Cụ thể như sau: Khả năng giao tiếp của các em còn hạn chế. Có những em hiểu và nắm bắt vấn đề nhanh nhưng lại khó khăn trong cách diễn đạt hoặc chưa tự tin khi thể hiện ý kiến của mình trước thầy giáo và tập thể lớp. Ngược lại, có những học sinh trình bày to, rõ ràng nhưng câu nói chưa thể hiện đúng văn phong, chưa lịch sự, nói trống không mà chưa đủ ý. Khả năng tự phục vụ của bản thân học sinh cũng chưa cao, nhiều em vẫn còn ỷ lại vào phụ huynh như mặc quần áo, chuẩn bị đồ dùng sách vở,… Có những học sinh có khả năng tự phục vụ bản thân tốt như chỉnh đốn trang phục, đầu tóc gọn gàng trước đi đến lớp, biết bảo quản đồ dùng cá nhân và sử dụng nó một cách hiệu quả. Tuy nhiên, số lượng này chưa phải là toàn bộ học sinh trong lớp. Thực tế vẫn còn tồn tại một số học sinh còn lúng túng trong việc sắp xếp đồ dùng, chỉnh đốn trang phục, đầu tóc và chưa tự giác làm việc này. Trong quá trình dạy, thông qua các môn học có liên quan, tôi có đưa ra các tình huống giả định để học sinh trình bày cách xử lí và ứng phó với tình huống đó nhưng nhận thấy rất ít học sinh làm được. Đa phần, các em còn tỏ ra lúng túng, ngỡ ngàng hoặc đưa ra những cách xử lí còn ngô nghê, chưa có hiệu quả tốt. Khả năng sáng tạo của học sinh là chưa rõ nét. Các em còn thụ động, chưa có sự linh hoạt và chưa có những sáng kiến độc đáo của bản thân. Khi tôi kể cho học sinh nghe một câu chuyện rồi yêu cầu học sinh kể bằng lời của một số nhân vật trong truyện hoặc tưởng tượng ra phần kết và kể tiếp thì học sinh còn thấy khó khăn, chưa thể thực hiện được, chỉ có ít học sinh bước đầu thực hiện được yêu cầu. Đây là kết quả mà tôi quan sát được của các em từ khi nhận lớp : Các hành vi của học sinh quan sát được Mức độ rất thấp Mức độ thấp Mức độ trung bình Mức độ cao Mức độ rất cao Hứng thú với các hoạt động 831 (25,8) 931 (29,03%) 1031 (32,2%) 431 (12,97%) Tự tin khi tham gia các hoạt động 931 (29,03%) 931 (29,03%) 931 (29,03%) 431 (12,91%) Thể hiện bản thân 1031 (32,2%) 1231 (38,7%) 631 (19,3%) 331 (9,8%) Giao tiếp có hiệu quả 131 (3,2%) 431 (12,91%) 1031 (32,2%) 1331 (41,89%) 331 (9,8%) Ứng phó với các tình huống nguy hiểm 131 (3,2%) 1431 (45,3%) 831 (25,8%) 731 (22,5%) 131 (3,2%) Biết hợp tác tốt trong đội, nhóm 131 (3,2%) 731 (22,5%) 931 (29,03%) 1031 (32,2%) 431 (12,91%) Biết quan tâm, sẵn sàng giúp người khác. 131 (3,2%) 831 (25,8%) 931 (29,03%) 1031 (32,2%) 331 (9,8%) 3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế: Thiếu tính thiết thực: Giáo dục kĩ năng sống đã được lồng ghép giảng dạy trong các môn học nhưng học sinh chưa thật sự thích thú, không cảm thấy thiết thực.Tuy nhiên, không phải bài học nào cũng có thể lồng ghép thuận lợi. Ví dụ, sau bài học “Ai có lỗi ?” trong môn tiếng Việt lớp 3, cả thầy và trò đều
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CẨM KHÊ
TRƯỜNG TIỂU HỌC TAM SƠN
BỒI DƯỠNG KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
Ở CÁC TIẾT SINH HOẠT NGOẠI KHÓA
Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm Tiểu học
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Tam Sơn
Cẩm Khê, năm 2020
MỤC LỤC
Trang 2Các phần chính Trang CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
II Phương pháp tiếp cận tạo ra sáng kiến 4
CHƯƠNG II: MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1 Phân tích, đánh giá thực trạng vấn đề 6 – 7
3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 8 – 9
4 Tính cấp thiết cần tạo ra sáng kiến 9
II Giải pháp để thực hiện sáng kiến 9 – 19
III Kết quả và khả năng áp dụng, nhân rộng 19
CHƯƠNG III: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT/KIẾN NGHỊ
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
I Cơ sở lý luận:
1 Khái niệm về kĩ năng:
Kỹ năng là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặcnhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việcnào đó phát sinh trong cuộc sống
Trang 32 Khái niệm về kĩ năng sống:
Kĩ năng sống là một trong những khái niệm được nhắc đến nhiều trong thờiđại ngày nay Có nhiều quan niệm về kĩ năng sống:
Kĩ năng sống là những kĩ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại
và thích ứng trong cuộc sống, giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc sống cónhiều thách thức nhưng cũng nhiều cơ hội trong thực tại…Kĩ năng sống đơngiản là tất cả điều cần thiết chúng ta phải biết để có được khả năng thích ứng vớinhững thay đổi diễn ra hằng ngày trong cuộc sống
Kĩ năng sống là “Khả năng thích nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân cókhả năng đối phó hiệu quả với nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày”
3 Phân loại kỹ năng sống:
Có bốn bậc kỹ năng sống giúp cho mỗi người chúng ta khẳng định vị trí củabản thân mình, đó là kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng quản lý bản thân, nhóm kỹnăng nhận thức xã hội, và nhóm kỹ năng quản lý các mối quan hệ
Cũng có cách chia kĩ năng sống thành 2 loại: Kỹ năng cơ bản và kỹ năng nângcao
Ở tiểu học, đối với các lớp đầu cấp, kỹ năng cơ bản được xem trọng, còn cáclớp cuối cấp nâng dần cho các em về kỹ năng nâng cao Theo đó, chúng ta cầntập trung rèn luyện cho các em 2 nhóm kỹ năng sống sau đây:
Trang 4*Nhóm kỹ năng giao tiếp – hòa nhập cuộc sống:
- Các em biết giới thiệu về bản thân, về gia đình, về trường lớp học và bạn bè
thầy cô giáo
- Biết chào hỏi lễ phép trong nhà trường, ở nhà và ở nơi công cộng
- Biết nói lời cảm ơn, xin lỗi Thực tế trong nhà trường, thông qua môn Đạo đức,các hoạt động tập thể học sinh được dạy cách lễ phép nhưng khi đi vào thực tế,nhiều em thiếu kỹ năng giao tiếp, không có thói quen chào hỏi, tự giới thiệumình với người khác, thậm chí có nhiều em còn không dám nói hoặc không biếtnói lời xin lỗi khi các em làm sai
- Biết phân biệt hành vi đúng sai, phòng tránh tai nạn Đây là kỹ năng quantrọng mà không phải em nào cũng xử lý được nếu chúng ta không rèn luyệnthường ngày
*Nhóm kỹ năng trong học tập, lao động – vui chơi giải trí:
- Các kỹ năng nghe, đọc, nói, viết, kỹ năng quan sát, kỹ năng đưa ra ý kiến chia
sẻ trong nhóm bạn
- Kỹ năng giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh chung
- Kỹ năng kiểm soát tình cảm – kỹ năng kìm chế thói hư tật xấu sở thích cá nhân
có hại cho bản thân và người khác
- Kỹ năng hoạt động nhóm trong học tập vui chơi và lao động
Tóm lại, dù phân chia thế nào, thì vẫn có một sự thật không thể thay đổi, để trởthành một người lớn thành công, kỹ năng sống phải được dạy từ khi các em cònrất nhỏ
Trang 5II Phương pháp tiếp cận tạo ra sáng kiến:
* Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp phân tích (các quan điểm về khả năng hình thành kĩ năng sống
của học sinh từ đó rút ra quan điểm cho bản thân trong việc bồi dưỡng kĩ năngsống cho học sinh)
* Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
III Mục tiêu:
Tìm một số biện pháp rèn kĩ năng sống cho học sinh ở các tiết sinh hoạt ngoạikhóa
Trang 6Giúp học sinh ý thức được giá trị của bản thân trong mối quan hệ xã hội; giúphọc sinh hiểu biết về thể chất, tinh thần của bản thân mình; có hành vi, thói quenứng xử có văn hóa, hiểu biết và chấp hành pháp luật.
Giúp học sinh có đủ khả năng tự thích ứng với môi trường xung quanh, tự chủ,độc lập, tự tin khi giải quyết công việc, đem lại cho các em vốn tự tin ban đầu đểtrang bị cho các em những kĩ năng cần thiết làm hành trang bước vào đời
Góp phần nâng cao hiệu quả cao trong phong trào “Xây dựng trường học thânthiện, học sinh tích cực”
Trang 7CHƯƠNG II: MÔ TẢ SÁNG KIẾN
I Nêu vấn đề của sáng kiến
Trong những năm gần đây, phong trào thi đua xây dựng “Trường học thân thiện– Học sinh tích cực” được sự hưởng ứng và tham gia của đông đảo các trườnghọc Một trong 5 nội dung của phong trào thi đua này là rèn luyện kĩ năngsốngcho học sinh Đây cũng là một nhiệm vụ quan trọng đối với các thầy côgiáo
Thực trạng hiện nay, việc rèn kĩ năng sống của các em ở trường tiểu học cònnhiều hạn chế Nó chưa có nét chuyển biến, nguyên do chính là trong tư tưởnggiáo viên, phụ huynh chỉ chú trọng đến việc dạy kiến thức nên việc rèn kĩ năngsốngcho học sinh còn chiếu lệ
Về phía học sinh, các em hay “nói trước quên sau” và chưa có khả năng vậndụng những điều đã học để áp dụng vào thực tế.Vậy làm thế nào để học sinh biếtcách vận dụng kĩ năng sốngvào trong cuộc sống hằng ngày? Với mong muốn
góp phần vào việc luận giải những vấn đề nói trên, tôi đã chọn đề tài: “Bồi dưỡng kĩ năng sốngcho học sinh ở các tiết sinh hoạt ngoại khóa”với mục đích
trang bị và giúp cho học sinh hình thành những kĩ năng sống cần thiết để các emdần phát triển nhân cách, có những cách ứng xử phù hợp trong cuộc sống và trởthành những con người tốt, có ích cho xã hội sau này
1 Phân tích, đánh giá thực trạng của vấn đề
a Thuận lợi:
Nhà trường đã có những kế hoạch nhất quán của từng năm học với nhữngbiện pháp cụ thể để rèn kĩ năng sốngcho học sinh một cách tốt nhất đã tạo ranhững định hướng giúp giáo viên thực hiện như: Rèn luyện kĩ năng ứng xử hợp
lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kĩ năng làm việc, sinh hoạttheo nhóm…
Trường học nơi bản thân công tác là ngôi trường có môi trường giáo dục thânthiện, tích cực, cơ sở vật chất đảm bảo cho việc dạy và học
Các em được rèn những kĩ năng sống cơ bản từ khi bắt đầu vào ngưỡng cửaTiểu học
Trang 8Bên cạnh đó, tôi nhận được một tập thể học sinh khá ngoan và biết vâng lời,các em gần gũi với thầy giáo Ngoài ra Ban lãnh đạo nhà trường luôn theo sát,quan tâm, hỗ trợ cho giáo viên trong công tác giảng dạy cũng như giáo dục
b Khó khăn:
Điều kiện sống của các em không giống nhau, có những em được sống trongđiều kiện tốt, bố mẹ quan tâm và tạo điều kiện cho việc rèn kĩ năng sống nhưngcũng có những em có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ mải làm ăn nên việcquan tâm, chăm sóc và dạy dỗ còn hạn chế, đặc biệt là chưa chú trọng đến rèn kĩnăng sống cho các em Hoặc, cũng có những trường hợp bố mẹ quá nuôngchiều, cung phụng con cái khiến trẻ không có kĩ năng tự phục vụ bản thân
2 Các tồn tại, hạn chế ở lớp 3B trường Tiểu học Tam Sơn:
Qua thực tế giảng dạy ở lớp, tôi thấy kĩ năng sống của học sinh chưa cao Cụthể như sau:
Khả năng giao tiếp của các em còn hạn chế Có những em hiểu và nắm bắtvấn đề nhanh nhưng lại khó khăn trong cách diễn đạt hoặc chưa tự tin khi thểhiện ý kiến của mình trước thầy giáo và tập thể lớp Ngược lại, có những họcsinh trình bày to, rõ ràng nhưng câu nói chưa thể hiện đúng văn phong, chưa lịch
sự, nói trống không mà chưa đủ ý
Khả năng tự phục vụ của bản thân học sinh cũng chưa cao, nhiều em vẫn còn
ỷ lại vào phụ huynh như mặc quần áo, chuẩn bị đồ dùng sách vở,… Có nhữnghọc sinh có khả năng tự phục vụ bản thân tốt như chỉnh đốn trang phục, đầu tócgọn gàng trước đi đến lớp, biết bảo quản đồ dùng cá nhân và sử dụng nó mộtcách hiệu quả Tuy nhiên, số lượng này chưa phải là toàn bộ học sinh trong lớp.Thực tế vẫn còn tồn tại một số học sinh còn lúng túng trong việc sắp xếp đồdùng, chỉnh đốn trang phục, đầu tóc và chưa tự giác làm việc này
Trong quá trình dạy, thông qua các môn học có liên quan, tôi có đưa ra cáctình huống giả định để học sinh trình bày cách xử lí và ứng phó với tình huống
đó nhưng nhận thấy rất ít học sinh làm được Đa phần, các em còn tỏ ra lúngtúng, ngỡ ngàng hoặc đưa ra những cách xử lí còn ngô nghê, chưa có hiệu quảtốt
Trang 9Khả năng sáng tạo của học sinh là chưa rõ nét Các em còn thụ động, chưa có
sự linh hoạt và chưa có những sáng kiến độc đáo của bản thân Khi tôi kể chohọc sinh nghe một câu chuyện rồi yêu cầu học sinh kể bằng lời của một số nhânvật trong truyện hoặc tưởng tượng ra phần kết và kể tiếp thì học sinh còn thấykhó khăn, chưa thể thực hiện được, chỉ có ít học sinh bước đầu thực hiện đượcyêu cầu
Đây là kết quả mà tôi quan sát được của các em từ khi nhận lớp :
Các hành vi của học
sinh quan sát được
Mức
độ rất thấp
Mức
độ thấp
Mức độ trung bình
Mức độ cao
Mức độ rất cao
Hứng thú với các
hoạt động
8/31(25,8)
9/31(29,03%)
10/31(32,2%)
4/31(12,97%)
Tự tin khi tham gia
các hoạt động
9/31(29,03%)
9/31(29,03%)
9/31(29,03%)
4/31(12,91%)
(32,2%)
12/31(38,7%)
6/31(19,3%)
3/31(9,8%)Giao tiếp có hiệu quả 1/31
(3,2%)
4/31(12,91%)
10/31(32,2%)
13/31(41,89%)
3/31(9,8%)Ứng phó với các tình
huống nguy hiểm
1/31(3,2%)
14/31(45,3%)
8/31(25,8%)
7/31(22,5%)
1/31(3,2%)Biết hợp tác tốt trong
đội, nhóm
1/31(3,2%)
7/31(22,5%)
9/31(29,03%)
10/31(32,2%)
4/31(12,91%)Biết quan tâm, sẵn
sàng giúp người
khác
1/31(3,2%)
8/31(25,8%)
9/31(29,03%)
10/31(32,2%)
3/31(9,8%)
3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế:
Thiếu tính thiết thực:
Giáo dục kĩ năng sống đã được lồng ghép giảng dạy trong các môn học nhưnghọc sinh chưa thật sự thích thú, không cảm thấy thiết thực.Tuy nhiên, khôngphải bài học nào cũng có thể lồng ghép thuận lợi
Trang 10Ví dụ, sau bài học “Ai có lỗi ?” trong môn tiếng Việt lớp 3, cả thầy và trò đềucăng thẳng vì không biết học sinh đã hiểu được các kĩ năng sống mà yêu cầulồng ghép của Bộ GD-ĐT đặt ra như: ứng xử văn hóa, thể hiện sự cảm thông vàkiểm soát cảm xúc hay chưa.
Lồng ghép chưa hiệu quả:
Dạy lồng ghép chưa mang lại hiệu quả cao vì thời gian dành cho giáo dục kĩnăng sống không nhiều, nếu sa đà quá một chút sẽ lại ảnh hưởng đến môn họcchính
Thiếu chuyên nghiệp:
Khó khăn lớn nhất khi giảng dạy kĩ năng sống cho học sinh là phần lớn giáoviên đều chưa quen việc Đôi lúc, giáo viên còn hiểu nhầm “đạo đức mới là môn
có trách nhiệm giảng dạy kĩ năng sống” Mặt khác, dù giáo viên rất tâm huyếtnhưng không phải lúc nào cũng dạy được vì chưa được đào tạo bài bản cách dạy
kĩ năng sống cho học sinh
4 Tính cấp thiết cần tạo ra sáng kiến:
Từ thực trạng trên, giúp các em học sinh trang bị cho mình các kiến thức về kĩnăng sống để giải quyết các tình huống hay gặp trong thực tế Tôi đã mạnh dạncải tiến phương pháp để giáo dục các em có kĩ năng hiệu quả
II GIẢI PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN
1 Biện pháp 1: Xây dựng môi trường giao tiếp với học sinh:
Trang 11tích cực, thích thể hiện hay không thích Và tiếp tục qua những tuần học sau, tôichú ý quan sát những biểu hiện về thái độ học tập, những cử chỉ, hành vi của các
em chọn để bắt đầu có điều chỉnh phù hợp
b, Trong phạm vi trường học:
Tôi đã phối hợp với giáo viên trong khối tổ chức cho học sinh giao lưu, tiếnhành thảo luận chia sẻ kinh nghiệm trong học tập như: Làm thế nào để học tốtToán, bí quyết viết văn sinh động hay kể chuyện để gần nhau hơn
Thông qua các buổi giao lưu này, học sinh các lớp có cơ hội được làm quen,tăng cường giao tiếp và học hỏi lẫn nhau Qua đó, kĩ năng giao tiếp của mỗi họcsinh đều được bộc lộ rõ
2 Biện pháp 2:Rèn kĩ năng sống ở các tiết sinh hoạt ngoại khóa:
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh vẫn được tiến hành lồng ghép qua cácmôn học và các hoạt động ngoài giờ lên lớp Trong quá trình giảng dạy, tôi đãxây dựng một số nội dung và biện pháp rèn kĩ năng sống cho học sinh như sau:
a, Bồi dưỡng kĩ năng quản lí tài sản cá nhân, tập thể cho học sinh
Hiện tượng học sinh bị mất bút, mất thước kẻ và các đồ dùng học tập, thậmchí cả đồng phục là điều không tránh khỏi khi các em còn ham chơi, bạ đâuquên đấy hoặc chưa gọn gàng, ngăn nắp Để giúp các em quản lí tốt tài sản cánhân của mình tôi đã cho học sinh theo dõi việc sử dụng đồ dùng của cá nhânmình và thống kê xem trong một tuần, mình có bị mất hoặc thất thoát đồ dùngnào không Nếu có thì yêu cầu học sinh tìm nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đó.Ngoài ra, do một số đồ dùng của các em khá giống nhau, thậm chí là cùng nhãnhiệu hoặc cùng nhà sản xuất, tôi đã yêu cầu các em làm “biển tên” cho đồ dùngcủa mình Ví dụ như tạo kí hiệu, đánh dấu vào đồ dùng theo quy ước của riêngmình hoặc ghi, khắc tên vào đồ dùng của mình Ngoài ra, tôi cũng nhắc nhở họcsinh cần phải sử dụng đồ cẩn thận để đồ dùng được bền lâu Với đồ dùng tập thể,tôi giao cho các tổ thay phiên nhau phụ trách việc quản lí và theo dõi sử dụngcủa các bạn trong lớp Nếu để hỏng hoặc mất thì học sinh đó sẽ bị trừ điểm thiđua Qua thời gian áp dụng từ đầu năm học đến giờ, tôi thấy hiện tượng bị mất
Trang 12đồ dùng cá nhân đã giảm hẳn, đặc biệt là đồ dùng tập thể được giữ gìn và bảoquản tốt.
b, Bồi dưỡng kĩ năng tổ chức cho học sinh
Tùy theo độ tuổi mà chúng ta sẽ có những phương pháp dạy cụ thể Đối vớihọc sinh của tôi thì kĩ năng tổ chức bắt đầu bằng việc dặn học sinh cách giữ bànhọc ngăn nắp Giáo viên có thể dành vài phút đầu tiết hoặc cuối tiết nhắc nhởcác em chỉnh đốn bàn học, sắp xếp đồ dùng trong ngăn bàn Điều này dần dà sẽtạo cho các em thói quen có được môi trường học tập gọn gàng Tiếp theo là dạyhọc sinh cách ghi chép bài vở có hệ thống; cách lập thời gian biểu khoa học đểhọc sinh chủ động thực hiện các hoạt động trong cuộc sống hàng ngày Sau khihướng dẫn các em lập thời gian biểu thì tôi hướng dẫn các em sử dụng thời gianbiểu của mình Bên cạnh mục những việc cần làm trong ngày học sinh phải cómục theo dõi từng hoạt động đó xem có thực hiện được đúng theo những gì đãghi ra không Nếu không thực hiện được thì do nguyên nhân nào để từ đó tìmcách khắc phục Mỗi em tự làm một quyển sổ tay để theo dõi việc thực hiện Kếtthúc mỗi tháng, học sinh tổng kết việc thực hiện thời gian biểu của mình Đểkiểm tra việc thực hiện ở nhà của các em có đúng như những gì ghi trong thờigian biểu hay không, tôi nhờ phụ huynh xác nhận lại bằng việc kí nhận vào phầntổng kết hàng tháng của học sinh hay phụ huynh có thể chụp Zalođiện thoại đểgiáo viên nắm bắt được Sau đó, tôi tổng hợp lại lần cuối và khen thưởng chonhững học sinh thực hiện tốt
Trang 13c, Bồi dưỡng kĩ năng kĩ năng giao tiếp cho học sinh
Học sinh tiểu học thường có những mối quan hệ với bạn bè, giáo viên, cha
mẹ và những người xung quanh trong cuộc sống của các em Vì thế, trongchương trình giảng dạy, tôi đã đề cập đến những vấn đề cơ bản, như dạy các emcách giữ khoảng cách cá nhân với người khác, cách giao tiếp phù hợp cũng nhưthực hiện những nghi thức thích hợp khi giao tiếp với mọi người trong xã hội, ví
dụ như cách bắt tay, cách chào hỏi, cách giới thiệu về bản thân với những người
ở các thứ bậc khác nhau trong xã hội Cụ thể như sau:
Tôi đưa ra tình huống như sau cho học sinh: Em mời bạn đến nhà mình chơi.Khi bạn đến nhà, em sẽ giới thiệu bạn với bố mẹ em trước hay em giới thiệu bố
mẹ em với bạn trước? Tình huống này tưởng như đơn giản nhưng thực tế khôngphải học sinh nào cũng thực hiện được đúng Khi đến nhà ai chơi thì việc chàohỏi là thể hiện sự văn minh, lịch sự và hầu như em nào cũng nhận thức và làmđược điều đó Tuy nhiên, việc giới thiệu giữa mình với người chủ nhà và ngượclại được tiến hành theo thứ tự nào thì không phải em nào cũng thực hiện đúng.Vậy lựa chọn cách nào cho phù hợp quy tắc giao tiếp trong cuộc sống? Bố mẹ
Trang 14và bạn mình là hai đối tượng có vai vế và vị trí khác nhau trong xã hội Bố mẹthuộc về thứ bậc trên còn bạn mình là ngang bậc với mình Vì vậy, khi mời bạnđến nhà chơi, bố mẹ phải là người được giới thiệu trước Mình sẽ phải giới thiệu
bố mẹ mình với bạn trước rồi mới giới thiệu bạn với bố mẹ
Một trong những biện pháp bồi dưỡng kĩ năng giao tiếp cho học sinh mà tôi
đã thực hiện nữa là tổ chức cho học sinh nói theo chủ đề Ví dụ để chào mừngngày Quốc tế phụ nữ 8- 3, tôi đã phát động học sinh trong lớp tham dự cuộc thi
“thuyết trình” với chủ đề “Mẹ trong trái tim con” Các em học sinh sẽ lần lượtlên nói trước lớp tất cả những gì mình suy nghĩ về mẹ và liên quan đến mẹ.Thông qua hoạt động này, tôi nhận thấy mình không chỉ rèn kĩ năng nói, bày tỏ ýkiến của bản thân cho học sinh mà còn giúp các em nuôi dưỡng được tình cảmdành cho mẹ của mình và biết cách thể hiện tình yêu của mình với mẹ một cáchchân thật và gần gũi
d, Bồi dưỡng kĩ năng đi bộ trên đường cho học sinh
Phần lớn các em học sinh lớp tôi đều sống ở các khu vực quanh trường nênngoài việc được bố mẹ đưa đi học thì các em đều chủ động được việc tự đi bộđến trường.Trong một tiết sinh hoạt ngoại khóa đã học, tôi đã cho các em tìmhiểu một hoạt động trong nội dung tiết học mang tên “Ai đúng?, Ai sai ?” Tôiquan sát và đã chụp, sưu tầm một số hình ảnh học sinh đi bộ trên đường Trong
đó có học sinh thực hiện việc đi bộ đúng, có học sinh đi bộ sai Tôi chiếu từngclip hoặc hình ảnh lên rồi yêu cầu học sinh nhận xét và giải thích Sau khi thamgia học nội dung này, học sinh đã có kiến thức rất tốt và biết cách thực hiện việc
đi bộ an toàn trên đường